LOGO VNBET
CHƯƠNG III
THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
TIẾT 1
THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
TẠI QUẢNG NAM–ĐÀ NẴNG
 
I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ TRUYỀN THỪA
Quảng Nam là mảnh đất đầu tiên được sáp nhập vào địa giới Đại Việt trong quá trình Nam tiến của cha ông. Với thuận lợi về giao thông đường biển của cửa Đại Chiêm nên Quảng Nam trở thành trung tâm hành chính thứ 2 sau kinh đô Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn.
Trong thời kỳ cuối Minh đầu Thanh, một số thiền sư sang An Nam hoằng pháp, các Ngài theo đường biển từ Quảng Đông sang cập bến Hội An rồi ra Thuận Hóa. Mảnh đất này đã đón bước chân hoằng hóa các vị Cao tăng như: Thạch Liêm–Đại Sán, Minh Lượng–Thành Đẳng, Minh Hải–Pháp Bảo v.v... Đặc biệt nơi đây thấm nhuần pháp vũ của ngài Minh Hải–Pháp Bảo – khai sơn Tổ đình Chúc Thánh, là Tổ khai tông của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.
Tại Quảng Nam cũng có vài ngôi chùa truyền thừa theo dòng kệ của tổ Mộc Trần–Đạo Mân: “Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên…(19) và dòng kệ của tổ Thiệt Diệu–Liễu Quán: “Thiệt Tế
 

(19) Chùa Vạn Đức do tổ Minh Lượng-Thành Đẳng khai sơn và truyền theo bài kệ này. Đệ tử tổ Minh Lượng có ngài Phật Thiền-Hoa Nghiêm ra khai sơn chùa Kim Sa và một vị ra khai sơn chùa Kim Liên (thuộc Hội An). Đến đời sau, do không có người kế thừa nên chư Tăng từ Phước Lâm lên trú trì Vạn Đức và truyền theo bài kệ của tổ Minh Hải-Pháp Bảo. Các chùa Kim Sa, Kim Liên bị tàn phá trong cuộc chiến Tây Sơn. Tại huyện Điện Bàn có chùa Hội Phước truyền theo bài kệ này. Chùa do tổ Phật Hiệu-Trừng Chiếu khai sơn truyền đến đời ngài Như Lý-Hoằng Khâm thì chấm dứt. Từ đó, chùa do Phật tử trông coi, thỉnh thoảng có chư Tăng trú trì nhưng không được lâu dài.
 

* Trang 137 *
device

Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng…”(20). Tuy nhiên, vùng đất Quảng Nam kết nhiều nhân duyên với dòng thiền Chúc Thánh nên phần lớn các chùa tại đây đều truyền theo bài kệ của tổ Minh Hải.
Sau tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh, tổ Thiệt Dinh–Ân Triêm (1712–1796) khai sơn chùa Phước Lâm, chư Tổ khai sơn kế tục Tổ đình Cổ Lâm rồi Tam Thai, Linh Ứng. Các ngôi Tổ đình tạo thành thế chân vạc phân thành ba vùng từ miền núi cho đến duyên hải khắp tỉnh Quảng Nam để giáo hóa. Đến thời cận đại có Hòa thượng Ấn Nghiêm–Phổ Thoại (1875–1954) khai sơn chùa Long Tuyền, Hội An; Hòa thượng Chơn Quyên–Hưng Long (…?–1924) khai sơn chùa Vu Lan, Đà Nẵng; Hòa thượng Như Tiến–Quảng Hưng (1893–1946) khai sơn chùa Từ Vân, Đà Nẵng v.v... Đây là những ngôi chùa mang đậm dấu ấn lịch sử Phật giáo Quảng Nam trong giai đoạn chấn hưng. Kế đến giai đoạn phát triển, có các vị tôn túc đảm nhận các chùa như: Hòa thượng Như Quang–Trí Minh (1904–1971) trú trì chùa Tỉnh hội Quảng Nam (tức chùa Pháp Bảo ở Hội An hiện nay); Hòa thượng Chơn Ngọc–Long Trí (1928–1998) trú trì chùa Viên Giác, Hội An; Hòa thượng Chơn Giác–Long Hải (1918–2002) trú trì chùa Nghĩa Trũng, Điện Bàn; Hòa thượng Thị Hải–Hành Sơn (1908–1989) trú trì chùa An Lạc, Hội An; Hòa thượng Như Lâm–Minh Trí (1908–1973) trú trì chùa Pháp Hoa, Điện Bàn; Hòa thượng Như Khương–Thanh Quang (1930–1982) trú trì chùa Phổ Quang, Đà Nẵng v.v... Chư tôn đức đã vận dụng hết tâm lực của mình để quang hưng Đạo pháp và phát triển Tông môn.
 

(20) Tại Hội An có một ngôi chùa truyền theo bài kệ của tổ Thiệt Diệu-Liễu Quán. Căn cứ vào bản kinh Không Môn Nhật Dụng Tổng Tập Yếu thì chùa có tên là Bửu Long và vị trú trì pháp danh Đại Tri thuộc đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 3 pháp phái Liễu Quán. Lạc khoản cho chúng ta biết bản kinh khắc vào năm Mậu Tý (1768) đến năm Kỷ Sửu (1769) tại chùa Bửu Long, xã Cẩm Phô, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn, xứ Quảng Nam, nước Đại Việt. Như vậy, niên đại khắc kinh thuộc năm Cảnh Hưng 28 triều vua Lê Hiển Tông. Có lẽ chùa bị tàn phá trong các cuộc phân tranh giữa Trịnh-Nguyễn và Tây Sơn. Hiện tại, ngôi chùa này hoàn toàn không còn dấu tích tại đất Cẩm Phô, Hội An. Chỉ còn một bản kinh duy nhất được nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn phát hiện và bảo quản. (Căn cứ Tập Văn Thành Đạo số 43, xuân Kỷ Mão 1999, Phật lịch 2542).
 

* Trang 138 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh