LOGO VNBET
nơi bảo tồn những di tích của Ngài. Chùa còn lưu giữ quả chuông do Tổ khai sơn chú tạo và bảng Chánh pháp Nhãn tạng của tổ Ấn Chánh–Huệ Minh phú pháp cho ngài Chơn Hương–Thiên Quang.
 

                                                                  Tổ đình Linh Sơn – Vạn Ninh


Bảo tháp Thiền sư Pháp Thân

III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Pháp Thân–Đạo Minh
法 身 道 明 (1684–1802): Chùa Thiên Tứ
Hòa thượng pháp danh Pháp Thân, hiệu Đạo Minh, nối pháp đời thứ 36 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 3 pháp phái Chúc Thánh. Tương truyền Ngài là người Quảng Nam theo đoàn người di dân vào ngụ tại huyện Ninh Hòa và khai sơn chùa Thiên Tứ vào năm 1744, thời Võ Vương–Nguyễn Phúc Khoát. Đến nay, ta vẫn chưa biết rõ được lai lịch và thân thế
 

* Trang 368 *
device

của Ngài, tuy  nhiên qua một số di chỉ còn lại, ta có thể khẳng định Ngài là đệ tử của tổ Thiệt Dinh–Ân Triêm tại chùa Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam. Tổ sư Pháp Thân–Đạo Minh lập hạnh ẩn tu nên không thu nhận đồ chúng. Vì thế hơn một thế kỷ trụ thế và 60 năm hành đạo tại Ninh Hòa, chùa Thiên Tứ vẫn là một thảo am nhỏ mà thôi. Đến năm 1802, Hòa thượng Đạo Minh viên tịch trong tư thế kết–già, hưởng thọ 103 tuổi.
Sự thị tịch của Ngài trong tư thế kết–già phu tọa phần nào đã nói lên được sở ngộ sở chứng của Ngài. Hiện tại bảo tháp lưu giữ nhục thân của Ngài vẫn còn nằm trên ngọn đồi phía sau chùa Thiên Tứ. Trong thời gian trú trì chùa Thiên Tứ, Bồ–tát Quảng Đức đã phát hiện ra nhục thân của tổ Pháp Thân–Đạo Minh và kiến tạo chùa Thiên Lộc gần một bên tháp của Tổ. Hiện tại chùa Thiên Lộc đã bị chiến tranh hư hoại, chỉ còn lại phế tích mà thôi.
2. Hòa thượng Chương Huấn–Tông Giáo
彰 訓 宗 敎 (….?–….?):(….?–….?): Chùa An Dưỡng

Hòa thượng pháp húy Chương Huấn, tự Tông Giáo nối pháp đời 38 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa rõ hành trạng, năm sinh, năm tịch, quê hương và Bổn sư của Ngài. Vào khoảng thời vua Minh Mạng, Ngài trú trì chùa An Dưỡng tại xã Thái An, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh (nay thuộc thành phố Nha Trang).
Trong thời gian trú trì chùa An Dưỡng, Ngài đã đứng khắc bản bộ kinh Đại Khoa Du Già, một kỳ tích nổi tiếng của Phật giáo tỉnh Khánh Hòa.
Vào năm Minh Mạng thứ 13, ngày mồng 3 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1856), bản kinh hoàn thành với sự chứng minh và tham dự của chư tôn đức:
– An Dưỡng tự húy Chương Huấn, tự Tông Giáo trú trì thủ hộ kinh.
– Thiên Lộc tự, húy thượng Đạo hạ Nguyên, Viên Dung Hòa thượng chứng minh.
– Long Quang tự, húy thượng Liễu hạ Đạt, tự Bảo Hưng đại sư truyền thọ.

* Trang 369 *
device

Kệ vân:
Mỗi nhật thần hôn nghệ chú hương
Tạ thiên tạ địa tạ quân vương
Thường kỳ xứ xứ điền hòa thục
Đản nguyện gia gia thọ mệnh trường
Thánh chúa hiền thân an xã tắc
Phụ từ tử thuận ổn gia nương
Tứ phương bình định can gia tức
Tam chúc toàn xưng tụng vô cương.
Bản kinh Đại Khoa Du Già được in trên giấy trắng loại tốt, chữ in sắc nét, rõ và đẹp với khổ giấy 17x27. Kinh có cả thảy 93 tờ kép, 186 tờ đơn, (phần đầu kinh bị mất một số tờ), mỗi tờ có 8 hàng, mỗi hàng có 18 chữ và không phải toàn bộ quyển kinh đều in một cỡ chữ, có tờ in vài chữ thuộc về Mật chú, có tờ phần trên in hình tượng Phật, hình chư vị kinh sư ngồi chẩn tế và hình ảnh các âm hồn, cô hồn đến nghe kinh và lãnh thọ của thí. Phần dưới là những bài thần chú và hướng dẫn cách kiết ấn, có tờ in chữ nhỏ lại, đó là phần chú giải những điều quan yếu trong chánh kinh.
Như vậy việc khắc bản in cuốn Đại Khoa Du Già của ngài Chương Huấn–Tông Giáo có sự tham gia chứng minh của các vị Danh tăng đương đại. Thêm vào đó kinh phi khắc mộc bản in thành sách rất tốn kém và thời gian thực hiện ít nhất là một năm. Điều này khẳng định: Hòa thượng Chương Huấn–Tông Giáo là một Danh tăng đương thời tại tỉnh Khánh Hòa.
3. Hòa thượng Chơn Hương–Thiên Quang
眞 香 天 光 (1862–1939): Chùa Linh Sơn
Hòa thượng thế danh Phạm Huyền Túc, sinh năm Nhâm Tuất (1862), niên hiệu Tự Đức thứ 15, tại huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
Vốn có nhân duyên với cửa Phật nên từ thuở ấu thơ Ngài đã phát tâm xuất gia, thọ giáo với tổ Ấn Chánh–Tổ Tông–Huệ Minh tại chùa Bảo Sơn, Phú Yên. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Hương, hiệu Thiên Quang, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Từ Phú Yên, Ngài vân du

* Trang 370 *
device

hoằng hóa và làm trú trì chùa Linh Sơn, Vạn Ninh. Năm Đinh Mùi (1907), Ngài khai sơn chùa Báo Ân tại xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh. Năm Ất Mão (1915), Ngài về trú trì chùa Hội Phước tại thành phố Nha Trang.
 


Hòa thượng Thiên Quang
Năm Bính Thìn (1916), Ngài trùng tu lại cổng Tam quan và ghi câu đối trong đó có chữ “Hội Phước Thiền Môn”:
Hội Tấn Nhân Duyên Phước
Thiền Khai Tế Độ Môn
Năm Đinh Tỵ (1917), Ngài giao chùa Hội Phước cho ngài Thanh Chánh–Phước Tường trú trì và Ngài trở về lại chùa Linh Sơn mở trường đào tạo Tăng chúng. Như vậy, thời gian Ngài trú trì Hội Phước được 2 năm. Năm Đinh Sửu (1937), Ngài khai Đại giới đàn tại chùa Linh Sơn và đại
chúng cung thỉnh Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng.
Ngày 26 thánh chạp năm Mậu Dần, niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (16/01/1939), Hòa thượng xả báo an tường, hưởng thọ 77 tuổi. Đồ chúng lập tháp phụng thờ trong khuôn viên Tổ đình Linh Sơn.
4. Hòa thượng Như Huệ–Giải Thức–Thiền Tâm
如 慧 解 識 禅 心 (1853 – 1905): Chùa Hội Phước
Hòa thượng Như Huệ sinh ngày 14 tháng 3 năm Quý Sửu (1853), niên hiệu Tự Đức thứ 6 tại tỉnh Phú Yên. Ngài vốn có chí nguyện xuất gia cầu giải thoát nên đã đến chùa Phước Sơn, Đồng Tròn xin làm đệ tử của tổ Chơn Chánh–Pháp Tạng – một bậc Cao tăng của tỉnh Phú Yên lúc bấy giờ.
Sau một thời gian tu học, Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Như Huệ, tự Giải Thức, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.

* Trang 371 *
device

Sau đó, Ngài xin Bổn sư được vân du chiêm bái các danh lam và tham học với các vị Cao tăng thạc đức. Nhân duyên hội ngộ thời, Ngài vào Nha Trang gieo duyên hóa độ, được dân làng Phương Sài cung thỉnh Ngài trú trì chùa Hội Phước, Ngài hứa khả và đảm nhận trú trì tại đây. Từ đó, Ngài ra sức xiển dương Phật pháp và tu tạo lại chùa Hội Phước theo khả năng cho phép thời bấy giờ.
Mùa hạ năm Ất Mùi (1895), Ngài khắc lại bảng hiệu chùa “Hội Phước tự”.
Ngày mồng 8 tháng 4 năm Đinh Dậu (1897), tại chùa Bảo Sơn, Tuy An, Phú Yên, Ngài được Hòa thượng Pháp Tạng đã ấn chứng phú pháp, ban cho đạo hiệu Thiền Tâm đại sư với bài kệ truyền pháp như sau:
                                       Chư pháp bổn lai n
                                       Như như như thị pháp
                                        Khứ lai sinh diệt tận
                                        Liễu ngộ tứ Bồ–đề.
Nghĩa là:
Các pháp vốn là chân
Như như là pháp đó
Qua lại sanh diệt hết
Hiểu rõ tức Bồ–đề
Năm Nhâm Dần (1902), niên hiệu Thành Thái thứ 14, ngài Như Huệ đã tái tạo quả Đại hồng chung do ngài Đạo An chú tạo năm 1822. Trong thời gian kế thừa chùa Hội Phước, Ngài tu bổ chùa chiền đã bị hoang phế qua bao tháng năm.
Ngày 23 tháng 2 năm Ất Tỵ (1905) niên hiệu Thành Thái thứ 17, sau 10 năm trú trì chùa Hội Phước (1895–1905) Ngài thâu thần viên tịch, trụ thế 52 năm. Môn đồ xây tháp Ngài trong khuôn viên chùa. Nay xá–lợi Ngài được tôn trí tại Liên Hoa bảo tháp.

* Trang 372 *
device

5. Hòa thượng Như Đạt–Giải Nghĩa–Hoằng Thâm
如 達 解 義 弘 深 (1857–1921): Chùa Long Sơn
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Giá, sinh ngày 1 tháng 5 năm Đinh Tỵ (1857) tại Phú Yên. Đến thời Tự Đức (1848–1883), Ngài theo gia đình đến ngụ tại xã Phú Cang, tổng Phước Tường Nội, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh).
 


Hòa thượng Hoằng Thâm

Đến tuổi trung niên, Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Chơn Hương–Thiên Quang tại Tổ đình Linh Sơn, Vạn Ninh, Khánh Hòa với pháp danh Như Đạt, tự Giải Nghĩa, hiệu Hoằng Thâm, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Tương truyền trước khi xuất gia, Ngài đã tập luyện các môn huyền thuật. Dân vùng Vạn Ninh còn kể chuyện thấy Ngài cưỡi cọp từ trong rừng đi ra.
Năm 1896, Ngài khai sơn chùa Thánh Kinh ở trong làng để tiện việc tu niệm. Năm 1902, dân làng cung
thỉnh Ngài trú trì chùa cổ tích Long Sơn. Từ đó, Ngài sáp nhập chùa Thánh Kinh vào chùa Long Sơn, đem hết tâm lực trùng tu ngôi cổ tích này. Công trình trùng tu kéo dài đến năm 1908 mới hoàn tất với chánh điện, Đông đường, Tây đường bằng ngói đỏ và Ngài có chú nguyện đúc một quả chuông mà hiện nay chùa Long Sơn vẫn còn lưu giữ.
Tuy trung niên xuất gia nhưng sự tinh tấn tu tập của Ngài không ai bì kịp. Chính vì thế mà Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng, Giáo thọ tại các đàn giới trong tỉnh.
Vào ngày 23 tháng 11 năm 1921, Hòa thượng Hoằng Thâm viên tịch, huởng thọ 65 tuổi. Nhục thân Ngài được môn đồ nhập

* Trang 373 *
device

tháp tại chùa Long Sơn. Trong thời gian 20 năm trú trì Cổ tích Long Sơn, Hòa thượng đã đào tạo rất nhiều đệ tử, trong đó nổi bậc nhất là Hòa thượng Thích Quảng Đức, vị Bồ–tát hiện thế của Phật giáo Việt Nam.
6. Hòa thượng Thị Thọ–Hành Giáo–Nhơn Hiền
是 壽 行 敎 仁 賢 (1859–1929): Chùa Hội Phước
Hòa thượng pháp húy Thị Thọ, tự Hành Giáo, hiệu Nhơn Hiền, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thuộc thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Ngài sinh năm Kỷ Mùi (1859), niên hiệu Tự Đức thứ 12 tại tỉnh Khánh Hòa. Lúc nhỏ Ngài quy y xuất gia và thọ giới với tổ Như Huệ–Thiền Tâm ở chùa Hội Phước (Nha Trang).
Vào năm 1905, Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài đến chùa Kim Long, huyện Ninh Hòa tu học và cầu pháp nhân duyên với Hòa thượng Thanh Chánh–Phước Tường, được Hòa thượng ấn chứng truyền trao Chánh pháp Nhãn tạng ngày mồng 8 tháng 4 năm Quý Sửu (1913) với bài kệ truyền pháp như sau:
Tổ Phật thâm ân, bất vong pháp nhũ
Hộ trì Tam bảo Phật truyền diệu tâm
Thế thế sanh sanh như Phật Tổ học
Như thị tôn trọng khâm mạng hành trì
Tạm dịch:
Phật Tổ ân sâu, không quên pháp nhũ
Hộ trì Tam bảo Phật truyền diệu âm
Đời đời kiếp kiếp học như Phật Tổ
Tôn trọn, vâng giữ hành trì như vậy.
Năm Đinh Tỵ (1917), Hòa thượng Phước Tường về trú trì chùa Hội Phước, Ngài giúp Bổn sư giải quyết nhiều Phật sự ở đây.
Khoảng năm 1920, Hòa thượng Phước Tường về lại Ninh Hòa trú trì chùa Thiên Bửu Thượng, giao chùa Hội Phước cho ngài Nhơn Hiền kế thừa.
Ngài chuyên tu pháp môn Tịnh độ và hướng dẫn tín đồ niệm

* Trang 374 *
device

Phật cầu vãng sanh. Ngài đã báo cho môn đồ biết trước giờ viên tịch.
Vào giờ ngọ ngày 12 tháng 9 năm Kỷ Tỵ (14/10/1929), niên hiệu Bảo Đại thứ 4, Ngài an nhiên viên tịch trụ thế 70 năm. Đồ chúng lập tháp Ngài trong vườn chùa Hội Phước. Nay xá–lợi Ngài được tôn trí tại Liên Hoa bảo tháp. Thời gian ngài trú trì chùa Hội Phước là 9 năm (1920–1929).
Hòa thượng Nhơn Hiền là người có tinh thần yêu nước, luôn trân trọng đối với những bậc nghĩa sĩ vì đại nghĩa, vì nhân dân. Vào ngày 13 tháng 3 năm Đinh Mão (1927), nhân kỷ niệm một năm ngày cụ Phan Chu Trinh qua đời, Ngài tổ chức lễ truy điệu nhà yêu nước họ Phan tại chùa Hội Phước với sự tham dự của đông đảo quần chúng.
7. Hòa thượng Tâm Thanh–Tịch Tràng
心 清 寂 場  (1909–1976): Chùa Linh Sơn
 


Hòa thượng Tịch Tràng

Hòa thượng thế danh Hồ Thăng, pháp danh Tâm Thanh, hiệu Tịch Tràng sinh năm Kỷ Dậu (1909), tại làng Lỗ Giáng, xã Cẩm Lệ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Thân phụ là cụ ông Hồ Tưởng và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Liên.
Thời thơ ấu, Ngài được song thân chăm lo giáo dưỡng rất chu đáo, năm 20 tuổi thi đỗ bằng Thành chung và được bổ nhiệm dạy học tại trường Pháp–Việt ở Tây Hồ. Ngoài thời giờ dạy học ra, Ngài còn tinh chuyên nghiên cứu giáo lý nhà Phật và am hiểu tường
tận. Khi phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Trung do Quốc

* Trang 375 *
device

sư Phước Huệ khởi xướng, Ngài đến chùa Trúc Lâm, Huế xin quy y với Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng cho pháp danh Tâm Thanh.
Năm Mậu Dần (1938), Ngài lặng lẽ từ giã gia đình, quyết chí xuất gia cầu đạo. Năm Kỷ Mão (1939), nghe tin thiền sư Minh Tịnh pháp húy Chơn Phổ–Nhẫn Tế vừa từ Tây Tạng về, Ngài liền tìm đến chùa Thiên Chơn tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để xin thọ giáo với Thiền sư, được Thiền sư ấn chứng và ban cho pháp hiệu Tịch Tràng.
Năm Mậu Tý (1948), Hòa thượng Quảng Đức mời Ngài về Vạn Ninh, Khánh Hòa để đảm nhận trọng trách trú trì ngôi Tổ đình Linh Sơn mà Hòa thượng đang gánh vác.
Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài khởi công xây dựng ngôi chánh điện đến năm Bính Thân (1956) mới hoàn thành. Năm Quý Mão (1963), sự kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm khiến cho Tăng ni và tín đồ vô cùng điêu đứng khổ sở. Bản thân Ngài cũng bị tay sai của nhà cầm quyền đương thời đe dọa, ám hại, nhưng nhờ đức độ và công phu tu trì nên Ngài vẫn an nhiên hành đạo. Năm Giáp Thìn (1964), khi GHPGVNTN ra đời, Ngài được cử làm Chánh đại diện GHPGVNTN quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa và được lưu nhiệm cho đến ngày viên tịch.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được Hòa thượng Thích Trí Thủ mời thỉnh giảng lớp Chuyên khoa Phật học tại Phật học viện Trung phần Hải Đức, Nha Trang.
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài mở giới đàn Sa–di, Bồ–tát tại gia và Thập thiện, dưới sự chứng minh kiêm Hòa thượng Đàn đầu là thượng Trí hạ Thủ.
Năm Quý Sửu (1973), Đại giới đàn Phước Huệ tại chùa Hải Đức, Nha Trang, Ngài được cung thỉnh làm Đệ tam tôn chứng.
Về sau, tuy tuổi già sức yếu nhưng hằng ngày Ngài vẫn hướng dẫn cho Tăng chúng hành trì trong các thời khóa lễ. Ngoài ra, mỗi ngày Ngài còn lễ sám Hồng danh Vạn Phật và luôn luôn khi đi đứng, lúc nằm ngồi Ngài đều niệm Phật, tràng hạt không rời tay.
Sứ mệnh thành, hạnh nguyện mãn, trước khi từ biệt cõi trần

* Trang 376 *
device

để vào cõi Niết–bàn tịch tịnh, Ngài gọi đồ chúng lại dạy lời cuối cùng được thể hiện bằng thi kệ như sau:
Hơn, thua, phải, trái biết bao là!
Xét nét tu hành giữ lấy ta,
Tâm để rỗng không, thường nhẫn nhục,
Muôn phiền não chướng cũng tiêu ma
Sau đó, Ngài an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 12 giờ, ngày 24 tháng 5 năm Bính Thìn (1976), hưởng thọ 68 tuổi.
8. Hòa thượng Đồng Kỉnh–Thành Tín–Tín Quả
同 敬 成 信 信 果  (1891–1978): Chùa Hội Phước
 


Hòa thượng Tín Quả

Hòa thượng pháp húy Đồng Kỉnh, tự Thành Tín, hiệu Tín Quả nối pháp đời 43 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Ngài thế danh Đinh Văn Phải, sinh vào giờ Dần ngày mồng 7 tháng Giêng năm Tân Mão (1891) niên hiệu Thành Thái thứ 3 tại tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Sơn và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Liên.           
Năm Nhâm Dần (1902), khi lên 12 tuổi Ngài xuất gia với Hòa thượng trú trì chùa Long Khánh, thị xã Tuy Hòa, Phú Yên với pháp danh Nguyên Tu, tự Thành Tín.
Năm Bính Ngọ (1906), Ngài thọ Sa–di tại giới đàn trường kỳ chùa Long Quang huyện Sông Cầu và đến năm Canh Tuất (1910), Ngài vừa tròn 20 tuổi được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Hồ Sơn, Tuy Hòa, Phú Yên.
Sau khi thọ giới, vì muốn tiến tu đạo nghiệp nên Ngài xin Bổn

* Trang 377 *
device

sư được đến cầu học với quý Hòa thượng tôn túc ở các chùa: Hồ Sơn, Phú Thứ, Đồng Thạnh, Linh Sơn..., cũng như các vị Danh tăng ở các tỉnh thành lân cận.
Năm Mậu Thìn (1928), nhân chuyến vào Nha Trang tham học, cảm mến đạo phong của tổ Thị Thọ–Nhơn Hiền nên Ngài đến cầu pháp nhân duyên với Tổ tại chùa Hội Phước, được Tổ ban pháp danh Đồng Kỉnh hiệu Tín Quả. Sau đó tiếp tục lên đường vân du vào các tỉnh phía nam, đến tận Nam Vang, thủ đô Cao Miên để tham cứu đạo lý.
 Năm Ất Dậu (1945), Ngài trở về thọ Bồ–tát giới tại giới đàn Hải Đức, Nha Trang. Năm Kỷ Sửu (1949) đáp lời cung thỉnh của các hương hào làng Phương Sài, Ngài chính thức nhận kế thế trú trì chùa Hội Phước.
Trong 30 năm trụ tại Tổ đình Hội Phước, Ngài đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của người trưởng tử Như Lai “Thượng cầu hạ hóa”, truyền trì đạo pháp, cùng Tăng chúng và tín đồ trùng tu ngôi cổ tự thêm huy hoàng. Ngoài việc chăm sóc chốn Tổ, Ngài còn xây dựng và kiến tạo một số ngôi chùa trong tỉnh Khánh Hòa cho chư Tăng tín đồ tu học như chùa Thiền Lâm tại Đồng Đế, Nha Trang (1967); chùa Long Hoa tại Vạn Thắng, Vạn Ninh (1968); lập chùa Phước Điền tại Diên Sơn, Diên Khánh (1970); chùa Bảo Hoa tại Ninh Quang, Ninh Hòa (1971); chùa Châu Long tại Xuân Hà, Vạn Ninh (1974).
Với uy tín và đức độ, Ngài được chư Tăng tỉnh Khánh Hòa cung thỉnh đảm nhận những chức vụ trong các Phật sự như sau: Thượng thủ GHTG tỉnh Khánh Hòa (1956–1959); Chứng minh đạo sư GHTG tỉnh Khánh Hòa (1959–1962).
Năm Nhâm Thìn (1952), Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma A–xà–lê tại giới đàn chùa Thiên Bửu Hạ, huyện Ninh Hòa.
Năm Tân Sửu (1961), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn truyền giới Sa–di tại chùa Thiên Bửu Hạ–Ninh Hòa.
Năm Ất Tỵ (1965), Ngài lại thí giới Sa–di tại giới đàn chùa Linh Sơn, Vạn Ninh.
Năm Nhâm Tý (1972), Giáo hội tỉnh Bình Tuy khai Đại giới

* Trang 378 *
device

đàn đã cung thỉnh Ngài làm Hòa thượng Đàn đầu truyền trao giới pháp Sa–di và Tỳ–kheo cho Tăng chúng tu học.
Năm Đinh Tỵ (1977), nhận thấy tuổi già sức yếu, muốn dành thời gian cho việc tu niệm nên Ngài đã trạch cử đệ tử là Đại đức Thích Quảng Thiện, pháp danh Chúc Thọ kế thế trú trì Tổ đình Hội Phước.
Phật sự viên mãn, vào giờ Tuất ngày 13 tháng 8 năm Mậu Ngọ (1978), Ngài an nhiên viên tịch, trụ thế 87 năm, 67 tuổi đạo. Tháp của ngài hiện được tôn trí trong khu vực tháp phần của chùa Long Sơn, Nha Trang cách kim thân Phật Tổ khoảng 100m về phía nam.
Hàng đệ tử xuất gia của Ngài còn có các vị như Chúc Vượng, Chúc Thông, Chúc Long, Chúc Đức, Chúc Xuân, Chúc Hòa v.v... đang hành đạo khắp nơi trong và ngoài tỉnh Khánh Hòa.
9. Hòa thượng Thị Tấn–Hạnh Phát–Phước Huệ
是 進 行 發 福 慧  (1929–1989): ): Chùa Vạn Hạnh
 


Hòa thượng Hạnh Phát

Hòa thượng Thích Hạnh Phát, pháp danh Thị Tấn, đạo hiệu Phước Huệ, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 truyền theo bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo. Ngài thế danh Huỳnh Văn Thiết sinh ngày mồng 9 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (nhằm ngày 27–9–1929), tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Năm Bính Tý (1936), khi lên 7 tuổi, sơ tâm học đạo, Ngài nương tựa thân phụ đang là trú trì một ngôi chùa nhỏ, tự khai sáng tại quê nhà. Những năm đầu của thập niên 1940, thời thế bất ổn nên gia đình Ngài vào cư
 

* Trang 379 *
device

ngụ tại huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, Ngài cầu Hòa thượng Thích Huyền Châu làm Y chỉ sư để tiếp tục sự nghiệp tu học.
Năm Canh Dần (1950), Ngài thọ giới Sa–di tại Tổ đình Thiên Bửu, huyện Ninh Hòa do Hòa thượng Thích Phước Huệ, trú trì chùa Hải Đức, Nha Trang làm Đàn đầu. Sau đó được sự chỉ dạy Hòa thượng Huyền Châu, Ngài đảm nhận chức Tri sự chùa hội Vạn Ninh.
Sau những năm tháng phần lớn tự nỗ lực tham khảo, thực tập giáo lý qua kinh điển, tinh tấn trong tu dưỡng, vào năm Đinh Dậu (1957), Ngài thọ Cụ túc giới tại chùa Hải Đức, Nha Trang, do Phật học viện Trung phần tổ chức. Giới đàn này đã cung thỉnh Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên, trú trì Tổ đình Thiền Tôn, Huế làm Đàn đầu Hòa thượng.
Từ đó, hằng năm tới mùa an cư, Ngài về đây tu tập, nâng cao trình độ Phật Pháp và năng lực hoằng dương chánh pháp. Ngài trở thành vị học Tăng lớp lớn của Phật học viện Trung phần Hải Đức, Nha Trang.
Từ năm 1956 đến 1962, Ngài đảm nhận trú trì kiêm Chánh hội trưởng (1960–1962) Chi hội Phật giáo Vạn Ninh.
Năm Bính Thân (1956), Ngài cùng với đạo hữu Thân Trịnh Giáp sáng lập Gia đình Phật tử Vạn Ninh và Ngài được cung thỉnh làm Cố vấn giáo hạnh.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài thành lập khuôn hội Phước Sơn ở Đại Lãnh và khuôn hội Khải Lương ngoài Hải đảo.
Năm Quý Mão (1963), vì nhu cầu Phật sự, Ngài được Tăng sai từ Phật học viện lên Pleiku, tạm thời bổ sung nhân sự cho Tỉnh hội Phật giáo ở đây đang gặp khó khăn.
Năm Giáp Thìn (1964), để phù hợp với nhu cầu mới của Giáo hội, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa qua Phật học viện mời Ngài về làm trú trì chùa Phổ Hiền, đồng thời đảm trách cương vị Chánh đại diện Thị hội Phật giáo Cam Ranh.
Năm Bính Ngọ (1966), Ngài lãnh đạo Phật giáo Cam Ranh bảo vệ thành quả của GHPGVNTN trước âm mưu của chế độ Thiệu–Kỳ muốn hồi sinh chế độ “Diệm không Diệm”. Ngài chứng minh xây dựng chùa Tây Thiên ở Cam Phước và chùa Bình Tịnh ở Cam Bình. Do nhu cầu Phật sự, Ngài nắm giữ chức vụ Trưởng

* Trang 380 *
device

Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Cam Ranh.
Mùa thu năm Bính Ngọ (1966), nhằm phát triển hạ tầng cơ sở và phù hợp với sự tu tập của mình, Ngài khai sơn chùa Vạn Hạnh tại Núi Một, trong tầm nhìn của một đạo sĩ giỏi về Mật Tông cũng như thuật phong thủy.
Từ năm 1967–1968, Ngài đảm nhận chức vụ Đặc ủy Tăng sự.
Năm Đinh Tỵ (1977), xét thấy Ngài có nhiều công đức trong việc hoằng dương Phật pháp nên Viện hóa đạo GHPGVNTN đã tấn phong Ngài lên hàng giáo phẩm Thượng tọa và cử Ngài xử lý quyền Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Cam Ranh.
Năm Mậu Ngọ (1978), với tinh thần của một Tôn giả Phú–lâu–na, Ngài bị một năm lao lý trong khốn khổ giam cầm.
Gần mười năm kể từ năm 1979, Ngài im lặng như Chánh pháp nơi trú xứ của mình là chùa Vạn Hạnh với cái nhìn “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy’’. Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 16 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (23/3/1989), Ngài thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 54 tuổi đạo. Bảo tháp được kiến tạo tại chùa Vạn Hạnh.
10. Hòa thượng Thị Khai–Hạnh Huệ–Đỗng Minh
是 開 行 慧 洞 明  (1927–2005): ): Chùa Long Sơn
 


Hòa thượng Đỗng Minh

Hòa thượng thế danh Đỗ Châu Lân, sinh năm Đinh Mão (1927) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú.
Vốn có sẵn hạt giống Bồ–đề, túc duyên Phật pháp, năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Thích Chơn Quang tại chùa Khánh Vân, thôn Văn Quang, xã Phước Quang, tỉnh Bình Định. Sau đó, Ngài được Hòa thượng trú trì chùa Thiên Hưng đưa vào Phan Rang và trao cho Hòa thượng Huyền
 

* Trang 381 *
device

Tân chùa Thiền Lâm làm đệ tử với pháp danh Thị Khai, tự Hạnh Huệ, hiệu là Đỗng Minh, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42 thế hệ thứ 9 truyền thừa theo bài kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo.
Năm Quý Mùi (1943), Ngài thọ Sa–di tại giới đàn Thiên Đức, tỉnh Bình Định, do Quốc sư Phước Huệ chứng minh.
Vào ngày vía Di Đà năm Giáp Thân (1944), Ngài được Bổn sư trao Pháp quyển với bài kệ phú pháp như sau:
法                                                         Bổn lai hữu vi pháp
常                                                         Sanh diệt tố vô thường
滅                                                         Pháp tánh vô sanh diệt
觀[ 修                                                       Phú nhữ quán nhi tu
Nghĩa là:
Pháp hữu vi xưa nay
Chóng sanh diệt vô thường
Pháp tánh không sanh diệt
Ông quán, tu như thế.
Năm Bính Tuất (1946), tuy mới có 19 tuổi, nhưng thiên tư đỉnh ngộ khác thường nên Ngài được Bổn sư và Hội đồng Thập sư đặc cách cho thọ Cụ túc tại giới đàn chùa Thiên Bình tỉnh Bình Định do Hòa thượng Huệ Chiếu làm Đàn đầu. Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài được Bổn sư cử làm Thủ tọa chùa Thiền Lâm. Năm Canh Dần (1950), lên 23 tuổi, Ngài được Bổn sư đưa ra tu học tại Tăng học đường Nha Trang, hay gọi là Tăng học đường Nam phần Trung Việt, đặt tại trường Bồ–đề Nha Trang, do Hòa thượng Thích Thiện Minh làm Giám đốc.
Năm Ất Mùi (1955), sau mùa an cư, Ngài xin ra Huế tham học với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, Thích Trí Quang để hoàn tất chương trình Đại học Phật giáo. 
Năm Đinh Dậu (1957), sau khi hoàn tất chương trình Đại học Phật giáo, từ Huế trở về Nha Trang, Ngài đã được Tổng hội Phật giáo Trung phần phân công nghiên cứu, tổ chức và thành

* Trang 382 *
device

lập hãng vị trai lá Bồ–đề, để làm cơ sở kinh tế tự túc cho việc đào tạo Tăng tài. 
 Năm Quý Mão (1963), Ngài là thành viên trong Ủy ban Bảo vệ Phật giáo tại Nha Trang, cùng với Tăng ni và Phật tử vận động tranh đấu, chống lại chính sách kỳ thị và đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Năm Đinh Mùi (1967), GHPGVNTN mời Ngài giữ chức Chánh đại diện miền Khuông Việt, bao gồm các tỉnh Cao nguyên Trung phần.
Năm Mậu Thân (1968), Ngài giữ chức Vụ trưởng Phật học vụ, thuộc Tổng vụ giáo dục GHPGVNTN, với trách nhiệm điều phối và chăm sóc 22 Phật học viện các cấp trong toàn miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.
Năm Canh Tuất (1970), Phật học viện Trung phần mở lớp chuyên khoa Phật học, Ngài được mời giữ chức Giám học. Ngày 19 tháng 9 năm Quý Sửu (1973), Ngài cùng trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ mở Đại giới đàn Phước Huệ cho Tăng ni từ Quảng Trị trở vào nam thọ giới. Đàn giới này đã cung thỉnh Đại lão Hòa thượng Thích Phước Hộ làm Đàn đầu.
Năm Giáp Dần (1974), Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang thành lập, do Hòa thượng Thích Thiện Siêu làm Viện trưởng, Ngài giữ chức Phó Viện trưởng điều hành.
Đầu năm Mậu Ngọ (1978), Ngài đi Sài–gòn dự lễ tang Hòa thượng Thích Thiện Hòa – Phó Tăng thống GHPGVNTN, trên đường trở về lại Nha Trang, đã bị chính quyền chận bắt. Mười tám tháng bị giam cầm đủ để thử sức nhẫn nhục của Ngài và cũng là thời gian để Ngài tu dưỡng. Bộ Tỳ–ni Nhật Dụng được dịch ra văn vần trong thời gian này.
Năm 1982 và 1983, Ngài an cư và dạy Luật tại Tu viện Quảng Hương Già–lam và Phật học Vạn Hạnh. Từ năm 1983, Ngài được mời làm thành viên Ban giáo dục Tăng ni Trung ương trong suốt 4 nhiệm kỳ.
Năm Canh Ngọ (1990), trường Cơ bản Phật học Khánh Hòa thành lập, Ngài được cung thỉnh giữ chức Giáo thọ trưởng và giảng dạy cho trường.
Năm Tân Mùi (1991), Phân viện nghiên cứu Phật học Hà Nội mời Ngài vào thành viên Hội đồng phiên dịch Luật tạng Phật giáo Việt Nam.

* Trang 383 *
device

Từ năm 1993 đến năm 2001, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư cho các Đại giới đàn: Trí Thủ I (1993), Trí Thủ II (1997) và Trí Thủ III (2001), đều được tổ chức tại chùa Long Sơn, Nha Trang, Khánh Hòa.
Năm Ất Hợi (1995), được sự tài trợ của Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ở Đài Loan, Ngài tổ chức đào tạo một lớp phiên dịch cho Tăng ni; sau đó tiếp tục hướng dẫn Tăng ni và cư sĩ dịch được nhiều bộ kinh trong tạng Đại Chính Tân Tu. Ngài tự đảm nhiệm công việc Chứng nghĩa cho tất cả các bản dịch này.
Năm Bính Tý (1996), Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư cho Đại giới đàn Thiện Hòa tại Đại Tòng Lâm, Bà Rịa–Vũng Tàu.
Năm Đinh Sửu (1997), Ngài được GHPGVN tấn phong Hòa thượng và suy tôn vào Hội đồng chứng minh T.WGHPGVN.
Năm Tân Tỵ (2001), trong Đại hội nhiệm kỳ III, Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà cung thỉnh Ngài làm Chứng minh và Cố vấn cho Tỉnh hội, đồng thời thỉnh Ngài làm Cố vấn cho Ban tăng sự và Ban giáo dục Tăng ni của Tỉnh hội.
Năm Nhâm Ngọ (2002), được sự hỗ trợ nhiệt thành của các pháp hữu (Cựu học tăng Phật học viện Hải Đức, Nha Trang) ở hải ngoại, Ngài liền vận động thành lập Ban phiên dịch Pháp Tạng Phật giáo Việt Nam; chính Ngài giữ trách nhiệm Trưởng ban, hướng dẫn Tăng ni và Cư sĩ phiên dịch Kinh, Luật, Luận từ Hán ngữ và các ngoại ngữ khác sang Việt ngữ. Từ đó đến nay (năm 2005), nhiều kinh sách đã được phiên dịch và lưu hành rộng rãi cả ở trong nước lẫn ngoài nước.
Năm Quý Mùi (2003), Ngài được Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam mời giữ chức Phó viện trưởng và Cố vấn chỉ đạo Ban phiên dịch Hán tạng. 
Với bản hoài sách tấn Tăng ni nghiêm trì giới luật, thể hiện đạo phong trưởng tử Như Lai, phụng sự đạo pháp, nên từ lâu Ngài đã dụng công nghiên cứu Luật tạng. Trong khoảng hơn 10 năm, từ 1978, Ngài đã phiên dịch toàn bộ hệ thống Luật tạng trong bộ Đại chính tân tu Đại tạng kinh; dịch phẩm của ngài gồm có các bộ:

* Trang 384 *
device

Tứ phần luật; Di–sa–tắc bộ Hòa–hê Ngũ phần luật; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Tỳ–nại–da; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Bí–sô–ni Tỳ–nại–da; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Bách nhất yết–ma, Trùng trị Tỳ–ni sự nghĩa tập yếu; Luật Tỳ–kheo giới bổn sớ nghĩa; Tỳ–ni, Sa–di, oai nghi, cảnh sách; Nghi truyền giới v.v...
 

                            Pháp quyển của Hòa thượng Đỗng Minh
Song song với việc dịch thuật, Ngài còn hướng dẫn phiên dịch và chứng nghĩa từ tập 1 đến tập 17 trong Đại chính tân tu.
Cuộc đời Ngài với nhiều sóng gió, đến lúc già mới có phần nhẹ nhàng. Nhưng nếp sống khắc kỷ, cộng với tuổi già sức yếu do bao gian nan thời niên thiếu, Ngài lâm trọng bệnh. Thân bệnh mà tâm luôn an nhiên tự tại. Biết ngày về với Phật không còn lâu, Ngài đã sắp xếp việc phiên dịch, dùng tịnh tài trị bệnh của mình còn lại vào việc dịch thuật, ấn tống kinh sách và khuyên thị giả cố gắng tiếp nối công việc này.
Ngày 11 tháng 5 năm Ất Dậu (17/06/2005), cảm thấy yếu dần, từ võng Ngài bảo thị giả đưa qua giường nằm. Đến 18 giờ 35 phút, Ngài an nhiên xả báo thân trong tư thế cát tường tại chùa Long Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, trụ thế 79 năm, 59 hạ lạp.
Cuộc đời Ngài quả là một tấm gương sáng chói, cả về đạo hạnh lẫn sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Ngài luôn thể hiện nếp sống của bậc chân tu, thiểu dục tri túc, giới đức tinh nghiêm, gắn liền đời sống của mình với sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng tài. Mặc dầu về già, Ngài chuyên về dịch thuật nhưng vẫn luôn theo dõi khích lệ đàn hậu bối. Công việc dịch thuật của Ngài là

* Trang 385 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh