LOGO VNBET
THẾ NÀO LÀ CHÁNH TRI KIẾN ĐI
HÀNG ĐẦU
Trong Đại kinh 40, số 117, Trung Bộ III, Đức Phật trình bày cho chúng ta rõ sự diễn tiến của Tám chánh đạo đưa đến Bốn mươi pháp, và nhấn mạnh vai trò của Chánh tri kiến trong Tám Chánh Đạo lúc nào cũng đi đầu, và tầm quan trọng của pháp này đối với Tám Chánh Đạo và đối với Bốn mươi pháp.
Trước hết, Đức Phật nêu rõ trong Tám Chánh Đạo, Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, tất cả bảy pháp này là những cận duyên, những pháp tư trợ cho Chánh định. Và Đức Phật xác nhận: “Phàm có nhứt tâm nào (ekaggata) được tư trợ với bảy chi phần này, như vậy gọi là Thánh chánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ”. Và ở đây, chúng ta cũng thấy chánh tri kiến đi hàng đầu.
Tiếp đến Đức Phật trình bày các định nghĩa của các pháp từ chánh tri kiến đến chánh mạng và trong khi đề cập đến các định nghĩa này, Đức Phật bao giờ cũng nhấn mạnh là chánh tri kiến đi hàng đầu, để nêu rõ khả năng dẫn đầu của chánh tri kiến.
Thế nào là chánh tri kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà kiến là tà kiến. Tuệ tri chánh kiến là chánh kiến.

* Trang 135 *
device


Như vậy là chánh kiến của vị ấy. Và Đức Phật định nghĩa tà kiến, tức là: “Không có bố thí, không có lễ cúng dường, không có tế tự, không có quả báo của việc thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh. Ở đời, không có các vị Sa môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt thế giới này và tuyên bố lên”. Tiếp đến là định nghĩa của chánh kiến. Chánh kiến có hai loại. Một là chánh kiến hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến sanh y. Hai là chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Định nghĩa chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo đưa đến sanh y, tức là: “Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có cha, có mẹ, có các loại hóa sanh. Ở đời có các vị Sa môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi tự mình với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt đời này với đời khác, lại tuyên bố lên”.
Định nghĩa chánh kiến vô lậu, thuộc bậc Thánh, siêu thế, thuộc đạo chi, tức là: “Phàm cái gì thuộc trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị tu tập thánh đạo, thành thục trong thánh đạo có vô lậu tâm, có thánh tâm.”
Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến, như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm thành tựu chánh kiến, như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba

 

* Trang 136 *
device

chánh pháp, chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm, chạy vòng theo chánh kiến.
Qua pháp thứ hai, chánh tư duy, cũng vậy, chánh kiến đi hàng đầu, với định nghĩa tà tư duy và chánh tư duy. Tuệ tri như vậy tức là chánh kiến. Tà tư duy tức là dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Chánh tư duy có hai loại: Chánh tư duy hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến sanh y. Tức là ly dục tư duy, vô sân tư duy và bất hại tư duy. Còn loại chánh tư duy thuộc bậc Thánh vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi tức chỉ cho cái gì thuộc suy tư, tìm cầu, tư duy, một ngữ hành do sự hoàn toàn chú tâm của một vị tu tập Thánh đạo, thành tựu Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm, chánh tư duy như vậy thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Ai tinh tấn đoạn trừ tà tư duy, thành tựu chánh tư duy, tức là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ là tư duy, chánh niệm thành tựu chánh tư duy, tức là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp, chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm, chạy vòng theo chánh tư duy.
Qua pháp thứ ba, chánh ngữ. Ở đây chánh tri kiến cũng đi hàng đầu với hai định nghĩa tà ngữ và chánh ngữ. Tuệ tri tà ngữ là tà ngữ và tuệ tri chánh ngữ là chánh ngữ, tức là chánh kiến của vị ấy. Thế nào là tà ngữ? Nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Chánh ngữ có hai loại: Một loại thuộc hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến sanh y, tức là không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm. Còn chánh kiến thuộc

* Trang 137 *
device

bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi, chỉ cho cái gì thuộc về từ bỏ, từ khước, viễn ly bốn ác ngữ, của một vị tu tập Thánh đạo có vô lậu tâm, có hiền thánh tâm. Như vậy là chánh ngữ thuộc vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Ai tinh tấn đoạn trừ tà ngữ, thành tựu chánh ngữ, tức là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà ngữ, thành tựu chánh ngữ, tức là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm, chạy vòng theo chánh ngữ.
Qua pháp thứ tư, chánh nghiệp. Ở đây chánh kiến cũng đi hàng đầu. Tuệ tri tà nghiệp là tà nghiệp, tuệ tri chánh nghiệp là chánh nghiệp, tức là chánh kiến của vị ấy. Tà nghiệp tức là sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục. Chánh nghiệp có hai loại: Một loại thuộc hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến sanh y, tức là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Một loại thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi, tức là cái gì thuộc từ bỏ, khước từ, từ đoạn, viễn ly ba thân ác hạnh đối với một vị tu tập Thánh đạo, thành thục Thánh đạo, có vô lậu tâm, có hiền thánh tâm. Ai tinh tấn đoạn trừ tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, tức là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, tức là chánh niệm của vị ấy. Như vậy chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm, chạy theo, chạy vòng theo chánh nghiệp.
Qua pháp thứ năm là chánh mạng. Ở đây chánh kiến cũng đi hàng đầu với định nghĩa tà mạng

* Trang 138 *
device

và chánh mạng. Tà mạng ở đây là lừa đảo, siểm nịnh, hiện tướng, gièm pha, lấy lợi cầu lợi. Chánh mạng có hai loại. Một loại hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến sanh y, tức là từ bỏ tà mạng, sống theo chánh mạng. Một loại thuộc bậc Thánh vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi, tức là cái gì thuộc về từ bỏ, từ khước, viễn ly tà mạng của một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục Thánh đạo, có vô lậu tâm, có hiền thánh tâm. Ai tinh tấn từ bỏ tà mạng, thành tựu chánh mạng, tức là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà mạng, thành tựu chánh mạng, tức là chánh niệm của vị ấy. Như vậy cả ba pháp, chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm chạy theo, chạy vòng theo chánh mạng.
Ở đây, chánh kiến cũng đi hàng đầu. Chánh tư duy do chánh kiến làm cho khởi lên. Chánh ngữ do chánh tư duy làm cho khởi lên. Chánh nghiệp do chánh ngữ làm cho khởi lên. Chánh mạng do chánh nghiệp làm cho khởi lên. Chánh tinh tấn do chánh mạng làm cho khởi lên. Chánh niệm do chánh tinh tấn làm cho khởi lên. Chánh định do chánh niệm làm cho khởi lên. Chánh trí do chánh định làm cho khởi lên. Chánh giải thoát do chánh trí làm cho khởi lên. Như vậy đạo lý của các vị hữu học gồm có tám chi phần, còn đạo lý của bậc A-la-hán thêm hai chi phần chánh trí, chánh giải thoát, gồm có mười chi phần.
Ở đây, chánh kiến cũng đi hàng đầu trong tiến trình từ Tám pháp đi đến đại pháp môn Bốn mươi pháp. Tà kiến do chánh kiến làm cho tiêu diệt. Và các

* Trang 139 *
device

ác bất thiện pháp do tà kiến khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong vị có chánh kiến. Và những thiện pháp do chánh kiến khởi lên, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn. Tà tư duy do chánh tư duy làm cho tiêu diệt, và các ác bất thiện pháp do tà tư duy khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong vị có chánh tư duy. Và những thiện pháp do chánh tư duy khởi lên, được tu tập và làm cho viên mãn. Tà ngữ do chánh ngữ làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà ngữ khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh ngữ. Và các thiện pháp do chánh ngữ khởi lên, các pháp ấy được tu tập làm cho viên mãn.
Tà nghiệp do chánh nghiệp làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà nghiệp khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh nghiệp. Và các thiện pháp do chánh nghiệp khởi lên, các pháp ấy được tu tập và làm cho viên mãn. Tà mạng do chánh mạng làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà mạng khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh mạng. Và các thiện pháp do chánh mạng khởi lên, các pháp ấy được tu tập và làm cho viên mãn. Tà tinh tấn do chánh tinh tấn làm cho tiêu diệt, và các ác bất thiện pháp do tà tinh tấn sinh khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh tinh tấn. Và các thiện pháp do chánh tinh tấn sinh khởi, các pháp ấy được tu tập và làm cho viên mãn. Tà niệm do chánh niệm làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà niệm khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh

* Trang 140 *
device

niệm. Và các thiện pháp do chánh niệm khởi lên, các pháp ấy được tu tập và làm cho viên mãn. Tà định do chánh định làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà định khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh định. Và các thiện pháp do chánh định khởi lên, các pháp ấy được tu tập và làm cho viên mãn. Tà trí do chánh trí làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà trí khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh trí. Và các thiện pháp do chánh trí khởi lên, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn. Tà giải thoát do chánh giải thoát làm cho tiêu diệt. Và các ác bất thiện pháp do tà giải thoát khởi lên, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh giải thoát. Và các thiện pháp do chánh giải thoát khởi lên, các pháp ấy được tu tập và làm cho viên mãn. Như vậy có bốn mươi pháp tất cả: mười bất thiện pháp từ tà kiến đến tà giải thoát, cộng với mười pháp do tà kiến, tà tư duy... tà giải thoát làm cho sanh khởi, tổng cộng có hai mươi bất thiện pháp. Mười thiện pháp từ chánh kiến đến chánh giải thoát, cộng với mười thiện pháp do chánh kiến, chánh tư duy... chánh giải thoát làm cho sanh khởi, tổng cộng có hai mươi thiện pháp. hai mươi bất thiện pháp cộng với hai mươi thiện pháp, tổng cộng có bốn mươi pháp tất cả, tức là Đại pháp môn bốn mươi pháp của kinh này.
Trong phần kết luận, Đức Phật nêu rõ Đại pháp môn bốn mươi pháp này được chuyển vận, truyền bá mà không có một Sa môn, Bà-la-môn, Thiên Ma,

* Trang 141 *
device

Phạm Thiên, hay một ai ở trên đời có thể chặn đứng lại, có thể chỉ trích hay bài bác. Vì nếu có người chỉ trích, thời sẽ có mười thuận thuyết, tùy thuyết hợp pháp được nói lên để chỉ trích lại. Nếu chánh kiến bị chỉ trích, thời không lẽ tà kiến được tán dương. Nếu chánh tư duy bị chỉ trích, thời không lẽ tà tư duy được đề cao, đáng được cúng dường, đáng được tán thán. Cũng vậy đối với chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát. Cho đến các dân chúng Ukkala, Vassa, Bhannà, theo vô nhân luận, theo vô tác luận, theo hư vô luận, những vị ấy cũng không nghĩ rằng Đại Pháp Môn Bốn mươi pháp này đáng bị chỉ trích, đáng bị phỉ báng, vì họ sợ bị quở trách, phẫn nộ, công kích.
Nói tóm lại, Tám chánh đạo được trình bày, diễn tiến đi đến Pháp môn Bốn mươi pháp và bao giờ chánh tri kiến cũng đi hàng đầu, như đã được trình bày trong kinh này.

* Trang 142 *
device

 
Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi