LOGO VNBET
                
                                                                                 Tổ đình Cổ Lâm – Đại Lộc
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Thiệt Dinh–Chánh Hiển–Ân Triêm
  (1712–1796): Chùa Phước Lâm
Hòa thượng thế danh Lê Hiển, sinh năm Nhâm Thìn (1712) tạ xã Bến Đền, phủ Đệ Bàn, dinh Quảg Nam (nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, Quảng Nam). Tương truyền, mẹ Ngài một đêm nằm mộng thấy con trâu chọc sừng chui vào bụng, bà bắt đầu thọ thai. Từ khi mang thai, bà nhàm chán những thức ăn thịt cá, chỉ dùng toàn chay tịnh và sau đó sinh ra Ngài.
 
 

Long vị Tổ Ân Triêm
 

* Trang 155 *
device

Từ khi lọt lòng mẹ Ngài chỉ ăn chay. Mẹ có cho món ăn mặn thì Ngài đều từ chối. Biết con có duyên với cửa Thiền nên khi vừa tròn 10 tuổi, cha mẹ đã đưa Ngài đến chùa Chúc Thánh thọ giáo với thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo. Đến năm 20 tuổi, Ngài được tổ Minh Hải cho thọ giới Cụ túc với pháp danh Thiệt Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm, nối pháp đời 35 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 2 pháp phái Chúc Thánh.
Năm 25 tuổi, Ngài xin tổ Minh Hải ra lập thảo am Phước Lâm tại ấp Trảng Kèo, xã Thanh Hà, phủ Điện Bàn (nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An) để tiện việc tu niệm.
Với sự ấn chứng của Bổn sư cũng như sự nỗ lực tự thân, không bao lâu, hương thơm giới hạnh của Ngài lan khắp nơi và đồ chúng theo về tu học ngày càng đông đảo, dần dần tịnh thất Phước Lâm trở thành một tòng lâm nguy nga tại xứ Quảng.
Ngài viên tịch vào ngày 24 tháng 4 năm Bính Thìn (1796) thọ 85 tuổi. Đồ chúng xây Bảo tháp tại phía tây nam chùa Phước Lâm để phụng thờ linh cốt của Ngài.
Hơn 70 năm tu hành và hoằng dương Phật pháp, Ngài đã kế thừa nghiệp Tổ thắp sáng ngọn đèn chánh pháp và làm cho Phật giáo Quảng Nam ngày một hưng thịnh. Ngài đã đào tạo một thế hệ kế thừa như các ngài: Pháp Ấn–Tường Quang–Quảng Độ (trú trì chùa Phước Lâm, Hội An và Viên Tôn tại Bình Sơn, Quảng Ngãi); Pháp Chuyên–Luật Truyền–Diệu Nghiêm (khai sơn chùa Từ Quang, Phú Yên); Pháp Kiêm–Luật Oai–Minh Giác còn gọi là tổ Bình Man Tảo Thị (trú trì chùa Phước Lâm, Hội An); Pháp Tịnh–Luật Phong–Viên Quang (khai sơn chùa Thiên Hòa, Tuy Phước, Bình Định) v.v... đã làm rạng danh Phật giáo xứ Quảng và thiền phái Chúc Thánh.
2. Hòa thượng Pháp Kiêm–Luật Oai–Minh Giác
法 兼 律 威 明 覺(1747–1830): Chùa Phước Lâm
Hòa thượng tánh Võ Đức Nghiêm, sinh giờ Tuất ngày 15 tháng 1 năm Đinh Mão (1747) tại thôn Ngọc Trì, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi). Năm Kỷ Mão (1759), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài đến xuất gia với Tổ Thiệt Dinh–Ân Triêm tại chùa Phước Lâm, được Tổ ban pháp danh

* Trang 156 *
device

Pháp Kiêm, tự Luật Oai, nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 3 pháp phái Chúc Thánh.
 

Long vị Tổ Minh Giác
Năm Canh Dần (1770), Ngài về làng thăm viếng song thân, lúc bấy giờ giặc mọi Đá Vách lại tập trung đồ đảng quấy nhiễu cướp phá khắp tỉnh Quảng Ngãi, Ngài tòng quân dẹp giặc, lập nhiều công lao được phong chức Chỉ huy. Sau đó, Ngài từ quan về phát nguyện quét chợ Hội An trong suốt 20 năm.
Năm Mậu Ngọ (1798), sau khi công hạnh đã viên mãn, Ngài được Chư sơn cũng như tín đồ thỉnh về trú trì chùa Chiên Đàn, tôn hiệu là Minh Giác Hòa thượng. Trong tờ biểu tôn xưng có ghi: “Phật là giác giả,
Hòa thượng có tính thông tuệ, tự cho con đường tình duyên danh lợi đã 20 năm nay như đem dao cắt đứt hẳn, coi giống cát sông bọt nổi. Lại đem mình ở nơi thị tỉnh chịu đựng bụi trần nhọc lòng khổ chí để giữ vững tâm niệm nhập đạo mà thành tựu tấm thân chứng đạo. Đã hay tự mình khai giác hết thảy những người có tình như chiêm bao thức giấc vậy. Trong điển Phật có nói: Tự mình biết, bảo cho người khác biết, đó là có ý nghĩa đầy đủ tiếng khen về biết rõ cả” (29).
Sau đó, Ngài về lại Phước Lâm cùng với Hòa thượng Pháp Ấn–Quảng Độ vận động tùng tu chùa bị điêu tàn trong cuộc chiến Tây Sơn. Từ đó, Ngài kế nghiệp trú trì, khai đàn thuyết pháp, tiếp độ chúng tăng khiến cho Phước Lâm trở thành một tòng lâm hưng thịnh.
 

(29) Nguyễn Quyết Thắng, Quảng Nam đất nước và nhân vật, NXB Văn hóa Thông tin, 2001, trang 169.
 

* Trang 157 *
device

Ngày 27 tháng 5 năm Tân Tỵ (1821), Minh Mạng năm thứ 2, Ngài được triều đình mời ra tham dự Đại trai đàn tổ chức tại chùa Thiên Mụ, Huế.
Các năm Mậu Dần (1818), Nhâm Ngọ (1822) và Canh Dần (1830), Ngài đứng ra quyên mộ và chứng minh đúc ba quả Đại hồng chung tôn trí tại các chùa Vạn Đức, Phước Lâm và chùa Hải Tạng. Hòa thượng là người tính tình chất trực, điều này được thể hiện qua bản phú chúc cho đệ tử là Toàn Định–Bảo Tạng như sau: “…Lời ta thẳng như thước dây, nặng như vàng đá, nếu có kẻ ương ngạnh vi phạm, hoặc trong chúng có kẻ bất tuân, cứ theo pháp mà trừng trị để về sau đại chúng được an hòa…” (30).
Mùa Đông năm Canh Dần, Ngài biết thời tiết nhân duyên đã đến nên ấn chứng cho đệ tử Toàn Nhâm–Quán Thông kế thừa y bát trú trì chùa Phước Lâm và an nhiên thị tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830) hưởng thọ 84 tuổi, nhục thân Ngài nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Phước Lâm.
 Một Hòa thượng tại Huế đã xưng tán, tóm lược cả cuộc đời hành đạo và công đức của Ngài qua hai câu đối thờ như sau:
Bình Man, tảo thị, lưỡng độ gian lao, xuất gia kỳ, phát nguyện vưu kỳ, bát dật sanh thiên thành chánh giác.
– Tạo tự, chú chung, nhị thung công đức, cách cựu hảo, đảnh tân cố hảo, thiên thu giác thế vĩnh truyền đăng.
Tạm dịch:
– Dẹp giặc, quét chợ, mấy độ gian lao, xuất gia lạ, phát nguyện càng thêm lạ, tám mươi vãng sanh thành chánh giác.
– Làm chùa, đúc chuông, biết bao công đức, sửa cũ đẹp, làm mới lại càng đẹp, ngàn năm sáng mãi ngọn đèn thiền.
                                                        (Thượng tọa Thích Hạnh Niệm dịch)
Nhìn lại cuộc đời của Ngài, sinh ra trong giai đoạn đất nước nhiễu nhương, lòng dân ly tán nhưng Ngài vẫn luôn giữ vững tâm đạo của mình. Hạnh nguyện của Ngài quả thật là vô tiền khoáng hậu trong dòng sử Phật Việt. Ngày nay người dân phố Hội vẫn còn nhắc đến Ngài với cái tên rất dung dị: tổ Bình Man Tảo Thị.
 

(30) Chúc từ của tổ Pháp Kiêm-Minh Giác cho đệ tử Toàn Định-Vi Quang-Bảo Tạng. Chúc từ này hiện vẫn còn lưu giữ tại Tổ đình Thắng Quang, Bình Định.
 

* Trang 158 *
device

3. Hòa thượng Toàn Nhâm–Vi Ý–Quán Thông
全 任 爲 意 貫 通 (1798–1883): ): Chùa Phước Lâm
 

Long vị Tổ Quán Thông
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Định, sinh năm Mậu Ngọ (1798) tại thôn Thanh Liêm tỉnh Bình Định (nay thuộc thị trấn An Nhơn, Bình Định). Ngài có chí xuất gia tìm cầu giải thoát nên đến bái ngài Pháp Kiêm–Minh Giác làm thầy và được ban pháp danh là Toàn Nhâm, tự Vi Ý, hiệu Quán Thông, nối pháp đời thứ 37 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh.
Là người đệ tử ưu tú của tổ Pháp Kiêm nên Ngài được kế thừa trú trì Tổ đình Phước Lâm vào năm 1830, sau khi Tổ viên tịch. Tiếp
đó, Ngài được sơn môn cung thỉnh trú trì Tổ đình Chúc Thánh.
Năm Canh Dần (1830), Ngài cùng với các ngài Toàn Đức, Toàn Định được triều đình ban Giới đao Độ điệp.
Năm Ất Mùi (1835), Hòa thượng đứng ra quyên mộ trùng kiến Tổ đình Chúc Thánh và đổi hướng chùa từ hướng tây sang hướng tây nam cho phù hợp với địa thế phong thổ.
Năm Đinh Mùi (1847), Ngài khai Đại giới đàn tại chùa Chúc Thánh và được chư sơn cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.
Năm Mậu Thân (1848), Tự Đức nguyên niên, Hòa thượng chứng minh việc trùng tu chùa Hải Tạng ở Cù lao Chàm để giữ gìn di tích của tiền nhân.
Năm Kỷ Dậu (1849), Ngài tiếp tục khởi công xây dựng thêm Tiền đường làm tăng gấp đôi diện tích trong chánh điện, đồng thời Ngài cho tạc các tượng Thập Bát La–hán, Thập Điện Diêm

* Trang 159 *
device

Vương và thỉnh hai pho tượng Thiện Ác trôi ngoài biển về tu bổ và tôn thờ tại chùa Phước Lâm cho đến ngày hôm nay.Năm Quý Hợi (1863), Hòa thượng lại tiếp tục khai đàn giới tại chùa Phước Lâm, Hội An để truyền trao giới pháp cho Tăng đồ tu học. Trong hàng giới tử đắc pháp có Hòa thượng Vĩnh Gia, một trong những bậc thiền Tăng lỗi lạc của Phật giáo Quảng Nam.
Hòa thượng là người có công rất lớn trong việc trùng kiến Tổ đình Chúc Thánh, Phước Lâm ngày càng nguy nga tráng lệ, xứng đáng là những danh lam của xứ Quảng.
Năm Quý Mùi (1883), vào ngày mồng 2 tháng 3, Ngài thị tịch, hưởng thọ 86 thế tuế. Môn đồ thỉnh nhục thân của Ngài nhập tháp tại khuôn viên Tổ đình Phước Lâm.
4. Hòa thượng Chương Tư–Tuyên Văn–Huệ Quang
光  (…–1873): Chùa Tam Thai
 

Long vị Tổ Huệ Quang
Hòa thượng thế danh Đặng Văn Quang, người xã Đức An, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảg Nam. Ngài xuất gia với Tổ Toàn Nhâm–Quán Thông tại Tổ đình Phước Lâm với pháp danh Chương Tư tự Tuyên Văn, nối pháp đời 38 dòng Lâm Tế thế hệ thứ pháp phái Chúc Thánh.            Sau mộ thời gian tu học tại Phước Lâm, khi giới pháp đã đây đủ, Ngài xin Bổn sưc cho vào chùa Từ Quang, tỉnh Phú Yên để học thêm kinh luật luận. Ngài cầu pháp nhân duyên với Tổ Toàn Đức– Thiện Long tạ chùa Khánh Sơn với pháp hiệu Huệ Quang.
Năm Tân Dậu (1861), niên hiệu Tự Đức 14, Ngài được triều đình bổ nhiệm làm trú trì chùa Linh Ứng trên núi Ngũ Hành.

* Trang 160 *
device

Đến năm Nhâm Tuất (1862), niên hiệu Tự Đức 15, Ngài lại được triều đình cải bổ làm trú trì Quốc tự Tam Thai.
Năm Kỷ Tỵ (1869), niên hiệu Tự Đức thứ 22, Ngài lập đàn truyền giới tại chùa Phước Lâm. Giới đàn này chư sơn đã cung thỉnh tổ Quán Thông chứng minh và Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới.
Thiền sư Huệ Quang là một bậc mô phạm nơi chốn tòng lâm. Ngài dõng mãnh tinh tấn trên bước đường tu đạo. Gần như cả cuộc đời, Ngài không hề đau ốm gì cả.
Năm Quý Dậu (1873), niên hiệu Tự Đức 26, vào ngày 22 tháng 6, Ngài nhóm họp môn đồ, ân cần phó chúc mọi việc một cách rõ ràng rồi an nhiên thoát hóa.
Ngài đã đào tạo và cống hiến cho Phật giáo Quảng Nam hai vị Cao tăng cận đại, đó là các ngài Ấn Thanh–Chí Thành và Ấn Bổn–Vĩnh Gia.
5. Hòa thượng Chương Quảng–Tuyên Châu–Mật Hạnh
彰 廣 宣 珠 密 行  (1822–1884): Chùa Tam Thai

 

Long vị Tổ Mật Hạnh
Hòa thượng thế danh Hồ Văn Châu, sinh năm Nhâm Ngọ (1822), niên hiệu Minh Mạng thứ 3 tại châu Hà Mật, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Hà An, xã Điện Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Hồ Viết Hoan và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Bò. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Quán Thông tại Phước Lâm nên có pháp danh Chương Quảng, tự Tuyên Châu, hiệu Mật Hạnh, nối pháp đời 38 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh.
 

* Trang 161 *
device

Năm Nhâm Tuất (1862), niên hiệu Tự Đức thứ 15, Ngài được triều đình bổ nhiệm làm trú trì chùa Linh Ứng thay thế cho ngài Chương Tư–Huệ Quang sang trú trì chùa Tam Thai. Năm Quý Dậu (1873), niên hiệu Tự Đức 26, Ngài được triều đình cải bổ làm trú trì chùa Tam Thai.
Đối với Phật pháp, Ngài hết lòng lo lắng, tạo tượng đúc chuông, chỉnh trang chốn thiền môn ngày càng thêm quy mô tráng lệ. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một bữa vào giờ ngọ, mọi công việc tại bổn tự Ngài đều đích thân lo chu toàn.
Vào giờ Dần ngày mồng 4 tháng 4 năm Giáp Thân (1884), niên hiệu Kiến Phước nguyên niên Ngài an nhiên thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi và trải qua 11 năm trú trì tại Tam Thai.
Hàng đệ tử đắc pháp với Ngài như các vị Ấn Lan–Từ Trí, Ấn Diệu– Từ Nhẫn, Ấn Bính–Phổ Bảo v.v... đều là những bậc lương đống gánh vác ngôi nhà Phật giáo Quảng Nam trong thời cận đại.
6. Hòa thượng Ấn Bổn–Tổ Nguyên–Vĩnh Gia
印 本 祖 源 永 嘉  (1840–1918): Chùa Phước Lâm
Hòa thượng thế danh Đoàn Văn Hiệu(32), sinh giờ Dần ngày 19 tháng 2 năm Canh Tý (1840), niên hiệu Minh Mạng thứ 21 tại xã An Hiệp, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là làng An Hiệp, xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).
 Năm Mậu Ngọ (1858), thân phụ Ngài qua đời. Ngài đến chùa Phước Lâm nhập chúng tu học, sau đó Tổ Quán Thông cho làm đệ tử ngài Chương Tư–Huệ Quang tại chùa Tam Thai. Ngài được Tổ Huệ Quang cho pháp danh Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Quý Hợi (1863), tổ Quán Thông khai giới đàn tại chùa Phước Lâm, Ngài được đăng đàn thọ giới Cụ túc, đắc pháp hiệu là Vĩnh Gia. Năm Giáp Thân (1884), Hòa thượng được triều đình bổ nhiệm làm trú trì Quốc tự Linh Ứng, Ngũ Hành Sơn.
 

(32) Theo chứng điệp Đại giới đàn Vĩnh Gia tổ chức tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng ghi Ngài thế danh là Đoàn Nhược. Tuy nhiên qua một số giấy tờ còn lại tại Phước Lâm cũng như trong cuốn Ngũ Hành Sơn Lục ghi Ngài thế danh Đoàn Hiệu. Vì thế chúng tôi ghi tên Ngài theo bản Ngũ Hành Sơn Lục.
 

* Trang 162 *
device


Hòa thượng Vĩnh Gia
Năm Đinh Hợi (1887), Hòa thượng Chương Nhẫn–Quảng Hóa, trú trì Tổ đình Phước Lâm viên tịch, Ngài bèn khất hồi về lại Phước Lâm để phụng sự chốn Tổ. Ngài thường được cung thỉnh làm vào Hội đồng Thập sư các đàn giới như: giới đàn năm Quý Tỵ (1893) tại Tổ đình Chúc Thánh, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê. Năm Giáp Ngọ (1894), Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhị tôn chứng giới đàn chùa Báo Quốc, Huế. Năm Bính Ngọ (1906), Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma A–xà–lê tại giới đàn chùa Thập Tháp Di Đà, Bình Định. Đặc biệt
năm Canh Tuất (1910), Ngài khai Đại giới đàn tại Tổ đình Phước Lâm và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng. Hàng giới tử đắc pháp tại giới đàn này về sau trở thành những bậc đống lương trong Phật pháp như Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hòa thượng Thích Giác Nhiên (Đệ nhất và Đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN).
Năm Kỷ Dậu (1909), Ngài trùng tu lại Tổ đình Phước Lâm, lập văn bia tưởng niệm Tổ khai sơn và tổ Bình Man Tảo Thị.
Ngài thường căn dặn hàng môn đồ rằng: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi già–lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân minh. Có vậy nước Thiền định mới khai thông, đèn Tri giác thêm sáng tỏ…”. Tuy trong ngôi vị được triều đình tôn kính nhưng Ngài vẫn không quên trách nhiệm của người con Việt trước sự mất chủ quyền của đất nước nên đã âm thầm cố vấn cho nhà chí sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên trong phong trào Duy Tân. Điều này đã thể hiện được tinh thần yêu nước của Ngài trong cơn quốc biến.

* Trang 163 *
device

Thuận lẽ vô thường, Hòa thượng đã xả báo thân trong thế ngồi kết–già phu tọa vào giờ Tuất ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), thọ thế 79 năm, với 55 hạ lạp.
Môn đồ lập tháp bên trái Tổ đình Phước Lâm để thờ Ngài. Trong bi ký có đoạn xưng tán như sau:
尊                                                         Đại tai Thế Tôn
道                                                         Niêm hoa thị đạo
統                                                         Lịch Tổ thiệu thống
浩                                                         Nguyên lưu hạo hạo
尙                                                         Diên cập Hòa thượng
詮                                                         Mật khế chân thuyên
明                                                         Thật tướng liễu minh
圓                                                         Trí châu thể viên
極                                                         Giới đàn phẩm cực
深                                                         Bi nguyện di thâm
霑                                                         Cam lồ phổ triêm
林                                                         Đắc đạo như lâm
庭                                                         Khắc chấn môn đình
宇                                                         Nghiễm cự phạm vũ
法                                                         Di quyết tự pháp
竪                                                         Phước duyên tịnh thụ
周                                                        Hóa cơ vân châu
入                                                         Tịnh quang nhất nhập.
Tạm dịch
Lành thay Thế Tôn
Cầm hoa dạy đạo
Chư Tổ nối truyền
Suối nguồn mênh mang

* Trang 164 *
device

Kế đến Hòa thượng
Khế hợp chân kinh
Thấy rõ thật tướng
Thể tròn trí sáng
Ngôi cao giới đàn
Nguyện từ thâm sâu
Mưa lành thấm khắp
Đắc đạo như rừng
Chấn chỉnh Tông môn
Trang nghiêm phạm vũ
Di huấn đồ chúng
Phước duyên đủ đầy
Giáo hóa viên mãn
Nhập cảnh Tịch Quang.
7. Hòa thượng Ấn Lan–Tổ Huệ–Từ Trí
印 籣 祖 慧 慈 智  (1852–1921): Chùa Linh Ứng
 

Hòa thượng Từ Trí
Hòa thượng thế danh Nguyễn Viết Lư (Lô), hiệu Thức Trai, sinh giờ Dần ngày mồng 6 tháng 10 năm Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5 tại xã An Bình, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, Quảng Nam).
            Năm Bính Dần (1866), niên hiệu Tự Đức thứ 19, khi vừa lên 15 tuổi, Ngài xuất gia với Hòa thượng Chương Quảng–Mật Hạnh tại chùa Linh Ứng với pháp danh Ấn Lan, tự Tổ Huệ, hiệu Từ Trí, nối pháp đời 39 tông Lâm
 

* Trang 165 *
device

Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Bính Tuất (1886), Ngài được triều đình bổ nhiệm làm trú trì chùa Linh Ứng. Từ đây, Ngài ra sức tu bổ Linh Ứng, tạo tượng, đúc chuông khiến cho chùa ngày càng khang trang, nghiêm tịnh. Đồng thời, Ngài tham dự các giới đàn để thí giới cho Tăng đồ tu học.
Năm Ất Mùi (1895), triều đình sắc phong cho Ngài làm Tăng cang, cai quản hai chùa Tam Thai, Linh Ứng. Trong lịch sử Phật giáo tại Ngũ Hành Sơn, Ngài là vị Tăng cang đầu tiên vậy.
Năm Đinh Dậu (1897), niên hiệu Thành Thái thứ 9, nhà vua ban cho Ngài hai chiếc “Ngũ Phước Ngân Tiền”, tưởng thưởng cho công đức tu hành cũng như đạo hạnh của Ngài.
Năm Canh Tý (1900), niên hiệu Thành Thái thứ 12, vua ban cho Ngài tấm biển với 4 chữ lớn “Hữu Tâm Tượng Giáo” treo lên cao để tán thán tài đức của Ngài đã làm Phật giáo hưng thạnh như thời Tượng pháp.
Năm Nhâm Dần (1902), niên hiệu Thành Thái thứ 14, Ngài tổ chức đại trai đàn tại chùa Linh Ứng, đích thân vua Thành Thái ngự vào dự lễ và ban cho Ngài sáu chiếc ca–sa để thưởng cho Phật sự này.
Năm Bính Ngọ (1906), niên hiệu Thành Thái thứ 18, vì bệnh duyên nên Ngài dâng sớ lên triều đình xin nghỉ chức Tăng cang. Tuy nhiên, Ngài vẫn ở lại Linh Ứng để chữa bệnh và đúc một pho tượng Chuẩn Đề tôn trí tại chùa.
Năm Tân Hợi (1911), niên hiệu Duy Tân thứ 5, Ngài kiến lập một thiền đường bên phải chùa đặt tên là “Thiền lưu tôn đường” và trùng tu lại bảo tháp của Tổ khai sơn là thiền sư Bửu Đài.
Vào ngày mồng 2 tháng 7 năm Tân Dậu (1921), triều vua Khải Định năm thứ 6, Ngài viên tịch, hưởng thọ 70 tuổi.
Thiền sư Từ Trí là một trong những Cao tăng của Quảng Nam thời cận đại. Ngài là người tinh nghiêm giới luật, tu hành khổ hạnh. Sự trì giới và khổ hạnh của Ngài đã được một ký giả người Pháp tên Albert De Marbre viết lại trong cuốn Les Montagnes De Marbre (Ngũ Hành Sơn) như sau: “Nhưng tôi biết vị Tăng cang Lư có lần đã ngã quỵ với khoản tiền lương và chế độ ăn uống này. Vị sư phải nhờ bệnh viện Hội An điều trị, năm 1920, chứng suy dinh dưỡng khiến nhà tu chịu đựng hết nỗi. Dù giải thích thế nào, viện dẫn lý lẽ ra sao, vị trưởng lão già nua vẫn không muốn vượt ra

* Trang 166 *
device

ngoài giới luật nghiêm cấm dùng mọi thức ăn có nguồn là động vật như sữa, trứng, mỡ, nước mắm, ngay cả thịt và cá”.
Ngài đã trước tác cuốn “Ngũ hành sơn lục” vào năm Bính Thìn (1916). Đây là cuốn sách rất có giá trị về mặt lịch sử, bổ ích cho những ai để tâm nghiên cứu về lịch sử văn hóa và Phật giáo tại Ngũ Hành Sơn.
8. Hòa thượng Chơn Pháp–Đạo Diệu–Phước Trí
眞 法 道 妙 福 智 (1867–1932): Chùa Linh Ứng

 

Hòa thượng Phước Trí
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Diệu, sinh giờ Hợi ngày 19 tháng 10 năm Đinh Mão (1867), tại xã Mỹ Khê, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là quận An Hải, thành phố Đà Nẵng). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Quang pháp danh Ấn Ngôn và thân mẫu là cụ bà Đỗ Thị Huệ pháp danh Ấn Lan. Ngài xuất gia với Hòa thượng Ấn Thanh–Chí Thành tại chùa Linh Ứng, được Tổ ban cho pháp danh Chơn Pháp, tự Đạo Diệu, hiệu Phước Trí, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Mậu Tuất (1898), Ngài ra Huế khai sơn chùa An Hội(33) tại xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, nay là phường Phù Cát, thành phố Huế. Về sau, Ngài vào lại Quảng Nam và giao chùa An Hội cho đệ tử Như Giác hiệu Giác Ngộ làm trú trì.
 

(33) Chùa An Hội về sau bị suy tàn. Đến năm 2008, chùa bị giải tỏa, pháp khí, Phật tượng, Long vị tổ Phước Trí được thân nhân tộc Võ hiến cúng và bảo lưu tại chùa Viên Giác, Hội An.
 

* Trang 167 *
device

Năm Giáp Thìn (1904), Ngài được triều đình ban Khâm đao, Độ điệp và cử làm trú trì chùa Linh Ứng.
Năm Mậu Thân (1908), sau 4 năm trú trì tại Linh Ứng thì Ngài được nghỉ theo biên giảm của triều đình. Vì thế, có một thời gian Ngài về trú trì chùa Mỹ Khê tại quê nhà.
Năm Canh Tuất (1910), Hòa thượng Vĩnh Gia khai đàn truyền giới tại chùa Phước Lâm, Hội An, Ngài được thỉnh làm Đệ nhất dẫn thỉnh sư.
Năm Quý Sửu (1913), Ngài chứng minh cho dân làng trùng tu đình làng Mỹ Khê.
Năm Mậu Thìn (1928), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Sắc tứ Từ Vân, Đà Nẵng. Trong hàng giới tử đắc pháp với Ngài có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những Cao tăng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài ra Huế trùng tu lại chùa An Hội. Với uy tín đức độ của Ngài nên chùa An Hội được ban biển ngạch Sắc tứ vào ngày mồng 7 tháng 7 cùng năm.
Năm Nhâm Thân (1932), vào ngày mồng 2 tháng Chạp Ngài thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi.
9. Hòa thượng Ấn Nghiêm–Tổ Thân–Phổ Thoại
印 嚴 祖 親 普 瑞  (1875–1954): Chùa Long Tuyền
 

Hòa thượng Phổ Thoại
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Thọ, sinh năm Ất Hợi (1875) tại làng Kim Bồng, xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Thái pháp danh Chương Bằng và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Trữ. Năm Đinh Hợi (1887), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài được song thân đưa đến chùa Chúc Thánh lạy tổ Chương Đạo–Quảng Viên xin xuất gia tu đạo. Ngài được Tổ ban pháp danh Ấn Nghiêm, pháp tự Tổ Thân, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
 

* Trang 168 *
device

Tháng 4 năm Quý Tỵ (1893), Hòa thượng Chí Thành khai đàn truyền giới tại Tổ đình Chúc Thánh, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới. Đến tháng chạp cùng năm thì Hòa thượng Quảng Viên viên tịch nên Ngài về Tổ đình Phước Lâm y chỉ Hòa thượng Vĩnh Gia tiếp tục tu học và được tổ Vĩnh Gia phú pháp hiệu là Phổ Thoại.
Năm Kỷ Dậu (1909), được một Phật tử hiến cúng khu đất tại ấp Hậu Xá, xã Thanh Hà, Ngài xin phép tổ Vĩnh Gia ra lập một thảo am nhỏ lấy tên là Long Tuyền để tiện việc tu niệm. Cũng trong năm này, Ngài vận động đúc một Đại hồng chung nặng 200kg dưới sự chứng minh của ngài Tăng cang Từ Trí. Từ đó, dần dần Ngài xây dựng Long Tuyền thành một ngôi phạm vũ nguy nga và được triều đình nhà Nguyễn ban Sắc tứ vào năm Quý Dậu (1933).
Năm Tân Dậu (1921), Ngài đứng ra thành lập tổ chức Bản tỉnh chư sơn Hội nhằm mục đích củng cố Tăng–già, chỉnh đốn Thiền môn. Ngài được chư sơn tín nhiệm cung thỉnh làm Trị sự đầu tiên.
Năm Mậu Thìn (1928), Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhị tôn chứng sư tại Đại giới đàn chùa Từ Vân, Đà Nẵng.
Năm Quý Dậu (1933), Tỉnh hội Phật học Quảng Nam thành lập, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư cho Hội.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma A–xà–lê tại giới đàn chùa Tịnh Quang, Quảng Trị.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài đứng ra trùng tu hai ngôi chùa Hội Nguyên và Kim Bửu tại hai xã đông tây Kim Bồng, quê hương của Ngài.
Với đạo đức cao thâm, Ngài đã cảm hóa rất nhiều người, trong đó có tiến sĩ Tam giáp Hồ Mộng Hàn. Ông này đã ca ngợi công đức của Ngài và cảnh trí chùa Long Tuyền như sau:                  
峩                                                Long Tuyền nguy nga         
霞                                                Nhựt xạ vãn hà                     
                                               Kỳ viên chi thọ         
恒 河 之 沙                                                Hằng hà chi sa

* Trang 169 *
device

                                                Tất tượng chú chung                       
                                                Chế biển tạo tháp     
                                                 Giác giác đăng truyền
                                                Tiên tiên, hoa đạp    
                                                Trù thử quy y                       
                                                Ấn Nghiêm thiền sư
                                                 Chúng sanh tận độ               
                                                 Trường lặc phong bi
Long Tuyền nguy nga
Mặt trời chói lòa
Rừng cây vườn Kỳ
Bãi cát sông Hằng
Thép tượng đúc chuông
Chế biển tạo tháp
Truyền đèn giác ngộ
Nối gót người xưa
Đến đây quy y
Thiền sư Ấn Nghiêm
Chúng sanh độ hết

Bia ghi lâu dài
                  (Hòa thượng Chơn Phát dịch)
Hòa thượng viên tịch vào ngày mồng 9 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1954), thọ 80 tuổi. Bảo tháp lưu nhục thân Ngài được kiến tạo tại chùa Long Tuyền, Hội An.
10. Hòa thượng Chơn Chứng–Đạo Tâm–Thiện Quả
眞 証 道 心 善 果  (1881–1962): Chùa Chúc Thánh
Hòa thượng thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tỵ (1881), tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Dương Thi An pháp danh Chương Thái, hiệu Quảng Liên và thân mẫu là cụ bà Đỗ Thị Toại.

* Trang 170 *
device


Hòa thượng Thiện Quả
Năm 15 tuổi, Ngài xuất gia với tổ Ấn Bính–Phổ Bảo tại chùa Chúc Thánh. Năm Tân Sửu (1901), thọ Sa–di tại chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên và được Bổn sư cho pháp danh Chơn Chứng, tự Đạo Tâm, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Đến năm Canh Tuất (1910), Ngài thọ Cụ túc giới với tổ Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm. Năm Giáp Dần (1914), Ngài kế thừa trú trì Tổ đình Chúc Thánh và được tổ Vĩnh Gia phú pháp hiệu Thiện Quả.
Với uy tín và đạo hạnh của Hòa thượng nên ngày
mồng 8 tháng 9 năm Canh Thân (1920) nhằm năm Khải Định thứ 5, chùa Chúc Thánh được triều đình ban biển ngạch Sắc tứ.
Là bậc Cao tăng thạc đức, Ngài được chư sơn các tỉnh cung thỉnh vào Hội đồng Thập sư tại các đàn giới như: Đệ thất tôn chứng tại giới đàn chùa Từ Hiếu, Huế năm Giáp Tý (1924) do Hòa thượng Tâm Tịnh làm Đàn đầu; Đệ nhất tôn chứng tại giới đàn chùa Từ Vân, Đà Nẵng năm Mậu Thìn (1928) do Hòa thượng Phước Trí làm Đàn đầu; Giáo thọ A–xà–lê tại giới đàn chùa Thạch Sơn, Quảng Ngãi năm Giáp Tuất (1934) do Hòa thượng Hoằng Thạc làm Đàn đầu.
Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài trùng tu lại phương trượng chùa Chúc Thánh.
Năm Quý Dậu (1933), Ngài được triều đình sắc phong Tăng cang chùa Chúc Thánh, đến năm Bính Tý (1936), Ngài lại được triều đình sắc phong Tăng cang hai chùa Tam Thai, Linh Ứng.

* Trang 171 *
device

Vào những năm 1930–1940, phong trào chấn hưng Phật giáo dấy lên mạnh mẽ khắp nơi, Hòa thượng được cung thỉnh Chứng minh đạo sư cho Hội An Nam Phật học tại Quảng Nam.
Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài trùng tu chánh điện, Đông đường, Tây đường khang trang để có nơi cho chư Tăng tu học và tạo cho Chúc Thánh có một nét kiến trúc đặc biệt xứng đáng với tầm vóc Tổ đình của một thiền phái lớn.
Vào mùa hạ năm Nhâm Dần (1962), Ngài thị bịnh và viên tịch ngày mồng 6 tháng 7, thế thọ 82 tuổi. Bảo tháp của Ngài được môn đồ an trí bên cạnh tháp tổ Minh Hải trong khuôn viên Tổ đình Chúc Thánh.
11. Hòa thượng Như Quang–Giải Chiếu–Trí Minh
如 光 解 照 智 明  (1904–1971): Chùa Pháp Bảo
 

Hòa thượng Trí Minh
Hòa thượng Thích Trí Minh thế danh Đinh Văn Nhiên sinh năm Giáp Thìn (1904) tại xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đinh Văn Siêu, pháp danh Ấn Lộc; thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Hành.
Năm Nhâm Ngọ (1906), khi vừa tròn 3 tuổi thì mẫu thân qua đời, Ngài được người dì chăm lo nuôi dưỡng.
Vốn sinh trưởng trong một gia tộc nhiều đời kính tín Tam bảo và để cho truyền thống ấy luôn được tiếp nối, vào năm Giáp Dần (1914), Ngài được thân phụ
gởi xuống chùa Chúc Thánh theo học với Hòa thượng Ấn Bính–Phổ Bảo là chú ruột của Ngài, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 11 tuổi. Nhưng chẳng may, cũng trong năm này Hòa thượng Phổ Bảo viên tịch nên Ngài theo học đạo và xuất gia với Hòa thượng Chơn Chứng–Thiện Quả, được Hòa thượng ban cho pháp danh Như Quang.

* Trang 172 *
device

Năm Nhâm Tuất (1922), thân phụ lâm bệnh nặng nên Ngài xin phép Bổn sư được về nhà lo phụng dưỡng, ngõ hầu báo đáp thâm ân sanh dưỡng. Đồng thời, để huyết thống có người nối dõi nên Ngài thuận lời nghiêm phụ tính chuyện môn đăng định tính.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài thu xếp mọi việc trong thân tộc, về lại chùa xưa, đảnh lễ ân sư xin được tiếp tục chí nguyện dở dang của mình. Năm Canh Dần (1950), Ngài được Bổn sư truyền trao giới Sa–di với pháp tự là Giải Chiếu.
Năm Đinh Dậu (1957), Ngài được thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Hải Đức, Nha Trang do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Đàn đầu và Bổn sư phú pháp hiệu là Trí Minh. Từ đây, Ngài chính thức dự vào hàng Chúng trung Tôn, nối pháp đời 41 dòng thiền Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Trong những năm này, Hòa thượng được Hội Phật học Quảng Nam cung thỉnh làm trú trì chùa Tỉnh Hội (nay là chùa Pháp Bảo) và bầu làm Hội trưởng Hội An Nam Phật học tỉnh Quảng Nam.
Trong cương vị Hội trưởng Hội An Nam Phật học, Ngài thường xuyên đi thuyết giảng khắp các huyện thị trong tỉnh. Lúc bấy giờ quý Hòa thượng Chơn Phát, Như Vạn, Như Huệ v.v... còn đang học tại Sài–gòn nên việc hoằng pháp phần lớn Ngài đảm trách. Với tánh tình hiền hòa từ ái, chịu khó nhọc nên Ngài không từ nan một Phật sự nào. Cả một tỉnh Quảng Nam rộng lớn không có nơi nào mà không có dấu chân Ngài đi qua. Vì lẽ đó, hàng Phật tử tại gia thời bấy giờ tại Quảng Nam phần lớn quy y với Ngài.
Năm Quý Mão (1963), Phật giáo lâm vào pháp nạn dưới chế độ gia đình trị kỳ thị tôn giáo, tại Quảng Nam, một Ủy ban tranh đấu được thành lập và Ngài là một thành viên tích cực của phong trào. Điều này đã được Ngài thể hiện qua cuộc tuyệt thực nhiều ngày cùng với Hòa thượng Chơn Phát trước tòa hành chánh Quảng Nam (nay là khách sạn Hội An). Có những lúc phong trào lên cao, Ngài xin chư tôn đức được phát nguyện tự thiêu để cầu mong Pháp nạn sớm qua. Tuy nhiên, tâm nguyện này đã không được chấp thuận. Đồng thời, hàng Phật tử tại gia luân phiên gìn giữ canh gác Ngài. Bởi lẽ, họ không muốn mất đi một bậc Tôn sư hài hòa khả kính.

* Trang 173 *
device

Vào đêm 20 và ngày 21 tháng 8 năm 1963, toàn thể các chùa tại Hội An – trung tâm tranh đấu của Phật giáo Quảng Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm tấn công. Ngài cùng tất cả chư tôn đức bị bắt và bị đưa xuống biển Cửa Đại để thẩm vấn, mãi cho đến khi cuộc cách mạng 1/11/1963 thành công, Ngài mới được trả tự do.
Năm Giáp Thìn (1964), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Nam được thành lập, cả hai tổ chức Giáo hội Tăng Già và An Nam Phật học hợp lại làm một, Ngài được mời làm cố vấn cho Giáo hội tỉnh Quảng Nam.
Năm Đinh Mùi (1967), Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhị tôn chứng tại giới đàn Sa–di chùa Long Tuyền. Cũng trong năm này, trong một chuyến đi thuyết giảng từ Quế Sơn về, Ngài bị lâm nạn, từ đó sức khỏe yếu dần nên Ngài từ nhiệm tất cả mọi chức vụ của Giáo hội, chỉ đảm nhận trú trì chùa Tỉnh hội Quảng Nam.
Đầu năm Tân Hợi (1971), Ngài cùng với Giáo hội tiến hành xây dựng giảng đường và nhà Tăng. Tuy nhiên công việc đang tiến hành thì Ngài lại trở bệnh nặng nên Giáo hội và môn đồ đưa Ngài về Tổ đình Chúc Thánh để tịnh dưỡng và lo thuốc thang. Nhưng vô thường xưa nay là lẽ vậy, nên Ngài đã xả bỏ huyễn thân để trở về với cảnh giới an lành của Phật A Di–đà vào lúc 5 giờ ngày mồng 9 tháng 3 năm Tân Hợi (4/4/1971) hưởng thọ 68 tuổi. Bảo tháp của Ngài được kiến lập trong khuôn viên Tổ đình, nơi mà năm xưa Ngài đã sơ tâm phát nguyện tu trì.
12. Hòa thượng Chơn Tá–Đạo Hóa–Tôn Bảo
眞 佐 道 化 尊 保 (1895–1974): Chùa Vu Lan

Hòa thượng thế danh Phạm Nhữ Hựu, sinh giờ Dần ngày 19 tháng 9 năm Ất Mùi (1895) tại làng Hương Quế, tổng Hương Phú, quận Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Theo gia phả thì Ngài thuộc dòng dõi của danh tướng Phạm Ngũ Lão thời Trần. Thân phụ là cụ ông Phạm Nhữ Ngôn pháp danh Ấn Niệm và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Trà.
Năm Nhâm Dần (1902), Ngài được Tăng cang Từ Trí nhận làm đệ tử tu học tại chùa Linh Ứng. Năm Giáp Dần (1914), Ngài thọ Sa–di với pháp danh Chơn Tá, tự Đạo Hóa, nối pháp đời 40

* Trang 174 *
device

tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Đến năm Bính Thìn (1916), Ngài thọ Cụ túc giới và được cử giữ chức vụ Tăng mục chùa Tam Thai, Ngũ Hành Sơn.
 

Hòa thượng Tôn Bảo
Năm Tân Dậu (1921), Hòa thượng Bổn sư viên tịch nên Ngài cầu pháp với Hòa thượng Phước Trí và được Hòa thượng ban cho đạo hiệu Tôn Bảo.
Năm Giáp Tý (1924), Ngài được chư sơn cung cử chức vụ trú trì chùa Vu Lan, Đà Nẵng sau khi Hòa thượng trú trì Thích Hưng Long viên tịch.
Vào các năm Đinh Mão và Mậu Thìn (1927–1928), với cương vị trú trì chùa Vu Lan, Ngài đứng ra vận động xây dựng Tăng đường cũng như Tam quan của chùa tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài được chư sơn cung thỉnh vào chức vụ Phó trị sự chư sơn tỉnh Quảng Nam kiêm Kiểm tăng huyện Hòa Vang.
Năm Quý Dậu (1933), niên hiệu Bảo Đại thứ 9, Ngài đứng ra xin triều đình ban Sắc tứ cho chùa Vu Lan.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài là Hội trưởng Hội Phật học Đà Nẵng. Ngài đã chứng minh cho Đà Thành Phật học Hội và bảo trợ trực tiếp cho Ban biên tập Tạp chí Tam Bảo đặt tòa soạn tại chùa Vu Lan.
Từ năm Bính Thân đến năm Đinh Dậu (1956–1957), Ngài làm Trị sự sơn môn GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng và Chứng minh đạo sư cho Giáo hội Đà Nẵng.

* Trang 175 *
device

Các năm pháp nạn 1963, 1966, Ngài là vị lãnh đạo tối cao trong phong trào đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng tại thị xã Đà Nẵng.
Năm Đinh Mùi (1967), Ngài được suy cử vào Hội đồng Viện tăng thống GHPGVNTN.
Là một bậc niên cao lạp trưởng, giới hạnh trang nghiêm, Ngài được cung thỉnh chức sự trong các giới đàn như: Đệ tứ dẫn thỉnh giới đàn Từ Vân, Đà Nẵng năm 1928; Đệ ngũ tôn chứng giới đàn Tịnh Quang, Quảng Trị năm 1935; Đệ nhất tôn chứng giới đàn Vĩnh Gia tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng năm 1970. Vào các năm Giáp Dần, Quý Mão, Ất Tỵ, Đinh Mùi (1962, 1963, 1965, 1967), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu truyền giới Sa–di tổ chức tại chùa Long Tuyền, Quảng Nam.
Năm Tân Hợi (1971), GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam và Ban Giám đốc Phật học viện Quảng Nam cung thỉnh Ngài làm Chứng minh đại đạo sư cho Học viện.
Năm Giáp Dần (1974), Ngài được cung thỉnh làm Đàn dầu Hòa thượng tại Đại giới đàn chùa Long Tuyền do Phật học viện Quảng Nam tổ chức.
Vào ngày 27 tháng 10 năm Giáp Dần (10.12.1974) lúc 11 giờ 45 phút, Ngài đã xả báo an tường hưởng thọ 80 thế tuế với 60 hạ lạp. Nhục thân của Ngài được an trí trong bảo tháp tại khuôn viên chùa Vu Lan.
Trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại Quảng Nam–Đà Nẵng, Ngài là một trong những bậc thiền Tăng mô phạm, làm điểm tựa cho Tăng chúng tu học. Trong lòng quần chúng Phật tử Đà Nẵng, Ngài là vị thầy lãnh đạo tinh thần luôn được mọi người kính mến về tài năng và phẩm hạnh.
13. Hòa thượng Thị Năng–Trí Hữu–Hương Sơn
是 能 智 有 香 山  (1912–1975): Chùa Linh Ứng
Hòa thượng thế danh Lê Thùy pháp húy Thị Năng, tự Trí Hữu, hiệu Hương Sơn, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Hòa thượng sinh năm Quý Sửu (1912) tại làng Quá Giáng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Lê Tất Các pháp danh Hồng Diễn và thân mẫu là cụ bà Kiều Thị Đỉnh. Năm Giáp Tuất (1934), Ngài xuất gia với Hòa

* Trang 176 *
device

thượng Như Thông–Tôn Nguyên tại chùa Linh Ứng, Ngũ Hành Sơn. Đến năm Mậu Dần (1938), khi vừa tròn 27 tuổi thì Ngài thọ Cụ túc giới.
 

Hòa thượng Trí Hữu
Năm Ất Hợi (1935), Ngài được Bổn sư cho theo học tại Đà Thành Phật học viện tại chùa Phổ Thiên, Đà Nẵng. Năm Đinh Sửu (1937), Ngài tiếp tục theo học tại Phật học đường Báo Quốc, Huế. Năm Ất Dậu (1945), sau khi tốt nghiệp đại học Phật giáo tại Báo Quốc, Ngài vân du hóa đạo tại các tỉnh miền Nam.
            Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài lập ngôi chùa nhỏ đặt tên Ứng Quang(34), mở lớp dạy chúng điệu các chùa lân cận. Trong thời gian này, Ngài cộng tác với tạp chí Từ Quang nhằm phổ biến giáo lý đến khắp các giới Phật tử. Năm Canh Dần (1950), Ngài
cùng với các Hòa thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa v.v... hợp nhất các Phật học đường Liên Hải, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt. Năm Đinh Dậu (1957), Ngài về lại Ngũ Hành Sơn trú trì Tổ đình Linh Ứng.
Năm Canh Tý (1960), Phật học viện Phổ Đà thành lập tại chùa Phổ Thiên, Đà Nẵng, Hòa thượng được mời làm Giám viện cho đến năm 1975.
Năm Tân Sửu (1961), Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Trị sự Trưởng GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài được cử làm trú trì chùa Tỉnh hội Đà Nẵng.
 

(34) Sau này đổi tên Ấn Quang, trụ sở của Viện hóa đạo GHPGVNTN.
 

* Trang 177 *
device

Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN được thành lập, Ngài được Viện hóa đạo cử làm Chánh đại diện miền Liễu Quán.
Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng được cung thỉnh làm Đệ thất tôn chứng tại giới đàn Phật học viện Hải Đức, Nha Trang. Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Đệ ngũ tôn chứng tại Đại giới đàn Vĩnh Gia tổ chức tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng. Năm Tân Hợi (1971), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê tại giới đàn Tu viện Quảng Đức, quận Thủ Đức, Sài–gòn.
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài vận động đại trùng tu Tổ đình Linh Ứng.
Năm Quý Sửu (1973), Ngài được Đức Tăng thống tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa thượng và thỉnh vào Hội đồng Giáo phẩm Viện tăng thống GHPGVNTN.
Năm Ất Mão (1975), vào lúc 12 giờ ngày 28 tháng 11 âl (30.12.1975), Ngài đã viên tịch tại chùa Ấn Quang, Sài–gòn, nơi mà 37 năm về trước Ngài đã đặt những viên đá đầu tiên kiến tạo. Sau khi trà–tỳ, hài cốt của Ngài được phân làm hai phần: một phần thờ tại chùa Ấn Quang và một phần đem về nhập bảo tháp tại chùa Linh Ứng, Ngũ Hành Sơn.
Ngài phiên dịch và trước tác nhiều kinh sách như:
– Kinh Viên Giác
– Lời Phật dạy (Phỏng dịch)
– Duy thức dị giản
– Kinh Phật địa: Ấn hành năm 1959.
– Phật học danh số: Đăng nhiều kỳ trên tạp chí Từ Quang.
– Lịch sử Ngũ Hành Sơn (sáng tác)
Đặc biệt, trong đó tác phẩm “Lịch Sử Ngũ Hành Sơn” là cuốn sách rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa của Phật giáo tại núi Ngũ Hành.
Ngoài việc kế thế trùng tu Tổ đình Linh Ứng, Ngài đã khai sơn các chùa Ứng Quang, Sài–gòn (1949) (tức chùa Ấn Quang bây

* Trang 178 *
device

giờ) ; các chùa Hòa Phước (năm 1950), chùa Bảo Minh (1965) huyện Hòa Vang; chùa Từ Quang, Bích Trân, La Thọ tại Quảng Nam–Đà Nẵng.
14. Hòa thượng Như Vạn–Giải Thọ–Trí Phước
如 萬 解 壽 智 福 (1930–1980) : Chùa Phước Lâm
 

Hòa Thượng Như Vạn
Hòa thượng thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoàng pháp danh Chơn Tấn và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chung. Năm Canh Dần (1950), Ngài đến chùa Chúc Thánh lạy Hòa thượng Thiện Quả xin xuất gia tu học. Đến năm Tân Mão (1951), Hòa thượng Thiện Quả gởi Ngài vào tòng học tại Phật học đường Nam Việt. Năm Nhâm Thìn (1952), Ngài thọ giới Sa–di với Hòa thượng Khánh Anh và năm Ất Mùi (1955), Ngài thọ
Cụ túc giới tại giới đàn chùa Ấn Quang do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết – Pháp chủ Giáo hội Tăng Già Việt Nam làm Đàn đầu. Ngài được Bổn sư cho pháp danh Như Vạn, tự Giải Thọ, hiệu Trí Phước, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Kỷ Hợi (1959), Hòa thượng được GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng và tông môn thỉnh cử làm trú trì Tổ đình Phước Lâm.
Năm Canh Tý (1960), Ngài đảm nhận chức vị giảng sư do Tổng hội Phật giáo Trung phần bổ nhiệm. Từ đây, Ngài cùng với quý ngài trong GHTG Quảng Nam xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo tại các huyện Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn, Điện Bàn.
Trong mùa pháp nạn 1963, Hòa thượng được bầu làm Ủy Viên Đặc trách các huyện thị. Trong cuộc tranh đấu này, Ngài đã tuyệt

* Trang 179 *
device

thực liên tục trước Tòa Hành Chánh Quảng Nam trong nhiều ngày liền.
Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam thành lập, Ngài được bầu giữ chức vụ Đặc ủy Cư sĩ kiêm Chánh đại diện GHPGVNTN quận Hiếu Nhơn. Năm Bính Ngọ (1966), Ngài lại dấn thân trong phong trào đấu tranh chống Thiệu–Kỳ bảo vệ hiến chương Phật giáo. Kết thúc cuộc đấu tranh ấy là Ngài và Hòa thượng Thích Long Trí bị bắt giam tại không sửa an ninh quân đội Sài–gòn, đến cuối năm mới được trả tự do.
 Năm Đinh Mùi (1967), Ngài đứng ra đại trùng tu Tổ đình Phước Lâm. Trong lần trùng tu này, Ngài muốn đảm bảo tuổi thọ của ngôi chánh điện nên đã cho đúc toàn bộ cột trính bằng xi–măng cốt thép. Trong năm này, Ngài lại được chư sơn thỉnh cử vào ngôi vị Đệ tứ tôn chứng tại giới đàn Sa–di chùa Long Tuyền,Hội An.
Năm Mậu Thân (1968), trong đại hội GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam, Ngài lại được Tăng ni Phật tử tín nhiệm giao cho trọng trách Đặc ủy Cư sĩ kiêm Hoằng pháp. Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Tả Giám Đàn cho Đại giới đàn Vĩnh Gia do Hòa thượng Thích Giác Nhiên – Đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN làm Đàn đầu.
Năm Tân Hợi (1971), Phật học viện Quảng Nam được thành lập tại chùa Long Tuyền, Ngài được Ban Giám đốc mời giữ chức vụ Phó Giám viện kiêm Chủ nhiệm bộ môn Hán văn.
Năm Giáp Dần (1974), Ngài được cung thỉnh làm Đệ tứ tọa chúng Tăng–già cho giới đàn chùa Long Tuyền do Hòa thượng Thích Tôn Bảo làm Đàn đầu.
Năm Ất Mão (1975), Phật giáo và Dân tộc bước sang một giai đoạn mới, Ngài được mời đảm nhiệm chức vụ Chánh đại diện GHPGVNTN thị xã Hội An. Đồng thời, Ngài tùy duyên tham gia giữ chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Hội An và Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam–Đà Nẵng.
Vào lúc 2 giờ chiều ngày 24 tháng 3 năm Canh Thân (08–5–1980), một tai nạn giông tố đã cướp đi một tài năng của Phật giáo xứ Quảng trong khi Ngài đang chấp tác nông thiền.
Trong suốt 30 năm tu học và hành đạo, Hòa thượng đã cống

* Trang 180 *
device

hiến hết mình cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Với tinh thần vị tha trong giao tiếp, hăng hái trong công việc, vô úy trước bạo quyền, tận tụy với trách nhiệm của người thầy, Ngài đã để lại nhiều hình ảnh cao đẹp trong lòng Tăng ni Phật tử xứ Quảng. Ngài đã được Tăng tín đồ gọi là một trong Tứ trụ của Phật giáo Quảng Nam cận đại.
15. Hòa thượng Chơn Ngọc–Đạo Bảo–Long Trí
眞 玉 道 寳 隆 智 (1928–1998): ): Chùa Viên Giác
 

Hòa thượng Long Trí
Hòa thượng thế danh Lý Trường Châu, sinh ngày 12 tháng 9 năm Mậu Thìn (1928) tại làng Minh Hương, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Lý Trạch Chương pháp danh Tâm Viên và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mai pháp danh Tâm Chân. Ngày 19 tháng 6 năm Bính Tuất (1946), Hòa thượng xuất gia tại chùa Phước Lâm, Hội An. Từ đây, Ngài tu học dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Bổn sư thượng Ấn hạ Nghiêm hiệu Phổ Thoại (khai sơn chùa Long Tuyền), được Hòa thượng ban cho pháp
danh Chơn Ngọc. Đến ngày 19 tháng 9 năm Đinh Hợi (1947) Ngài thọ Sa–di với pháp tự Đạo Bảo. Năm Ất Tỵ (1965), Ngài đắc pháp với Đại lão Hòa thượng thượng Giác hạ Nhiên tại giới đàn Vạn Hạnh chùa Từ Hiếu, Huế và được Bổn sư phú pháp hiệu Long Trí, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Tân Mão (1951), Ngài về trú trì chùa Viên Giác và được cử làm Phó thư ký GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng.

* Trang 181 *
device

Năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng được đề cử làm Trưởng ban tổ chức đại lễ Phật Đản – Phật lịch 2502 tại chùa Viên Giác, Hội An để biểu hiện sức vươn lên của GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng.
Năm Quý Mão (1963), toàn quốc khởi lên phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị của chính quyền Ngô Đình Diệm, tại Quảng Nam, Hòa thượng giữ chức vụ Tổng thư ký kiêm Đặc trách thanh niên. Trong mùa Pháp nạn này, Hòa thượng bị đánh đập nặng nề, suýt bị tử vong. Đêm 20 tháng 8, Hòa thượng cùng với chư tôn đức bị bắt giam đến ngày 1 tháng 11 năm 1963 Ngô triều sụp đổ, Ngài mới được trả tự do.
Năm Giáp Thìn (1964), GHPG VNTN tỉnh Quảng Nam thành lập, Hòa thượng được mời làm Phó đại diện đặc trách Ngoại vụ kiêm Chánh thư ký và Đặc ủy thanh niên.
Năm Bính Ngọ (1966), Hòa thượng tiếp tục dấn thân vào cuộc tranh đấu chống chính sách Thiệu–Kỳ và một lần nữa vào tù ra khám chỉ vì lý tưởng Đạo pháp và Dân tộc.
Năm Đinh Mùi (1967), công trình xây cất giảng đường và trụ sở Gia đình Phật tử Quảng Nam hoàn tất, lễ khánh thành được tiến hành trọng thể dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Đôn Hậu ­– Chánh đại diện miền Vạn Hạnh.
Năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng được bầu làm Chủ tịch mặt trận cứu đói miền Trung. Năm Quý Sửu (1973), Ủy Ban tái thiết xã hội được thành lập, văn phòng đặt tại chùa Viên Giác và Hòa thượng được Giáo hội đề cử làm Chủ tịch Ủy ban.
Năm Tân Dậu (1981), Hòa thượng Thích Như Huệ rời chùa Tỉnh Hội (tức chùa Pháp Bảo) sang Úc giáo hóa, Hòa thượng phải tạm rời Viên Giác về trụ tại chùa Pháp Bảo để điều hành mọi Phật sự. Trong thời gian này Ngài nhận làm Phó ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam–Đà Nẵng và tham gia Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam–Đà Nẵng cho đến năm 1989.
Năm Nhâm Tuất (1982), Ngài kiến tạo Tổ đường tại chùa Pháp Bảo.
Năm Bính Dần (1986), Ngài cho tái sinh hoạt Gia đình Phật tử Quảng Nam, một tổ chức thanh thiếu niên Phật tử mà Ngài đã cưu mang qua nhiều giai đoạn cam go của lịch sử. Ngài đã đảm

* Trang 182 *
device

nhận chức Trưởng ban hướng dẫn Gia đình Phật tử Quảng Nam cho đến cuối đời.
Năm Canh Ngọ (1990), Ngài từ nhiệm tất cả mọi chức vụ về lại Viên Giác trùng tu ngôi chánh điện. Sau gần 1 năm thi công, lễ khánh thành đã được tổ chức vào ngày rằm tháng 8 cùng năm.
Năm Nhâm Thân (1992), Hòa thượng được thỉnh cử làm Chánh văn phòng Viện hóa đạo GHPGVNTN.
Tháng 5 năm Mậu Dần (1998), Hòa thượng nhuốm bệnh và viên tịch ngày 13 tháng 9 cùng năm (1/11/1998), hưởng thọ 71 thế tuế.
Cuộc đời của Hòa thượng gắn liền với hình ảnh một số Tăng sĩ trong thời đại chiến loạn. Ngài không ngừng thấu triệt lời dạy của chư Phật, đem hết khả năng của mình dung hợp với tinh thần Bi–Trí–Dũng cứu độ chúng sanh, phụng sự Đạo pháp và Dân tộc trong ý thức “Phật pháp bất ly thế gian giác”.
16. Hòa thượng Như Nhàn–Giải Lạc–Trí Giác
如 閒 解 樂 智 覺 (1915–2005): Chùa Tam Thai

 

Hòa thượng Trí Giác
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chân Loan. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài phát tâm xuất gia học đạo với Hòa thượng Tăng cang Thích Thiện Quả tại chùa Chúc Thánh.
 

* Trang 183 *
device

Năm Giáp Thân (1944), Ngài thọ giới Sa–di và đến năm Kỷ Sửu (1949) đắc giới Cụ túc tại giới đàn Hộ Quốc được tổ chức tại chùa Báo Quốc, Huế do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu. Sau khi thọ giới về, Ngài được thỉnh cử làm trú trì chùa Hội Phật học Quảng Nam.
Năm Canh Dần (1950), Hòa thượng thành lập sơn môn Tăng Già Quảng Nam. Năm Tân Mão (1951), Hòa thượng làm trưởng đoàn sơn môn Tăng Già Quảng Nam tham dự Đại hội đại biểu Phật giáo Thống nhất lần thứ nhất tại chùa Từ Đàm, Huế.
Năm Nhâm Thìn (1952), GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng thành lập, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Thư ký của Giáo hội.
Năm Giáp Ngọ (1954), Hòa thượng được cử làm trú trì Tổ đình Phước Lâm. Trong thời gian này, Hòa thượng vận động trùng tu Tổ đình. Năm Ất Mùi (1955), Hòa thượng vận động trùng tu chùa Nghĩa Trũng, Điện Bàn và đề cử Đại đức Thích Long Hải về trú trì tại đây.
Năm Bính Thân (1956), Hòa thượng được cung thỉnh làm Hội trưởng Hội Phật học Quảng Nam. Năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng được bầu làm Trị sự trưởng GHTG Quảng Nam.
Năm Kỷ Hợi (1959), Hòa thượng được GHTG Trung phần bổ nhiệm làm trú trì chùa Tam Thai, Ngũ Hành Sơn. Năm Quý Mão (1963), Phật giáo lâm vào pháp nạn, Hòa thượng cùng với chư tôn đức trong Giáo hội Tăng Già Quảng Nam đồng cam cộng khổ, quyết lòng đấu tranh cho sự trường tồn của chánh pháp.
Năm Bính Ngọ (1966), một lần nữa Hòa thượng lãnh đạo Phật giáo đồ Quảng Nam đấu tranh chống hiến chương Vũng Tàu và chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Thiệu–Kỳ.
Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng được thỉnh cử giữ chức vụ Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.
Năm Canh Tuất (1970), Hòa thượng được thỉnh cử làm Phó chủ đàn Đại giới đàn Vĩnh Gia, chùa Phổ Đà, Đà Nẵng.
Năm Ất Mão (1975), Ban đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam–Đà Nẵng hình thành, Hòa thượng được thỉnh cử giữ chức vụ Đặc ủy Tăng sự.

* Trang 184 *
device

Năm Canh Thân (1980), Hòa thượng Thích Như Vạn viên tịch, Hòa thượng được môn phái cung thỉnh kiêm nhiệm trú trì Tổ đình Phước Lâm.
Năm Nhâm Tuất (1982), GHPGVN tỉnh Quảng Nam–Đà Nẵng thành lập, Hòa thượng được thỉnh cử giữ chức vụ Trưởng ban tăng sự liên tiếp 3 nhiệm kỳ từ năm 1982 đến 1997. Cũng trong năm này, Hòa thượng được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới Sa–di tại chùa Pháp Bảo, Hội An.
Năm Nhâm Thân (1992), trong dịp lễ khánh thành bảo tháp Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo, Hòa thượng được môn phái suy tôn lên ngôi vị Trưởng Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh cho đến ngày viên tịch.
Năm Bính Tý (1996), Hòa thượng được Ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam–Đà Nẵng cung thỉnh làm Chánh chủ đàn Đại giới đàn Phước Huệ, chùa Phổ Đà, Đà Nẵng.
Năm Đinh Sửu (1997), Hòa thượng được ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam cung thỉnh làm chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh.
Năm Mậu Dần (1998), nhận thấy tuổi đã cao và sức khoẻ yếu dần nên Hòa thượng trở về lại Tổ đình Tam Thai và đề cử Đại đức Thích Hạnh Hoa kế vị trú trì Tổ đình Phước Lâm.
Sau vài ngày thân thể khiếm an, 6 giờ sáng ngày 26 tháng 8 năm Ất Dậu (29/9/2005), Ngài đã xả báo an tường tại Tổ đình Tam Thai trong tiếng hộ niệm của chư Tăng và môn đồ, thọ thế 91 tuổi và 57 hạ lạp. Bảo tháp Ngài được kiến lập bên phải phía trước Tổ đình Tam Thai.
17. Chơn Phát–Đạo Dũng–Long Tôn
眞 發 道 勇 隆 尊: Chùa Long Tuyền
Hòa thượng thế danh Nguyễn Nghi sinh ngày 13 tháng 10 năm Tân Mùi (1931) tại làng Kim Bồng, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Gia pháp danh Ấn Hoa và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Sách.

* Trang 185 *
device


Hòa thượng Chơn Phát
Năm Đinh Sửu (1937), Ngài được song thân cho đến xuất gia tại chùa Long Tuyền với Hòa thượng Phổ Thoại cũng là chú ruột của Ngài. Hòa thượng được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Phát, tự Đạo Dũng, hiệu Long Tôn, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Tân Mão (1951), Ngài được Bổn sư gởi vào tham học tại Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn.
Năm Đinh Dậu (1957), Hòa thượng thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Hải Đức, Nha Trang do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Đàn đầu truyền giới.
Sau khi tốt nghiệp Phật học đường Nam Việt, Ngài được mời làm Giáo thọ tại Phật học đường Giác Sanh.
Năm Tân Sửu (1961), Hòa thượng Chơn Quả–Đương Như, đệ nhị trú trì chùa Long Tuyền viên tịch, Ngài về kế thừa đảm nhận trú trì chùa Long Tuyền.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài đảm nhận chức vụ Trị sự trưởng GHTG Quảng Nam.
Năm Quý Mão (1963), Phật giáo rơi vào pháp nạn, Hòa thượng là một trong những nhà lãnh đạo Phật giáo Quảng Nam tranh đấu cho sự trường tồn của chánh pháp.
Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam thành lập, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Đặc ủy Tăng sự qua các nhiệm kỳ.
Năm Bính Ngọ (1966), Ngài đảm nhận chức vụ Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.
Kể từ ngày kế nghiệp trú trì chùa Long Tuyền, hàng năm Ngài đều tập chúng an cư tại đây. Từ đó, việc an cư tập trung của

 

* Trang 186 *
device

chư Tăng Quảng Nam được hình thành và duy trì suốt mấy thập kỷ qua.
Vào các năm 1962, 1963, 1965, 1967, 1974 Ngài thường mở các đàn giới Sa–di để truyền trao giới pháp cho hàng xuất gia. Trong các đàn giới này, Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma và Giáo thọ.
Là một người luôn ưu tư cho sự giáo dục của Phật giáo tỉnh nhà, vào năm Canh Tuất (1970), Hòa thượng mở Phật học viện tại Long Tuyền và giữ chức Giám viện. Phật học viện đã quy tụ chư Tăng các tỉnh miền Trung theo học nhưng đến năm 1975 vì điều kiện khách quan nên trường không hoạt động nữa.
Sau năm 1975, Hòa thượng nghỉ tất cả các chức vụ Giáo hội và lui về tu niệm. Ngài hành trì pháp môn Tịnh Độ và xiển dương giáo nghĩa của pháp môn này.
Năm Ất Sửu (1985), Hòa thượng khai giới đàn tại chùa Long Tuyền và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.
Hòa thượng đã biên soạn và dịch một số tác phẩm sau:
– Lịch sử Phật giáo Việt Nam
– Danh tăng tự viện Phật giáo Quảng Nam
– Chùa Long Tuyền xưa và nay
– Thập đại đệ tử Phật (dịch)
Phần lớn những tác phẩm của Ngài đều in dưới dạng lưu hành nội bộ để phổ biến cho Tăng ni Phật tử trong tỉnh tham cứu.
Kể từ khi trú trì chùa đến nay, Hòa thượng từng bước kiến thiết chùa Long Tuyền qua các giai đoạn với những công trình sau: Tăng đường (1965), Thiền đường (1969), Giảng đường (1970), Tháp Đa Bảo (1984), Hộ pháp đường (1988), Tam quan (1989), đài Quán Thế Âm (1990), ao Thất bảo (1992). Vào năm 1993, Hòa thượng đại trùng tu lại Chánh điện và Tổ đường chùa Long Tuyền nguy nga tráng lệ, trở thành một trong những danh lam của Phật giáo Quảng Nam.
Hiện tại, Hòa thượng đã 80 tuổi và là Chứng minh của Ban trị sự tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam cũng như Ban điều hành Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh.

* Trang 187 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh