LOGO VNBET
Qua hai thế kỷ với biết bao thăng trầm của thế cuộc, Tổ đình Khánh Sơn có lúc suy lúc thịnh. Thời chiến tranh Pháp–Việt, chùa bị thiêu hủy hoàn toàn, đến năm Giáp Ngọ (1954), Hòa thượng Kim Thiền mới trùng tu lại.
Năm Bính Dần (1986), Hòa thượng Kim Thiền viên tịch, Thượng tọa Thích Thông Biện kế nghiệp trú trì. Thượng tọa Thông Biện là đệ tử của Hòa thượng Thích Hưng Từ ở chùa Pháp Hội, Bình Thuận, nối pháp đời 43 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Kể từ ngày kế nghiệp trú trì, Thượng tọa từng bước cho tiến hành trùng tu xây dựng các công trình như Quan Âm Các (1989); xây dựng đường lên chùa bằng đá chẻ (1993) v.v...
Hiện tại Tổ đình Khánh Sơn đang được trùng tu một cách quy mô. Mong rằng chốn Tổ sớm được hoàn mãn để có chỗ cho con cháu trong tông môn pháp phái quay về, tựa nương .
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Pháp Chuyên–Luật Truyền–Diệu Nghiêm
法 専 律 傳 妙 嚴 (1726–1798): Chùa Từ Quang
 


Bảo tháp Tổ sư Diệu Nghiêm
Hòa thượng họ Trần, sinh giờ Thìn ngày mồng 2 tháng 4 năm Bính Ngọ (1726) tại làng Cổ Tháp, xã Hoa Châu, phủ Thăng Hoa, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hiếu và thân mẫu là cụ bà Nhụ nhơn. Ngay từ nhỏ, Ngài đã không ăn được những thức ăn có mùi tanh. Người chú của Ngài xuất gia có hiệu là Lâm Hoằng đại sư nhìn Ngài và nói với cha mẹ Ngài rằng: “Đứa bé này có tướng của bậc xuất trần thượng sĩ”.
 

* Trang 341 *
device

Thuở nhỏ Ngài theo Nho học, năm 18 tuổi thi đỗ và ra làm quan dưới thời chúa Võ Vương–Nguyễn Phúc Khoát. Một hôm xem tuồng “Tam Trinh cố sự” và “Long Hổ sự duyên”, Ngài hốt nhiên nhận chân ra lẽ sống cuộc đời, treo ấn từ quan, tìm đường xuất gia học đạo.
Ngài đến chùa Phước Lâm tại huyện Diên Phước (nay là thành phố Hội An) tỉnh Quảng Nam xin xuất gia và được tổ Thiệt Dinh–Ân Triêm nhận làm đệ tử. Ngày 19 tháng 2 năm Ất Sửu (1745), nhân ngày khánh đản đức Quán Thế Âm Bồ–tát, Ngài thỉnh cầu tổ Ân Triêm thế phát và được ban cho pháp danh Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, nối pháp đời 36 tông Lâm Tế Chúc Thánh. Đến tháng 3, Ngài đến chùa Bảo Lâm thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Hải Điện. Từ đó, Ngài tinh cần tu tập nên Bổn sư hài lòng phú pháp hiệu là Diệu Nghiêm.
Sau 5 năm, Ngài xin Bổn sư đến tham học với các vị Tổ sư danh tiếng đương thời như tổ Thiệt Uyên–Chí Bảo tại chùa Bảo Lâm; tổ Thiệt Kiến–Liễu Triệt tại chùa Thập Tháp, Bình Định và Ngài đã đọc hết toàn bộ Đại tạng kinh do Tổng trấn Hà Tiên là Mạc Cửu cúng cho chùa Thập Tháp.
Ngài thường đọc tụng kinh Hoa Nghiêm. Một hôm, vào lúc giữa đêm Ngài thấy rõ một việc bèn phát đại nguyện: “Phàm hễ gặp người, không luận nam nữ già trẻ sang hèn đều giáo hoá quy kính ba ngôi Tam bảo”.
Từ đó, Ngài tùy cơ duyên thuyết pháp. Thể theo nhu cầu của các đạo tràng, Ngài giảng về kinh Địa Tạng, Quy Nguyên, Pháp Hoa, Long Thơ Tịnh độ, Sa–di Oai Nghi Tăng Chú v.v... Khắp các tỉnh Đàng Trong từ Thừa Thiên vào đến Phú Yên, nơi nào cũng có bước chân hoằng hóa của Ngài đặt đến và cũng đều thấm nhuần pháp nhũ.
Tháng Giêng năm Quý Sửu (1793), Ngài đến xã Xuân Đài núi Bạch Ngọc thấy núi sông hòa quyện bèn dựng gậy lập thảo am trụ lại nơi đây. Mãi cho đến năm Đinh Tỵ (1797), Ngài mới chính thức khai sơn chùa Từ Quang tại tỉnh Phú Yên.
Ngày 21 tháng 7 năm Bính Thìn (1796), Ngài khai đàn thuyết giới, truyền giới cho 200 Tăng chúng tu học.
Tháng Giêng năm Mậu Ngọ (1798), Hoàng thái hậu thỉnh Ngài

* Trang 342 *
device

về kinh chứng minh lễ đúc Đại hồng chung. Pháp sự viên thành, Ngài được ban ca–sa sắc tía. Ngày 15 tháng 5, Ngài trở về Phú Yên tổ chức lễ trai đàn bạt độ và truyền giới cho hơn 100 người.
Khi biết cơ duyên của mình ở chốn Ta–bà đã trọn, Ngài nhóm họp đồ chúng và đọc kệ phú pháp:
來                                             Lai nhi vị tằng lai
去                                             Khứ nhi vị tằng khứ
如                                             Khứ lai bổn như như
去                                             Như như hoàn lai khứ.
Tạm dịch:
Đến mà chưa từng đến
Đi cũng chẳng từng đi
Đến đi vốn như như
Như như lại đi đến.
Ngài an nhiên thị tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1798), trụ thế 73 năm, trải qua 53 năm tu học và hoằng hóa.
2. Hòa thượng Toàn Thể–Vi Lương–Linh Nguyên
全 體 爲 良 靈 元 (1765–1844)(60): Chùa Từ Quang
Hòa thượng tộc tánh Nguyễn, sinh tháng 5 năm Ất Dậu (1765) tại tỉnh Phú Yên miền Trung nước Việt. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Quang Thác pháp danh Quảng Tích và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Thêm pháp danh Toàn Mãn.
Ngài xuất gia với tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm nên được ban pháp danh Toàn Thể, tự Vi Lương, hiệu Linh Nguyên, nối pháp đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh. Trong hàng đệ tử đắc pháp, Ngài là người xuất sắc nhất nên được tổ Diệu Nghiêm trạch cử làm trưởng pháp tử.
Năm Mậu Ngọ (1798), tổ Diệu Nghiêm viên tịch, Ngài được tông môn cung cử làm trú trì chùa Từ Quang, tiếp tục phát huy sự nghiệp của Bổn sư để lại. Ngài có công biên lại sự tích của tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm qua tác phẩm Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm thiền sư nhân do sự tích chí.
 

(60) Niên đại năm sinh, năm mất của Ngài chúng tôi căn cứ vào lòng long vị hiện đang thờ tại chùa Long Tường, Bình Định.
 
 

* Trang 343 *
device



Long vị Tổ sư Linh Nguyên

Năm Canh Ngọ (1810), thể theo lời thỉnh cầu của bổn đạo, Ngài ra Bình Định khai sơn chùa Long Tường tại thôn Lương Quang, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước. Từ đây, cuộc đời hành đạo của Ngài chia hai, lúc ở Phú Yên, khi ra Bình Định. Tại Long Tường, Hòa thượng có hai vị đệ tử kế thừa là ngài Chương Hương–Chí Thăng và Chương Tân–Tôn Chí–Chánh Nhân.
Năm Mậu Dần (1818), Ngài vận động đứng khắc bản kinh Địa Tạng Bồ–tát Bổn Nguyện Kinh Yếu Giải do tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm biên soạn. Ngài là người kiến văn
quảng bác, tinh thông Phật lý nên tất cả các kinh sách của tổ Diệu Nghiêm đều được Ngài khắc bản lưu truyền cũng như chứng nghĩa cho các vị thiền sư khác khắc kinh.
Vào giờ Mùi ngày mồng 3 tháng 3 năm Giáp Thìn (1844), thiền sư Toàn Thể–Linh Nguyên viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Bảo tháp Ngài được môn đồ kiến lập tại chùa Từ Quang trên núi Bạch Thạch.
3. Hòa thượng Toàn Nhật–Vi Bảo–Quang Đài
全 日 爲 寶 光 臺 (1757–1834): Chùa Viên Quang
Thiền sư Toàn Nhật–Quang Đài là một trong những tác gia lớn của nền Văn học Việt Nam nói chung và Phật giáo nói riêng trong thế kỷ XIX. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết được tộc tánh và quê quán chính thức của Ngài. Tuy nhiên, căn cứ vào Long vị thờ tại chùa Phổ Quang tỉnh Bình Định, ta biết Hòa thượng sinh giờ Tỵ ngày 28 tháng 10 năm Đinh Sửu (1757) và viên tịch vào giờ Dần ngày mồng 6 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1834), hưởng thọ 78 tuổi.

* Trang 344 *
device

Theo tác phẩm Tam Giáo Nguyên Lưu Ký, Thiền sư nói:
“Ta xưa cũng dự Nho gia
Mười hai tuổi học đến ba mươi rày…
…Sau ta đầu học phép Thiền
Thuở ba mươi tuổi vậy liền xuất gia.”
 


Long vị Pháp sư Quang Đài

Ban đầu Ngài học Nho giáo và có một thời làm quân sư trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Năm 30 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường, phát tâm xuất gia với tổ Pháp Chuyên tại chùa Từ Quang nên có pháp danh Toàn Nhật, tự Vi Bảo, hiệu Quang Đài, nối pháp đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh. Được một vị minh sư như tổ Pháp Chuyên hướng dẫn, ngài Toàn Nhật đã ngộ đạo sau 12 năm tu hành, kế đó về trú trì chùa Viên Quang tại thôn Định Phong, xã An Nghiệp, huyện Tuy An.
Thiền sư Toàn Nhật–Quang Đài là người đa văn quảng bác, ngay lúc sinh tiền tổ Diệu Nghiêm cũng đã từng để cho Ngài thay Tổ giảng kinh luật cho đại chúng. Phần lớn trong những lần khắc bản in những tác phẩm của Tổ sư Diệu Nghiêm đều có sự tham gia san định chứng nghĩa của ngài Toàn Nhật–Quang Đài.
Thiền sư Toàn Nhật–Quang Đài là một trong những vị để lại nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm nhất. Hiện tại, chúng ta còn biết một số tác phẩm của Ngài rất có giá trị như Hứa Sử Truyện Vãn, Tham Thiền Vãn, Thiền Cơ Yếu Ngữ Vãn v.v...
Vào giờ Dần ngày mồng 6 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1834) thiền sư Toàn Nhật–Quang Đài viên tịch tại chùa Viên Quang, thọ 78

* Trang 345 *
device

tuổi. Đệ tử kế thừa Ngài mà ta còn biết được có các vị: Chương Thiện–Tuyên giác. Hoằng Đạo (1797–1865) khai sơn chùa Phổ Quang, Bình Định và ngài Chương Tín–Tuyên Khánh–Hoằng Ân (….?–1862) trú trì chùa Tam Thai, Ngũ Hành Sơn.
Phần lớn chư Tăng các tỉnh miền Trung thời bấy giờ đều tựu về Từ Quang tu học dưới sự hướng dẫn của ngài Toàn Nhật–Quang Đài. Vì thế, chúng ta thấy hiện nay nhiều chùa từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận đều có thờ long vị của Ngài. Đánh giá về thiền sư Toàn Nhật–Quang Đài, giáo sư Lê Mạnh Thát nhận xét như sau:
“Toàn Nhật là một trong những nhà văn, nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà tư tưởng có những quan điểm độc đáo đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam”(61)
4. Hòa thượng Chương Từ–Tông Trực–Quảng Thiện
彰 慈 宗 直 廣 善 (1810–1864?): Chùa Phước Sơn
 


Tháp tổ Quảng Thiện

Hòa thượng họ Bùi, sinh năm Canh Ngọ (1810) tại thôn Hà Bình, tỉnh Phú Yên. Ngài là con trai duy nhất của gia đình có 4 người con. Năm 18 tuổi, nhân một lần lên thăm chùa Phước Sơn, Ngài gặp tổ Liễu Năng–Đức Chất, cảm mến đạo phong của Tổ nên Ngài bèn xin xuất gia học đạo. Sau một thời gian dài tu học, Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc với pháp danh Chương Từ, tự Tông Trực, hiệu Quảng Thiện, nối pháp đời 38 tông Lâm Tế,
 

(61) Lê Mạnh Thát, Toàn tập Toàn Nhật Quang Đài tập I, trang 10
 

* Trang 346 *
device

thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh. Sau khi tổ Đức Chất viên tịch, Ngài kế thừa trú trì đời thứ 2 chùa Phước Sơn.
Kể từ khi đảm nhận trú trì, Ngài hết lòng trùng kiến Tam bảo. Vì thế, năm Minh Mạng thứ 17, Bính Thân (1836), Ngài tái lập chánh điện, kiến tạo Đông lang Tây lang chùa Phước Sơn nguy nga tráng lệ. Ngài giới luật nghiêm minh, Phật học thâm uyên nên chư tôn đức trong tỉnh đã cung thỉnh lên ngôi vị Giáo thọ Hòa thượng trong Đại giới đàn tổ chức tại chùa Lăng Nghiêm xã Xuân Thọ. Hòa thượng viên tịch vào ngày 12 tháng 11 năm Giáp Tý (1864)(62), đồ chúng lập bảo tháp phụng thờ tại chùa Phước Sơn.
5. Hòa thượng Ấn Thiên–Tổ Hòa–Huệ Nhãn
印 天 祖 和 慧 眼 (1840–…?)(63): Chùa Phước Sơn
Hòa thượng pháp danh Ấn Thiên, tự Tổ Hòa, hiệu Huệ Nhãn; nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Canh Tý (1840) tại tỉnh Phú Yên, xuất gia đắc pháp với tổ Quảng Thiện tại chùa Phước Sơn. Tự Đức năm thứ 17, Giáp Tý (1864), Ngài được Bổn sư phú pháp truyền y kế thừa làm trú trì đời thứ 3 chùa Phước Sơn. Từ đó, Ngài tái thiết già–lam, tạo tượng đúc chuông tô bồi phạm vũ.
Năm Bính Tý (1876), Ngài cùng với Hòa thượng Huệ Hương trú trì chùa Triều Tôn chứng minh cho ngài Chơn Khả hiệu Kiết Tường trú trì chùa Phước Quang tại xã Bình Thạnh huyện Đồng Xuân đúc Đại hồng chung(64).
Là bậc giới luật tinh nghiêm nên Ngài được cung thỉnh vào ngôi vị Giáo thọ A–xà–lê tại giới đàn chùa Hồ Sơn năm Mậu
 

(62) Căn cứ văn bia chùa Phước Sơn ghi: Tự Đức năm thứ 17, Giáp Tý (1864), Ngài truyền cho đệ tử Huệ Nhãn trú trì chùa Phước Sơn. Có thể tổ Quảng Thiện viên tịch trong năm này chăng?
(63) ) Năm sinh của tổ Huệ Nhãn, chúng tôi suy luận từ các nguồn tư liệu sau: căn cứ vào long vị tại chùa Phước Sơn thì ghi ngài sinh ngày mồng 10 tháng 5 năm Canh Tuất (1850). Tuy nhiên chúng tôi thấy không hợp lý. Bởi vì, vào năm Giáp Tý (1864), Ngài được Bổn sư cử làm trú trì chùa Phước Sơn. Nếu tính năm sinh 1850 đến năm 1864 thì Ngài mới 15 tuổi. Điều này bất hợp lý vì Ngài chưa đủ tuổi thọ Đại giới thì làm sao giữ cương vị trú trì một ngôi chùa được. Vì vậy, năm sinh của Ngài là năm Canh Tý (1840) là hợp lý hơn.
(64) Chuông này hiện được tôn trí tại chùa Phước Sơn, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
 

* Trang 347 *
device

Dần (1878) và giới đàn chùa Bảo sơn năm Nhâm Ngọ (1882).
Sau khi thiền sư Ấn Từ–Huệ Viễn viên tịch, Ngài được tông môn cung thỉnh trú trì Tổ đình Từ Quang. Tại đây, Ngài vận động lót con đường lên chùa bằng đá để bổn đạo dễ dàng lên chùa lễ Phật trong những tháng mưa gió. Thời gian này, Ngài đã đào tạo được một đệ tử xuất gia thuộc dòng Tuy Lý Vương. Đó là công tử Nguyễn Phúc Ưng Đỗ có pháp danh Chơn Tâm, tự Đạo Tánh, hiệu Pháp Thân. Sau đó, thiền sư Pháp Thân về cố đô Huế lập chùa Phước Huệ tại thôn Vỹ Dạ. Từ đó, Ngài thường cung thỉnh Bổn sư ra kinh đô thuyết pháp.
Trong một lần ra kinh đô thuyết pháp, Ngài bị đắm tàu và viên tịch vào ngày mồng 5 tháng 4 tại Bồng Sơn, Bình Định(65). Tang lễ Ngài có đại diện triều đình vào tham dự và mộ tháp lập tại chùa Phước Sơn.
6. Hòa thượng Chơn Chánh–Đạo Tâm–Pháp Tạng
眞 正 道 心 法 藏 (…?–…?):Chùa Phước Sơn
 


Tháp Hòa thượng Pháp Tạng

Hòa thượng Chơn Chánh–Pháp Tạng là một trong những vị Danh tăng thời cận đại của Phật giáo Phú Yên. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xác định được năm sinh, năm tịch, quê quán và dòng họ của Ngài. Chúng ta chỉ biết Ngài là đệ tử của tổ Ấn Thiên–Huệ Nhãn, Tổ thứ 3 tại Tổ đình Phước Sơn, Đồng Tròn nên có pháp danh là Chơn Chánh, tự Đạo Tâm. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài cầu pháp với Hòa thượng Ấn Chánh–Tổ Tông–Huệ Minh tại chùa Bảo Sơn
 

(65) Ghi theo lời kể của Thượng tọa Thích Đồng Hóa, đương kim trú trì chùa Phước Sơn.
 

* Trang 348 *
device

nên có đạo hiệu Pháp Tạng, thuộc đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Sau khi Hòa thượng Huệ Nhãn viên tịch, Ngài kế vị Bổn sư trú trì Phước Sơn với tâm nguyện tiếp Tăng độ chúng. Đạo hạnh của Ngài đã được sơn môn Chúc Thánh thỉnh làm Yết–ma cho giới đàn năm Quý Tỵ (1893) tại Tổ đình Chúc Thánh, Hội An. Năm Kỷ Hợi (1899) và năm Canh Tý (1900), Ngài được triều đình mời ra kinh đô làm thủ gia trì chẩn tế đại khoa tại chùa Kim Quang, Huế. Sau khi hạ đàn, vua Thành Thái đến ôm hôn khen ngợi và ban cho đồng kim tiền, một ca–sa và một mũ Quan Âm. Năm Đinh Dậu (1897), Ngài chú nguyện đúc Đại hồng chung tôn trí tại chùa Phước Sơn với sự chứng minh của Hòa thượng Ấn Chánh–Huệ Minh. Năm Giáp Thìn (1904), Hòa thượng Huệ Minh viên tịch, Ngài theo di chúc kế thừa trú trì chùa Bảo Sơn.
Năm Bính Ngọ (1906), Ngài khai Đại giới đàn tại chùa Từ Quang và được cung thỉnh làm Đàn đầu truyền giới tôn sư. Năm sau, Đinh Mùi (1907), Ngài tiếp tục khai đàn truyền giới tại chùa Phước Sơn, cũng trong năm này, Ngài truyền chức vị trú trì chùa Phước Sơn cho trưởng tử Thiền Phương.
Không rõ Ngài tịch năm nào, hằng năm kỵ Ngài vào ngày 18 tháng 8. Ngài có các đệ tử nổi tiếng như: Thiền Phương, Thiền Tâm, Thiền Cơ v.v...
7. Hòa thượng Như Đắc–Giải Tường–Thiền Phương
如 得 解 祥 禪 芳 (1879–1949): Chùa Phước Sơn
Hòa thượng pháp danh Như Đắc, tự Giải Tường, hiệu Thiền Phương, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài họ Dương, sinh năm Kỷ Mão (1879), tại làng Phong Thăng, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Năm Ất Dậu (1885) khi lên 7 tuổi, Ngài theo thân mẫu đến chùa lễ Phật và quy y Tam bảo với tổ Pháp Tạng và được đặt pháp danh Như Đắc. Nhân duyên hội đủ, Ngài phát tâm xuất gia với tổ Chơn Chánh–Pháp Tạng tại chùa Phước Sơn, Đồng Tròn.
Năm Mậu Tuất (1898), tổ Pháp Tạng cho Ngài thọ Cụ túc giới. Từ đây Ngài luôn phát tâm dõng mãnh, bồi lực chuyên tu, sưu tầm diệu nghĩa kinh điển. Năm Đinh Mùi (1907), Ngài kế thế

* Trang 349 *
device

làm trú trì Tổ đình Phước Sơn tại thôn Đồng Tròn, làng Phú Phong, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
 


Hòa thượng Thiền Phương

Giới hạnh kiêm ưu, kiến văn quảng bác nên Ngài được Tăng chúng và Phật tử bấy giờ tôn xưng là Cụ Nhãn Tôn sư.
Trong giai đoạn phôi thai của phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài cùng với chư tôn thiền đức mở các trường gia giáo để đào tạo Tăng tài kế thừa Phật pháp. Đồng thời Ngài đã vận hết tâm lực của mình đóng góp vào việc trùng tu Tổ đình Từ Quang và Bảo Sơn.
Năm Đinh Sửu (1937), do mến cảm uy đức của Ngài, Hội Phật học Thừa Thiên – Huế cung thỉnh Ngài làm Chứng minh đạo sư.
Ngài đã có công đào luyện được những bậc Tăng tài khả kính, đóng góp nhiều công lao cho công cuộc hoằng hóa độ sinh, như Hòa thượng Phước Hộ, Phước Bình, Phước Trí, Phước Cơ, Phước Ninh...
Ngài thị tịch vào ngày 10 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1949), hưởng thọ 70 tuổi, Tăng lạp 55 hạ.
8. Hòa thượng Thị Chí–Hành Thiện–Phước Hộ(66)
是 志 行 善 福 祜 (1904–1985): Chùa Từ Quang
Hòa thượng Thích Phước Hộ, thế danh Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Huỳnh Trung và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Nho.
 

(66) Thông thường gọi Ngài là Phúc Hộ, nhưng căn cứ vào chữ đạo hiệu của tổ Thiền Phương cho Ngài thì gọi Phước là đúng hơn.
 

* Trang 350 *
device



Hòa thượng Phước Hộ

Năm Mậu Tý (1912), Ngài được song thân cho lên chùa Từ Giác trong địa phương, học chữ Nho với Đại sư Thiện Hạnh. Năm Đinh Tỵ (1917), Ngài được phép xuất gia tại chùa Sắc tứ Phước Sơn với Hòa thượng Như Đắc–Thiền Phương, được Bổn sư ban cho pháp danh Thị Chí, tự Hành Thiện.
Năm Nhâm Tuất (1922), chùa Linh Sơn (Hòn Chồng) thuộc thôn Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An trong tỉnh mở Đại giới đàn, Ngài được Bổn sư cho đến đó thọ Cụ túc giới. Đại giới đàn này do Hòa thượng Hoằng Hóa
làm Đàn đầu. Sau khi đắc giới, Ngài được Bổn sư phú pháp hiệu Phước Hộ, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Nhâm Thân (1932), Ngài được Bổn sư cho ra Huế tham học với Hòa thượng Giác Viên ở chùa Hồng Khê. Sau đó, Ngài tiếp tục học với Quốc sư Phước Huệ tại chùa Thập Tháp, Bình Định.
Năm Giáp Tuất (1934), chư sơn tỉnh Khánh Hòa thỉnh Ngài vào giữ chức Giáo thọ giới đàn tại chùa Thiên Bảo, huyện Ninh Hòa. Đến năm Đinh Sửu (1937), Ngài nhận lời mời của Hòa thượng Huệ Đạo ở Phan Rang, vào giảng dạy Phật pháp cho Tăng sinh tại Phật học đường gia giáo chùa Tây Thiên thuộc tỉnh Ninh Thuận.
Năm Mậu Dần (1938), Ngài trở về Phú Yên, hợp tác với Chư sơn, mở Phật học đường tại chùa Bảo Lâm, thôn Liên Trì, nay thuộc xã Bình Kiến, thị xã Tuy Hòa, Ngài kiêm luôn chức Giáo thọ.

* Trang 351 *
device

Năm Tân Tỵ (1941), Ngài nhận lời mời của Tổng trị sự Hội Việt Nam Phật học Huế, ra làm giáo học lớp Sơ đẳng Phật học đường chùa Báo Quốc do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Giám đốc. Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài trở về Phú Yên, giúp việc cho Hội Phật học tỉnh nhà, thường xuyên giảng dạy giáo lý cho Tăng tín đồ Phật tử.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài chính thức trú trì chùa Từ Quang, Ban trị sự Hội Phật học tỉnh Phú Yên cung thỉnh Ngài giữ chức Chánh Hội trưởng Hội Phật học tỉnh. Năm Đinh Hợi (1947), Ngài trùng tu khang trang lại chùa Từ Quang.
Năm Nhâm Thìn (1952) chư sơn tỉnh Bình Định mở Đại giới đàn tại chùa Thiên Bình, cung thỉnh Ngài làm Yết–ma A–xà–lê.
Trong pháp nạn năm 1963, Ngài là cây đại thụ chống đỡ ngôi nhà Phật giáo trước phong ba bão táp và che chở cho hàng Tăng ni, Phật tử toàn tỉnh giữ vững niềm tin.
Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN thành lập, Tăng tín đồ cung thỉnh Ngài giữ chức vụ Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Phú Yên liên tiếp trong ba nhiệm kỳ từ năm 1964 đến năm 1970. Trong thời gian này, Ngài trùng tu lại ngôi Tổ đình Bảo Tịnh, nơi đặt trụ sở của Tỉnh giáo hội.
Năm Mậu Thân (1968), Đại giới đàn Phước Huệ được tổ chức tại Phật học viện Nha Trang, Ngài được Hòa thượng Tăng thống Thích Tịnh Khiết mời thay Hòa thượng làm Đàn đầu. Đến tháng 9, GHPGVNTN tỉnh Bình Định mời Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn Vĩnh Gia tổ chức tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn.
Năm Tân Hợi (1971), Ngài được cung thỉnh vào Hội đồng Trưởng lão Viện tăng thống GHPGVNTN kiêm luôn chức Giám luật viện này.
Năm Quý Sửu (1973) Hòa thượng đàn chủ Thích Trí Thủ lại cung thỉnh Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn Phước Huệ tại Phật học viện Nha Trang.
Năm Tân Dậu (1981), GHPGVN được thành lập, Ngài được cung thỉnh làm thành viên Hội đồng Chứng minh T.WGHPGVN.
Năm Nhâm Tuất (1982), Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Phú Khánh (lúc đó hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa còn hợp nhất) cũng cung thỉnh Ngài làm Chứng minh sư cho Tỉnh hội.

* Trang 352 *
device

Ngày 11 tháng giêng năm Ất Sửu (31–1–1985), Hòa thượng thị tịch tại chùa Bảo Tịnh, hưởng thọ 82 tuổi, 63 hạ.
9. Hòa thượng Thị Niệm–Hành Đạo–Phước Ninh
是 念 行 道 福 寜 (1915–1994): ): Chùa Cảnh Phước
 


Hòa thượng Phước Ninh

Hòa thượng Thích Phước Ninh, pháp danh Thị Niệm, tự Hành Đạo, hiệu Phước Ninh, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Ngài thế danh là Hồ Văn Kỷ, sinh năm Ất Mão (1915), tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Hồ Văn Tửu và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Bật. Năm Bính Dần (1926), Ngài xuất gia tu học với tổ Như Đắc–Thiền Phương tại Tổ đình Phước Sơn.
Năm Tân Mùi (1931), Bổn sư cho Ngài vào học tại Phật 
học đường gia giáo Tây Thiên tỉnh Ninh Thuận do Hòa thượng Trí Thắng và Hòa thượng Phước Hộ trực tiếp giảng dạy.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài trở về Phú Yên tiếp tục tham học giáo pháp tại chùa Bảo Sơn, huyện Tuy An.
Năm Canh Thìn (1940), Ngài được tổ Thiền Phương cho thọ Sa–di giới tại giới đàn chùa Thái Nguyên, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Đến năm Đinh Hợi (1947), Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Bảo Sơn, huyện Tuy An do Hòa thượng Vạn Ân làm Đàn đầu truyền giới.
Từ năm 1945 đến năm 1954, Ngài tích cực tham gia Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Phú Yên và được cử giữ chức vụ Chủ tịch Phật giáo Cứu quốc huyện Đồng Xuân.

* Trang 353 *
device

Từ năm Bính Thân (1956) đến năm Quý Mo (1963), Ngi được chư tôn đức đề cử giữ chức Hội trưởng Phật giáo huyện Tuy An.
Năm Đinh Dậu (1957), Ngài được đề cử trú trì Tổ đình Bảo Sơn, thôn Phong Thăng, x An Định, huyện Tuy An. Trước đó, Ngài cũng được Giáo hội Tăng Già tỉnh Phú Yên tiến cử trú trì cha Linh Sơn, x Xun Thọ, huyện Sơng Cầu. Năm Tân Sửu (1961), Ngài vận động thiện tín khắp nơi ủng hộ trùng tu Tổ đình Bảo Sơn thành ngôi bảo tự uy nghiêm tráng lệ cho đến ngày nay.
Năm Mậu Thn (1968), chiến tranh khốc liệt nn Ngi tạm rời qu nh lnh nạn vo Si–gịn. Nơi đây nhờ nhân duyên kết tụ, Ngài khai sơn chùa Từ Phong tại x An Khnh, quận 9, Si–gịn (nay l quận 2, Tp. HCM). Khơng bao lâu, Ngài trở về lại Tổ đình Bảo Sơn, phó chúc cho đệ tử là Ni sư Tịnh Giám trú trì cha Từ Phong.
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài đ gĩp phần thực hiện nhiều nhiệm vụ hoằng hĩa của Gio hội Phật gio tại tỉnh nh, song song với cơng việc hướng dẫn Tăng chúng v Phật tử tu học.
Năm Nhâm Tuất (1982), sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ngài được cử trú trì cha Bảo Tịnh thuộc phường 3, thị x Tuy Hịa; đây cịn l văn phịng của Tỉnh hội Phật gio Ph Yn. Ngi cịn được Tỉnh giáo hội cử giữ chức Chánh đại diện Phật giáo huyện Tuy An, trú trì tại cha Cảnh Phước.
Ngày 20 tháng 4 năm Giáp Tuất (30/5/1994), Ngài thị tịch tại chùa Cảnh Phước, trụ thế 79 tuổi, 47 hạ lạp.


10. Hòa thượng Thị Tín–Hành Giải–Phước Trí
是 信 行 解 福 智 (1920–2002):  Chùa Triều Tôn
Hịa thượng thế danh Huỳnh Hữu Ân, sinh ngày 1 tháng 5 năm Canh Thân (1920) tại làng Phương Lưu, x Xun Thọ, huyện Đồng Xuân, Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Huỳnh Chánh và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Lơ.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài xuất gia với tổ Thiền Phương tại chùa Phước Sơn với pháp danh Thị Tín, tự Hành Giải. Từ năm 1936 đến 1943, Ngài theo học tại Phật học đường Tây Thiên, Báo Quốc, Huế.


 

* Trang 354 *
device



Hòa thượng Phước Trí

Năm Đinh Hợi (1947), Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Bảo Sơn do Hòa thượng Vạn Ân làm Đàn đầu, được Bổn sư phú pháp hiệu Phước Trí, nối pháp đời 42 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Năm Canh Dần (1950), Ngài kế thừa Bổn sư trú trì Tổ đình Phước Sơn. Đến năm Nhâm Dần (1962), Hòa thượng Liên Tâm viên tịch, Ngài lại tiếp tục đảm đương kiêm trú trì Tổ đình Triều Tôn. Đến năm Ất Sửu (1985), Hòa thượng Phước Hộ viên tịch, Ngài lại tiếp tục đảm nhiệm trú trì Tổ đình Từ
Quang. Như vậy, cuộc đời Ngài gắn liền với ba ngôi Tổ đình chính của môn phái Chúc Thánh tại tỉnh Phú Yên.
Năm Giáp Thìn (1964), Ngài đảm nhận chức Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Phú Yên. Từ những năm 1965 đến 1967 Ngài vào nam hoằng pháp và ngụ tại chùa Thiền Tịnh, quận 2. Từ năm 1967 đến 1969, Ngài là Giáo thọ sư Phật học viện Bảo Tịnh tỉnh Phú Yên.
Năm Mậu Dần (1998), Ngài là Chứng minh đạo sư của giới đàn Liễu Quán I tổ chức tại chùa Bảo Tịnh, tỉnh Phú Yên. Nhiệm Kỳ 2002–2007, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư cho Ban trị sự Phật giáo tỉnh Phú Yên.
Ngài có công trùng tu Tổ đình Phước Sơn vào các năm 1961 và 1993. Đồng thời, Ngài trùng tu chánh điện chùa Triều Tôn và vườn tháp Tổ vào các năm 1981 và 1983.
Hòa thượng viên tịch ngày 23 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (28/10/2002), hưởng thọ 83 tuổi, 55 hạ. Bảo tháp Ngài được kiến lập tại Tổ đình Triều Tôn.

* Trang 355 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh