LOGO VNBET
Giải Toàn–Hải Châu trú trì chùa Bửu Thiên (cả hai vị là đệ tử Hòa thượng Chơn Sử–Khánh Tín tại chùa Thọ Sơn, Quảng Ngãi)
Bên cạnh đó, có một số chư Ni là đệ tử của Sư bà Như Hường chùa Bảo Thắng, Hội An và Sư bà Hồng Từ chùa Tịnh Nghiêm, Quảng Ngãi vào lập chùa và Tịnh thất rất nhiều tại hai tỉnh này.
Từ đó, sinh hoạt của các chùa trong tông môn ngày càng khắn khít. Điều này được thể hiện trong những lần họp mặt cuối năm tại chùa Bửu Lâm do Hòa thượng Kiến Tánh tổ chức.
II. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Đồng Trí–Thanh Minh–Bảo Huệ
同 智 清 明 寶 慧 (1935–1985): Chùa Long Thọ
 


Hòa thượng Bảo Huệ

Hòa thượng thế danh Nguyễn Đình Khả, sinh ngày 15 tháng 10 năm Ất Hợi (1935) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Đình Phường và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Ngọ, Ngài là người con thứ nhì trong gia đình có 5 chị em ba trai, hai gái.
Thuở thiếu thời, Hòa thượng là người thông minh chăm học, tánh tình cương trực thẳng thắn, không nịnh bợ bất cứ ai để cầu lợi cho mình. Năm lên 20 tuổi, Ngài được song thân tính chuyện trăm năm với cô Trần Thị
Miên, là người cùng xã. Cùng thời gian này, Ngài bị gọi đi lính Bảo An đóng quân tại Hương An, Quế Sơn.
Trong những thập niên 50–60 của thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển mạnh tại các vùng nông thôn. Tại quê hương Bình Triều của Ngài, ngôi chùa Phước Ấm được thành lập

* Trang 503 *
device

để làm nơi sinh hoạt tu tập của tín đồ. Thỉnh thoảng các vị giảng sư của Giáo hội Tăng Già Quảng Nam như Đại Đức Thích Như Huệ, Đại Đức Thích Như Vạn từ Hội An sang thuyết pháp. Những bài giảng giáo lý của quý Ngài đã tác động rất lớn đối với người thanh niên mới lớn trong xã hội chiến tranh ly loạn như Ngài. Từ đó, Ngài thường xuyên tới lui chùa Phước Ấm để học hỏi giáo lý và sinh hoạt với những người bạn đạo.
Sinh ra trong thời loạn, lại sống trong quân ngũ chứng kiến biết bao nhiêu nghịch cảnh trái ngang, cảnh nhồi da xáo thịt khiến cho Ngài chán ngán. Từ đó tâm Bồ–đề phát triển mạnh, Ngài bèn trốn khỏi quân đội đến chùa Phước Lâm, Hội An xin được tu học. Tuy nhiên, không được bao lâu, quân cảnh biết được và bắt Ngài về đưa ra tòa án quân đội xử phạt về tội đào ngũ. Càng trắc trở khó khăn, càng thử lòng kiên nhẫn của con người. Nghịch cảnh càng nhiều thì ý chí xuất trần của Ngài càng kiên định vững chắc hơn.
Năm Mậu Tuất (1958), thuận duyên đã đến, được sự cho phép của song thân cũng như sự chấp thuận của người phối ngẫu, Ngài xuất gia tu học tại chùa Linh Ứng với Hòa thượng Thích Trí Hữu, được Bổn sư ban cho pháp danh Đồng Trí, tự Thanh Minh. Sau một thời gian hành điệu, Ngài được Bổn sư cho theo học các lớp Phật học tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng, sau đó là Phật học viện Vĩnh Bình tại miền Tây Nam bộ.
 Năm Nhâm Dần (1962), Ngài thọ Tỳ–kheo giới và được Hòa thượng Bổn sư phú pháp hiệu Bảo Huệ, nối pháp đời 43 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 28 tuổi.
Sau khi thọ Đại giới, nhân một lần lên thăm người bạn là Văn Đức Ánh mới di cư vào quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy (nay là xã Đức Hạnh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận). Tại nơi đây, đồng bào Phật tử các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi mới vào định cư và lập chùa Quảng Sơn để có nơi tu niệm nhưng thiếu một vị thầy hướng đạo. Trong chuyến viếng thăm ấy, Ngài được đạo hữu Phật tử khẩn khoản mời trú trì chùa Quảng Sơn để hướng dẫn Phật tử tu học và Ngài hoan hỷ nhận lời.

* Trang 504 *
device

Năm Quý Mão (1963), khắp nơi trong nước dấy lên phong trào đấu tranh chống chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm. Ngài là một trong những vị Tăng xuất sắc lãnh đạo Phật giáo đồ Bình Tuy tranh đấu đòi tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Năm Giáp Thìn (1964), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bình Tuy được thành lập, Ngài được thỉnh cử làm Chánh đại diện Phật giáo quận Hoài Đức. Cũng trong năm này, Ngài khai sơn chùa Quang Minh tại xã Võ Xu, quận Hoài Đức, để cho những Phật tử di dân có nơi tu học.
Năm Ất Tỵ (1965), Ngài xây dựng làng định cư Phật giáo La Ngà. Cũng trong năm này Ngài bị bắt lên chiến khu Lê Hồng Phong nhưng Ngài trốn thoát và tiếp tục về lãnh đạo Giáo hội.
Năm Bính Ngọ (1966), Ngài được Viện hóa đạo thuyên chuyển đảm nhiệm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Long Khánh, kiêm trú trì chùa Long Thọ. Cũng trong năm này, Phật giáo đồ lại tiếp tục tranh đấu với chính phủ Thiệu–Kỳ để đòi hỏi những nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Một lần nữa Ngài lại dấn thân đi đầu và bị bắt đày đi Côn Đảo 3 năm.
Tại nhà tù Côn Đảo, Ngài lãnh đạo chư Tăng tiếp tục đấu tranh đòi hỏi nhà tù phải để chư Tăng ở phòng riêng và có nơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo. Một lần phái đoàn nhân quyền Liên hiệp quốc ra thăm, Ngài đã đốt cháy ngón áp út bên bàn tay phải để thể hiện cho phái đoàn thấy sự áp bức trong nhà tù.
Năm Kỷ Dậu (1969), Ngài được trả tự do trở về chùa Long Thọ tiếp tục sứ mệnh hoằng pháp của mình. Trong thời gian này, Ngài tiến hành xây dựng khu Phật giáo Gia Kiệm.
Năm 1975, Ngài lại bị bắt ở tù và giam tại trại K3 Long Khánh. Trong nhà giam, Ngài có làm bài thơ như sau:
Ta nguyền cấm khẩu để tịnh tu
Kiến tánh minh tâm được ở tù
Tu cho mãn kiếp ở tù
Tù cho mãn kiếp thiên thu mới thành.
Ngài viên tịch vào ngày 17 tháng 7 năm Ất Sửu (1985) tại trại giam Long Khánh, hưởng dương 51 tuổi. Bảo tháp được lập tại chùa Long Thọ, Long Khánh.

* Trang 505 *
device

Trước khi viên tịch, Ngài có để lại hai câu thơ mang tâm nguyện của một bậc Như Lai sứ giả:
Bao giờ đời hết ngục tù
Thì ta mới hết công phu tu hành.
Hòa thượng Thích Bảo Huệ là một trong những vị Tăng mang đậm tính cách của người con quê hương xứ Quảng. Hơn nửa thế kỷ xuất hiện ở đời và 30 năm tu học hành đạo, Ngài đã cống hiến hết sức mình trong sự nghiệp hoằng dương chánh pháp. Nơi đâu có khó khăn là nơi đó Ngài có mặt để sẻ chia những buồn vui đối với đạo hữu Phật tử. Tuy rằng thời gian trôi qua xóa nhòa tất cả nhưng tấm lòng và gương hy sinh vì đạo của người vẫn sáng ngời trong trang sử Phật giáo Việt Nam.
2. Hòa thượng Đồng Giác–Tịnh Giác
同 覺 凈 覺 (1942–2005): Chùa Tịnh Quang
 


Hòa thượng Tịnh Giác

Hòa thượng thế danh Nguyễn Tấn Sinh, sinh ngày 10 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1942) tại thôn An Ninh Thượng, xã Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Năm Nhâm Thìn (1952), Ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Trí Hữu tại chùa Thủy Biểu, Thừa Thiên–Huế. Năm 1960, Ngài theo học tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng. Năm 1964, Ngài thọ Tỳ–kheo tại giới đàn Việt Nam Quốc Tự do Hòa thượng Hải Tràng làm Đàn đầu.
Năm 1965, Ngài đảm nhận trú trì chùa Quang Minh tại
Liên Chiểu và đến năm 1967 khai sơn chùa Tịnh Quang, Liên Chiểu.

* Trang 506 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh