LOGO VNBET
Ấn Lãnh–Hoằng Thạc (1873–1944) trú trì chùa Thạch Sơn, khai sơn chùa Phổ Quang, Nghĩa Hành; ngài Ấn Tịnh–Hoằng Thanh (…?–1918?) khai sơn chùa Cảnh Tiên; ngài Ấn Thiền–Hoằng Chí (1865–1940) khai sơn chùa Bửu Quang, Thu Xà. Đời 40 có ngài Chơn Quỳnh–Diệu Nguyên (….?–1943) khai sơn chùa Lộc Viên; ngài Chơn Sử–Khánh Tín (1896–1992) khai sơn chùa Thọ Sơn; ngài Chơn Trung–Diệu Quang (1891–1952) khai sơn trùng kiến các chùa như Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh Vân, Kim Tiên v.v… Ngài Chơn Miên–Trí Hưng (1908–1986) khai sơn chùa Từ Lâm. Đời 41 có ngài Như Bình–Giải An (1914–2003) khai sơn chùa Từ Quang v.v... Từ đó, tông môn Chúc Thánh phát triển sâu rộng khắp tỉnh Quảng Ngãi và hầu như tuyệt đối đa số các chùa Quảng Ngãi truyền theo bài kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo.
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
1. Tổ đình Thiên Ấn
Thiên Ấn niêm hà” là một trong 10 cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi đã được Nguyễn Cư Trinh hết sức ca ngợi trong sử sách. Nơi đó, ngôi chùa Thiên Ấn đã được xây dựng kiến tạo thành một ngôi Tổ đình chính của Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi.
 
                                    Tổ đình Thiên Ấn – Quảng Ngãi

* Trang 226 *
device

Hai câu ca dao kể về sự tích của Tổ khai sơn đã đi sâu vào lòng người:
“Ông thầy đào giếng trên non
Đến khi có nước không còn tăm hơi”.
Chùa Thiên Ấn được tổ Phật Bảo–Pháp Hóa, thế danh Lê Duyệt, người tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc sang khai sơn vào khoảng những năm 1694. Đến năm Bính Thân (1716), chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban Sắc tứ.
 
Chánh điện Tổ đình Thiên Ấn

* Trang 227 *
device

Vào ngày 17 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1754), tổ Pháp Hóa viên tịch, thiền sư Thiệt Úy–Khánh Vân được chư sơn cử làm trú trì chùa Thiên Ấn. Từ đó, pháp kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo được truyền thừa tại nơi đây và phát triển sâu rộng khắp các tỉnh Quảng Ngãi.
Từ khi thành lập đến nay đã trên 300 năm, chùa trải qua các đời trú trì như sau:
 
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Pháp Hóa–Phật Bảo
1670–1754
1694–1754
02.
Thiệt Úy–Chánh Thành–Khánh Vân
….?–1770
1754–1770
03.
Húy Pháp Châu
…?–….?
1802–1805
04.
Húy Huệ Minh
….?–….?
…?–…?
05.
Toàn Chiếu–Trí Minh–Bảo Ấn
1798–1866
1827–1866
06.
Chương Khước–Tông Tuyên–Giác Tánh
1830–1908
1866–1908
07.
Ấn Tham–Tổ Vân–Hoằng Phúc
….?–1916
1908–1916
08.
Ấn Chí–Tổ Toại–Hoằng Chương
1847–1919
1916–1918
09.
Ấn Kim–Tổ Tuân–Hoằng Tịnh
1872–1932
1918–1921
10.
Ấn Lập–Tổ Duy–Hoằng Nhiếp
1865–1942
Giám tự
11.
Hiệu Hoằng Pháp
1871–….?
Giám tự
12.
Hiệu Hoằng Châu
….?–….?
Giám tự
13.
Chơn Trung–Đạo Chí–Diệu Quang
1891–1952
1925–1940
14.
Chơn Miên–Đạo Long–Trí Hưng
1908–1986
1940–1945
15.
Như Nguyện–Giải Trình–Hồng Ân
1913–
1945–1952
16.
Chơn Sử–Đạo Thị–Khánh Tín
1896–1992
1952–1954
17.
Như Chánh–Giải Trực–Huyền Tấn
1911–1984
1954–1968
18.
Như Lợi–Giải Lý–Huyền Đạt
1903–1994
1968–1994
19.
Thị Lệnh–Hạnh Trình–Vĩnh Hội
 
1994 đến nay
 

* Trang 228 *
device

Tổ đường Tổ đình Thiên Ấn


* Trang 229 *
device



Tháp tổ Khai sơn Tổ đình Thiên Ấn

Kể từ lúc thành lập đến nay, Tổ đình Thiên Ấn trải qua nhiều đời trú trì và giám tự. Có những lúc chiến tranh ly loạn, chùa bị hoang phế. Có những lúc sơn môn bất hòa nên các vị Giám tự thay nhau trong vòng vài năm. Duy có 6 đời trú trì được Chư sơn suy tôn là Lục tổ Thiên Ấn. Đó là các ngài Phật Bảo–Pháp Hóa, Thiệt Úy–Khánh Vân, Toàn Chiếu–Bảo Ấn, Chương Khước–Giác Tánh, Ấn Tham–Hoằng Phúc, Chơn Trung–Diệu Quang.
Theo dòng thời gian biến dịch, chùa đã được bao lần  trùng tu sửa chữa qua các đời trú trì. Tuy có những đổi thay về kiến trúc, nhưng Thiên Ấn vẫn giữ nét cổ kính thâm u của một ngôi già–lam lịch sử, mang đậm nét truyền thừa của dòng thiền Chúc Thánh tại núi Ấn sông Trà. Quả chuông thần kỳ thời tổ Bảo Ấn vẫn còn đó, cổng Tam quan được kiến tạo thời ngài Hoằng Phúc vẫn còn đó v.v... Tuy di tích tiền nhân không còn trọn vẹn, nhưng chừng ấy cũng đủ để minh chứng với thời đại tầm vóc quan trọng của chốn tổ Thiên Ấn đối với lịch sử Phật giáo Quảng Ngãi nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.
2. Tổ đình Viên Quang
Tổ đình Viên Quang tọa lạc tại huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Chùa được tổ Toàn Chiếu–Bảo Ấn khai sơn vào những năm đầu triều Minh Mạng nhà Nguyễn. Đến năm Đinh Hợi (1827), Hòa thượng Bảo Ấn được sơn môn cung thỉnh kế vị trú trì Tổ

* Trang 230 *
device

đình Thiên Ấn nên Ngài trạch cử đệ tử là ngài Chương Cao–Tánh Không trông coi. Từ đó, chùa Viên Quang dần dần hưng thịnh và được triều đình ban Sắc tứ.
 

                                                                       Tổ đình Viên Quang – Bình Sơn
Từ khi tổ Bảo Ấn khai sơn, chùa trải qua các đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Toàn Chiếu–Trí Minh–Bảo Ấn
1798–1866
…?–1866
02.
Chương Cao–Viên Thiệu–Tánh Không
1798–…..?
Giám tự
03.
Chương Nhẫn–Tuyên Tâm–Từ Nhân
1834–1897
1866–1897
04
Chương Khước–Tông Tuyên–Giác Tánh
1830–1908
1897–1908
05.
Ấn Đàn–Tổ Duyệt–Hoằng Đề
1858–1920
1908–1920
06.
Chơn Định–Đạo Chí–Phước Huệ
1900–1962
1920–1962
07.
Như Tràng–Giải Quới–An Tường
1926–
1962 đến nay
 

* Trang 231 *
device



Tổ đường Tổ đình Viên Quang

Vào thời chúa Nguyễn, Phật giáo Bình Sơn rất hưng thịnh. Năm Chính Hòa thứ 27, Bính Tuất (1796), nơi đây đã khắc bản in kinh. Đến thời Tây Sơn, có nhà sư Bùi Đặng Tường ở chùa Phổ Phúc thôn Ngọc Giáp ứng nghĩa phò chúa Nguyễn. Các thiền tăng lỗi lạc như Pháp Ấn–Quảng Độ, trú trì chùa Viên Tôn, Bình Sơn; Pháp Kiêm–Minh Giác, trú trì chùa Phước Lâm, Hội An đều xuất thân từ vùng đất này. Vì lẽ đó, chư Tổ truyền thừa từ Viên Quang ra khai sơn trú trì các chùa như
ngài Chương Nhẫn–Từ Nhân (1834–1897)trú trì chùa Diệu Giác; ngài Ấn Lập–Hoằng Nhiếp (1865–1942) trú trì chùa Tây Thiên; ngài Ấn Hướng–Pháp Nhãn (1858–1912) khai sơn chùa Phước Sơn; ngài Chơn Định–Phước Huệ (1900–1962) trú trì Viên Quang, khai sơn chùa Viên Phước xã Bình Trị và chùa Kim Long huyện Trà Bồng; ngài Chơn Đình–Phước Huy (1909–1982) khai sơn chùa Liên Quang v.v... Phần lớn, các chùa tại huyện Bình Sơn đều do môn hạ Tổ đình Viên Quang khai sơn. Thời Hòa thượng Chương Nhẫn–Từ Nhân trú trì, Ngài có khai Đại giới đàn và được triều đình ban Giới đao Độ điệp.
Trải qua bao cuộc chiến tranh, chùa bị hư hại nặng nề. Hiện tại, chùa được Hòa thượng Thích An Tường trùng tu ở mức độ khiêm tốn theo điều kiện kinh tế eo hẹp của vùng quê Bình Sơn khốn khó.
3. Tổ đình Phước Quang
Sau khi đắc pháp với tổ Toàn Chiếu–Bảo Ấn, Hòa thượng Chương Trang–Quảng Chấn (….?–1898) về tại quê nhà thôn Phước

* Trang 232 *
device

Phước Long, xã Tư Hòa, huyện Tư Nghĩa khai sơn chùa Phước Quang. Đến ngày 22 tháng 11 năm Mậu Tuất (1898), Hòa thượng Quảng Chấn viên tịch, Hòa thượng Ấn Tịnh–Hoằng Thanh trú trì chùa Kim Tiên kế nghiệp làm đệ nhị trú trì chùa Phước Quang(36). Đến khoảng những năm 1918, Hòa thượng Hoằng Thanh viên tịch, Hòa thượng Ấn Kim–Hoằng Tịnh làm trú trì và ngài Ấn Tham–Hoằng Phúc làm Phó tự.
 


Tượng Địa Tạng tại Tổ đình Phước Quang

Với uy tín và đức độ của mình, Hòa thượng Hoằng Tịnh đã xây dựng Phước Quang thành một già–lam trang nghiêm thanh tịnh. Vào năm Duy Tân thứ 5, Tân Hợi (1911), chùa Phước Quang được triều đình gia ân Sắc tứ. Tại nơi đây, Hòa thượng Hoằng Tịnh liên tiếp mở các trường hương và trường kỳ. Vào các năm Canh Thân (1920), Ất Sửu (1925), Nhâm Thân (1932), Hòa thượng đã khai đàn truyền trao giới pháp cho chư Tăng thọ giới tu học. Đặc biệt từ giới đàn năm Canh Thân (1920), các giới tử thọ giới với Ngài về sau trở thành những bậc đống lương của Phật pháp như
Hòa thượng Thích Khánh Anh, trú trì chùa Phước Hậu, Vĩnh Long; Hòa thượng Thích Khánh Tín, khai sơn chùa Thọ Sơn, Quảng Ngãi; Hòa thượng Thích Tôn Thắng, khai sơn chùa Phổ Đà, Đà Nẵng v.v...
 

(36) Căn cứ vào bia tháp của Hòa thượng Hoằng Thanh tại Tổ đình Phước Quang, Quảng Ngãi.
 

* Trang 233 *
device

Từ ngày tổ Quảng Chấn khai sơn đến nay, chùa đã trải qua các đời trú trì:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Chương Trang–Nhất Trạch–Quảng Chấn
….?–1898
….?–1898
02.
Ấn Tịnh–Kim Liên–Hoằng Thanh
….?–1918
1898–1918
03.
Ấn Kim–Tổ Tuân–Hoằng Tịnh
1862–1932
1918–1932
04.
Chơn Trung–Đạo Chí–Diệu Quang
1891–1952
Kiêm
05.
Chơn Diên–Giải Sanh–Hồng Diệm(37)
1925–1996
1943–1949
06.
Chơn Thống–Đạo Tô–Phước Hậu(38)
1905 –….?
1949–1954
07.
Như Lộc–Viên Phước
1894–1973
1954–1973
08.
Thích Hạnh Duyên
 
1973 đến nay
 

                                 Tổ đình Phước Quang – Quảng Ngãi
 

(37) Ngài Hồng Diệm thế danh Phạm Ngọc Thọ, thuở nhỏ quy y với ngài Ấn Kim-Hoằng Tịnh với pháp danh Chơn Diên. Sau khi Hòa thượng Hoằng Tịnh viên tịch, Ngài xuất gia với Hòa thượng Chơn Tích-Huệ Hải, trú trì chùa Quang Lộc nên có pháp tự Giải Sanh, hiệu Hồng Diệm. Ngài trú trì Phước Quang được 6 năm thì thối lui, ra lập tịnh thất Linh Quang tu niệm và tịch năm 1996.
(38) Ngài Chơn Thống-Phước Hậu về sau hoàn tục tham gia kháng chiến nên chùa được chư sơn cử bốn vị đại sư về trong coi, gồm các ngài: Thích Viên Phước, Thích Viên Thọ, Thích Từ Nguyện, Thích Phước Ấm. Trong đó, có ngài Như Lộc-Viên Phước trụ lâu dài nhất và coi như Ngài chính thức trú trì Phước Quang.
 

* Trang 234 *
device

Trên 100 năm hình thành, phát triển và tồn tại trong dòng chảy của lịch sử Phật giáo Quảng Ngãi, chùa Phước Quang đã để lại nhiều dấu ấn vàng son. Thời cực thịnh nhất của ngôi Sắc tứ này dưới sự chủ trì tu học của Hòa thượng Hoằng Tịnh. Đến thời ngài Phước Hậu trú trì, Ngài đã lìa chốn Tổ để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc. Ngôi chùa Phước Quang rơi vào cảnh hương tàn khói lạnh. Các đời sau kế thừa không đủ sức cáng đáng nên chốn Tổ lại hoang sơ. Từ đó, chúng ta mới chiêm nghiệm thêm lẽ thịnh suy của cuộc đời để kiên định hơn nữa trong giáo lý vô thường mà Đức Phật đã dạy.
4. Tổ đình Quang Lộc

                                         Tổ đình Quang Lộc – Quảng Ngãi
 
Vào năm Mậu Tuất (1898), Hòa thượng Ấn Tham–Hoằng Phúc (1865?–1916) về tại quê nhà ở làng Phước Long, xã Tư Hòa, huyện Tư Nghĩa (nay là thôn Hòa Bình, xã Nghĩa Hòa) khai sơn chùa Quang Lộc để tiếp tăng độ chúng. Đến năm Mậu Thân (1908), tổ Giác Tánh viên tịch, Ngài về kế nghiệp trú trì Tổ đình Thiên Ấn. Tuy nhiên, chùa Quang Lộc vẫn được Ngài chăm sóc và ngày càng phát triển. Nơi đây, có một thời gian Hòa thượng Khánh Anh nhập chúng tu học.

* Trang 235 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh