LOGO VNBET
Thiện (1874–1919); Ấn Nhâm–Từ Lương (1872–1937) trú trì chùa Thiên Tôn; Ấn Long–Thiện Qưới (1837–1906), Ấn Bửu–Thiện Quý (1861–1941) trú trì chùa Hội Khánh; Ấn Thanh–Thới Khiêm (1860–1934) trú trì chùa Bửu Nghiêm; Ấn Sơn–Trí Lực (1828–1901) trú trì chùa Phước Long. Đời thứ 40 có hai vị thiền sư tiêu biểu là ngài Chơn Thanh–Từ Văn (1877–1931) trú trì chùa Hội Khánh và Chơn Phổ–Nhẫn Tế tức Hòa thượng Thích Minh Tịnh (1889–1951) khai sơn chùa Thiên Chơn. Cả hai vị đều là những bậc Cao tăng thạc đức nên đồ chúng quy về tu học rất đông và ảnh hưởng đạo đức của hai Ngài rất lớn trong giới Phật giáo tại miền Nam thời bấy giờ.
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
1. Tổ đình Hội Khánh
 

                                          Tổ đình Hội Khánh – Bình Dương

Tổ đình Hội Khánh tọa lạc tại phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Chùa được thiền sư Đại Ngạn–Từ Tấn (…?–1812) khai sơn vào năm Tân Dậu (1741) dưới thời Lê Cảnh Hưng. Sau khi ngài Từ Tấn viên tịch vào năm Nhâm Thân (1812), chùa được thiền sư Chân Kính–Minh Huệ (1741–1839)

* Trang 467 *
device

tiếp tục kế thừa và chùa ngày càng phát triển. Đến ngày 21 tháng 12 năm Kỷ Hợi (1839), thiền sư Minh Huệ viên tịch, do không có đệ tử kế thừa nên bổn đạo đã cung thỉnh Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc (1789–1869) từ chùa Tập Phước, Gia Định về kế thừa trú trì chùa Hội Khánh. Kể từ khi thiền sư Toàn Tánh–Chánh Đắc trú trì, chùa Hội Khánh chính thức truyền thừa theo bài kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo.
 
                                              Chánh điện Tổ đình Hội Khánh

* Trang 468 *
device

Tính từ tổ Đại Ngạn–Từ Tấn khai sơn đến nay, chùa Hội Khánh đã trải qua các đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Đại Ngạn–Từ Tấn
….?–1812
1741–1812
02.
Minh Huệ–Chân Kính
1741–1839
1812–1839
03.
Toàn Tánh–Chánh Đắc
1789–1869
1839–1869
04.
Chương Đắc–Trí Tập
1817–1884
1869–1884
05.
Ấn Long–Thiện Quới
1837–1906
1884–1906
06.
Chơn Thanh–Từ Văn
1877–1931
1906–1931
07.
Ấn Bửu–Thiện Quý
1861–1941
1931–1941
08.
Thị Huê–Thiện Hương
1903–1971
1941–1971
09.
Đồng Bửu–Quảng Viên
1910–1988
1971–1988
10.
Nhật Minh–Huệ Thông
1960
1988 đến nay
 
 
                                                               Tam quan Tổ đình Hội Khánh

* Trang 469 *
device

Bảo tháp Tổ đình Hội Khánh
Trên 200 năm hình thành phát triển và trải qua 10 đời trú trì, chùa Hội Khánh trở thành một trong những ngôi danh lam của đất Bình Dương. Trải qua các đời trú trì, các Ngài đều dốc hết tâm lực tô bồi phạm vũ. Đời ngài Toàn Tánh–Chánh Đắc cho dời vị trí chùa ở trên đồi xuống địa điểm như hôm nay. Các thế hệ sau tiếp tục đúc chuông, khắc bản in kinh v.v... Đến đời ngài Ấn Long–Thiện Qưới và Chơn Thanh–Từ Văn, chùa được trùng tu toàn bộ. Tất cả các bao lam, tượng thờ tại chùa Hội Khánh đã đạt đến đỉnh cao của giá trị nghệ thuật điêu khắc Nam bộ.

* Trang 470 *
device

Sự truyền thừa theo bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo tại chùa Hội Khánh đến đời ngài Đồng Bửu–Quảng Viên là chấm dứt. Năm Mậu Thìn (1988), Hòa thượng Quảng Viên thị tịch, do không có đệ tử kế thừa nên Tỉnh hội Phật giáo Sông Bé cử Thượng tọa Thích Huệ Thông về trú trì. Thượng tọa Huệ Thông pháp húy Nhật Minh truyền thừa theo dòng Lâm Tế Gia Phổ. Thượng tọa từng bước kiến tạo chùa Hội Khánh ngày một khang trang và là trung tâm tu học cho Tăng ni Phật tử tại tỉnh Bình Dương và các vùng phụ cận.
2. Tổ đình Thiên Tôn
 
                                                                   Tổ đình Thiên Tôn – Bình Dương

 
Vào năm Quý Tỵ (1773), hai vị thiền sư Toàn Hiệu–Gia Linh và Gia Tiền từ chùa Tập Phước, Gia Định đến thị trấn An Thạnh, huyện Thuận An lập chùa Thiên Tôn. Cả hai vị đều là đệ tử của tổ Pháp Nhân–Thiên Trường, truyền thừa đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh.
Ban đầu, hai vị chỉ lập thảo am nhỏ, trên gác dùng để thờ Phật nên dân gian gọi là chùa Lầu. Trong giai đoạn bôn tẩu lánh nạn Tây Sơn, Gia Long cũng đã từng ngụ tại chùa này. Vì thế, sau khi lên ngôi nhà vua đã ban biển ngạch Sắc tứ cho chùa Thiên Tông. Đến thời Thiệu Trị, vì tránh tên húy của vua nên đổi tên lại Sắc tứ Thiên Tôn tự cho đến ngày hôm nay.

* Trang 471 *
device


                                                                                 Chánh điện Tổ đình Thiên Tôn
 
Từ khi thành lập đến nay, chùa đã trải qua các đời trú trì như sau:

* Trang 472 *
device

STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Toàn Hiệu–Gia Linh
….?–1812
1773–1812
02.
Gia Tiền
….?–….?
1812–….?
03.
Chương Phụng–Phước Lịch
1814–1900
….?–1900
04.
Chương Lân–Phước Đông
….?–….?
….?–….?
05.
Ấn Thành–Từ Thiện
1874–1919
….?–1919
06.
Ngộ Định–Từ Phong
…?–….?
1919–1934
07.
Ấn Nhâm–Từ Lương
1872–1937
1934–1937
08.
Chơn Tân–Thiện Khoa
1901–1964
1937–1964
09.
Như Khiêm–Bửu Thanh
1912–1979
1964–1979
10.
Như Trực–Thiện Chánh
1940–2004
1975–2004
11.
Thích Chúc Minh
 
2004 đến nay
 

                                                               Vườn tháp Tổ đình Thiên Tôn

* Trang 473 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh