LOGO VNBET
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Như Điền–Giải Trà–Huệ Chấn
如 田 解 茶 慧 振 (1886–1955): Chùa Hưng Long
 


Hòa thượng Huệ Chấn

Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Trà, sinh ngày 22 tháng 2 năm Bính Tuất (1886) tại xã Ngân Hà, tổng Thanh Quýt Trung, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay là thôn 1 xã Điện Nam, Điện Bàn). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Thuận pháp danh Ấn Nghi và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Thông pháp danh Chơn Liên.
Vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm Giáp Thìn (1904), tại ngôi Quốc tự Tam Thai, Ngài được Hòa thượng Chơn Đỉnh–Phước Thông thế phát nhận làm đệ tử, ban cho pháp danh Như Điền, tự Giải Trà.
Sau 2 năm tu học, sự cần mẫn tinh tấn của Ngài khiến cho Bổn sư rất hài lòng. Vào ngày 19 tháng 4 năm Bính Ngọ (1906), Ngài được thọ Tam đàn Cụ túc tại giới đàn chùa Sắc tứ Từ Quang tỉnh Phú Yên do tổ Chơn Tâm–Pháp Tạng làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới.
Sau khi thọ Cụ túc giới về, Ngài càng tinh cần tu niệm nên được Bổn sư truyền trao Pháp quyển vào ngày mồng 9 tháng 4 năm Canh Tuất (1910) với đạo hiệu Huệ Chấn, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Cũng trong thời gian này, Ngài về tại quê nhà khai sơn chùa Phương Thảo.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, tại các tỉnh miền Trung nhất là Quảng Nam hưởng ứng phong trào Duy Tân rất mạnh. Sau khi phong trào này thất bại, giặc Pháp khủng bố đàn áp những người

* Trang 439 *
device

có liên can đến các nhà yêu nước Trần Cao Vân, Thái Phiên v.v... Đặc biệt, giới Tăng sĩ Quảng Nam liên lụy rất nhiều bởi vì chí sĩ Trần Cao Vân có một thời ở chùa Cổ Lâm, Đại Lộc, kết hợp cùng một số chư Tăng ở đây hoạt động phong trào yêu nước chống Pháp. Chính vì thế, trong giai đoạn này một số lượng lớn chư Tăng Quảng Nam phiêu bạt vào vùng đất mới phương Nam. Hòa thượng đã cùng với các pháp lữ Thích Đạo Thanh, Thích Đương Nhật v.v... vào Nam hành đạo. Ban đầu, các Ngài ngụ tại chùa Văn Thánh tại Thị Nghè, về sau lại tùy duyên hóa đạo. Hòa thượng Đạo Thanh khai sơn chùa Pháp Hoa, Phú Nhuận; Hòa thượng Đương Nhật khai sơn chùa Khánh Lâm, Hóc Môn; còn Hòa thượng Huệ Chấn được Hội Di Đà tín nhiệm cung thỉnh về trú trì chùa Sắc tứ Quốc Ân và chùa Hưng Long, quận 10.
Năm Mậu Thìn (1928), Ngài được sơn môn Quảng Nam cung thỉnh làm Chánh thư ký giới đàn Từ Vân, một trong những giới đàn lịch sử của Phật giáo Quảng Nam.
Năm Kỷ Mão (1939), Ngài tổ chức Đại trai đàn chẩn tế để cầu nguyện cho các chiến sĩ trận vong sớm được siêu thoát. Với những công đức như vậy, Ngài được Bộ lễ Nam triều sắc phong Tăng cang.
Năm Canh Thìn (1940), Ngài khai mở trường Hương tại chùa Hưng Long, Sài–gòn để sách tấn chư Tăng tu học. Sau khi trường Hương kết thúc, Ngài tiếp tục mở Đại giới đàn, cung thỉnh Hòa thượng Thích Phước Nhàn, trú trì chùa Linh Sơn Diên Thọ tỉnh Bình Thuận làm Đàn đầu Hòa thượng.
Ngày 20 tháng Giêng năm Tân Mão (25/2/1951), Hội Phật học Nam Việt được thành lập tại chùa Khánh Hưng, Hòa thượng được cung thỉnh vào ngôi vị Chứng minh đạo sư của Hội.
Nhận thấy chùa Sắc tứ Quốc Ân và Hưng Long đã có phần xuống cấp nên Hòa thượng phát nguyện trùng tu. Sau một thời gian ngắn, công việc đã được hoàn tất và lễ lạc thành chùa Sắc tứ Quốc Ân, Hưng Long, Hưng Hiển và Kỷ niệm Đài đã được long trọng tổ chức vào các ngày mồng 6, 7, 8 tháng 6 năm Giáp Ngọ (1954).
Vào ngày mồng 2 tháng 10 năm Ất Mùi (1955), Hòa thượng thị tịch tại chùa Hưng Long, thọ thế 70 tuổi. Tháp mộ của Ngài được lập tại chùa Khánh Lâm, Hóc Môn, Sài–gòn.

* Trang 440 *
device

Những năm đầu của thế kỷ XX, Hòa thượng Thích Huệ Chấn là một trong những vị tiền bối của Phật giáo Quảng Nam đi tiên phong vào hành đạo tại Sài–gòn, Gia Định. Là một người tu sĩ được đào tạo căn bản tại ngôi Tổ đình Tam Thai nên Hòa thượng sớm trở thành một trong những vị Tăng uy tín của Phật giáo Gia Định thời bấy giờ. Vì thế, trong các trường Hương, trường Kỳ cũng như các giới đàn đều cung thỉnh Ngài vào các chức vị quan trọng. Với đức độ và uy tín của mình, Ngài đã kiến tạo chùa Hưng Long thành một ngôi phạm vũ trang nghiêm và cũng là Tổ đình của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại miền nam Việt Nam.
2. Hòa thượng Chơn Trừng–Đạo Thanh–Hưng Duyên
眞 澄 道 清 興 緣 (1895–1962): Chùa Pháp Hoa
 


Hòa thượng Đạo Thanh

Hòa thượng thế danh Nguyễn Công Lực, sinh năm Ất Mùi (1895), tại xã Giáng La, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Công Hộ và thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Nga. Năm lên 8 tuổi, Ngài mồ côi cha và được ông bà Cẩm Văn nhận làm con nuôi.
Năm Đinh Mùi (1907), Ngài được bà Cẩm Văn cho đi theo lễ Phật tại Tổ đình Chúc Thánh, Hội An. Nhân duyên hội ngộ, Ngài phát tâm xuất gia tại đây. Sau 2 năm thử thách thì đến năm Kỷ Dậu (1909), vào ngày Phật thành đạo, Ngài được tổ
Ấn Bính–Phổ Bảo thế phát và cho pháp danh Chơn Trừng, tự Đạo Thanh. Như vậy, Ngài thuộc đời thứ 40 dòng Lâm Tế và nối tiếp thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Sau hơn 4 năm tinh cần tu học, Ngài được Tổ cho thọ Sa–di

* Trang 441 *
device

thôn Phú Cang, Vạn Ninh. Hòa thượng Hoằng Thâm là thầy Bổn sư vừa là cậu ruột nên nhận Ngài làm con nuôi, đổi tên lại là Nguyễn Văn Khiết với pháp danh Thị Thủy.
 


Bồ–tát Quảng Đức

Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa–di, được Bổn sư ban cho pháp tự Hành Pháp, hiệu Quảng Đức. Như vậy Ngài nối pháp đời 42 Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Năm 20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ–kheo và Bồ–tát giới. Lúc bấy giờ Hòa thượng Hoằng Thâm đã viên tịch nên Ngài đến cầu pháp với ngài Thanh Chánh–Phước Tường tại chùa Hội Phước, Nha Trang nên còn có hiệu là Nhơn Tri. Sau đó Ngài phát nguyện nhập thất tu ba năm tại Hòn Đất, Ninh Hòa, Khánh Hòa và khai sơn chùa Thiên Lộc tại đây.
Năm Nhâm Thân (1932) Hội An Nam Phật học ra đời, Đại lão Hòa thượng chùa Hải Đức đến nơi Ngài đang nhập thất, mời Ngài nhận chức Chứng minh đạo sư cho Chi hội Ninh Hòa. Ba năm sau, Ngài được thỉnh cử giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, Ngài đã kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.
Năm Quý Mùi (1943), rời Khánh Hòa vào Nam, Ngài hành đạo khắp các tỉnh Sài–gòn, Gia Định, Định Tường xuống đến Hà Tiên. Ngài cũng đã từng sang Nam Vang lưu trú 3 năm, vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên cứu kinh điển Pàli và Phật giáo Nam tông.
Năm Quý Tỵ (1953), Ngài được thỉnh cử vào chức vụ Phó trị sự và Trưởng ban Nghi lễ Giáo hội Tăng Già Nam Việt.

* Trang 442 *
device

Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam vào năm 1963 đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, tuy tuổi đã già, Ngài vẫn tích cực tham gia. Để thức tỉnh ông Ngô Đình Diệm và tập đoàn của ông đang đắm chìm trong vô minh sớm thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo đồ, ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão, tức ngày 11/6/1963 Ngài thực hiện tâm nguyện đã thiêu đốt nhục thân để cúng dường và bảo vệ Đạo pháp.
Từ một cuộc diễu hành của trên 800 vị Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni và Phật tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi, khi đoàn diễn hành tiến đến ngả tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám), Ngài từ trên xe hơi bước xuống, tự tẩm xăng ướt mấy lớp ca–sa, ngồi kết–già xuống mặt đường, tự châm lửa giữa hàng mấy trăm Tăng ni đang vây quanh chấp tay cầu nguyện. Ngọn lửa bốc cao, phủ kín thân mình, Ngài vẫn an nhiên chấp tay tĩnh tọa. Gần 15 phút sau, lửa tàn, Ngài ngã xuống, tay vẫn còn quyết ấn tam–muội.
Nhục thân của Ngài được đưa vào lò điện thiêu 4.000 độ, xương thịt cháy tiêu hết, duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ 2 vẫn không cháy.
Quả tim Bồ–tát Quảng Đức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của muôn người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình tự do và bình đẳng nhưng cũng bất khuất trước nạn cường quyền và áp bức. Trái tim ấy trở thành biểu tượng tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại đã và đang đấu tranh mãi cho tự do hòa bình, hạnh phúc nhân sinh.
4. Hòa thượng Thị Niệm–Hành Nguyện–Viên Thành
是 念 行 願 圓 成 (1904–1973): ): Chùa Phước Hải
Hòa thượng thế danh Lương Từ Thanh, pháp danh Thị Niệm, tự Hành Nguyện, hiệu Viên Thành nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Thân phụ là cụ ông Lương Đình Thảo, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Xi.
Hòa thượng sinh năm Kỷ Dậu (1904) tại làng Minh Hương, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định, Trung Việt. Năm 15 tuổi, với sự thiết tha cầu đạo, song thân đưa Ngài đến tu học với Hòa thượng Bổn sư

* Trang 443 *
device

Như Phái–Chánh Đạo chùa Tường Quang, Khánh Hội, quận 4. 


Hòa thượng Viên Thành

Năm 24 tuổi, Ngài thọ tam đàn Cụ túc giới tại chùa Tân Bửu, Xuyên Mộc. Năm Mậu Dần (1938), Ngài được cử làm trú trì chùa Khánh Phước tại Xóm Chiếu, quận 4.
Năm Tân Tỵ (1941), Ngài gặp quý Hòa thượng Thích Thới An, Thích Thiện Tường rồi kết nghĩa với nhau trong tinh thần phụng sự đạo pháp. Sau đó, cả 3 vị xuống miền Lục Tỉnh đến Phật học viện Vạn An và Tổ đình Hội Phước tại Nha Mân, Sa Đéc, do Hòa thượng Chánh Thành sáng lập, đồng an trụ nơi đây và thọ học với Pháp sư Thích Hành Trụ.
Năm Ất Dậu (1945), Miền Tây loạn lạc, thời cuộc nhiễu nhương, khiến Phật học viện Long An phải giải tán, các Ngài trở lên Sài–gòn và năm sau, Bính Tuất (1946) thành lập chùa Tăng Già.
Năm Đinh Hợi (1947), Hòa thượng cùng chư huynh đệ tiếp tục xây dựng nên ngôi phạm vũ thứ 2, hiện nay là chùa Giác Nguyên, để tiếp độ chư Tăng, còn Tăng Già Tịnh xá để tiếp độ chư Ni tu học (nay là chùa Kim Liên).
Năm Mậu Tý (1948), Hòa thượng làm Đệ nhất tôn chứng Đại giới đàn tại chùa Giác Nguyên.
Năm Tân Mão (1951), Hòa thượng được suy cử làm trú trì kiêm Tổng sự ngôi Tổ đình Giác Nguyên để trùng hưng Tam bảo.
Đến năm Ất Tỵ (1965), Ngài nhận thấy việc làm Phật sự cũng tạm yên, nhờ huynh đệ một lòng một dạ chung lo Phật sự Tam bảo được viên mãn. Sau đó Ngài nhận lãnh trú trì chùa Phước Hải, Bình Tây, quận 6 để an tâm nhập thất tu niệm. Ngài thường trì kinh Pháp Hoa, Địa Tạng và A Di–đà hồi hướng về Tịnh Độ.

* Trang 444 *
device

Một hôm, trì đến phẩm Dược Vương, Ngài xúc động nghĩ đến công hạnh cao thượng của Bồ–tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến, Ngài phát thệ nguyện thiêu thân cúng dường chư Phật. Vì thế vào lúc 02 giờ ngày 18 tháng 4 năm Quý Sửu (1973), Ngài ngồi kết–già phía ngoài sân trước chùa Phước Hải, dùng dầu hôi tự đốt mình, chắp tay niệm Phật A Di–đà cho đến khi hơi thở cuối cùng.
Hòa thượng đã thâu thần thị tịch vào lúc 2 giờ ngày 18 tháng 4 ÂL năm Quý Sửu (1973), trụ thế 70 tuổi đời và 45 tuổi hạ.
5. Hòa thượng Thị An–Hành Trụ–Phước Bình
是 安 行 住 福 平 (1904–1984): Chùa Đông Hưng
 


Hòa thượng Hành Trụ

Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh Lê An, sinh năm Giáp Thìn (1904) trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Lê Uyển và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sử.
Năm 19 tuổi, Ngài được Hòa thượng Như Đắc–Thiền Phương chùa Phước Sơn thế độ nhận làm đệ tử và học tại đây. Năm 22 tuổi Ngài thọ Cụ túc giới và giữ chức Thư ký trong chùa.
Với phong cách đĩnh đạc và say mê học hỏi, Ngài đã trau dồi kinh luật nội điển cùng Quốc văn ở hầu hết các trường hạ, khóa học được tổ chức bấy giờ ở khắp các đạo tràng chùa Thiên Phước, Thủ Đức năm 1934; đạo tràng Tổ đình Bát Nhã, Phú Yên năm 1935... Gặp lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang phát triển, Ngài vào Nam tham học ở Thích học đường Lưỡng Xuyên do các Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang lãnh đạo.

* Trang 445 *
device

Năm Bính Tý (1936), Ngài được tiến cử làm Giáo thọ sau khóa trường Hương do Hội Lưỡng Xuyên Phật học tổ chức tại chùa Long Phước, Vĩnh Long. Sau đó, Ngài được cử ra Huế học tại Phật học đường chùa Tường Vân, rồi Tây Thiên do Quốc sư Phước Huệ chủ giảng.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài được tổ Khánh Hòa bổ về Sóc Trăng làm Giáo thọ giảng dạy ở chùa Hiệp Châu, Chi hội Kế Sách của Hội Lưỡng Xuyên Phật học và chùa Viên Giác tại Vĩnh Long.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài được Hòa thượng Vạn An đưa về làm Giáo thọ giảng dạy tại chùa Hội Phước, Nha Mân tỉnh Sa Đéc. Trong thời gian ấy, Ngài làm Đệ nhất Yết–ma Đại giới đàn chùa An Phước, Châu Đốc. Sau đó, Ngài về chùa Long An ở Sa Đéc, tại đây đã kết nghĩa pháp đạo huynh đệ cùng ba vị Khánh Phước, Thới An, Thiện Tường và mở Phật học đường. Chư Tăng khắp Lục Tỉnh hội tụ về tu học rất đông.
Năm Bính Tuất (1946), Ngài với ba vị sư đệ kết nghĩa lên Sài–gòn hợp nhau lập chùa Tăng Già, hiện nay là chùa Kim Liên, để tiếp độ chúng Tăng tựu về học. Đây là Phật học đường đầu tiên ở đất Sài–gòn trong phong trào chấn hưng Phật giáo, mở đường cho các Phật học viện sau này phát triển.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài lại cùng ba vị sư đệ dựng nên ngôi già–lam thứ 2 là chùa Giác Nguyên để chuyển chư Tăng về đây tu học, chùa Tăng Già biến thành trường Phật học dành cho Ni chúng.
Năm Mậu Tý (1948), Ngài mở Đại giới đàn tại Phật học đường Giác Nguyên để truyền trao giới pháp cho Tăng ni thọ trì tu học. Sau Ngài được đề cử làm Trưởng ban Nghi lễ của Giáo hội Tăng Già Nam Việt vào năm 1951, làm Chứng minh đạo sư Hội Phật học Nam Việt tại chùa Xá Lợi, Sài–gòn cho đến cuối đời (1956–1984) và làm Trưởng Đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị Phật giáo Thế giới kỳ 4 tại Nam Vang năm 1957.
Năm Quý Mão (1963), Ngài khai mở Phật học đường Chánh Giác tại chùa Chánh Giác, Gia Định do Ngài làm Giám đốc kiêm trú trì. Sau đó, Ngài về trú trì chùa Đông Hưng ở Thủ Thiêm và chọn nơi này làm chốn tĩnh tu nhập thất vào những mùa An cư Kết hạ.

* Trang 446 *
device

Năm 1967–1969, Ngài làm Giới sư các Đại giới đàn Hải Đức ở Phật học viện Hải Đức, Nha Trang và Quảng Đức ở Phật học viện Huệ Nghiêm, Sài–gòn.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng Tăng–già tại Đại giới đàn Vĩnh Gia do Phật học viện Phổ Đà tổ chức tại Đà Nẵng.
Năm 1975–1977–1980, liên tiếp Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng các Đại giới đàn tại chùa Ấn Quang do GHPGVNTN mở ra để truyền trao giới pháp cho giới tử toàn quốc.
Từ năm 1977–1981, Ngài kiêm chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự của GHPGVNTN.
Năm 1981, GHPGVN được thành lập, Ngài được cung thỉnh vào làm thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương.
Nhận thấy thời gian đồng hành với lão bệnh phát sinh nơi thân tứ đại, từ năm 1976 trở đi, Ngài phát nguyện nhập thất an tịnh cho đến khi về cõi Phật. Vào ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984), huyễn thân Ngài nhẹ nhàng chuyển hóa.
Ngài trụ thế 80 năm, được 59 hạ lạp, để lại trong tâm tưởng đàn hậu tấn niềm tri ân vô hạn.
Ngài có công đức lớn trong nhiệm vụ giáo dục đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài và truyền thừa chánh pháp qua việc phiên dịch, ấn hành nhiều kinh luật phổ biến với các tác phẩm để lại:
– Sa–di luật giải
– Quy Sơn cảnh sách
– Tứ phần giới bổn như thích
– Phạm Võng Bồ–tát giới
– Kinh A Di Đà sớ sao
– Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên
– Kinh Hiền Nhân
– Kinh Trừ Khủng Tai Hoạn
– Tỳ–kheo giới kinh
– Khuyến phát Bồ–đề tâm văn

* Trang 447 *
device

– Long Thơ Tịnh Độ
– Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư
– Nghi thức lễ sám
– Kinh Thi Ca La Việt
– Sự tích Phật giáng thế
6. Hòa thượng Chơn Miên–Đạo Long–Trí Hưng
眞 綿 道 隆 智 興 (1908–1986): Chùa Thiền Lâm
 


Hòa thượng Trí Hưng

Hòa thượng pháp danh Chơn Miên, tự Đạo Long, hiệu Trí Hưng, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Ngài thế danh Nguyễn Tăng, sinh ngày mồng 8 tháng 7 năm Mậu Thân (1908) tại làng Thạch Trụ, xã Đức Mỹ, quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Thân và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Định.
Ngài sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời làm quan triều đình và kính tin Phật pháp. Song thân của Ngài bình sinh rất ngưỡng mộ đức độ vị Đệ tứ Tổ sư Tổ
đình Thiên Ấn, Quảng Ngãi, thường hay đến hỏi pháp, nghe giảng. Tuổi còn ấu niên, song thân đã đưa Ngài đến xin quy y với Tổ Hoằng Phúc được Tổ đặt cho pháp danh Chơn Miên.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài xuất gia với Hòa thượng Ấn Lãnh–Hoằng Thạc tại chùa Thạch Sơn. Năm Quý Dậu (1933), Ngài thọ Sa–di giới và năm Giáp Tuất (1934) thì thọ Tam đàn Cụ túc giới, tại giới đàn chùa Thạch Sơn do Hòa thượng Bổn sư làm Đàn đầu truyền giới. Năm Ất Hợi (1935), Ngài được Bổn sư phú pháp hiệu Trí Hưng và cử làm Giám viện chùa Sắc tứ Thạch

* Trang 448 *
device

Sơn. Năm Mậu Dần (1938), Ngài được cử giữ chức Kiểm Tăng tỉnh Quảng Ngãi. Ngài tổ chức chấn chỉnh Tăng đồ, lập Tăng ước và xin triều đình ban Sắc tứ cho các chùa xưa trong tỉnh.
Năm Mậu Dần (1938), Hội An Nam Phật học tỉnh Quảng Ngãi được thành lập, Ngài cùng Đại lão Hòa thượng Hoằng Thạc và Tăng cang Diệu Quang được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư kiêm Cố vấn đạo hạnh cho Tỉnh hội. Năm này, Ngài hợp cùng Tăng cang Diệu Quang trùng tu chánh điện Tổ đình Thiên Ấn. Cũng năm này, chùa Phước Sơn huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định khai Đại giới đàn thỉnh Ngài làm Đệ thất tôn chứng.
Năm Kỷ Mão (1939), chùa Từ Lâm do Ngài kiến tạo được triều đình Sắc tứ biểu ngạch và Ngài được sắc chỉ chuẩn phong Tăng cang.
Năm Giáp Thân (1944), Ngài chứng minh Giới đàn tại chùa Thiên Phước, quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, do Ngài Yết–ma Khánh Hạ tổ chức. Những năm kế tiếp, Ngài đảm nhận chức kế Tổ Thiên Ấn. Chùa Thiên Đức ở Gò Bồi (Bình Định) khai Đại giới đàn, cung thỉnh Ngài chứng đàn. Rồi chùa Thiên Ấn bị bão lụt tàn phá, Ngài đứng ra đảm trách trùng tu lại.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài ra Huế nhận trú trì chùa Huệ Lâm, đồng thời thành lập tổ chức Chư sơn Thuyền lữ và giữ chức Tòng lâm Thuyền chủ.
Năm Nhâm Thìn (1952), đáp lời mời của Phật giáo miền Bắc, ngày 5/3 Ngài ra thăm Hà Nội. Ngài đã đến viếng tổ Vĩnh Tường tại chùa Thần Quang Ngũ Xã, tổ Thuyền gia Pháp chủ Mật Ứng tại chùa Hòa Giai, Sư cụ chùa Bà Đá và chiêm bái các danh lam thắng tích của miền Bắc.
Tháng 3 năm Ất Mùi (1955), Ngài trở lại tỉnh nhà và trùng tu Tổ đình Thiên Ấn. Ngài chứng minh thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi để hợp pháp hóa việc hoằng đạo và tiến hành đại hội thành lập Phật giáo Cổ sơn môn sau này. Năm Đinh Dậu (1957), Ngài được Giáo hội Cổ sơn môn ủy nhiệm đặc trách miền Trung và Cao Nguyên Trung phần và Ngài được cử chức Tăng trưởng GHCSM tỉnh Quảng Ngãi.
Năm Canh Tý (1960), Ngài trùng tu chùa Từ Lâm hoàn tất và tổ chức khánh thành rất trọng thể. Năm Tân Sửu (1961), Ngài khai giới đàn và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.

* Trang 449 *
device

Năm Nhâm Dần (1962), Ngài vào Sài–gòn vận động thành lập Trung ương Giáo hội Phật giáo Cổ sơn môn Việt Nam. Trong Đại hội năm Quý Mão (1963), Ngài được cử giữ chức Phó tăng thống Quản tăng Trung ương GHCSM. Ngày 13 tháng 2 năm Ất Tỵ (1965), Ngài được mời trú trì chùa Thiền Lâm số 570/2 đường Lục Tỉnh, Phú Lâm, Chợ Lớn.
Ngày 26 tháng 9 năm 1966, tại đại hội GHCSM, Ngài được cử giữ chức Phó tăng thống kiêm Hành chánh và Điều hành Giáo hội. Từ chức vụ này, Ngài tiếp kiến nhiều vị Danh tăng nước ngoài như Đại đức Narada Maha Théra (Tích–lan), Thượng tọa Yoshioka (Phật giáo Tăng Già Nhật Bản), ngài Hội trưởng Phật giáo Nam Hàn v.v...
Ngày 15 tháng 2 năm Bính Thìn (1976), Ngài khai mở trường Hương tại chùa Thiền Lâm, quy tụ hơn 100 giới tử từ các Tỉnh hội.
Tuổi già sức yếu sau hơn 50 năm hành đạo, hoằng pháp lợi sanh rộng khắp Trung, Nam; ngày 14 tháng 9 năm Bính Dần (17–10–1986), Ngài đã viên tịch tại chùa Thiền Lâm, thọ thế 79 năm, 57 tuổi hạ.
7. Hòa thượng Thị Lộc–Thành Văn–Nguyên Ngôn
是 祿 成 文 源 言 (1938–2005): Chùa Khánh Vân
 


Hòa thượng Nguyên Ngôn

Hòa thượng thế danh Phan Thanh Bình (sau đổi tên là Phan Chín), sinh năm Mậu Dần (1938) tại làng Vĩnh Lộc, xã Bình Hòa, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Phan Liễu và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Bộ.
Thuở nhỏ, Ngài quy y Tam bảo với Hòa thượng Huệ Chiếu tại chùa Vĩnh Lộc, được Hòa thượng ban cho pháp danh Nguyên Ngôn.
Năm Nhâm Thìn (1952), khi vừa tròn 15 tuổi, Hòa thượng xuất gia với Hòa thượng Như Nguyện–Tâm
 

* Trang 450 *
device

Tạo tại Tổ đình Nhạn Sơn – một trong các di tích lịch sử của thôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Hòa thượng đã được Bổn sư đặt pháp danh là Thị Lộc, tự Thành Văn, hiệu Quảng Ân nối pháp đời 42 dòng thiền Lâm Tế, thế hệ thứ 9 truyền theo bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo. Nhưng vì muốn kỷ niệm vị Thầy ban đầu khai tâm cho mình nên Ngài lấy tên Thích Nguyên Ngôn làm đạo hiệu lưu thông.
Từ thập niên 1950, chốn Tổ này cũng chính là Trường Sơ cấp Phật học của tỉnh nhà. Dưới sự hướng dẫn của Bổn sư, Hòa thượng đã được theo học với các bậc Danh tăng thạc đức thời bấy giờ từ những năm 1955 đến 1957.
Năm Ất Mùi (1955), khi tròn 18 tuổi, căn lành tăng trưởng, giới hạnh tinh chuyên, Hòa thượng đã được Bổn sư cho lãnh thọ giới pháp Sa–di. Hai năm sau đó, tức năm Đinh Dậu (1957), Hòa thượng tiếp tục theo học lớp Trung đẳng Phật học tại Tổ đình Thập Tháp, tỉnh Bình Định. Là Tăng sinh xuất sắc nên Ngài được chư tôn đức trong Ban đốc giáo tuyển chọn, gởi vào Phật học đường Nam Việt, tức chùa Ứng Quang, nay là Tổ đình Ấn Quang. Vài năm sau đó, Hòa thượng theo học Phật học viện Phước Hòa, thuộc tỉnh Trà Vinh, dưới sự chủ giảng của Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Năm Canh Tý (1960), sau khi tốt nghiệp lớp Phật học tại Phật học viện Phước Hòa, Hòa thượng lại trở về Tổ đình Ấn Quang, tiếp tục theo học chương trình Trung đẳng Phật học, niên khóa 1960–1964.
Từ năm 1966–1969, Hòa thượng theo học chương trình Cử nhân Phật khoa tại Đại học Vạn Hạnh. Cũng cùng thời điểm này, Hòa thượng vừa học thêm Cử nhân Hán Việt và được mời làm giáo thọ tại các trường Trung học Bồ–đề Sài–gòn, Chợ Lớn.
Với chí nguyện hoằng pháp lợi sanh, báo Phật ân đức của bậc sứ giả Như Lai, khi còn ngồi ghế học đường, từ những năm từ 1966 đến 1973, Hòa thượng đã dấn thân giảng dạy cho rất nhiều Tăng ni và Phật tử tại các tự viện, đạo tràng ở Sài–gòn và Lục Tỉnh.
Năm Giáp Dần (1974), Hòa thượng được Viện hóa đạo bổ nhiệm chức vụ Tổng thư ký Tổng vụ Hoằng pháp GHPGVNTN.

* Trang 451 *
device

Năm Mậu Ngọ (1978), với tài đức kiêm ưu, Hòa thượng được Viện hóa đạo bổ nhiệm làm Chánh đại diện Phật giáo quận 10.
Từ năm 1980 đến 1984, Hòa thượng làm giáo thọ sư Phật học viện Sơ đẳng Thiện Hòa tại chùa Giác Ngộ và Trung đẳng Phật học tại chùa Ấn Quang, quận 10.
Từ năm 1984, khi các Phật học viện trong Sài–gòn ngưng hoạt động, Hòa thượng vẫn tiếp tục giảng dạy gia giáo tại các tự viện trong thành phố như chùa Ấn Quang, chùa Giác Sanh, chùa Giác Ngộ, chùa Từ Nghiêm, chùa Hưng Phước, chùa Bồ Đề Lan Nhã v.v..., theo phương châm: “nơi nào cần chánh pháp, xin phát nguyện dấn thân.”
Khi Trường Trung cấp Phật học Tp.HCM được thành lập tại chùa Vĩnh Nghiêm, từ năm 1989, Hòa thượng tiếp tục tham gia giảng dạy, truyền thụ cho nhiều thế hệ Tăng ni sinh các chất liệu chánh pháp, vừa mang tính triết lý nhưng lại không kém phần ứng dụng thực tế.
Ngày 12/11/1996, Hòa thượng chính thức được Hòa thượng Trưởng Ban trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm trú trì chùa Khánh Vân, quận 11, Sài–gòn.
Từ ngày làm trú trì chùa Khánh Vân, Hòa thượng từng bước trùng tu chùa lại ngày một khang trang hơn.
Hòa thượng đã dịch các kinh như: kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, Bát–nhã Tâm Kinh, kinh Pháp Bảo Đàn, kinh Bát Đại Nhân Giác, Đại thừa Khởi Tín luận, Phát Bồ–đề Tâm luận, v.v... Ngoài ra, Hòa thượng còn biên soạn một số giáo trình cho các lớp Trung đẳng và Cao đẳng Phật học như: Duy thức học cương yếu, Bát thức quy củ, Bách pháp minh môn luận, Sáu pháp hoà kính, Tam vô lậu học và hầu hết các bài khóa trong bộ Phật học Phổ Thông, với một giáo trình độc lập và chi tiết. Đa phần các tác phẩm, dịch phẩm và giáo trình này đều còn dưới dạng cảo bản, chỉ phổ biến nội bộ cho các Tăng ni sinh nghiên cứu học tập, chưa ấn hành chính thức.
Sáng ngày 11 tháng 4 năm Ất Dậu (18/5/2005), cơn đau tim bắt đầu tái phát, Hòa thượng đã viên tịch vào lúc 18 giờ 45 phút ngày 12 tháng 4 năm Ất Dậu (19/5/2005), hưởng thọ 68 tuổi, 46 mùa an cư kết hạ.

* Trang 452 *
device

8. Hòa thượng Như Thiện–Giải Năng–Hoàn Quan
如 善 解 能 完 光 (1928–2005): Chùa Khánh Vân
 


Hòa thượng Hoàn Quan

Hòa thượng thế danh Phạm Ngọc Thơ, sinh năm Mậu Thìn (16/9/1928) tại làng Phước Long, nay là thôn Hòa Bình, xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Hòa, tỉnh Quảng Ngãi.Thân phụ là cụ ông Phạm Ngọc Cát pháp danh Chơn Cơ và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Thưởng.
Năm lên 8 tuổi, Ngài được song thân gởi lên chùa Thiên Ấn học chữ Nho với cậu ruột của Ngài là Tăng cang Diệu Quang. Tại chốn Tổ đình lịch sử này, Ngài ở 2 năm tuy không thế phát xuất gia
nhưng hạt giống Bồ–đề trong tâm ngày càng ươm mầm phát triển.
Tuy nhiên, Ngài không xuất gia tại Thiên Ấn mà được thân phụ gởi vào tu học với Hòa thượng Khánh Anh tại chùa Phước Hậu, Trà Ôn.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Hòa thượng được Bổn sư cho thọ Sa–di đặt pháp danh Như Thiện, tự Giải Năng.
Năm Bính Tuất (1946), Hòa thượng Khánh Anh đưa Ngài lên Sài–gòn, gởi theo học chương trình Sơ đẳng Phật học tại chùa Ứng Quang. Năm Canh Dần (1950), Phật học đường Nam Việt được thành lập tại chùa Ấn Quang do Hòa thượng Thích Thiện Hòa làm Giám đốc, Hòa thượng tiếp tục theo học chương trình Trung đẳng và Cao đẳng tại đây.
Năm Ất Mùi (1955), Hòa thượng thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Ấn Quang do Hòa thượng Thích Đôn Hậu làm Đàn đầu truyền giới. Hòa thượng Khánh Anh phú pháp cho Ngài với pháp hiệu Hoàn Quan, nối pháp dòng Lâm Tế đời thứ 41, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.

* Trang 453 *
device

Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Phật học và Tú tài toàn phần, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ sư tại các trường Phật học thời bấy giờ. Năm Canh Tý (1960), Ngài làm Đốc giáo trường Phật học Phước Hòa, Trà Vinh. Từ những năm 1964 đến năm 1975, Hòa thượng là Giáo thọ sư tại các trường Phật học như: Phật học viện Huệ Nghiêm, Huỳnh Kim, Hải Tràng, Dược Sư, Từ Thuyền, Bồ Đề Lan Nhã v.v...
Năm Giáp Thìn (1964), Ngài khai sơn chùa Khánh Vân tại quận 11, Sài–gòn. Ngài đã 2 lần trùng tu chùa vào các năm 1968 và 1994.
Đến năm 1996, Hòa thượng mời Thượng tọa Thích Nguyên Ngôn về trú trì chùa Khánh Vân, để Ngài dành thời gian tu niệm và san bổ, hiệu đính những tác phẩm phiên dịch trước đây.
Hòa thượng viên tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Ất Dậu (22/7/2005), hưởng thọ 78 tuổi và 50 hạ lạp.
Suốt cuộc đời, Hòa thượng tận tụy với sự nghiệp giáo dục nên phiên dịch trước tác rất nhiều kinh sách. Cụ thể như:
– Về Kinh có: Thập thiện nghiệp đạo, Bát đại nhân giác, Tứ thập nhị chương, kinh Di giáo, kinh Viên giác. Năm bộ kinh này được tổng hợp thành một tập gọi là Phật tổ ngũ kinh.
– Về Luật có: luật Trường Hàng gồm Tỳ–ni, Sa–di. Oai nghi, Cảnh sách và diễn ra văn vần dễ đọc dễ hiểu.
– Về Luận có: Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu, Hiển mật viên thông tâm yếu thành Phật, Tam thập tụng luận.
– Về Hán văn có: Giáo trình Hán văn văn phạm cương yếu, Tân học quốc văn v.v...
– Về Nghi lễ: Ngài để tâm sưu tập, biên soạn tập Nghi lễ rất công phu và đầy đủ.
9. Hòa thượng Đồng Phước–Thông Bửu–Viên Khánh
同 福 通 寳 圓 慶 (1936–2007): Chùa Quán Thế Âm
Hòa thượng thế danh Trần Thượng Hiền, sinh ngày 2 tháng 9 năm Bính Tý (1936) tại xã Xuân Quang 2, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Trần Quá pháp danh Thiện Hóa và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Ngã pháp danh Quảng Ngộ.

* Trang 454 *
device



Hòa thượng Thông Bửu

Năm Bính Thân (1956), Ngài xin song thân cho xuất gia tu hành. Được song thân đồng ý, Ngài đến chùa Long Hà, xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân theo hầu Hòa thượng Thích Như Tâm. Đến năm Đinh Dậu (1957), Ngài vào Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tìm cầu học hỏi Phật pháp, duyên lành gặp Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Tổ đình Thiên Bửu Thượng, Ngài khẩn cầu xin làm đệ tử và được Hòa thượng hoan hỉ tiếp nhận, ban cho pháp danh Đồng Phước, tự Thông Bửu, nối pháp đời 43 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp
phái Chúc Thánh. Sau đó Hòa thượng Thích Quảng Đức đã trở vào Nam hoằng hóa, thầy trò không gặp nhau nên Ngài cầu Hòa thượng Thích Viên Giác chùa Giác Hải, Vạn Giã làm Y chỉ sư nương tựa tu học và đã thọ giới Tỳ–kheo Bồ–tát giới vào năm 1960.
Năm Nhâm Dần (1962), được tin Hòa thượng Bổn sư đang phổ hóa Phật pháp tại Sài–gòn, Ngài xin Hòa thượng Y chỉ sư cho vào Nam gặp thầy tổ và được Hòa thượng giao trách nhiệm trú trì chùa Quán Thế Âm, Sài–gòn.
Năm 1963 Phật giáo lâm vào pháp nạn. Hòa thượng Bổn sư và Ngài dấn thân vào cuộc đấu tranh cho sự trường tồn của đạo pháp và dân tộc, mà đỉnh cao của cuộc đấu tranh là ngọn lửa tự thiêu của Bồ–tát Quảng Đức làm chấn động lòng người, kéo theo sự sụp đổ triều đại Ngô Đình Diệm sau đó.
Với tâm nguyện phát triển Tổ đình làm nơi tu học cho hàng xuất gia và tại gia, năm Ất Tỵ (1965) Ngài đã cung thỉnh Hòa thượng Thích Vạn Ân chùa Hương Tích, Phú Yên về Tổ đình chứng minh. Thời gian này Ngài cầu pháp với Hòa thượng, được

* Trang 455 *
device

ban pháp hiệu Viên Khánh và được trao truyền pháp hành trì Mật tông. Do nhu cầu Phật sự, Ban đại diện Phật giáo Tỉnh cung thỉnh Hòa thượng Thích Vạn Ân về lại Phú Yên làm Chứng minh đạo sư Giáo hội, nên Ngài cung thỉnh Hòa thượng Thích Huyền Cơ về Chứng minh Tổ đình, tiếp Tăng độ chúng.
Năm Ất Tỵ (1965), Ngài mở mang Tổ đình thành tu viện và từ đó cho đến nay Ngài đã nhận 31 đệ tử xuất gia và cầu pháp. Đặc biệt năm Đinh Mùi (1967), Ngài mở trường hạ, tổ chức giới đàn Sa–di tại Tổ đình, Ngài làm Hóa chủ kiêm Đàn chủ. Từ năm 1968 đến 1974 liên tục mở các khóa An cư Kết hạ, mời giảng sư giảng dạy kinh luật luận cho chư Tăng.
Song song với việc tiếp Tăng độ chúng, Ngài còn chú trọng đến công tác giáo dục và đào tạo Tăng tài, nên đã tham gia giảng dạy tại trường Cao Trung Phật học Đại Tòng Lâm, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu.
Để phổ hóa sâu rộng giáo lý Đạo Phật vào quần chúng, những năm 1964–1985 Ngài đã tổ chức đạo tràng Diệu Pháp Liên Hoa tại Tổ đình Quán Thế Âm, giảng dạy cho Phật tử, tín đồ nắm rõ phương pháp tu hành. Năm Tân Mùi (1991), Ngài thành lập 6 Liên chúng đưa đạo tràng vào sự tu học có tổ chức, cung thỉnh 14 vị Hòa thượng, Thượng tọa thành lập Ban giáo thọ giảng dạy giáo lý cho Phật tử. Ngài cũng rất quan tâm đến thế hệ trẻ, nên năm 1965 thành lập Gia đình Phật tử Chánh Đức, hướng dẫn các em học tập giáo lý nhà Phật. 
 Chẳng những quan tâm truyền bá giáo lý Phật giáo cho giới Tăng ni, Phật tử, mà Ngài còn cố gắng đưa tinh thần đạo Phật rộng khắp qua mảng văn hóa để làm lợi lạc quần sanh như:
– Năm Ất Tỵ (1965), Ngài sáng lập và làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Tập san “Sử liệu thức”.
– Năm Bính Ngọ (1966), Ngài thành lập Ấn quán Phổ Đà Sơn và làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí An Lạc, Tuần báo An Lạc.
Dù bận nhiều Phật sự, nhưng Ngài cũng dành nhiều thời gian biên soạn và sáng tác những tác phẩm như sau:

* Trang 456 *
device

– Đại thừa Diệu pháp liên hoa giảng luận (2 tập)
– Phổ Môn giảng luận
– Phật pháp căn bản
– 25 bài giảng Phật pháp
– Quản trị học Phật giáo
– 36 pháp điều thân
– Giảng sư bảy đức tính ưu việt
– Truyện ngắn triết lý Phật giáo bằng tranh
– Thi phẩm Từng giọt ma ni
Là trưởng tử của Bồ–tát Quảng Đức, được kế thế trú trì Tổ đình Quán Thế Âm, Ngài có trách nhiệm trùng tu, mở rộng ngôi Tổ đình thành nơi trang nghiêm thờ phụng Tam bảo và xây dựng cơ sở nhà Tăng, phòng ốc để chư Tăng có nơi tu học. Quá trình trùng tu đã thực hiện qua các giai đoạn: Năm Giáp Thìn (1964): xây dựng dãy nhà Tăng; năm Bính Ngọ (1966): làm lễ đặt đá trùng tu Tổ đình; năm Kỷ Dậu (1969): khởi công xây cất ngôi chánh điện; năm Tân Hợi (1971): xây dựng dãy nhà lưu niệm Bồ–tát Quảng Đức và phòng khánh tiết; năm Quý Hợi (1983): tạo tượng Bồ–tát Quán Thế Âm Thập Nhất Diện; năm Nhâm Thân (1992): xây bảo tháp Lửa Từ Bi và đúc đồng tượng Bồ–tát Quảng Đức; năm Giáp Tuất (1994): xây bảo tháp chánh điện; năm Canh Thìn (2000): đúc đồng tượng Đức Phật Thích–ca.
Năm Bính Dần (1986), Ngài khai sơn ngôi chùa Quảng Đức tại Mađagui, huyện Đạ Oai, tỉnh Lâm Đồng; năm Mậu Dần (1998), Ngài xây dựng nhà từ đường Bồ–tát Quảng Đức tại xã Tu Bông, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa; năm Canh Thìn (2000) trùng tu chùa Thiên Phước huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (ngôi chùa thứ 30 của Bồ–tát Quảng Đức khai sơn); năm Nhâm Ngọ (2002), Ngài chủ trương tái thiết chùa Phước Huệ Hàm Long tại xã Xuân Quang 2, Huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
Mặc dù Phật sự bề bộn, Ngài vẫn dành thời gian tham gia công tác Giáo hội và đã giữ các chức vụ:
– Từ năm 1966 đến 1975, Ngài làm Chánh thư ký Ban đại diện GHPGVNTN tỉnh Gia Định.

* Trang 457 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh