LOGO VNBET
sông Hoài. Thập Lão(8), Lục Tánh(9), Tam Gia(10) là những vị có công rất lớn trong sự phát triển này. Cũng như người Việt, người Trung Hoa đi đến đâu lập chùa thờ Phật đến đó. Các ngôi chùa Di Đà, Quảng Thành, Minh Hương Phật tự(11) lần lượt ra đời để đáp ứng nhu cầu tu học của cộng đồng người Hoa.
Chính sự hình thành và phát triển của làng Minh Hương tại Hội An là một yếu tố quan trọng để các thiền sư từ Trung Hoa sang dừng chân tại nơi đây hoằng pháp. Và cộng đồng người Hoa tại phố Hội là những Phật tử đầu tiên hậu thuẫn cho sự phát triển của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh trong buổi ban sơ.
Sau khi giới đàn tại chùa Thiền Lâm, Huế thành tựu, ngài Thạch Liêm vào lại Hội An để về nước. Trong thời gian chờ tàu, Ngài có mở giới đàn tại chùa Di Đà với trên 300 giới tử Tăng tục. Sau đó, chúa Nguyễn mời Ngài ra lại Thuận Hóa một lần nữa, sau đó Ngài mới về nước. Trong thời gian lưu lại, các thiền sư đã gieo hạt giống Bồ–đề nơi vùng đất này. Có thể, do đáp ứng nhu cầu tu học của cộng đồng Hoa kiều tại Hội An nên thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo và thiền sư Minh Lượng–Thành Đẳng đã trụ lại Hội An hoằng pháp. Tổ Minh Lượng lập chùa Vạn Đức và tổ Minh Hải lập chùa Chúc Thánh. Thời gian sau, tổ Minh Lượng vào Nam hoằng pháp. Tại Phố Hội chỉ còn thiền sư Minh Hải và môn hạ của mình. Từ đó, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh hình thành nơi đây và phát triển khắp mọi nơi.
II. THIỀN SƯ MINH HẢI VÀ SỰ KHAI SÁNG THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
1. Tình hình Phật giáo Quảng Nam trước khi dòng Lâm Tế Chúc Thánh ra đời
Người Việt đi đến đâu là lập chùa thờ Phật đến đó. Đây là một lẽ tất yếu, bởi tinh thần Phật giáo đã thấm sâu vào trong tư
 

(8) Thập Lão: Bao gồm 10 vị tiền hiền của 10 họ đến định cư tại làng Minh Hương, Hội An năm 1683 là các họ: Khổng, Nhan, Dư, Từ, Chu, Hoàng, Trương, Trần, Thái, Lưu.
(9) Lục Tánh: Bao gồm 6 vị có công với làng Minh Hương sau Thập Lão, đó là Ngụy lão gia; Trang lão gia; Ngô lão gia; Thiệu lão gia; Hứa lão gia; Ngũ lão gia.
(10) Tam Gia: Bao gồm ba vị sau thế hệ Lục Tánh, đó là Tẩy Quốc Công (húy Trường); Ngô Định Công (húy Khoan); Trương Hoành Công (húy Cơ).
(11) Trong 3 ngôi chùa này chỉ có Minh Hương Phật tự là còn tồn tại đến ngày hôm nay.
 

* Trang 105 *
device

tưởng tình cảm của mỗi người dân Việt. Vì thế, kể từ khi đất Quảng Nam thành lập, chúng ta đã thấy có bóng dáng của những ngôi chùa cũng như các vị thiền sư hoằng hóa tại nơi đây.
Những ngôi chùa đầu tiên tại xứ Quảng mà chúng ta được biết là chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu do chúa Tiên–Nguyễn Hoàng xây dựng vào năm Đinh Mùi (1607). Ngôi chùa thứ 2 là chùa Chiên Đàn tại Hội An do cộng đồng người Hoa xây dựng vào những năm Quý Tỵ (1653). Chùa này còn có những tên gọi khác như là chùa Di Đà, Quan Âm hay Minh Hương Phật tự.
Trong những năm đầu giữa thế kỷ XVII, thiền sư Minh Châu–Hương Hải tu học và hoằng hóa tại Quảng Nam. Tổ tiên Ngài vốn người Nghệ An, theo phò chúa Tiên vào định cư tại phủ Thăng Hoa. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1628), thuở thiếu thời là Nho sinh nơi cửa Khổng sân Trình và thi đậu ra làm quan tới chức Tri phủ huyện Triệu Phong. Năm Nhâm Thìn (1652), Ngài đến thọ giáo với tổ Lục Hồ–Viên Cảnh và Viên Khoan–Đại Thâm để rồi 3 năm sau xuất gia với pháp danh Minh Châu–Hương Hải và hiệu là Huyền Cơ–Thiện Giác. Sau đó, Ngài dong thuyền ra đảo Tiêm Bút La (Cù lao Chàm ngày nay) lập thảo am tu hành. Đạo phong của Ngài đã ảnh hưởng đến mọi tầng lớp nhân dân và được chúa Nguyễn mời ra Thuận Hóa hoằng pháp: “Một thời gian sau ông đóng thuyền đến Cù lao Chàm ở ngoài cửa biển Hội An, dựng ba gian am nhỏ để ở và tu trì. Thời gian thiền sư ở đảo này khoảng chục năm. Tiếng tăm tu thiền của ông được nhiều người biết đến. Trong số đó có Hoa Lễ Hầu là Tổng thái giám. Hoa Lễ Hầu tâu với Dũng Quốc Công Nguyễn Phúc Tần (1649–1687) về thiền sư và thiền sư được quốc công mời về trú trì viện Thiền tịnh ở núi Quy Kỉnh. Mẹ của Nguyễn Phúc Tần và 3 con là Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều đến quy y cùng đông đảo quan lính” (12).
Rất tiếc là một thời gian sau, chúa Hiền–Nguyễn Phúc Tần nghe theo lời sàm tấu sinh tâm nghi kỵ Ngài. Vì thế, vào tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682), Ngài cùng với 50 đồ chúng đóng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài. Đây cũng là một tổn thất lớn cho Phật giáo Quảng Nam lúc bấy giờ.
 

(12) Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Minh Châu Hương Hải, NXB Tp. HCM, 2000, trang 14-15.
 

* Trang 106 *
device

Vào những năm Đinh Tỵ (1677), có thiền sư Hưng Liên–Quả Hoằng là đệ tử của Hòa thượng Thạch Liêm từ Trung Quốc sang Đàng Trong giáo hóa. Ngài lập đạo tràng tại chùa Tam Thai núi Ngũ Hành tỉnh Quảng Nam và được Quốc chúa–Nguyễn Phúc Chu phong làm Quốc sư.
Năm Ất Hợi (1695), sau khi giới đàn tại chùa Thiền Lâm, Thuận Hóa viên mãn, ngài Thạch Liêm vào Hội An để đón thuyền về lại Quảng Đông. Trong thời gian ngụ lại Hội An, Ngài đã mở đàn truyền giới cho khoảng 300 Tăng tục tại nơi đây: “Tăng tục luôn luôn đến xin truyền giới, nhân nghĩ còn mười ngày nữa mới khai thuyền, bọn chúng đã thành tâm khẩn cầu, tiếc chi khó nhọc hai ba ngày, không thành tựu cho vẹn toàn công đức; bèn truyền rao xa gần, hẹn đến ngày mồng 7 truyền giới.
Đến ngày kỳ hẹn, tứ chúng giới tử hơn 300 người, đến thụ giới hoàn tất. Khiến quốc sư và Hậu đường cấp phát Điệp văn cho họ, mặc khác tư giấy trình Quốc vương xin dùng ấn để đóng kiềm điệp văn”. (13)
Điểm qua một vài dữ kiện trên, ta thấy Phật giáo tại Quảng Nam thật hưng thịnh. Tuy rằng các thiền sư Minh Châu, Thạch Liêm giáo hóa nơi đây không lâu nhưng đạo phong của các Ngài ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp nhân dân tại xứ Quảng. Giới đàn vào ngày mồng 7 tháng 7 năm Ất Hợi (1695) tại chùa Di Đà, Hội An đủ để chứng minh người dân xứ Quảng thời bấy giờ phần lớn hướng tâm đến đạo Phật và khát khao tìm cầu giáo pháp. Vì các vị thiền sư đến rồi đi, nên những sinh hoạt Phật giáo tại đây thường gián đoạn không được ổn định. Mãi đến khi thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh và dòng thiền Chúc Thánh thành lập thì tình hình Phật giáo Quảng Nam mới ổn định và phát triển mạnh.
2. Sự ra đời của thiền phái Chúc Thánh
Như trên đã trình bày, trước khi thiền phái Chúc Thánh ra đời, tại Quảng Nam đã có nhiều vị thiền sư danh tiếng giáo hóa như: Minh Châu–Hương Hải, Thạch Liêm, Hưng Liên–Quả Hoằng v.v...
 

(13) Thích Đại Sán, Hải Ngoại Ký Sự, Viện Đại học Huế, 1963, trang 158.
 

* Trang 107 *
device

Tuy nhiên, các Ngài chỉ trụ một thời gian rồi ra đi. Ngài Minh Châu cùng với 50 đệ tử vượt biển ra Đàng Ngoài vào tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682). Có thể sợ bị liên lụy nên không có một vị đệ tử nào của Ngài ở lại Quảng Nam tiếp tục giáo hóa. Vì thế, sự ảnh hưởng của Ngài mau chóng phôi phai theo năm tháng.
Kế đến là hai thầy trò ngài Thạch Liêm và Hưng Liên của dòng Tào Động. Ngài Thạch Liêm qua chỉ một thời gian ngắn, còn ngài Hưng Liên được phong Quốc sư và trụ tại chùa Tam Thai. Tuy nhiên, sau khi ngài Thạch Liêm về nước và ngài Hưng Liên viên tịch thì sự truyền thừa của dòng Tào Động tại Quảng Nam xem như không còn. Điều này có hai lý do giải thích như sau:
Thứ nhất, ngài Thạch Liêm và Hưng Liên đều là những vị tài giỏi nhưng tầm ảnh hưởng của các Ngài chỉ trong nội vi nhà Chúa và giới lãnh đạo mà thôi, chứ chưa có sự ảnh hưởng lan rộng trong lòng quần chúng Phật tử.
Thứ hai, sau khi ngài Hưng Liên viên tịch, các đệ tử của Ngài không có ai có đủ khả năng kế thừa để phát triển tông phong. Vì lẽ đó, dòng Tào Động cũng mai một và không còn dấu tích trên đất Quảng nữa.
Sự hoằng hóa của các thiền sư kể trên đã làm cho người dân đất Quảng thấm nhuần Phật pháp. Nhưng các Ngài tùy duyên giáo hóa, chợt đến chợt đi khiến cho người con Phật nơi đây cảm thấy hụt hẫng, thiếu thốn. Chính vì lẽ đó, khi thiền sư Minh Hải quyết định trụ lại Quảng Nam hoằng hóa đã đáp ứng được niềm khát khao mong đợi của người dân. Nếu như các ngài Minh Châu, Thạch Liêm là người có công xây dựng nền móng thì ngài Minh Hải là người có công kiến tạo tòa nhà Phật giáo Quảng Nam.
3. Lược sử thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo
3.1. Lược sử
Thiền sư Minh Hải (1670–1746) thế danh Lương Thế Ân, sinh vào giờ Tuất, ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) nhằm năm Khang Hy thứ 8 triều nhà Thanh tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Thân phụ là Lương Đôn Hậu, thân mẫu là Trần Thục Thận, anh trai là Lương Thế Bảo, em trai là Lương Thế Định, Ngài là người con thứ 2 trong gia đình.

* Trang 108 *
device

Thuở thiếu thời, Ngài đã tỏ ra thông minh khác người và có tâm hướng về đạo Phật. Năm Mậu Ngọ (1678), Ngài được song thân đưa đến xuất gia tại chùa Báo Tư thuộc tỉnh Quảng Châu, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 9 tuổi. Sau một thời gian dài tu học, khi tuổi vừa tròn 20 thì Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo. Như vậy, Ngài nối pháp đời 34 dòng Lâm Tế truyền theo bài kệ của ngài Vạn Phong–Thời Ủy.
 Năm Ất Hợi (1695), Ngài cùng với các ngài Minh Vật–Nhất Tri, Minh Hoằng–Tử Dung, Minh Lượng–Thành Đẳng v.v... trong Hội đồng Thập sư cùng Hòa thượng Thạch Liêm thể theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn Phúc Chu sang An Nam truyền giới. Phái đoàn xuống thuyền tại bến Hoàng Phố và cập bến Hội An vào ngày 28 tháng Giêng năm Ất Hợi (1695). Sau đó, đoàn ra Thuận Hóa, được chúa Nguyễn Phúc Chu đón tiếp trọng thể và thỉnh về ngụ tại chùa Thiền Lâm.
Ngày mồng 1 tháng 4 năm Ất Hợi (1695), giới đàn được khai mở do ngài Thạch Liêm làm Đàn đầu Hòa thượng. Giới đàn truyền các giới Sa–di, Tỳ–kheo và Bồ–tát với tất cả 1.400 giới tử, trong đó có cả các vương hầu khanh tướng. Đặc biệt, chúa Nguyễn Phúc Chu được truyền riêng một đàn giới và được Hòa thượng Đàn đầu ban cho pháp hiệu là Thiên Túng đạo nhân.
Sau khi giới đàn thành tựu viên mãn, ngày 28 tháng 6 năm Ất Hợi (1695), phái đoàn trở vào lại Hội An để chờ thuyền về nước. Tại Hội An, đoàn trú tại chùa Di Đà(14) và thể theo lời thỉnh cầu của chư Tăng cũng như bổn đạo, ngài Thạch Liêm lập đàn truyền giới cho 300 giới tử. Ngày 19, đoàn rời Hội An ra Cù lao Chàm, lên thuyền chờ gió. Ngày 30 thuyền nhổ neo nhưng bị nghịch gió nên phải trở lại Hội An. Ngày 12 tháng 10, chúa Nguyễn mời ngài Thạch Liêm trở lại Phú Xuân lập đàn cúng Phật truyền giới một lần nữa tại chùa Linh Mụ. Sau đó đến ngày 24 tháng 6 năm Bính Tý (1696) ngài Thạch Liêm cùng với phái đoàn trở về Quảng Đông và không qua nữa.
 

(14) Chùa này nằm trong khu vực Hội An, đến nay không còn nữa và vẫn chưa xác định được vị trí chùa trước đây nằm ở khu vực nào.
 

* Trang 109 *
device

Sau khi ngài Thạch Liêm về nước, có một số vị trong phái đoàn ở lại An Nam, trác tích khai sơn hoằng hoá như ngài Minh Hoằng–Tử Dung, (khai sơn chùa Ấn Tông ở Thuận Hoá); ngài Minh Lượng–Thành Đẳng, (khai sơn chùa Vạn Đức tại Cẩm Hà, Hội An); ngài Minh Hải–Pháp Bảo (khai sơn chùa Chúc Thánh tại Cẩm Phô, Hội An).
Từ những ngày đầu tiên ở nơi mảnh đất đầy cát bụi này, Ngài chỉ lập một thảo am để tịnh tu phạm hạnh. Dần dần hương giới đức của Ngài lan tỏa khắp mọi nơi, ảnh hưởng đạo đức đến người dân phố Hội và các vùng phụ cận nên đồ chúng ngày một quy ngưỡng tham học.
Thấy cơ duyên hóa độ đã đến, Ngài chính thức khai đường giảng pháp, tiếp Tăng độ chúng. Sau gần 50 năm sang An Nam trác tích hoằng hóa, đến ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần (1746), Ngài gọi đồ chúng đến dặn dò và đọc kệ phú chúc:
空                                             Nguyên phù pháp giới không
相                                             Chơn như vô tánh tướng
此                                             Nhược liễu ngộ như thử
同                                             Chúng sanh dữ Phật đồng
Tạm dịch:
Pháp giới như mây nổi
Chân như không tánh tướng
Nếu hiểu được như vậy
Chúng sanh với Phật đồng.
Sau khi phú chúc cho hàng môn đệ xong, Ngài thâu thần thị tịch, trụ thế 77 tuổi. Đồ chúng cung thỉnh nhục thân Ngài nhập bảo tháp ở phía tây nam trong khuôn viên Tổ đình Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam.
3.2. Thiền sư Minh Hải và việc xuất kệ truyền thừa
Sau khi quyết định trụ lại Hội An để hoằng hóa, tổ Minh Lượng khai sơn chùa Vạn Đức và tổ Minh Hải khai sơn chùa Chúc Thánh. Ngài Minh Lượng truyền pháp theo bài kệ của ngài Mộc Trần–Đạo Mân, còn ngài Minh Hải biệt xuất riêng một bài

* Trang 110 *
device

kệ truyền pháp. Từ đó, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam xuất hiện một dòng phái mới, đó là thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.
Ngay từ những ngày đầu lập thảo am nơi phố Hội, để cho sự truyền thừa có quy củ dài lâu, tổ Minh Hải đã biệt xuất một bài kệ truyền pháp. Bài kệ truyền pháp của Ngài như sau:
                                     Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
                                      Ấn Chơn Như Thị Đồng
                                      Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu
                                      Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
                                      Đắc Chánh Luật Vi Tông (15)
                                      Tổ Đạo Giải  Hành Thông
                                      Giác Hoa Bồ Đề Thọ
滿                                       Sung Mãn Nhân Thiên Trung
Nghĩa là
(Khơi sáng pháp chân thật                   
Tánh chân như là đồng                         
Cầu Thánh quân muôn tuổi                  
Chúc đất nước vững bền                                  
Giới luật nêu trước tiên
Giải và hành nối liền
Hoa nở cây giác ngộ
Hương thơm lừng nhân thiên)
(Thích Nhất Hạnh dịch)
Từ trước đến nay, nhiều vị cho rằng, bài kệ truyền pháp của tổ Minh Hải được Ngài đọc trước khi viên tịch. Thật ra vấn đề không phải như vậy. Việc xuất kệ truyền thừa đã được Ngài xác lập ngay từ những ngày đầu lập thảo am tu hành tại xứ Cẩm Phô, Hội An. Vì thế, những đệ tử đầu của Ngài được đặt pháp danh là chữ THIỆT và pháp tự là chữ CHÁNH.

 
 

(15) Đúng theo bài kệ, Tổ Minh Hải đặt là chữ Tông (), nhưng về sau cấn tên húy của vua Thiệu Trị nên chư Tổ trại thành chữ Tôn () hoặc Tuyên ()
 

* Trang 111 *
device

Chính sự xác lập ngay từ đầu này giúp chúng ta ngày nay dễ dàng nhận ra vị thiền sư nào là đệ tử ngài Minh Hải. Bởi vì, cùng thời với Ngài, có rất nhiều vị thiền sư thuộc đời 34 dòng Lâm Tế với pháp danh chữ MINH theo bài kệ của ngài Vạn Phong–Thời Ủy hoằng hóa tại Đàng Trong. Các vị này cũng cho đệ tử pháp danh chữ THIỆT theo câu kệ: “Hành siêu minh thiệt tế”. Nếu không có pháp tự bằng chữ CHÁNH đứng đầu thì chúng ta khó phân biệt vị nào thọ giáo với thiền sư Minh Hải.
4. Ý nghĩa hai chữ Chúc Thánh và bài kệ truyền pháp của tổ Minh Hải–Pháp Bảo
Chúc Thánh là tên mà tổ Minh Hải–Pháp Bảo đặt cho ngôi chùa mình đã khai sơn. Từ đó, tên chùa Chúc Thánh được lấy đặt cho tên dòng thiền truyền theo bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo. Có thuyết cho rằng, Chúc Thánh là tên một ngôi chùa tại Trung Quốc và tổ Minh Hải xuất thân tại chùa này. Vì lẽ đó, nên khi lập chùa tại Hội An, Ngài đặt tên Chúc Thánh để kỷ niệm ngôi chùa tại cố hương. Tuy nhiên, lập luận này không thể đứng vững. Bởi vì đa phần các Ngài sang hoằng pháp tại Việt Nam là các vị thiền sư thuộc Thiên Đồng pháp phái, xuất thân từ chùa Thiên Đồng hoặc Báo Tư Tân tự tại Quảng Châu, Trung Quốc; còn sự trùng lặp tên chùa cũng chỉ là một sự ngẫu nhiên mà lịch sử chúng ta thường bắt gặp.
Về ý nghĩa hai chữ Chúc Thánh, chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa như sau:
1. Theo nghĩa thông thường, đứng ở lập trường thế tục pháp, thì “Chúc Thánh” có nghĩa là chúc cho thánh thượng, chúc cho minh quân, chúc cho cái đạo trị thế của minh vương đó tồn tại mãi. Bởi lẽ một vị vua anh minh, nhân từ hiền đức, có đạo thì đất nước mới thái bình, nhân dân mới thật sự hưởng một đời sống an lạc và nếp sống, tư tưởng của tôn giáo mới dễ dàng đi sâu vào lòng người, lan rộng ra khắp chốn.
2. Theo ý nghĩa sâu xa, đứng trên lập trường Phật đạo, tư tưởng của một nhà tu, một nhà truyền bá Phật pháp, thì Thánh ở đây mang 2 nghĩa: thứ nhất Thánh chỉ cho Đức Phật, bởi Đức Phật còn được tôn xưng là Thánh nhân xuất

* Trang 112 *
device

thế, Thánh trung Thánh hay Thánh trung Vương, (Thánh của các bậc Thánh, vua trong các dòng Thánh). Thứ hai, Thánh có nghĩa là Thánh đạo, là Phật pháp; là đạo Từ bi, Trí tuệ, Giải thoát; là Thánh pháp xuất thế.
Theo cách cắt nghĩa thông thường của một số người về hai chữ Chúc Thánh không phải là không đúng, nhưng không có nghĩa là xu phụ. Nhìn lại bối cảnh lịch sử khi Tổ đến Đàng Trong hoằng pháp và sự ra đời của hai câu kệ, cho dù ca tụng vua chúa đi nữa cũng là điều hợp lý; nhưng không chỉ đơn thuần là ca tụng đế vương như ta tưởng. Lúc bấy giờ Đàng Trong dưới sự cai trị của Quốc chúa–Nguyễn Phúc Chu (1675–1725) đang ở thời thái bình thịnh vượng. Ông không những là một bậc anh quân mà còn là một Phật tử thuần thành, hết lòng vì Phật pháp. Ông đã quy y thọ Bồ–tát giới với tổ Thạch Liêm nên có pháp danh Hưng Long và hiệu là Thiên Túng đạo nhân. Ông đã hộ trì Tam bảo với nhiều hình thức: cung thỉnh và hộ đàn chư Tăng mở đàn giới tại chùa Thiền Lâm, đúc Đại hồng chung cúng chùa Thiên Mụ vào ngày mồng 8 tháng 4 năm Canh Dần (1710). Dưới thời của ông, tự viện được phát triển rất nhiều. Đặc biệt, trong các văn bản liên quan đến các tự viện, ông đều tự xưng là người nối pháp đời thứ 30 của tông Tào Động. Công nghiệp của ông đối với Phật giáo tuy không sánh bằng A Dục vương tại Ấn Độ nhưng cũng không thua gì các vị minh quân thời Lý, Trần. Cầu mong cho một vị minh vương Phật tử như vậy là việc nên làm và phải làm, không những Tổ Minh Hải mà các Tổ đồng thời cũng vậy.
Thiết nghĩ, ngoài ý nghĩa chúc đế vương mà lâu nay chúng ta được biết, ý nghĩa của 2 chữ “Chúc Thánh” ở đây ta phải hiểu là cầu nguyện cho Phật pháp trường tồn, nguyện cầu cho Thánh đạo miên viễn đến ngàn sau. Nếu không hiểu một cách rốt ráo như vậy thì ta giải thích những từ ngữ: Thánh đế, Thánh hạnh, Thánh chủng, Thánh quả, Thánh trí v.v... như thế nào? Ta giải thích từ ngữ “Bát Thánh đạo” (còn gọi Bát Chánh đạo) như thế nào đây? Chẳng lẽ cũng là Tám con đường của nhà vua?! Quá vô lý và ấu trĩ!
Bởi vậy theo thiển ý của chúng tôi, bài kệ trên nên hiểu như vầy:

* Trang 113 *
device

(Thấu thật pháp, toàn bày
Hợp chân như chẳng hai
Nguyện Phật đạo bền vững
Cầu vận nước lâu dài.
Giới luật làm nền tảng
Hiểu và hành sánh ngang
Cây giác ngộ hoa nở
Trời người hương ngập tràn).
Bài kệ truyền pháp của thiền sư Minh Hải bao gồm 8 câu, 40 chữ và được chia ra làm hai phần. Bốn câu đầu được dùng để đặt pháp danh cho cả xuất gia và tại gia và 4 câu sau dùng để đặt pháp tự cho hàng xuất gia. Ngài Minh Hải có pháp danh chữ MINH và pháp tự chữ ĐẮC. Tiếp đến, hàng đệ tử của Ngài theo thứ tự có pháp danh chữ THIỆT và pháp tự chữ CHÁNH như: Thiệt Diệu–Chánh Hiền, Thiệt Dinh–Chánh Hiển, Thiệt Úy–Chánh Thành, Thiệt Đăng–Chánh Trí v.v... Với bố cục và sự mặc định trong sự truyền thừa này đã tạo nên một điểm đặc biệt của dòng thiền Chúc Thánh mà các dòng thiền khác không thể có. Điều này giúp chúng ta xác quyết được những vị Tăng nhân nào truyền pháp theo bài kệ này. Bởi lẽ trong lịch sử truyền thừa, sự trùng lặp đạo hiệu của chư Tăng rất nhiều, nếu không có sự xác lập rõ ràng thì chúng ta khó mà xác minh được vị ấy thuộc dòng phái nào.
Về ý nghĩa của bài kệ, thật ra hàng hữu học phàm phu như chúng ta dù lập luận thế nào cũng không thể thấy hết, thấy đúng và thấu hiểu trọn vẹn cảnh giới thực chứng của Tổ sư thông qua thi kệ. Về mặt ngữ nghĩa, theo thiển ý của người viết, chúng ta có thể hiểu như sau:
– Bài kệ truyền pháp danh:
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
Ấn Chơn Như Thị Đồng
Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu
Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
(Thấu thật pháp, toàn bày
Hợp chân như chẳng hai

* Trang 114 *
device

Nguyện Phật đạo bền vững
Cầu vận nước lâu dài).
Hai câu đầu của bài kệ truyền pháp danh có nghĩa là: thấu tỏ pháp chân thật, hiển bày pháp chân thật một cách rốt ráo, được như thế mới khế hợp, đồng thể với tánh Chân như. Ở đây, chúng ta thấy được sở ngộ và lý chứng của tổ Minh Hải. Bằng cái nhìn vô sư trí của mình, Ngài đã thấy rõ thật tướng hay mặt mũi thật của các pháp khi chưa được ý thức cưỡng lập tên gọi, gượng nặn hình hài này đồng với thể Chân như. Đây chỉ cho lý tánh tuyệt đối, là chân đế, là bản thể của sum la vạn tượng, pháp tánh của vũ trụ vạn hữu.
Hai câu sau, ngoài ý nghĩa chúc các bậc vua chúa trị vì sống lâu, mệnh nước trường tồn như lâu nay chúng ta hiểu; hai câu kệ này còn có ý nghĩa sâu xa hơn, thâm trầm hơn, nó âm thầm oằn mình chuyển tải hoài bão suốt cả cuộc đời của một bậc đống lương thiền gia không ngại gian nan tha phương hoằng hóa, đó là tâm nguyện: “Nguyện Phật đạo bền vững, Cầu vận nước lâu dài” của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo. Chúc Thánh nghĩa là mong cho mối Đạo truyền thừa của Thỉ tổ Thích–ca Mâu–ni trên pháp hội Linh Sơn chảy từ Tây Thiên sang Đông Độ, rồi từ Đông Độ sang phố Hội nhỏ nhoi nằm khép mình gần của biển Đại Chiêm tuôn chảy không ngừng, và mong pháp mạch này len lỏi khắp các vùng miền đất Việt, chảy tràn ra bốn biển năm châu. Thử nhìn lại những công sức, di sản của tiền nhân cũng như những cống hiến của cháu con dòng Chúc Thánh hiện tại trong và ngoài nước, tâm nguyện của Ngài cũng như lập luận thiển cận của chúng tôi quả không ngoa. Thiết nghĩ, nếu chúng ta hiểu thấu ý nghĩa sâu xa nằm sau những con chữ vô tri vô giác ấy; thấy được bản hoài suốt cả một đời dấn thân vì Đạo pháp, vì chúng sanh của ngài Minh Hải–Pháp Bảo, được vậy chúng ta mới xứng danh là con cháu Lâm Tế Chúc Thánh.
Có lẽ do không phải là người sáng kệ chiều kinh, cống hiến cả đời mình cho Phật pháp, hoặc giả không hiểu hết tâm nguyện của một bậc tha phương khai tông lập giáo, nên lâu nay đa phần các nhà nghiên cứu sử thường có cái nhìn tiêu cực với thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Họ ngộ nhận 2 chữ “Chúc Thánh” trong bài

* Trang 115 *
device

kệ truyền thừa, tên gọi tông môn, cũng như ý nghĩa của 2 câu kệ truyền pháp danh này chỉ là lời xu phụ đế vương, quỵ luỵ vua chúa chứ không có gì gọi là tông phong, tông chỉ. Xin thưa, nếu đơn thuần “Chúc Thánh” chỉ là chúc vua, thì khi chế độ vương quyền sụp đổ thì lẽ ra cái gọi là “xu phụ quyền thế đế vương” này cũng phải cáo chung chứ! Nhưng thực tế thì không phải vậy.
Đáng buồn hơn là có không ít Tăng sĩ thời nay vẫn còn “dị ứng” với 2 chữ Chúc Thánh, họ cũng cho đây là dòng phái xu nịnh thế quyền. Không biết có khi nào họ thử hỏi lại chính mình rằng: “Khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo lặn lội từ Trung Hoa sang Việt Nam hoằng truyền tông Lâm Tế, lập ra dòng Lâm Tế Chúc Thánh, cái thân phàm phu ngu muội đầy nghiệp chướng này của ta vất vưởng ở đâu” không nhỉ!
Từ xưa đến nay, chư Tổ lập ra hai thời khoá lễ sáng tối cho chư Tăng ni, Phật tử thúc liễm tu hành, đồng thời hồi hướng cầu nguyện báo đáp tứ trọng ân, điều đó không lẽ cũng là tiêu cực? Khi ta nguyện: “Tứ sanh cửu hữu đồng đăng Hoa tạng huyền môn, bát nạn tam đồ cộng nhập Tỳ–lư tánh hải”; hoặc “Quốc thái an ninh binh cách tiêu, Phong điều vũ thuận dân an lạc” không lẽ cũng là xu phụ ư? Với một người xuất gia, nhận tứ sự của đàn na tín thí, nếu cứ chăm chăm theo ý nghĩ thiển cận của mình, quên mất bốn ân, không sớm thì muộn chính chúng ta là những kẻ vô ơn. Bởi vậy, nếu có cầu minh quân sống lâu, vận nước an ổn, mưa thuận gió hòa, nhà nhà hạnh phúc thì cũng chẳng có gì gọi là tiêu cực, xu phụ như một số các nhà nghiên cứu đã ngộ nhận.
– Bài kệ truyền pháp tự:
Đắc Chánh Luật Vi Tông
Tổ Đạo Giải Hành Thông
Giác Hoa Bồ Đề Thọ
Sung Mãn Nhân Thiên Trung
(Giới luật làm nền tảng
Hiểu và hành sánh ngang
Cây giác ngộ hoa nở
Trời người hương ngập tràn).

 

* Trang 116 *
device

Hai câu đầu của bài kệ truyền pháp tự, Tổ chủ trương lấy giới luật làm tông, làm nền tảng căn bản. Có như vậy thì sự hiểu biết và hành trì mới được thông suốt và đi đúng theo con đường tu tập mà chư Phật, chư Tổ đã thực hành.
Hai câu cuối nói đến sự thành tựu đạo nghiệp của một người tu. Khi người tu tập đúng pháp và thành tựu đạo nghiệp giống như cây Bồ–đề nở hoa, thơm ngát khắp trời người vậy.
Ở đây, hai câu đầu là nhân và hai câu sau là quả. Bởi vì có nhân tu tập giữ gìn giới luật thì quả vị giải thoát sẽ đạt đến. Lúc đó, hương thơm giới hạnh sẽ ngược theo chiều gió tung bay, như lời dạy của Đức Phật trong kinh Pháp Cú.
5. Một vài tồn nghi về hành trạng của tổ Minh Hải–Pháp Bảo
Cho đến nay, hành trạng của Tổ sư Minh Hải còn có nhiều vấn đề vẫn chưa được làm sáng tỏ. Chẳng hạn như Tổ xuất gia và thọ giáo đắc pháp với Tổ sư nào tại chùa Báo Tư, Trung Quốc? Đây là vấn đề quan trọng nhưng vẫn còn nằm trong bức màn bí mật của thời gian. Ở đây, người viết xin nêu ra một vài tồn nghi và cách giải thích để làm sáng tỏ hơn về hành trạng của vị Tổ khai tông dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh mà một số sách sử đã ghi nhầm. Tựu trung xoay quanh ba nội dung chính như sau:
5.1. Tổ Minh Hải có phải là đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều?
Theo như Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức cho rằng, tổ Minh Hải là đệ tử của ngài Nguyên Thiều. Điều này có thật như vậy không? Chúng ta có thể xác định rõ qua niên đại của tổ Nguyên Thiều và tổ Minh Hải.
Tổ sư Nguyên Thiều (1648–1728) sinh vào giờ Tuất, ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tý (1648) tại huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Xuất gia năm 19 tuổi tại Báo Tư Tân tự thuộc Giang Lăng, Quảng Châu với thiền sư Khoáng Viên–Bổn Quả. Năm Đinh Tỵ (1677), Ngài theo thuyền buôn sang phủ Quy Ninh lập chùa Thập Tháp. Còn Tổ sư Minh Hải sinh vào giờ Tuất, ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) nhằm vào năm Khang Hy thứ 8 triều nhà Thanh tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Ngài xuất gia tại Báo Tư Tân tự khi lên 9 tuổi, tức là năm Mậu Ngọ (1678). Như vậy, khi ngài Minh Hải mới nhập chúng hành điệu thì ngài

* Trang 117 *
device

Nguyên Thiều đã sang An Nam rồi. Vậy thì, tổ Minh Hải–Pháp Bảo chưa hẳn là đệ tử thế độ của tổ Nguyên Thiều.
Tuy nhiên, căn cứ pháp quyển truyền thừa của dòng Lâm Tế Chúc Thánh, bản của Hòa thượng Toàn Nhâm–Vi Ý–Quán Thông cấp cho ngài Chương An–Tôn Bổn–Quảng Khánh(16) thì cho chúng ta biết người đứng trước ngài Minh Hải–Pháp Bảo là Hòa thượng Nguyên Thiều–Thọ Tông. Nội dung của dòng chữ đó như sau: “Tam Thập Tam Thế Quốc Ân Đường Thượng Húy SIÊU BẠCH Thượng THỌ Hạ TÔNG Lão Tổ Hòa thượng”. Căn cứ vào bảng Chánh pháp Nhãn tạng chúng ta biết được ngài Minh Hải–Pháp Bảo đắc pháp với tổ Nguyên Thiều–Siêu Bạch(17) tại chùa Quốc Ân, Huế.
Qua đây, ta có thể tạm kết luận: Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo chưa hẳn là đệ tử xuất gia nhưng lại là đệ tử cầu pháp của tổ Nguyên–Thiều–Siêu Bạch. Và tổ Nguyên Thiều–Siêu Bạch có thể là sư bá, hoặc sư thúc của tổ Minh Hải trong sự truyền thừa của Báo Tư Tân tự tại Giang Lăng, Quảng Châu. Khi tổ Minh Hải qua Việt Nam lúc đó Ngài khoảng 24–25 tuổi đời. Qua quá trình tu tập có sự liễu ngộ, Ngài trình kệ đắc pháp với tổ Nguyên Thiều–Siêu Bạch và được ấn chứng theo tinh thần điểm đạo của thiền tông chánh phái. Có thể bài kệ trình sở ngộ để Tổ ấn chứng cũng là bài kệ truyền pháp của dòng Lâm Tế Chúc Thánh chăng?
5.2. Có phải Tổ sư Minh Hải là người khai sơn chùa Thiên Ấn tại tỉnh Quảng Ngãi?
 

(16) Bản Chánh pháp Nhãn tạng này cấp ngày 15 tháng 4 năm Đinh Mùi (1847), đã tròn 160 năm. Đây là bản Chánh pháp Nhãn tạng xưa nhất của dòng Lâm Tế Chúc Thánh mà chúng tôi tìm thấy được. Hiện tại, bản này được lưu giữ tại Tổ đình Thắng Quang, Bình Định.
(17) Trong quá trình tìm hiểu, khảo sát trên long vị các chùa Thập Tháp, Bình Định và Quốc Ân, Huế, là hai ngôi chùa gắn liền với cuộc đời hành đạo của tổ Nguyên Thiều Siêu-Bạch và hiện còn truyền thừa theo dòng kệ Lâm Tế Nguyên Thiều (tức bài kệ của tổ Vạn Phong-Thời Ủy), chúng tôi thấy thờ dưới long vị tổ Nguyên Thiều là các vị đệ tử của Ngài như: Minh Lượng-Nguyệt Ân-Thành Đẳng; Minh Dung-Thành Chí-Pháp Thông v.v... Tuy nhiên, cả hai Tổ đình chính này chúng tôi hoàn toàn không thấy long vị của tổ Minh Hải-Pháp Bảo. Điều này có thể khẳng định thêm một điều là tổ Minh Hải-Pháp Bảo chỉ là đệ tử cầu pháp của tổ Nguyên Thiều-Siêu Bạch. Hoặc giả, sau này Ngài lập chùa Chúc Thánh, khai tông lập giáo nên các đồng môn không thờ Ngài theo hệ Thiên Đồng pháp phái chăng?
 

* Trang 118 *
device

Cũng theo Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức cho rằng, vào những năm 1694–1695, tổ Nguyên Thiều và tổ Minh Hải có liên quan đến vụ nổi loạn của Linh Vương và Quảng Phú tại Bình Định và Quảng Nam. Vì thế, tổ Minh Hải vào núi Thiên Ấn đổi pháp danh là Pháp Hóa khai sơn chùa Thiên Ấn, còn tổ Nguyên Thiều vào Đồng Nai đổi pháp danh là Siêu Bạch khai sơn chùa Kim Cang. Điều này hoàn toàn không đúng, chúng ta có thể phân tích qua các yếu tố sau:
– Những năm 1694–1695, Tổ sư Minh Hải mới qua An Nam thì làm sao dính líu đến vụ nổi loạn của Linh Vương? Lại nữa, nếu cả hai vị Tổ sư đều dính líu đến Linh Vương thì làm sao ngài Nguyên Thiều được chúa Nguyễn Phước Trú sắc ban thụy hiệu là “Hạnh Đoan thiền sư”? Và liệu rằng, hàng đệ tử của tổ Minh Hải như Thiệt Diệu–Chánh Hiền, Thiệt Dinh–Ân Triêm, Thiệt Thọ–Chánh Hóa v.v... có thể yên tâm tu học duy trì Chúc Thánh trong khi Bổn sư đi lánh nạn? Chúng ta biết rằng, dưới chế độ phong kiến, một người làm loạn, ba họ bị tru di. Huống gì người thầy làm loạn mà học trò sống an ổn như vậy sao? Vì thế, đây là lý do thứ nhất chứng minh tổ Minh Hải không phải là người khai sơn ra Thiên Ấn.
- Theo sử liệu chùa Thiên Ấn, thiền sư khai sơn chùa thuộc đời 35 dòng Lâm Tế, có pháp danh Phật Bảo, tự là Pháp Hóa, thế danh Lê Diệt. Trên bia mộ có ghi rõ “Tự Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Ngũ Thế Pháp Hóa Húy thượng Phật hạ Bảo Hòa thượng Chi Tháp”. Như vậy, vị Tổ sư khai sơn chùa Thiên Ấn thọ giáo theo bài kệ của ngài Mộc Trần–Đạo Mân và có thể là đệ tử của ngài Minh Lượng–Thành Đẳng tại chùa Vạn Đức, Hội An. Còn vấn đề thiền sư Thiệt Úy–Khánh Vân, đệ tử tổ Minh Hải kế thế thiền sư Phật Bảo–Pháp Hóa trú trì chùa Thiên Ấn cũng là lẽ tự nhiên. Bởi vì, trong giai đoạn này chư Tăng chưa có sự phân biệt rõ ràng là theo dòng Lâm Tế Đạo Mân hay Chúc Thánh, Liễu Quán. Các Ngài đều xem như huynh đệ một nhà, cùng một Tổ đình Báo Tư mà ra. Vì thế, thiền sư Thiệt Úy sau khi thọ giáo với tổ Minh Hải tại Chúc Thánh thì về quê nhà tại Mộ Đức lập chùa Thiên Phước. Sau khi ngài Phật Bảo viên tịch, vì không có đệ tử kế thừa nên ngài Thiệt Úy lên kế vị trú trì Thiên Ấn. Từ đó, chùa Thiên Ấn truyền thừa theo dòng Chúc

* Trang 119 *
device

Thánh và trở thành Tổ đình của chi phái Chúc Thánh tại tỉnh Quảng Ngãi.
Qua hai luận giải trên, chúng ta đi đến kết luận: Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo và Tổ sư Phật Bảo–Pháp Hóa là hai và tổ Minh Hải không phải là người khai sơn Tổ đình Thiên Ấn như xưa nay mọi người ngộ nhận.
5.3. Về hai bài kệ truyền pháp của thiền sư Minh Hải
Ngoài bài kệ truyền pháp tại Quảng Nam, chư Tăng thuộc môn phái Chúc Thánh tại Bình Định cũng có một bài kệ truyền thừa như sau:
彰                                     Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
同                                     Ấn Chơn Như Thị Đồng     
體                                     Vạn Hữu Duy Nhất Thể      
觀[ 空                                    Quán Liễu Tâm Cảnh Không         
果                                     Giới Hương Thành Thánh Quả
花                                     Giác Hải Dũng Liên Hoa     
慧                                     Tín Tấn Sinh Phước Huệ
通                                     Hạnh Trí Giải Viên Thông  
水                                     Ảnh Nguyệt Thanh Trung Thủ
來                                     Vân Phi Nhật Khứ Lai                    
性                                     Đạt Ngộ Vi Diệc Tánh
長                                     Hoằng Khai Tổ Đạo Trường
Và bài truyền pháp tự như sau:
宗                                     Đắc Chánh Luật Vi Tông
通                                     Tổ Đạo Giải  Hạnh Thông
智                                     Giác Hoa Viên Cảnh Trí
滿 天                                     Sung Mãn Lợi Nhân Thiên

* Trang 120 *
device

界                                     Hằng Sa Chư Pháp Giới
生                                     Tế Độ Đẳng Hàm Sanh
用                                     Châu Viên Thể Tướng Dụng
觀[ 中                                   Quán Chiếu Sát Trần Trung
念                                     Khứ Lai Đương Nhất Niệm
他                                     Năng Sở Khởi Phi Tha
取                                     Tâm Cảnh Thùy Biên Thủ
如                                     Chơn Vọng Tổng Giai Như
Nguyên nhân xuất hiện của bài kệ thứ 2 này được ghi lại như sau:
“Vào năm năm 1967, một học sinh gốc người Hoa đến nộp đơn nhập học tại trường Trung học Bồ Đề Nguyên Thiều, và cho biết dòng họ nhà em có liên quan đến tổ Nguyên Thiều. Nhân đó, thầy Giám học nhà trường (Thầy Thích Đỗng Quán) yêu cầu gia đình em cung cấp một số tư liệu về Tổ, trong đó có bài pháp kệ này. Đây là bản chép tay của một người trong gia đình em học sinh ấy, sao lục từ bản gốc ở gia phả trong dòng họ của Tổ.
Vào dịp về dự tang lễ cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện (thượng Thị hạ Công), trú trì Tu viện Nguyên Thiều, tôi và thầy Minh Hạnh có đến thăm chùa Thiên Hòa (thôn Tri Thiện, Bình Định), và được Ngài trú trì cho photo bản chép tay này (ngày 10–8–Tân Tỵ).
Qua câu chuyện đạo vị về bài pháp kệ nói trên, tôi không thấy có sự “giả lập” nào nơi Ngài trú trì. Nhưng chúng ta ước mong được một lần xem tận mắt bản gốc cho thỏa lòng” (18).
    Xét nội dung của hai bài kệ truyền pháp thì cũng không có gì sai lệch mấy. Nội dung của bài kệ tại Bình Định nói về vạn pháp đều quy về một thể, đó chính là tánh không vậy. Khi nào quán chiếu thấy rõ tâm không, pháp không thì lúc ấy đạt thành chánh quả. Ở đây, nhấn mạnh đến trí tuệ Bát–nhã, nói đến bổn tánh vắng lặng trong mỗi chúng sanh, chỉ vì vọng niệm nên trôi lăn
 

(18) Tu viện Nguyên Thiều, Tưởng niệm Giác Linh Hòa Thượng Thích Đồng Thiện, PL.2545, trang 34, tác giả Thích Quảng Hạnh.
 

* Trang 121 *
device

trong sanh tử luân hồi. Giống như mặt trăng bị mây mờ che khuất, khi nào mây tan thì mặt trăng lại lồng lộng tỏa sáng. Tuy nhiên, cả hai bài kệ đều lấy giới luật làm gốc, tuyên dương giới luật. Bởi lẽ, đây chính là điều thiết yếu để đoạn trừ vô minh, bước vào dòng Thánh.
Xét lịch sử truyền thừa, bài kệ tại Tổ đình Chúc Thánh–Quảng Nam được truyền bá rộng rãi hơn. Còn bài kệ tại Bình Định thì mới xuất hiện và được áp dụng truyền thừa trong phạm vi chư Tăng môn phái Chúc Thánh tại Bình Định. Đặc biệt, chỉ có Bình Định mới truyền thừa theo bài kệ này, còn chư Tăng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Sài–gòn, Bình Dương v.v... đều truyền theo bài kệ tại Tổ đình Chúc Thánh, Quảng Nam. Đứng về sự truyền thừa thì bài kệ tại Tổ đình Chúc Thánh, Hội An có thời gian lâu dài và tầm ảnh hưởng rộng rãi hơn bài kệ tại Bình Định.
 Còn theo văn bản của Hòa thượng Thích Đỗng Quán cung cấp cho Hòa thượng Thích Quảng Hạnh chỉ ghi bài kệ truyền pháp danh chứ không có bài kệ truyền Pháp tự. Bài kệ truyền Pháp tự chúng tôi ghi lại ở tấm bảng gỗ trước Tổ đường chùa Sơn Long, Bình Định. Đồng thời, trong bảng chép tay, lạc khoản có ghi niên đại là “Khang Hy Thập Bát Kỷ Mùi Hạ, Tây Lịch Nhất Lục Thất Cửu Niên”, đối chiếu dương lịch là năm 1679. Nhưng xét về niên đại tổ Minh Hải–Pháp Bảo thì có những điều bất cập như sau: Tổ sinh năm Canh Tuất và tịch năm Bính Dần. Tính ra dương lịch có hai niên đại:
Cách 1: Tính niên đại Canh Tuất (1610) và Bính Dần (1686) thì không thỏa đáng. Vì đệ tử truyền thừa của Tổ là Hòa thượng Thiệt Dinh–Ân Triêm sinh năm 1712, tịch 1796. Nếu tổ Minh Hải tịch năm 1686 thì ai là người thế độ truyền pháp cho tổ Ân Triêm? Vì thế, niên đại này hoàn toàn không hợp lý.
Cách 2: Tính niên đại Canh Tuất (1670) và Bính Dần (1746) thì hợp lý. Và chúng ta thử đối chiếu với các thế hệ truyền thừa của Tổ thì rất khế hợp, như: Tổ Thiệt Dinh–Ân Triêm (1712–1796), tổ Pháp Kiêm–Minh Giác (1747–1830) v.v... Tính ra mỗi thế hệ cách nhau 20 đến 30 năm thì thỏa đáng hơn.           

* Trang 122 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh