LOGO VNBET
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Chơn Tâm–Đạo Tánh–Viên Minh
眞 心 道 性 圓 明 (1888–1962): Chùa Sùng Đức
 


Hòa thượng Viên Minh

Hòa thượng thế danh Trần Văn Thiện, sinh năm Mậu Tý (1888) tại làng Ái Nghĩa, xã Lộc An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Ngài xuất gia với tổ Ấn Diệu–Từ Nhẫn tại chùa Tam Thai–Ngũ Hành Sơn nên được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Tâm, tự Đạo Tánh, hiệu Viên Minh, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Vào những năm 1930, Ngài vào Phan Rang hoằng pháp, nhận trú trì chùa Tây Hồ. Sau đó, Ngài ra lập chùa Sùng Đức tại thôn Tân Xuân, phường Đông Hải, thị xã Phan Rang.
Ngài tịch vào ngày 26 tháng 3 năm Nhâm Dần (1962), thọ 75 tuổi. Bảo tháp được kiến lập trong khuôn viên chùa Sùng Đức.
Đệ tử kế thừa Ngài có các vị như: Như Khuôn–Giác Sơn(69) trú trì chùa Sùng Đức; Như Sum–Giác Trí (1922–1991) trú trì chùa Mỹ Thiện v.v...
2. Hòa thượng Chơn Cảnh–Đạo Thông–Trí Thắng
眞 景 道 通 智 勝 (1891–1975): Chùa Thiên Hưng
Hòa thượng thế danh Nguyễn Khắc Đôn, sinh tháng Giêng năm Tân Mão (1891) tại thôn Lương Lộc, tổng Thiều Quang, huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhơn, nay là thôn Lương Lộc, xã
 

(69) Sau năm 1975, Thượng tọa Thích Giác Sơn rời chùa Sùng Đức vào vùng Biên Hòa, Đồng Nai lập thất tịnh tu. Trụ trì chùa Sùng Đức hiện nay là Ni sư Thích Nữ Liên Vân pháp danh Tâm Phương.
 

* Trang 404 *
device

Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phò và thân mẫu là cụ bà Dương Thị Lân.
 
 

Hòa thượng Trí Thắng

Năm Mậu Ngọ (1918) gặp nghịch cảnh gia đình, nhưng lại là cơ duyên cho Ngài nhận thức giá trị đích thực của giáo lý nhà Phật nên Ngài phát tâm xuất gia với tổ Ấn Bình–Bửu Quang tại chùa Thiên Hòa, Bình Định, được Tổ cho pháp danh Chơn Cảnh, tự Đạo Thông. Năm Canh Thân (1920), 29 tuổi Ngài thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Châu Long, (nay là Tổ đình Tịnh Lâm huyện Phù Cát) do Hòa thượng Phổ Huệ làm Đàn đầu và được tổ Ấn Bình phú pháp hiệu Trí Thắng, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Tân Dậu (1921), tổ Ấn Bình viên tịch, Ngài thừa kế trú trì chùa Thiên Hòa và mở lớp dạy Hán văn, Pháp văn, Việt văn cho bá tánh quanh vùng. Đêm 28 tháng chạp năm Nhâm Tuất (1922), do bất cẩn nên xảy ra hỏa hoạn, chùa bị thiêu hủy. Ngài xin phép được khuyến giáo khắp các tỉnh miền Nam. Năm 1923, Ngài tái thiết toàn bộ Tổ đình Thiên Hòa, tồn tại cho đến nay.
Năm Giáp Tý (1924), sau khi cử đệ tử là Thiền sư Cát Bảo, đệ tử y chỉ làm Giám tự, Ngài vào Tổ đình Bát–nhã ở Phú Yên tham học giáo lý và cùng nhiều vị Danh tăng khác giảng dạy khóa hạ như các Thiền sư chùa Từ Quang, Phước Sơn, Kim Cang, Bảo Sơn, Hương Tích, Bảo Tịnh, Thiên Sơn ở Phú Yên; Phước Tường, Hải Đức, Thiên Bửu, Thiên Hòa ở Khánh Hòa.
Ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (1925), thiền sư Cát Bảo tịch, Ngài về cử ngài Quảng Nguyên đệ tử cầu pháp làm Thủ tọa thừa

* Trang 405 *
device

kế sự nghiệp Tổ đình Thiên Hòa, rồi Ngài vào Phan Rang tham yết Hòa thượng Chơn Niệm chùa Trùng Khánh, được Hòa thượng mời lưu lại. Sau thiện tín chùa Trùng Sơn ở núi Đá Chồng thỉnh Ngài về làm trú trì. Ở đây, Ngài cũng mở lớp dạy chữ Hán, Pháp, Việt và làm thuốc.
Năm Bính Dần (1926), nữ Phật tử Hà Thị Kỉnh pháp danh Tâm Thành ở thôn Phước Hậu, xứ Cà Ná, sinh quán Phù Cát, Bình Định, hiến cúng cho Ngài thảo am của bà cất để tu dưỡng. Ngài đã xây dựng lên ngôi chùa hiệu là Hương Viên.
Năm Đinh Mão (1927), Phật tử Tâm Đạt thế danh Võ Thị Hượt, phu nhân Quản đạo Nguyễn Tập đến chùa Trùng Sơn cung thỉnh Ngài về thảo am của bà để dạy giáo lý Phật–đà. Sau đó bà hiến cúng thảo am cho Ngài và được Ngài đổi thành chùa Thiên Hưng.
Năm Mậu Thìn (1928), Ngài mở lớp nội điển tại chùa Thiên Hưng. Đệ tử theo học có các thầy Huyền Diệu, Huyền Tân, Huyền Cơ, Huyền Lý, Huyền Ý, Huyền Nghĩa, Huyền Đạt, Huyền Châu v.v...
Năm Giáp Tuất (1934) Ngài chứng minh cho Phật tử Như Phượng thế danh Võ Thị Én sáng lập chùa Long Quang. Năm Ất Hợi (1935), Ngài cung thỉnh Hòa thượng Trí Hải chùa Bích Liên, Bình Định; Hòa thượng Phước Hộ chùa Từ Quang, Phú Yên mở Thích học đường tại chùa Tây Thiên.
Năm Mậu Dần (1938), Ngài cùng một số Phật tử thuần thành ở Phan Rang vận động thành lập An Nam Phật học chi hội Ninh Thuận, trụ sở đặt tại chùa Thiên Hưng, do cư sĩ Nguyễn Công Tích làm Hội trưởng. Năm Kỷ Mão (1939) triều đình Huế Sắc tứ biển ngạch cho chùa Thiên Hưng. Năm Canh Thìn (1940), hào lý và nhân dân làng Đắc Nhơn hiến cúng toàn bộ Thiền Lâm Cổ tự cho Ngài. Ngài cử đệ tử là Thích Huyền Tân về làm trú trì. Năm Tân Tỵ (1941), Ngài xin khai khẩn 36 mẫu đất rừng hoang ở phía nam sông Đồng Mé để mở làng Phật học. Nhưng đến năm 1945 kế hoạch bị tan vỡ.
Năm Nhâm Ngọ (1942), triều đình Huế sắc chỉ khâm ban Đạo điệp Tăng cang cho Ngài và Sắc tứ biển ngạch cho chùa Thiền Lâm. Năm 1943, Ngài chứng minh lễ đặt đá xây dựng

* Trang 406 *
device

nghĩa trang của Hội Phật học và cho dời trụ sở An Nam Phật học từ chùa Thiên Hưng lên chùa Long Quang để tiện việc sinh hoạt tu học của hội viên.
Năm Giáp Thân (1944), Ngài được chư sơn Bình Định cung thỉnh chức vị Tuyên luật sư tại Đại giới đàn Tổ đình Thiên Đức, nơi sinh quán của Ngài. Năm Đinh Hợi (1947), Ngài chứng minh lễ đặt đá xây Hội quán An Nam Phật học tỉnh Ninh Thuận tại ấp Phủ Hà. Năm 1948, Ngài vận động lập Phật học đường Phan Rang, chư sơn cung thỉnh Ngài giữ chức Giám viện kiêm Giám đốc và Giáo thọ trường. Năm Canh Dần (1950), Ngài được Hội Việt Nam Phật học Trung Việt cung thỉnh ở ngôi vị Chứng minh đạo hạnh và chức vụ Hội trưởng Hội Việt Nam Phật học tỉnh Ninh Thuận. Cùng năm này Ngài tái thiết chùa Long Quang để dời trụ sở Giáo hội tỉnh từ chùa Phước Quang núi Cà Đú về đây. Ngài cũng được chư sơn cung thỉnh làm Trị sự trưởng Giáo hội Tăng Già Ninh Thuận.
Năm Tân Mão (1951), chư sơn và Hội Việt Nam Phật học tỉnh Khánh Hòa cung thỉnh Ngài đảm trách chức Giám đốc Phật học đường Nha Trang. Năm sau, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại Đại giới đàn chùa Thiên Bửu ở Ninh Hòa. Năm 1955 Ngài thành lập Tịnh Độ tông Việt Nam và được cử giữ chức Tông trưởng kiêm Cố vấn Tịnh Độ tông tỉnh Ninh Thuận. Với cương vị này Ngài đã chứng minh khai sơn các chùa Trường Thọ, An Nhơn, Trường Sanh. Năm Tân Sửu (1961), Ban đại diện Cổ sơn môn Trung phần được thành lập, Ngài được mời làm Chứng minh đạo sư. Năm Giáp Thìn (1964), Ngài được cung thỉnh giữ chức Phó tăng thống kiêm Giám luật Tịnh Độ tông Việt Nam. Cùng năm này Ngài tham gia thành lập Phật học viện ở Đồng Đế, Nha Trang.
Năm Ất Tỵ (1965), Ngài mở phòng Đông y tại chùa Thiên Hưng để chữa bệnh cho dân nghèo và chứng minh sáng lập chùa Bảo Vân ở thôn Nhơn Hội. Mùa hè năm Ất Mão (1975), Ngài cho gọi môn đồ và thiện tín về phú chúc Phật sự tương lai. Đến ngày 12 tháng 5 (21/6/1975) lúc 10 giờ 30 phút, Ngài an nhiên thị tịch, hưởng thọ 85 tuổi đời, 54 tuổi hạ.

 

* Trang 407 *
device

Hòa thượng Thích Trí Thắng là một vị Cao tăng đã có nhiều đóng góp cho phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài hoạt động liên tục không phút ngơi nghỉ. Nhờ đó mà phong trào Phật giáo ở tỉnh Ninh Thuận một thời được khởi sắc.
3. Hòa thượng Như Thọ–Giải Thoát–Huyền Tân
如 壽 解 脫 玄 津 (1911–1979): Chùa Thiền Lâm
 


Hòa thượng Huyền Tân

Hòa thượng thế danh Lê Xuân Lộc, húy là Tâm, sinh ngày mồng 8 tháng 2 năm Tân Hợi (1911) tại Văn Sơn (Lánzon), tỉnh Phan Rang. Thân phụ là cụ ông Lê Văn Chí và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Nhi.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài cắt dứt trần duyên xuất gia với Hòa thượng Thích Trí Thắng tại chùa Thiên Hưng, được Bổn sư cho pháp danh Như Thọ, tự Giải Thoát.
Sau một thời gian tu học, đến ngày 17 tháng 10 năm Ất Hợi (1935), Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Tổ đình Trùng Khánh ở thôn Dư Khánh, Phan Rang do Hòa
thượng Long Sơn làm Đàn đầu truyền giới. Ngài là Thủ khoa Sa–di trong số 189 giới tử, được Bổn sư phú pháp hiệu Huyền Tân, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm sau, Bính Tý (1936) Hòa thượng Bổn sư đưa Ngài về Tổ đình Thập Tháp, Bình Định theo học kinh luận với Quốc sư Phước Huệ. Sau đó, Quốc sư Phước Huệ ra giảng dạy kinh luật tại Phật học đường Tây Thiên, Huế, Ngài được đi theo làm thị giả và

* Trang 408 *
device

được cử làm Thủ chúng tại đây.
Năm Kỷ Mão (1939), chư sơn Bình Định cung thỉnh Quốc sư Phước Huệ về chủ giảng trường Hương tại Tổ đình Long Khánh, Quy Nhơn. Ngài lại theo Quốc sư về đây tu học và cũng được chư tôn đức Bình Định cử làm Thủ chúng tại trường Hương này.
Trường Hương mãn khóa, Ngài được Quốc sư Phước Huệ tuyên dương: “Tỳ–kheo Huyền Tân học hạnh kiêm ưu, hảo hạng Đại học Phật pháp”.
Năm Canh Thìn (1940), lý hương hào lão và nhân dân làng Đắc Nhơn làm giấy hiến cúng toàn bộ chùa Thiền Lâm lâu nay do làng quản trị cho Hòa thượng Trí Thắng. Do đó, Ngài được Bổn sư gọi về giao trách nhiệm trú trì ngôi phạm vũ này. Năm Tân Tỵ (1941), triều đình Huế ra sắc chỉ khâm ban Độ điệp trú trì cho Ngài và Sắc tứ biển ngạch Tổ đình Thiền Lâm. Từ đó Ngài thường xuyên mở lớp giảng dạy kinh luật cho Tăng ni và truyền dạy giáo lý Phật đà cho thiện tín quy tụ về chùa tu học.
Rằm tháng 7 năm Tân Mão (1951), Ngài thành lập Chi hội An Nam Phật học Ninh Thuận đặt tại thôn Đắc Nhơn, đồng thời Ngài vận động thành lập Phật học đường Ninh Thuận. Cùng năm này Ngài đã thành lập Hội Phổ tương tế tại Tổ đình Thiền Lâm.
Năm Nhâm Thìn (1952), chư sơn và Hội An Nam Phật học tỉnh Khánh Hòa cung thỉnh Ngài giữ chức Giám Đốc Phật học đường Nha Trang. Trong hai Đại giới đàn năm 1957 và 1968 tại Phật học viện Trung phần ở chùa Hải Đức, Nha Trang, Ngài đều được cung thỉnh vào hàng Thập sư.
Năm Đinh Dậu (1957), Hội An Nam Phật học Ninh Thuận cung thỉnh Ngài trú trì chùa Sùng Ân. Từ năm 1959 đến năm 1961 Ngài đại trùng tu Tổ đình Thiền Lâm tạo thành một cảnh già–lam nguy nga bên đường quốc lộ số 11 đi Đà Lạt.
Năm Quý Mão (1963) Phật giáo miền Nam gặp pháp nạn. Ngài là vị thượng thủ vững tay lái đưa con thuyền Phật giáo ở Ninh Thuận vượt qua mọi trở ngại, giữ vững lòng tin cho tín đồ.
Năm Giáp Thìn (1964), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài lãnh trách nhiệm Chánh đại diện Tỉnh giáo hội Ninh Thuận khóa đầu tiên và làm Cố vấn đạo hạnh cho tổ chức Gia đình Phật tử ở đây. Từ năm 1970 đến năm

* Trang 409 *
device

1975, Ngài giữ chức Giám viện Phật học viện Liễu Quán. Năm 1972, Ngài được tấn phong ngôi vị Hòa thượng.
Năm Giáp Dần (1974), Ngài được mời vào Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Viện tăng thống GHPGVNTN. Bấy giờ Ngài đã 64 tuổi, thường bị đau yếu, nhất là bệnh suyễn. Tuy nhiên khi thấy trong người sức khỏe có phần khá hơn, Ngài liền giảng dạy kinh luận cho Tăng chúng, vì đây là công việc mà Ngài hoài bão suốt cuộc đời. Đến ngày mồng 8 tháng 3 năm Kỷ Mùi (1979) Ngài viên tịch tại chùa Thiền Lâm, hưởng thọ 69 tuổi đời, 45 tuổi hạ.
Hòa thượng Thích Huyền Tân là một vị Cao tăng ở tỉnh Ninh Thuận. Ngài có kiến thức tinh thâm về kinh luật vì thiếu thời được theo học với thiền sư danh tiếng là Quốc sư Phước Huệ. Suốt đời, Ngài một lòng xây dựng cho ngôi nhà Phật giáo thêm bền vững.
4. Hòa thượng Như Hương–Giải Vị–Huyền Tâm
如 香 解 味 玄 心 (1920–1991): ): Chùa Bửu Vân
 


Hòa thượng Huyền Tâm
(Thích Viên Dung)

Hòa thượng thế danh Trần Hữu Cảnh, sinh năm Canh Thân (1920) tại Ninh Thuận. Thân phụ là cụ ông Trần Cay và thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Nhàn. Gia đình Ngài thuộc tầng lớp trung lưu, hấp thụ lễ giáo Nho gia, tổ tiên nhiều đời phụng thờ Tam bảo.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài xuất gia tu học tại Tổ đình Thiên Hưng với Hòa thượng Chơn Cảnh–Trí Thắng được Bổn sư ban Pháp danh Như Hương, tự Giải Vị, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Nhâm Thìn (1952), Ngài thọ Cụ túc giới tại giới
đàn chùa Ấn Quang, được Bổn sư phú pháp hiệu là Huyền Tâm.    

* Trang 410 *
device

Năm Bính Thân (1956) Hội Phật học tỉnh Ninh Thuận cung thỉnh Ngài trú trì chùa Sùng Ân trụ sở của Giáo hội.
Năm Mậu Tuất (1958), Ngài về Khánh Hòa tham cứu và tu học tại Phật học viện Hải Đức. Vì cảm mến công hạnh của Ngài nên Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ban cho Ngài pháp hiệu Viên Dung. Vì thế, Ngài hay dùng đạo hiệu này để lưu thông. Cùng năm, Ngài vào Sài–gòn dự khóa học “Như Lai Sứ Giả” tại chùa Thiền Lâm, Phú Lâm, Chợ Lớn.
Năm Giáp Dần (1974), được Phật tử Huỳnh Thị Nhạn pháp danh Như Phụng hiến cúng đất và tịnh tài, Ngài khai sơn chùa Bửu Vân tại phường Đô Vinh, thị xã Phan Rang. Lễ đặt viên đá dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Trí Thắng và Hòa thượng Thích Huyền Tân.
Năm Ất Mão (1975), Ngài nhận trách nhiệm Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Ninh Thuận.
Năm Quý Hợi (1983), Ngài là Ủy viên Ban trị sự Phật giáo tỉnh Thuận Hải, kiêm Chánh đại diện Thị hội Phật giáo Thị xã Phan Rang, Tháp Chàm.
Đến năm Canh Ngọ (1990) cảm thấy tuổi già sức yếu, vào ngày Rằm tháng 10, Ngài đã trao quyền thừa kế duy trì ngôi Tam bảo cho đệ tử là Đại đức Thích Hạnh Thể trước sự hoan hỷ chấp nhận của bổn đạo Phật tử. Vào lúc 14 giờ ngày 2 tháng 10 năm Tân Mùi (7/11/1991) Ngài thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi và 41 hạ lạp. Bảo tháp lưu giữ nhục thân được môn đồ kiến tạo tại chùa Bửu Vân, Phan Rang.
 5. Hòa thượng Như–Hạnh–Giải Uyên–Huyền Thâm
如 幸 解 淵 玄 深 (1927–2005): ): Chùa Thiên Hưng

Hòa thượng thế danh Nguyễn Khắc Kim, sinh ngày 17 tháng 11 năm Đinh Mão (1927) tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Năm Tân Tỵ (1941), Ngài phát tâm xuất gia với Hòa thượng Thích Trí Thắng, trú trì Tổ đình Thiên Hưng, thị xã Phan Rang. Ngài thọ Sa–di năm Mậu Tý (1948) và thọ Cụ túc năm Nhâm Thìn (1952), được Bổn sư ban cho pháp danh Như Hạnh, tự Giải Uyên, hiệu Huyền Thâm, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ

* Trang 411 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh