LOGO VNBET
VAI TRÒ CỦA CÁC CẢM THỌ
TRONG TIẾN TRÌNH GIẢI THOÁT
CỦA ĐẠO PHẬT
Đề tài “Vai trò của các cảm thọ trong tiến trình giải thoát của đạo Phật” là một đề tài vừa nói lên vị trí trọng yếu của cảm thọ, vừa chỉ đích danh những tác động thiết thân với con người nhất và cũng nêu rõ con đường giải thoát của đạo Phật. Con đường này bắt đầu từ một cảm thọ, tức là khổ thọ, và kết thúc cũng bằng một cảm thọ, tức là lạc thọ, hay nói cho rõ hơn, chính là lạc Niết bàn.
Trước hết, chúng ta tự hỏi vì sao Đức Phật lại chú trọng đặc biệt đến cảm thọ như vậy? Vị trí của cảm thọ được thấy quá rõ ràng trong các giáo lý chính yếu. Trong năm uẩn tác thành con người, thọ uẩn chiếm vị trí thứ hai sau sắc uẩn và trước tưởng uẩn. Trong thuyết Mười Hai Nhân Duyên, thọ đứng vị trí thứ bảy, sau xúc và trước ái. Trong thuyết Bốn sự thật, sự thật nào cũng liên hệ đến khổ thọ: Sự thật về khổ, sự thật về khổ tập, sự thật về khổ diệt và sự thật về con đường đưa đến khổ diệt.
Thiền là gì nếu không phải là cảm thọ, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, chỉ cho sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, chỉ cho thiền thứ hai,

* Trang 168 *
device

một trạng thái xả niệm lạc trú, chỉ cho thiền thứ ba, và một trạng thái xả niệm thanh tịnh, không khổ không lạc, chỉ cho thiền thứ tư. Các cảm thọ sở dĩ chiếm một vị trí trọng yếu như vậy vì đây là những cảm giác được xem là phổ biến, phổ thông và đồng đẳng nhất của con người. Nghèo giàu, lớn nhỏ, già trẻ, nam nữ, v.v... đều bình đẳng trước đau khổ và cũng bình đẳng trước lạc thọ, không ai là không biết khổ, không ai là không biết lạc, và chính lạc khổ này ngự trị chi phối con người từ khi mới chào đời cho đến khi mệnh chung. Và chính những cảm thọ này, như các đoạn sau sẽ nêu rõ, là những động lực đưa người hành giả từ đau khổ đến an vui, từ triền phược đến giải thoát.
Chúng ta đều biết rõ, khi Đức Phật còn là Thái tử, Ngài được sống trong sự xa hoa lộng lẫy của vương cung, thọ hưởng đầy đủ mọi lạc thú ở đời do vua cha ban bố cho Ngài, và chính Đức Phật đã diễn tả cho chúng ta rõ nếp sống xa hoa ấy trong Tăng Chi I, trang 161 như sau:
“Này các Tỷ kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, tối thắng nuôi dưỡng tế nhị, cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị. Này các Tỷ kheo, trong nhà Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỷ kheo, là không từ Kàsi đến. Bằng vải Kàsi là khăn của Ta, này các Tỷ kheo, bằng vải Kàsi là áo cánh; bằng vải Kàsi là nội y; bằng

* Trang 169 *
device

vải Kàsi là thượng y. Đêm và ngày, một lọng trắng được che chở cho Ta, để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỷ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa Đông, một cái cho mùa Hạ, một cái cho mùa Mưa. Này các Tỷ kheo, tại lâu đài mùa Mưa, trong bốn tháng Mưa, được những nhạc công đoanh vây, Ta không xuống dưới lầu...”
Thái tử sống trong sự xa hoa dục lạc của cung điện, đâu có biết gì đến sự khổ đau. Nhưng khi ra khỏi cửa thành chứng kiến lần đầu tiên cảnh tượng một người già, một người bệnh, một người chết, Ngài mới cảm thấy một cách rất thống thiết là chúng sanh đều bị khổ vì bệnh, khổ vì già, khổ vì chết đang đè nặng trên kiếp sống của con người. Và chính Ngài rồi cũng bị già, bị bệnh, bị chết như mọi người khác. Như vậy chính khổ thọ, khổ vì già, khổ vì bệnh, khổ vì chết đã tác động vào chí hướng xuất gia của Thái tử.
Chính Đức Phật đã xác nhận rằng (Tăng Chi III, quyển B, trang 137) sanh, già, chết là động lực chính khiến Đức Phật có mặt ở đời, thuyết pháp độ sanh:
“Này các Tỷ kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không xuất hiện ở đời; Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng không được nói lên ở đời. Thế nào là ba? Sanh, già, chết. Này các Tỷ kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ỏ đời thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không xuất hiện ở đời, Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng không được nói lên ở

* Trang 170 *
device

đời. Vì rằng, này các Tỷ kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời. Do vậy Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng được nói lên ở đời”. Như vậy sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, những khổ thọ này tác động sự có mặt của Đức Phật và sự thuyết pháp độ sanh của Ngài trong thế giới của chúng ta. Ý thức được những nỗi đau khổ đang đè nặng trên kiếp sống của con người, và sự phản ứng lầm lạc của con người trước sự đau khổ vì già, vì bệnh, vì chết, Đức Phật nói lên sự suy nghĩ của mình: “Với Ta, này các Tỷ kheo, được đầy đủ với sự giàu sang như vậy, được cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị như vậy, Ta suy nghĩ: “Kẻ vô văn phàm phu tự mình bị già, không vượt qua khỏi già, khi thấy người khác bị già, lại buồn phiền hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy... Kẻ vô văn phàm phu tự mình bị bệnh, không vượt khỏi bệnh, thấy người khác bị bệnh, lại bực phiền ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy... Kẻ vô văn phàm phu, tự mình bị chết, không vượt khỏi chết, thấy người khác bị chết, lại bực phiền hổ thẹn ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy...” (Tăng Chi I, trang 162-163). Thái tử có một thái độ khác hẳn. Ngài cũng bị già, cũng bị bệnh, cũng bị chết, nhưng Ngài không có bực phiền hổ thẹn, ghê tởm đối với già, đối với bệnh, đối với chết. Ngài không có ghê tởm đối với chúng, Ngài nhìn chúng với cặp mắt thật khách quan. Và với cái nhìn ấy, Ngài đoạn trừ được ba sự kiêu mạn, kiêu mạn của tuổi trẻ, kiêu mạn

* Trang 171 *
device

của không bệnh, kiêu mạn của sự sống. Ngài nói: “Ta cũng bị già, không vượt khỏi già, sau khi thấy người khác già... Ta cũng bị bệnh, không vượt qua khỏi bệnh, sau khi thấy người khác bệnh... Ta cũng bị chết, không vượt qua khỏi chết, sau khi thấy người khác chết..., Ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy thật không xứng đáng cho Ta. Sau khi quan sát như vậy, này các Tỷ kheo, sự kiêu mạn của tuổi trẻ trong tuổi trẻ... sự kiêu mạn của không bệnh trong không bệnh... sự kiêu mạn của sự sống trong sự sống được đoạn trừ hoàn toàn.”
Khi đã nhận thấy những khổ trạng của kiếp người, khi được nhìn thấy hình ảnh một vị Sa môn như là tượng trưng cho hình ảnh giải thoát khỏi những khổ đau, Thái tử ý thức được rằng sống trong sự xa hoa của hoàng cung thời không sao có thể tìm được con đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại, nên Ngài mới ra đi tầm cầu phương pháp độ sanh. Sự cầu đạo của Ngài xuất phát từ nơi chí nguyện tìm được con đường giúp loài người thoát ly khỏi sự khổ đau vì sanh, vì già, vì bệnh, vì chết, tức là cũng được bắt đầu bằng một khổ thọ, như đã được diễn tả trong Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ I, trang 163: “Này các Tỷ kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm. Vậy Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, hãy tầm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ

* Trang 172 *
device

ách, Niết bàn. Tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, hãy tầm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn. Tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm, hãy tầm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn. Rồi này các Tỷ kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ khí huyết của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son của cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta xuất gia như vậy, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu đạo lộ vô thượng tối thắng, hướng đến tịch tịnh.” Như vậy, Ngài xuất gia với ý thức tìm cho được con đường đưa đến sự đoạn trừ khổ đau vì sanh, vì già, vì bệnh và vì chết: Nói một cách rõ rệt hơn, Ngài xuất gia cũng vì một cảm thọ, tức là khổ thọ.
Khi Thế Tôn xuất gia để đi tìm con đường đưa đến diệt trừ đau khổ, thời khi Ngài chứng ngộ, được giải thoát tức là chứng ngộ sự đoạn diệt sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, như đã được diễn tả trong Kinh Trung I, trang 262B: “Lành thay, này các Tỷ kheo, các ngươi nói như vậy và Ta cũng nói như vậy. Cái này không có, nên cái đây không có. Cái này diệt nên cái đây diệt. Như vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên

* Trang 173 *
device

sáu nhập diệt, sáu nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên già, chết, sầu bi khổ ưu não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.” (trang 264A)
Trong buổi thuyết pháp đầu tiên sau khi Ngài thành Đạo tại Vườn Lộc Uyển cho năm vị Tỷ kheo, Ngài đã thuyết giảng Bốn Sự Thật về khổ và cũng xác chứng cho chúng ta thấy rõ Ngài bắt đầu chuyển bánh xe Pháp cũng bằng bài thuyết giảng về sự thật về khổ, sự thật về khổ tập, tức là nguyên nhân của đau khổ, sự thật về khổ diệt, và sự thật về con đường đưa đến khổ diệt. Kinh Như Lai Thuyết, Tương V, trang 424 ghi rõ:
“Đây là Thánh đế về khổ”, này các Tỷ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ”.
“Đây là Thánh đế về khổ tập”, này các Tỷ kheo, chính là ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái”.
“Đây là Thánh đế về khổ diệt”, này các Tỷ kheo, chính là sự đoạn diệt, ly tham không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ giải thoát, không có chấp trước”.

* Trang 174 *
device

“Đây là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt”, này các Tỷ kheo, chính là con đường Thánh đạo tám ngành. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định”.
Đến đây chúng ta có thể đúc kết được rằng, chính hình ảnh già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, là những động lực mạnh mẽ thúc đẩy Thái tử xuất gia, tầm đạo, tu đạo, thành chánh quả và thuyết pháp độ sanh, và tiến trình này xác chứng rằng đạo Phật bắt đầu bằng một cảm thọ, tức là khổ thọ.
Nhưng chúng ta không quên một lời dạy rất đặc biệt của Đức Phật, một lời dạy thường được Đức Phật nhắc nhở: “Này các Tỷ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên hai vấn đề, sự khổ và sự đoạn diệt đau khổ.” (Tăng III, A, 152) Khi Ngài nói lên sự khổ, nghĩa là đạo Phật bắt đầu bằng một cảm thọ, tức là khổ thọ. Khi Ngài nói đến sự đoạn diệt đau khổ, khổ diệt, nghĩa là đạo Phật kết thúc bằng một cảm thọ, tức là lạc thọ. Và lạc thọ đây là lạc thọ Niết bàn hay là an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giải thoát lạc, chánh giác lạc.
Sau khi tu khổ hạnh và ý thức được khổ hạnh không đưa đến chánh quả, Thái tử nhớ đến kinh nghiệm hành thiền của mình khi đang ngồi dưới cây Diêm phù đề: “Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Ta biết, trong khi Phụ thân Ta thuộc dòng họ Thích Ca đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng một cây

* Trang 175 *
device

Diêm phù đề, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Khi an trú như vậy, Ta suy nghĩ: “Đạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?”. Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly bất thiện pháp”. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly bất thiện pháp.” (Trung I, 246A)
“Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.”

* Trang 176 *
device

“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh... Ta dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhãn minh... Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí, Ta biết như thật: “Đây là khổ”; biết như thật: “Đây là khổ tập”; biết như thật: “Đây là khổ diệt”; biết như thật: “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”; biết như thật: “Đây là lậu hoặc”; biết như thật: “Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc”; biết như thật: “Đây là các lậu hoặc diệt trừ”; biết như thật: “Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt trừ”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Ta đã biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Này Aggivessana, đó là đệ tam minh mà Ta đã chứng được trong canh ba, vô minh diệt minh sanh, ám diệt ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh tấn. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.”
Đoạn kinh này rất quan trọng, trước hết xác chứng đạo Phật được kết thúc bằng một cảm thọ, tức là lạc thọ, và lạc thọ này không chi phối tâm của vị hành giả. Đoạn kinh này diễn tả một khúc quanh quan trọng trong tiến trình tu dưỡng của Đức Phật, tức là

* Trang 177 *
device

Ngài đã từ bỏ khổ hạnh, tức là kinh nghiệm khổ thọ, bước vào thiền quán, tức là kinh nghiệm lạc thọ, dấn thân vào con đường khổ hạnh, tức là cảm giác khổ thọ, và không đưa đến giác ngộ giải thoát. Chọn con đường thiền quán tức là cảm giác lạc thọ đưa đến giác ngộ giải thoát Niết bàn. Trí tuệ cuối cùng đã chiến thắng vô minh. Đức Phật đã chọn con đường thiền quán, không chọn con đường dục lạc, không chọn con đường khổ hạnh, và nhờ vậy trong canh đầu Ngài chứng được túc mạng minh, trong canh giữa Ngài chứng được thiên nhãn minh, và trong canh cuối Ngài chứng được lậu tận minh, thành bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác.
Có một sự bất ngờ lý thú, ít ai khám phá ra, là vị hành thiền, từ khi chứng được sơ thiền cho đến thiền thứ tư, vị hành giả luôn luôn cảm giác lạc thọ, cho đến thiền thứ tư, được xem là bất động thiền, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, lạc thọ vẫn đi theo vị hành trì thiền quán, không rời một bước. Như vậy người Phật tử có hành thiền luôn luôn được phấn khởi, hân hoan hỷ lạc. Các lạc thọ này càng ngày càng vi tế, thấm nhuần, tẩm ướt, bao phủ người hành thiền, khiến Đức Phật dùng bốn ví dụ để diễn tả sự thấm nhuần này. Hỷ lạc của sơ thiền thấm nhuần vị hành thiền như nước thấm nhuần tẩm ướt cục bột tắm được nhồi với nước. Hỷ lạc của thiền thứ hai được ví như một hồ nước không có lỗ nước chảy ra, nước tự trong đáy hồ phun lên và trời lại mưa lớn và nước hồ ấy thấm nhuần

* Trang 178 *
device

tẩm ướt toàn bộ bờ hồ ấy, không có chỗ nào không được nước ấy tẩm ướt thấm nhuần. Xả niệm lạc trú của thiền thứ ba được ví như hoa sen xanh, hoa sen trắng, v.v... sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi mặt nước và không có chỗ nào trên bông sen không có tẩm ướt, thấm nhuần. Thiền thứ tư được ví như một người trùm đầu với tấm vải rộng, không có chỗ nào là không được tấm vải ấy che thấu. Như vậy, người Phật tử nói chung, người hành thiền nói riêng, luôn luôn được hỷ lạc thấm nhuần, và người có hỷ lạc là người có sức khỏe, là người luôn luôn phấn khởi, lạc quan hân hoan. Như thế đấy mà không hiểu vì sao người ta lại hiểu đạo Phật là bi quan, là chán đời, là yếm thế, là tiêu cực, và lại có nhiều Phật tử cố ý tạo cho mình một dáng điệu bi quan, một cái nhìn yếm thế để tự giới thiệu mình là những người hiểu đạo hiểu đời.
Cho đến đây, Quý vị đã thấy rõ, đạo Phật thật sự bắt đầu bằng một cảm thọ, tức là khổ thọ và cũng được kết thúc bằng một cảm thọ, tức lạc thọ, và như vậy đạo Phật đã đi từ khổ thọ đến lạc thọ và các cảm thọ đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình tu chứng của đạo Phật.
Trong một cuộc đàm thoại giữa Visàkha và Tỷ kheo ni Dhammadinnà, về cảm thọ, Tỷ kheo ni đã khéo giải thích các cảm thọ là gì và sự liên hệ giữa các tùy miên và các cảm thọ.

* Trang 179 *
device

“Thưa Ni cô, có bao nhiêu thọ? - “Có ba thọ này, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ!”... “Thưa Ni cô, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại? Trong khổ thọ có tùy miên gì tồn tại? Trong bất khổ bất lạc thọ có tùy miên gì tồn tại?” - “Trong lạc thọ có tham tùy miên tồn tại. Trong khổ thọ có sân tùy miên tồn tại. Trong bất khổ bất lạc thọ, có minh tùy miên tồn tại.” - “Thưa Ni cô, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ? Trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ? Trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ?” - “Khôngphải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên cần phải từ bỏ. Ở đây, vị Tỷ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do vậy, tham đã được từ bỏ, không còn tham tùy miên được tồn tại ở đây. Ở đây, vị Tỷ kheo suy tư như sau: “Chắc chắn Ta sẽ chứng và an trú trong trú xứ mà xưa nay các vị Thánh đang an trú. Vì muốn phát ra nguyện hướng đến các cảnh giải thoát vô thượng, do ước nguyện ấy, khởi lên ưu tư. Do vậy sân được từ bỏ, không còn sân tùy miên tồn tại ở đấy. Ở đây, vị Tỷ kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Do vậy vô minh đã được từ bỏ, không còn vô minh tùy miên tồn tại ở đây.” (Trung bộ I, trang 302B-303)

* Trang 180 *
device

Với Đức Phật, điều quan trọng là làm thế nào để diệt trừ đau khổ. Với kinh nghiệm hành trì khổ hạnh trong sáu năm, Đức Phật rút ra một kinh nghiệm đầy đau thương, tức là đau khổ không thể diệt trừ bằng đau khổ, và do vậy Đức Phật đã bác bỏ quan điểm của các Niganthà như đã được ghi trong Trung bộ III, trang 25: “Vì rằng, này Niganthà, trong khi các hành giả thống thiết tinh tấn, thống thiết tinh cần, trong khi ấy các hiền giả lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Còn trong khi hiền giả không thống thiết tinh tấn, không thống thiết tinh cần, trong khi ấy các hiền giả không lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Như vậy, thật chính các hiền giả trong khi lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ, tự bị lừa dối bởi vô minh, vô trí, ngu muội, khi các hiền giả nói: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ. Với sự đốt cháy đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt. Do nghiệp được đoạn diệt, các cảm thọ được đoạn diệt. Do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ thọ được đoạn tận.” (Trung bộ III, trang 25­26)
Như vậy, Đức Phật bác bỏ quan điểm của các Niganthà cho rằng do khổ hạnh mới đoạn trừ được đau khổ. Đức Phật với kinh nghiệm bản thân của mình, với

* Trang 181 *
device

trí tuệ đặc biệt sáng suốt của Ngài nên đã nhận thức một cách rõ ràng rằng đau khổ không thể đoạn trừ bằng khổ hạnh. Cũng với kinh nghiệm bản thân của mình và cũng nhờ trí tuệ sáng suốt của Ngài, Đức Phật đi đến một kết luận thứ hai là đau khổ không thể đoạn trừ bằng cách hưởng thọ các dục. Như Kinh Xà Dụ, Trung I, trang 132, Thế Tôn đã khiển trách Tỷ kheo Aritha vì vị này khởi lên tà kiến cho rằng hưởng thọ các dục không phải là một pháp chướng ngại. Thế Tôn đã khiển trách Tỷ kheo Aritha như sau: “Này người ngu si kia, sao ngươi lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này người ngu si kia, có phải chăng Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết các dục là chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đã thuyết các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương... được ví như miếng thịt... được ví như bó đuốc... được ví như hố than hừng... được ví như trái cây...được ví như lò thịt... được ví như gậy nhọn. Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm lại càng nhiều hơn. Và này người ngu si kia, không những ngươi xuyên tạc Ta vì ngươi đã chấp thủ sai lạc, ngươi còn tự phá hoại mình, và tạo nên nhiều tổn đức. Này người ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho ngươi”. Thật là một lời khiển trách thẳng thừng thiết thực, với

* Trang 182 *
device

những ví dụ thật linh động và chính xác, dạy cho chúng ta rõ, con đường thọ hưởng các dục không phải là con đường đưa đến giải thoát đau khổ.
Nhưng ly dục suông chưa phải là pháp môn cứu cánh để giải quyết vấn đề đau khổ của con người. Đức Phật nhắc đi nhắc lại cho Cư sĩ Mahànàma, trong Kinh Tiểu khổ uẩn, Trung bộ I, trang 92: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây là nhiều hơn”. Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh quán, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly các bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahànàma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh quán: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây là nhiều hơn”. Và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn. Như vậy vị ấy không bị các dục chi phối”. (Trung bộ I, 92 - 92A).. Rồi để xác chứng lời tuyên bố trên, Đức Phật kể lại kinh nghiệm bản thân của Ngài khi Ngài chưa thành Phật: “Này Mahànàma, thuở xưa khi Ta còn là một vị Bồ Tát, chưa chứng được Bồ đề, chưa thành Chánh Đẳng Giác, Ta khéo thấy như thật với chánh kiến: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây là nhiều hơn”. Dầu Ta khéo thấy với như thật chánh kiến như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng

* Trang 183 *
device

hơn, và như vậy Ta biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh kiến: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây là nhiều hơn”, và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối”. (Trung bộ I, trang 92-92A)
Đây là một quan điểm rất quan trọng và rất đặc biệt của đạo Phật trong phương pháp đối trị và đoạn trừ sự chi phối của các dục. Không những chúng ta cần như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của dục, chúng ta còn cần phải hành thiền, chứng cho được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền, có vậy mới có khả năng vượt khỏi sự chi phối của dục. Đây là một minh chứng rất hùng hồn về pháp môn định tuệ, chỉ quán song tu trong đạo Phật, giúp chúng ta thoát ly sự chi phối của các dục, tức là thoát ly được sự đau khổ.
Như thật biết các dục chưa đủ để đoạn trừ sự khổ đau của con người, Đức Phật còn dạy thêm, cần phải như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ, vì các cảm thọ đóng vai trò trung gian tiếp thu các dục, làm cho tập khởi tham, sân, si của con người. Trong Đại Kinh khổ Uẩn, Trung bộ I, trang 89A, Đức Phật tuyên bố:
“Này các Tỷ kheo, những Sa môn, Bà-la-môn nào, không như thật biết vị ngọt các cảm thọ là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định

* Trang 184 *
device

sẽ không như thật biết các cảm thọ của chúng, chúng cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tợ, nghĩa là như thật biết các cảm thọ, sự kiện như vậy không xảy ra. Này các Tỷ kheo, những Sa môn, Bà-la-môn nào, như thật biết vị ngọt các cảm thọ là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những cũng vị này nhất định như thật biết các cảm thọ của chúng, chúng có thể đặt người khác trong một địa vị tương tợ, nghĩa là như thật biết các cảm thọ, sự kiện như vậy có thể xảy ra.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là vị ngọt các cảm thọ, ở đây vị Tỷ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Trong khi ấy, nếu vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai, trong khi vị ấy cảm giác một cảm thọ vô hại. Này các Tỷ kheo, tối thượng là vô hại ấy... Cũng vậy thiền thứ hai... Cũng vậy thiền thứ ba... Chứng và trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ kheo, trong khi vị Tỷ kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiên thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Trong khi ấy, nếu vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai, trong khi ấy vị ấy cảm giác một cảm thọ vô hại. Này các Tỷ kheo, tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ.

* Trang 185 *
device

Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự nguy hiểm các cảm thọ? Này các Tỷ kheo, các cảm thọ vô thường, khổ, biến hoại, như vậy là nguy hiểm các cảm thọ.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự xuất ly các cảm thọ? Này các Tỷ kheo, sự điều phục dục ái đối với các cảm thọ, sự đoạn trừ dục ái, như vậy gọi là sự xuất ly các cảm thọ”. (trang 92A)
Đến đây chúng ta có thể đúc kết được rằng đau khổ không có thể đoạn trừ do khổ hạnh, như chủ thuyết của Ni-kiền-tử. Đau khổ cũng không có thể đoạn trừ bằng cách hưởng thụ các dục lạc, vì các dục lạc vui ít khổ nhiều, não nhiều, ở đây sự nguy hiểm lại nhiều hơn. Các đau khổ có thể bắt đầu được trừ diệt bằng cách như thật tuệ tri các dục, vị ngọt các dục, sự nguy hiểm các dục và sự xuất ly các dục. Bước thêm một bước nữa, sau khi đã chứng bất động thiền, tức là thiền thứ tư, vị Thánh đệ tử với trí tuệ như thật quán Bốn Sự Thật: “Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyển, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật thắng tri “Đây là khổ”; như thật thắng tri “Đây là khổ tập”; như thật thắng tri “Đây là khổ diệt”; như thật thắng tri “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”. Vị ấy nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy giải thoát khỏi lậu hoặc, thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi

* Trang 186 *
device

lên chánh trí “Ta đã giải thoát”; vị ấy tuệ tri sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, sau đời sống hiện tại, không còn trở lại trạng thái này nữa.” “Như vậy vị hành giả đã giác ngộ nhờ chánh trí khổ, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt” đã nói lên tầm quan trọng của cảm thọ trong diễn tiến đến Thánh quả, thành bậc A-la-hán.
Chưa nói đến tu chứng Thánh quả, nhờ quán khổ thọ như đã được diễn tả trên đây, chính lạc thọ và khổ thọ là những đề tài giúp định nghĩa thế nào là thân không tu tập, thân tu tập; thế nào là tâm không tu tập và tâm tu tập, như Kinh Saccaka Đại Kinh, Trung I, 240, giải thích rõ:
“Này Aggivessana, thế nào là thân không tu tập và thế nào là tâm không tu tập? ớ đây, này Aggivessana, kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt khởi lên khổ thọ. Người ấy do cảm giác khổ thọ nên khởi lên sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho người kia, chi phối thân và an trú, do thân không tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên cho vị kia, chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập... Và này Aggivessana, thế nào là thân tu tập và tâm tu tập? Ở đây, này Aggivessana, lạc thọ khởi lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ, nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự

* Trang 187 *
device

tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt khởi lên khổ thọ. Vị ấy cảm giác khổ thọ, nhưng không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do tâm tu tập...” Như vậy, người ấy có thân tu tập và có tâm tu tập.
Ở đây chúng ta chứng kiến một lời khuyên tuyệt diệu của Đức Phật về thân tu tập và tâm tu tập, một lời khuyên mà mọi người đều có thể ứng dụng ngay trong đời sống hiện tại của mình và chính nhờ sự ứng dụng ấy, chúng ta ý thức được sự lợi ích thiết thực cho bản thân mình và đánh giá được giá trị của Đức Phật. Ngài chỉ khuyên: “Khi cảm giác lạc thọ, không tham đắm lạc thọ, khi cảm giác khổ thọ, chớ có sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào trạng thái bất tỉnh nhờ tâm có tu tập”. Nếu cảm giác lạc thọ và khổ thọ giúp chúng ta định nghĩa thân tu tập và tâm tu tập, thì chính nhờ tuệ quán lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ mà người hành giả có thể đạt được cứu cánh giải thoát, như đã được diễn tả trong Trung II, trang 500-500A:
“Này Aggivessana, có ba thọ này: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác

* Trang 188 *
device

bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Thấy vậy, này Aggivessana, vị đa văn Thánh đệ tử yếm ly lạc thọ, yếm ly khổ thọ, yếm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yếm ly vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy được giải thoát. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Với tâm giải thoát như vậy, vị ấy không có nói thuận theo một ai. Không có tranh luận với một ai. Chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp từ ngữ ấy.” (Trung bộ II, trang 500-500A)
Vai trò các cảm thọ quan hệ như thế nào trong tiến trình giải thoát đã được thấy rõ trong các đoạn trên, lại được nhấn mạnh một lần nữa trong Kinh Đại Lục Xứ, Trung bộ III, trang 535, khi các cảm thọ đóng vai trò đoạn tận các tâm khổ tâm ưu của loài người. Vị Tỷ kheo đối với các cảm thọ do con mắt tiếp xúc với sắc pháp, phải ứng dụng pháp quán như thế

* Trang 189 *
device

nào để đoạn tận tâm khổ và tâm ưu: “Này các Tỷ kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy. Vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, vị ấy không ái trước cảm thọ ấy. Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tận diệt trong tương lai. Và ái của vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này chỗ kia, ái ấy được đoạn tận. Những thân nhiệt não của vị ấy được đoạn tận. Những tâm nhiệt não của vị ấy được đoạn tận. Những tâm khổ não của vị ấy được đoạn tận. Vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc.”
Ở đây, chúng tôi xin nói lên một loại đồ ăn được đạo Phật đề cập đến, đó là xúc thực (phassàhàra), một trong bốn loại đồ ăn được Đại Kinh Ái Tận (Trung bộ I, trang 261A) nói đến, tức là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Xúc thực đây chỉ cho sự cảm xúc của con người, tức là sự gặp nhau giữa sáu căn, sáu trần và sáu thức; và từ nơi xúc chạm này khởi lên các cảm thọ như lạc, khổ, bất khổ bất lạc, và các cảm thọ này tác động như các món

* Trang 190 *
device

ăn nuôi dưỡng và phá hoại sự sống của con người. Nói một cách rõ hơn, khi cảm giác một cảm thọ, lạc, khổ, bất khổ bất lạc, các cảm thọ tác động như một món ăn đối với thân thể, tâm tư của con người. Nếu là lạc thọ, lạc thọ ấy sẽ nuôi dưỡng thân con người; nếu là khổ thọ, khổ thọ ấy sẽ tác hại đến sức khỏe con người. Thường thường chúng ta thấy người gặp lo buồn hay đau ốm, kẻ gặp chuyện vui sức khỏe gia tăng. Hay lo buồn tức bị giảm thọ, người hân hoan, phấn khởi làm tăng thêm tuổi thọ, sống lâu. Đối với đạo Phật, lạc thọ đóng một vai trò rất quan trọng, vì lạc thọ này một mặt nuôi dưỡng sức mạnh cho thân thể, một mặt là một sức mạnh thiền định trợ duyên cho tuệ quán, cho giác ngộ giải thoát. Như chúng ta đã thấy, sơ thiền là một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Thiền thứ hai cũng là một trạng thái hỷ lạc do định sanh. Thiền thứ ba là xả niệm lạc trú, và thiền thứ tư là xả niệm thanh tịnh, luôn luôn là một lạc thọ được tên là thiền lạc và cũng được gọi là thiền duyệt vi thực, tức là hân hoan trong thiền là một món ăn cho người hành giả khiến có thể ngồi thiền lâu không cảm thấy đói và có thể ngồi từ ngày này qua ngày khác, đối với những ai có thiền lực mạnh. Như vậy, đạo Phật chủ trương đem lại lạc thọ cho loài người, lạc thọ ở đây có nghĩa là phấn khởi hân hoan, hoan hỷ sống ở đời làm các hạnh lành về thân, về lời, về ý và làm mọi nhiệm vụ ở đời. Lạc thọ này biến thành thiền lạc, khi người Phật tử bắt đầu hành trì thiền quán, và thiền lạc này không những đem lại hạnh phúc

* Trang 191 *
device

an lạc cho bản thân mà còn là một thiền lực, giúp tăng trưởng nội lực cá nhân, giúp chúng ta vượt qua các khó khăn và thành tựu các mục tiêu đã vạch ra. Thiền lực này biến thành an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giải thoát lạc, chánh giác lạc, Niết bàn lạc, khi chúng ta tâm thành khẩn thiết, lấy các cảm thọ lạc khổ, bất khổ bất lạc làm đối tượng thiền quán, chí thành nỗ lực tu tập, để thành tựu được tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Để kết thúc vấn đề cảm thọ, chúng tôi xin trình bày một Kinh quan trọng nhất trong tập Trung Bộ Kinh, tập IIIA, Kinh Chachakasuttam hay Kinh Sáu Sáu. Kinh này nói lên tiến trình giải thoát của đạo Phật, dựa trên sự tiếp xúc sáu căn đối với sáu trần, sinh ra sáu thức. Sự gặp gỡ của sáu căn, sáu trần, sáu thức là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Chính tự nơi ba cảm thọ này, vị hành giả sử dụng tuệ quán để đoạn diệt khổ đau. Ở nơi đây chúng tôi cần phải nhấn mạnh rằng, vị hành giả phải chứng thiền thứ tư là bất động thiền, mới có đủ định lực để tuệ quán có hiệu quả, như Kinh ấy trình bày. Ở đây, lấy con mắt với các sắc làm đối tượng hành trì; đối với năm căn, năm trần khác có thể xem là tương tự. Lời Kinh trình bày thật rõ ràng, không cần phải giải thích nhiều:
“Này các Tỷ kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất

* Trang 192 *
device

khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, hoan hỷ, tán than, trú ở ái trước. Tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, không như thật biết tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ kheo, vị ấy do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không xả trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể vượt khỏi nguy hiểm trong hiện tại, chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
“Này các Tỷ kheo, do duyên mắt và duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, không hoan hỷ, không tán thán, không trú ở ái trước. Tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ, không sầu muộn, không than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của

* Trang 193 *
device

vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do xả trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
“Này các Tỷ kheo, do thấy vậy, vị đa văn Thánh đệ tử nhàm chán mắt, nhàm chán các sắc, nhàm chán nhãn thức, nhàm chán xúc, nhàm chán thọ, nhàm chán ái. Vị ấy nhàm chán tai, nhàm chán các tiếng... nhàm chán mũi, nhàm chán các hương... nhàm chán lưỡi, nhàm chán các vị... nhàm chán thân, nhàm chán xúc... nhàm chán thọ, nhàm chán ái. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là tri hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Và vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành. Các việc nên làm đã làm. Không còn trở lui trạng thái này nữa.”
Như vậy tiến trình giải thoát của đạo Phật, lấy các cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc thọ để làm đối tượng tu hành. Chính trong tiến trình giải thoát này, vai trò của các cảm thọ, phát xuất từ sự xúc chạm giữa sáu căn với sáu trần đã đóng vai chủ động trong tiến

* Trang 194 *
device

trình giác ngộ và giải thoát. Và vì các cảm thọ liên hệ rất thiết thân với đời sống con người, nên chúng ta có thể nói đau khổ và hạnh phúc của con người, sự trói buộc và sự giải thoát của con người tùy thuộc rất mật thiết đến các cảm thọ của con người.
Có một trí như thật đối với các cảm thọ, sử dụng các cảm thọ như thế nào để phù hợp với những lời dạy của Đức Phật về thân tu tập và tâm tu tập, và thiền quán các cảm thọ như thế nào để mạnh tiến trên con đường giải thoát và giác ngộ đều là những vấn đề được đề cập đến trong bài thuyết trình này.

* Trang 195 *
device

* Trang 196 *
device

 
Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi