LOGO VNBET
Trải qua 10 đời trú trì, chùa Thiên Tôn đã được kiến tạo và trùng tu nhiều lần. Thời ngài Chương Phụng–Phước Lịch có chú tạo một quả Đại hồng chung hiện vẫn còn lưu giữ tại chùa. Vào các năm 1934, 1955, 1997 chùa được trùng tu mang tính cách quy mô. Đặc biệt vào năm Quý Dậu (1933), Hòa thượng Ngộ Định–Từ Phong đã khai Đại giới đàn tại đây để truyền trao giới pháp cho chư Tăng tu học. Tổ đình Sắc tứ Thiên Tôn cũng là nơi phát tích của thiền sư Chơn Phổ–Nhẫn Tế, tức Hòa thượng Minh Tịnh, người có công rất lớn trong việc hoằng dương Mật giáo tại tỉnh Bình Dương.
Hiện tại trú trì chùa Thiên Tôn là Đại đức Thích Chúc Minh. Năm 2004, Thượng tọa Như Trực–Thiện Chánh viên tịch, do không có đệ tử kế thừa nên Giáo hội cử Đại đức Thích Chúc Minh về trú trì đảm đang Phật sự. Đại đức Thích Chúc Minh là đệ tử của Thượng tọa Thích Đồng Điển tại chùa Đông Hưng, quận 2, Sài–gòn, truyền thừa đời 44 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Đại đức đang lần lượt chỉnh trang và kiến tạo lại chùa Thiên Tôn khang trang đẹp đẽ cho xứng tầm một ngôi cổ tự Sắc tứ mang đậm nét truyền thừa của tông môn Chúc Thánh.
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc
全 性 正 得 (1789–1869): Chùa Hội Khánh
Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc sinh năm Kỷ Dậu (1789) tại miền Trung. Tương truyền Ngài họ Phan, cùng với 4 anh em theo đoàn người Nam tiến vào lập nghiệp tại miền Nam. Ngài xuất gia với tổ Pháp Nhân–Thiên Trường tại chùa Tập Phước, Gia Định nên có pháp danh Toàn Tánh, hiệu Chánh Đắc, nối pháp đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Kỷ Hợi (1839), Hòa thượng Chân Kính–Minh Huệ trú trì chùa Hội Khánh viên tịch, vì không có đệ tử kế thừa nên bổn đạo đã cung thỉnh Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc về trú trì chùa Hội Khánh, năm đó Ngài vừa tròn 51 tuổi.
Năm Tân Dậu (1861), giặc Pháp đánh chiếm Nam bộ, chùa Hội Khánh bị thiêu thủy hoàn toàn. Đến năm Mậu Thìn (1868), Hòa thượng Toàn Tánh trùng tu lại chùa nhưng không dựng trên nền chùa cũ mà dời xuống như địa điểm hiện nay.

* Trang 474 *
device

Vào giờ Ngọ ngày 30 tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1869), Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc viên tịch, thọ 81 tuổi với 30 năm trú trì Hội Khánh. Bảo tháp của Ngài được môn đồ kiến lập bên trái chùa.
Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc là một trong những vị Cao tăng của Phật giáo Bình Dương trong thế kỷ XIX. Ngài đã đặt nền tảng cho sự phát triển của môn phái Chúc Thánh tại Bình Dương và các tỉnh miền Tây Nam bộ. Đệ tử nối pháp Ngài có các vị nổi tiếng như: Chương Đắc–Trí Tập, trú trì chùa Hội Khánh; Chương Nhân–Thiện Đức, trú trì chùa Hội Sơn; Chương Lành–Nguyên Từ, trùng kiến chùa Bửu Nghiêm; Chương Tâm–Phước Thường, trú trì chùa Tập Phước v.v...
 
Bảo tháp Tổ Chánh Đắc

* Trang 475 *
device

2. Hòa thượng Chương Đắc–Trí Tập
彰 得 智 集 (1817–1884): Chùa Hội Khánh
 


Hòa thượng Trí Tập

Hòa thượng Chương Đắc–Trí Tập thế danh Nguyễn Trí Tập, sinh năm Đinh Sửu (1817) tại tỉnh Bình Dương. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Toàn Tánh–Chánh Đắc nên có pháp danh Chương Đắc, hiệu Trí Tập, nối pháp đời 38 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh.
       Năm Kỷ Tỵ (1869), Hòa thượng Toàn Tánh–Chánh Đắc viên tịch, Ngài kế thừa Bổn sư trú trì Tổ đình Hội Khánh. Trong thời gian trú trì, Ngài từng bước kiến thiết chùa Hội Khánh thành một Tổ đình trang nghiêm. Năm Quý Mùi (1883), Ngài vận
động bổn đạo đúc quả Đại hồng chung tôn trí trong chùa. Sau khi Phật sự viên thành, vào tháng 11 Ngài xả bỏ báo thân, hưởng thọ 67 tuổi.
3. Hòa thượng Ấn Long–Thiện Quới
印 隆 善 貴 (1837–1906): Chùa Hội Khánh
Hòa thượng thế danh Nguyễn Thiện Quới, sinh năm Đinh Dậu (1837) tại Bình Dương. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Chương Đắc–Trí Tập nên có pháp danh Ấn Long, hiệu Thiện Quới, nối pháp đời 39 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
     Năm Giáp Thân (1884), Ngài kế thừa trú trì chùa Hội Khánh. Là một bậc thiền sư đa văn quảng bác nên Ngài rất được chư sơn thiền đức khắp nơi kính ngưỡng. Năm Ất Dậu (1885), Ngài đứng ra khắc bản kinh Tam Bảo để ấn tống cho các chùa trì tụng. Bộ

* Trang 476 *
device

kinh này được Ngài tái trùng khắc vào năm Nhâm Dần (1902). Đây là bộ kinh ra đời sớm nhất, minh chứng cho sự hưng thịnh của Phật giáo Bình Dương thời bấy giờ.
 


Hòa thượng Thiện Quới

Năm Tân Mão (1891), Ngài đứng ra trùng tu lại Tổ đình Hội Khánh đang bị hư hoại. Đến năm Bính Ngọ (1906), Hòa thượng khởi công tôn tạo chánh điện rất quy mô trang nghiêm tráng lệ. Lần trùng tu này, Ngài làm các bao lam hoa văn, các bộ tượng Thập Bát La–hán, Thập Điện Diêm Vương v.v...
Sau khi công hạnh viên mãn, Ngài viên tịch vào ngày 25 tháng 10 năm Bính Ngọ (1906), hưởng thọ 70 tuổi. Đệ tử Chơn Thanh–Từ Văn và hàng môn đồ lập tháp phụng thờ bên phải khuôn viên Tổ đình.
4. Hòa thượng Chơn Thanh–Từ Văn
眞 聲 慈 聞 (1877–1931): Chùa Hội Khánh
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Tầm, sinh năm Đinh Sửu (1877) tại làng Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương.
Năm lên 10 tuổi, Ngài xuất gia tu học với Hòa thượng Ấn Long–Thiện Quới tại chùa Hội Khánh, Thủ Dầu Một, được Bổn sư ban pháp danh Chơn Thanh, hiệu Từ Văn, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 của pháp phái Chúc Thánh.
Sau 5 năm học đạo, Ngài được Bổn sư gởi đến tu học với tổ Huệ Lưu tại chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức. Sau đó Ngài tham dự nhiều khóa Hạ tại chùa Sùng Đức, Chợ Lớn, Gia Định và theo học đạo với nhiều vị Cao tăng nổi tiếng khác.

* Trang 477 *
device



Hòa thượng Từ Văn

Năm Bính Ngọ (1906), Hòa thượng Ấn Long viên tịch, Ngài được cung cử kế nghiệp Bổn sư trú trì Tổ đình Hội Khánh. Năm Quý Sửu (1913), Ngài lại được quý Hòa thượng ở miền Tây Nam bộ cung thỉnh làm Pháp sư tại trường Hương chùa Tam Bảo, Rạch Giá. Năm Nhâm Tuất (1922), Ngài làm Chánh chủ khảo kỳ thi tại trường Hương chùa Giác Lâm, Gia Định và năm Giáp Tý (1924) là Pháp sư Chúc thọ giới đàn chùa Giác Viên, Gia Định.
 

                                                       Điệp thế độ của Hòa thượng Từ Văn
Năm Canh Thân (1920), chính quyền Pháp mời Ngài sang chủ trì lễ kỳ siêu chiến sĩ trận vong tại thành phố Marseille, miền Nam nước Pháp. Từ đây, ở cương vị Tăng thống, Ngài đóng một

* Trang 478 *
device

vai trò chủ đạo trong giới Phật giáo nước nhà, các nhà chức trách cũng như Tăng tín đồ đều gọi Ngài là Hòa thượng Cả.
Trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài đứng ra mở các lớp đầu tiên dạy giáo lý, quy tụ tất cả các Tăng sĩ Thủ Dầu Một lúc bấy giờ đến tham dự khóa học. Năm Quý Hợi (1923), Ngài cùng với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụ Tú cúc Phan Đình Viện thành lập Hội Danh dự yêu nước tại chùa Hội Khánh với mục đích giáo dục đồng bào sống đúng với đạo lý con người, truyền bá tư tưởng yêu nước chống ngoại xâm trong đồng bào cũng như Tăng sĩ Phật giáo ở Thủ Dầu Một.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài đứng ra tổ chức khắc bản in kinh để ấn tống cho khắp cả vùng miền Đông và Tây Nam bộ. Ngài đã xả bỏ xác thân giả huyễn, an nhiên thị tịch vào ngày 26 tháng 11 năm Tân Mùi (1931).


                     Hòa thượng Minh Tịnh

5. Hòa thượng Chơn Phổ–Minh Tịnh
眞 普 明 凈 (1889–1951): Chùa Thiên Chơn
Hòa thượng thế danh Nguyễn Tấn Tạo, sinh ngày Rằm tháng 7 năm Kỷ Sửu (1889) tại làng An Thạnh (thường gọi là làng Búng) Lái Thiêu, Bình Dương. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Lập và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ri.
Năm Giáp Thìn (1904), Ngài phát tâm xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành–Từ Thiện tại Tổ đình Sắc tứ Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ, hiệu Nhẫn Tế, nối
 

* Trang 479 *
device

pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Bính Dần (1926), chùa Long Hòa núi Thiên Thai, Bà Rịa mở giới đàn, do Hòa thượng Huệ Đăng làm Đàn đầu truyền giới, Ngài đến cầu xin thọ Cụ túc giới. Cảm phục đức độ của Hòa thượng Đàn đầu, Ngài y chỉ cầu pháp và được tổ Huệ Đăng cho pháp hiệu Minh Tịnh. Từ đó Ngài dùng đạo hiệu này để lưu thông.
Đến tháng 8 năm Quý Dậu (1933), chùa Thiên Tôn mở Đại giới đàn, do Hòa thượng Ngộ Định–Từ Phong làm Đàn đầu truyền giới, Ngài được thọ Cụ túc giới lại với sơn môn.
Trải qua thời gian tu hành, Ngài cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn chí nguyện, muốn tìm về cội nguồn Phật Tổ để tham cứu giáo lý. Vì thế, Ngài rời chùa Thiên Tôn, cất một cái am đặt hiệu Thiên Chơn để tu hành, học thêm Anh ngữ để chuẩn bị xuất dương.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài sang Ấn Độ tham cứu giáo lý. Đến năm 1936 Ngài sang Tây Tạng tham học về Kim Cang thừa Mật giáo với Lama Quốc vương. Sau một trăm ngày tu học ở Tây Tạng, Ngài được Lama Quốc vương ấn chứng sở đắc thiền quán, truyền tâm pháp Kim Cang thừa và ban cho pháp danh là Thubten Osall Lama.
Năm Đinh Sửu (1937), Ngài về lại Bình Dương chứng minh trú trì chùa Bửu Hương, vốn thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương và đổi tên chùa thành Tây Tạng tự.
Năm Mậu Dần (1938), Ngài khởi công xây dựng lại ngôi chùa Thiên Chơn ở làng An Thạnh, ngay trên nền cũ của am nơi Ngài ở tu trước khi đi Ấn Độ đến năm 1940 thì hoàn thành.
Năm Ất Dậu (1945), hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Ngài tham gia Hội Phật giáo Cứu quốc Thủ Dầu Một và được đề cử làm Chủ tịch. Tháng 6 năm Bính Tuất (1946), Ngài là thành viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Thủ Dầu Một tại khu Thuận An Hòa. Ngài đã đóng góp nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Dù ước muốn xây dựng lại chùa Tây Tạng, nhưng với tấm lòng yêu nước và ủng hộ kháng chiến, Ngài đã nói: “Khi còn chiến tranh thì một viên ngói, một viên gạch cũng không được sử dụng xây chùa”...

* Trang 480 *
device

Trong cuộc đời tu học và hoằng đạo, Ngài hóa độ rất nhiều đồ chúng xuất gia và tại gia, đệ tử truyền thừa của Ngài là Hòa thượng Như Trạm–Tịch Chiếu. Ngài có hai tác phẩm lưu lại hậu thế:
– Lăng Nghiêm tông thông (1997)
– Nhật ký tham bái Ấn Độ, Tây Tạng (1999)
Ngày 17 tháng 5 năm Tân Mão (1951), Ngài thâu thần viên tịch tại chùa Tây Tạng, trụ thế 63 năm, giới lạp 25 mùa Hạ. Môn đồ nhập Bảo tháp nhục thân của Ngài tại chùa Thiên Chơn và lập Bảo tháp thờ vọng tại khuôn viên chùa Tây Tạng
6. Hòa thượng Như Cự–Viên Chiếu
如 炬 圓 照 (1892–1943): Chùa Thiên Chơn
 


Hòa thượng Viên Chiếu

Hòa thượng thế danh Lê Văn Cự, sinh năm Nhâm Thìn (1892) tại thôn Thanh Phước, tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên–Huế. Thiếu thời, Ngài làm nghề thợ may trong cung vua triều Nguyễn. Đến năm Nhâm Thân (1932), Ngài muốn xuất gia nhưng ngặt nỗi mẹ già bị bệnh nên Ngài phải ở nhà phụng dưỡng.
Năm Ất Hợi (1935), thân mẫu mãn phần, Ngài quyết chí xuất gia học đạo. Ngài cùng với sư đệ Thường Chiếu lặn lội từ Huế vào Nam có khi sang đến tận Cao Miên để tầm sư học đạo.
Năm Tân Tỵ (1941), Ngài được Hòa thượng Chơn Phổ–Nhẫn Tế tại chùa Thiên Chơn thế phát và ban cho pháp danh Như Cự, hiệu Viên Chiếu, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Từ đó Ngài tinh chuyên thiền định không hề xao lãng.
Trong thời gian Ngài ở Thiên Chơn, Hòa thượng Quảng Đức

* Trang 481 *
device

thường lui tới đàm đạo Phật lý với Hòa thượng Chơn Phổ–Nhẫn Tế. Trong mối đạo tình đó, Ngài đã xin Bổn sư cho theo ngài Quảng Đức ra Khánh Hòa tu học. Tại đây, dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Quảng Đức, Ngài nỗ lực hành trì nên tiến bộ vượt bậc.
Đến năm Quý Mùi (1943), Ngài viên tịch trong tư thế thiền định. Bổn đạo đã theo thế ngồi của Ngài mà chất đá lập tháp phụng thờ.
Tuy xuất gia muộn nhưng tinh thần tu học của Ngài khó ai sánh kịp. Việc Ngài viên tịch trong tư thế kết–già là một thời pháp sống động cho mọi người phát khởi thiện tâm, quy kính Tam bảo.
7. Hòa thượng Thị Huê–Thiện Hương
是 花 善 香 (1903–1971): Chùa Hội Khánh
 


Hòa thượng Thiện Hương

Hòa thượng thế danh Lê Văn Bạch sinh ngày 14 tháng 5 năm Quý Mão (1903), tại làng Tương An, tổng Bình Thổ, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là xã Tân An, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một). Thân phụ là cụ ông Lê Văn Đông và thân mẫu là cụ bà Đào Thị Siêng.
Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống kính tin Tam bảo theo Phật giáo Cổ truyền. Năm Mậu Thân (1908), lúc lên 5 tuổi, Ngài được cha mẹ đưa đến chùa Phước Hưng, xã Tân An xin quy y với Hòa thượng Chơn
Vị–Minh Vạn, được ban pháp danh là Như Huệ. Năm Ất Mão (1915), khi lên 13 tuổi, đúng vào ngày Rằm tháng 8, Ngài được cha mẹ cho vào chùa Long Minh xin thế phát xuất gia với Hòa thượng Quảng Long.

* Trang 482 *
device

Năm Mậu Ngọ (1918), Ngài được Bổn sư trao pháp thế độ là Nhuận Huê, tự Thiện Hương, được cho đi dự khóa luật và thọ giới Sa–di tại giới đàn trường Kỳ chùa Long Phước, Tân An. Năm sau, Kỷ Mùi (1919), Ngài được theo học khóa giáo lý tại Tổ đình Hội Khánh, Thủ Dầu Một do Pháp sư Từ Văn khai mở và Ngài nhập chúng ở luôn lại đây tu học.
Năm Nhâm Tuất (1922), Ngài được Hòa thượng Từ Văn cho đi thọ Cụ túc tại giới đàn chùa Giác Lâm, Chợ Lớn do Hòa thượng Như Phòng– Hoằng Nghĩa làm Đàn đầu truyền giới. Từ đó, Ngài chuyên tâm tinh tấn tu học ở Tổ đình Hội Khánh. Đến năm Canh Ngọ (1930), Ngài cầu pháp với Hòa thượng Từ Văn được ban pháp hiệu Chơn Duyên, tự Từ Giác, đồng thời được Hòa thượng và Tăng chúng cử làm Thủ tọa.
Năm Tân Mùi (1931), Hòa thượng Từ Văn viên tịch, chư sơn thiền đức lập Ban trú trì chùa Hội Khánh, gồm Hòa thượng Từ Tâm là Chánh trưởng tử, Sư cụ Giáo thọ Thiện Quý làm trú trì, Thủ tọa Thiện Hương làm Phó nhất trưởng tử. Nhằm để theo thứ tự truyền thừa, Hòa thượng Từ Tâm đặt chữ thế độ cho Ngài là Thị Huê, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
 Năm Quý Dậu (1933), Ngài được suy cử lên ngôi vị Yết–ma A–xà–lê trong Đại giới đàn chúc thọ chùa Sắc tứ Thiên Tôn. Năm Giáp Tuất (1934), Ngài liên tiếp được cung thỉnh vào các chức sự: Phó Pháp sư trường Gia giáo chùa Tân Long (Gia Định); Chánh chủ Kỳ chùa Long Quang (Lái Thiêu); Thư ký trường Kỳ chùa Long Khánh (Thủ Dầu Một); Chủ Kỳ chùa Long Sơn (Thủ Dầu Một). Sang năm Bính Tý (1936), Ngài đứng ra trùng tu lại cổng Tam quan chùa Hội Khánh.
Năm Tân Tỵ (1941), Ngài được Chư sơn thiền đức giáo phẩm trong tỉnh Thủ Dầu Một công cử làm trú trì chùa Hội Khánh. Từ đó Ngài mở lớp gia giáo dạy cho chư Tăng trong tỉnh.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài tham gia Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một, Hòa thượng Minh Tịnh được bầu làm Chủ tịch, Ngài làm Phó chủ tịch Hội.
Năm Quý Tỵ (1953), Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh Bình Dương

* Trang 483 *
device

được thành lập, Ngài được Trung ương Giáo hội và toàn thể Tăng tín đồ Bình Dương suy cử lên ngôi vị Hòa thượng, đảm nhận chức vị Tăng trưởng Phật giáo tỉnh Bình Dương.
Đến năm Canh Tý (1960), Ngài được Hội đồng Trưởng lão Giáo hội suy cử Đệ nhất Phó tăng giám Trung ương Giáo hội Lục Hòa Tăng.
Hòa thượng viên tịch ngày 10 tháng 5 nhuần năm Tân Hợi (2/7/1971), thọ thế 68 tuổi, giới lạp 48 năm.
8. Hòa thượng Như Thượng–Thường Chiếu
如 尚 常 照 (1914–1998) ): Chùa Lâm Huê
 


Hòa thượng Thường Chiếu

Hòa thượng thế danh Lê Thượng, sinh năm Giáp Dần (1914), quê quán tại làng Ưu Điềm, tỉnh Thừa Thiên–Huế.
Vốn có nhân duyên với cửa Phật, vào năm Tân Tỵ (1941), Ngài cùng với các ngài Tịch Chiếu, Viên Chiếu nghe danh Hòa thượng Chơn Phổ–Nhẫn Tế–Minh Tịnh đắc pháp từ Tây Tạng về Bình Dương hoằng pháp nên lặn lội từ miền Trung vào chùa Tây Tạng, Bình Dương xin được xuất gia. Điều này cũng ứng với sự thọ ký của các vị Lạt–ma nên Hòa thượng Chơn Phổ hoan hỷ nhận làm đệ tử.
Hòa thượng được Bổn sư ban cho pháp danh Như Thượng, đạo hiệu Thường Chiếu, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Lúc bấy giờ Hòa thượng vừa tròn 28 tuổi. Trong 3 vị xuất gia cùng một lúc, Ngài xếp hàng thứ 3 sau Hòa thượng Tịch Chiếu và Hòa thượng Viên Chiếu.

* Trang 484 *
device

Năm Nhâm Ngọ (1942), Hòa thượng được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới. Sau đó, Ngài cùng với sư huynh Tịch Chiếu được Bổn sư giao cho trông coi ngôi chùa Lâm Huê tại Gia Định (nay thuộc quận Bình Thạnh) vào năm Quý Mùi (1943). Được một năm thì ngài Tịch Chiếu về lại chùa Tây Tạng, chỉ còn Hòa thượng một mình duy trì ngôi Tam bảo cho đến hết đời.
            Chùa Lâm Huê vốn được tín nữ Hứa Phước Mỹ, một trong những người khá giả nhất vùng Gia Định phát tâm xây dựng vào những năm 1936–1938. Sau đó, vị thí chủ này nghe tin ngài Chơn Phổ–Minh Tịnh là một vị Cao tăng tu học từ Tây Tạng trở về nên phát tâm cúng dường để xiển dương chánh pháp. Vì thế, ngài Minh Tịnh nhận và cử các đệ tử về trông coi Phật sự tại đây.
Năm Ất Dậu (1945), cách mạng tháng 8 thành công, nhưng hòa bình không được bao lâu thì giặc Pháp trở lại xâm lược. Cả nước theo lời hiệu triệu của Hồ Chủ Tịch tham gia kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi ấy, Hòa thượng Minh Tịnh đã kêu gọi hàng đệ tử mình tích cực tham gia vào phong trào Cứu quốc. Lúc bấy giờ, Ngài có hỏi Hòa thượng Minh Tịnh rằng:
– Bạch Thầy! Vào trong cảnh chiến tranh khói lửa, trông thấy cảnh chém giết lẫn nhau thì làm sao con tu được?
Hòa thượng Minh tịnh trả lời:
– Chúng ta sinh ra trong thời tao loạn thì phải có trách nhiệm với quốc gia. Vì thế, chúng ta cần tu tập với tinh thần “Động vi binh, tịnh vi Tăng”, đâu đâu cũng là đạo tràng cả.
Do vậy, Ngài nhiệt tâm tham gia công tác. Tuy nhiên, đến năm Mậu Tý (1948), Ngài trở về lại chùa Lâm Huê bởi lý do sức khỏe kém.
Năm Mậu Thân (1968), trong đợt tổng tấn công tết Mậu Thân, chùa Lâm Huê bị thiêu rụi hoàn toàn. Hòa thượng kết lại một thảo am nhỏ bằng tranh để tu tập, mãi đến năm 1983 mới sửa sang tạm bợ lại bằng tường vôi.
Cuộc đời của Ngài sống rất giản dị từ khi xuất gia cho đến ngày viên tịch, áo quần hai bộ đủ thay, cơm ngày một bữa, bỏ ngoài tai mọi danh lợi huyễn hoặc. Ngài chủ yếu lấy bài kinh Bát–nhã và kinh Kim Cang dùng để hành trì và giáo hóa đồ

* Trang 485 *
device

chúng. Sự thực hành thiền định của Ngài rất thâm sâu nên chư Tăng các nơi thường đến tham vấn.
Thường thường Ngài đeo tấm biển “Tôi bị câm” trước ngực để khỏi tiếp xúc với những người không có tâm đạo chỉ đến nói chuyện thế sự. Ngài thực sự nói chuyện khi có ai đến tham vấn đạo. Trong những câu chuyện đạo, quan điểm của Ngài không khen, không chê, không có bác bỏ một pháp môn nào cả, vì Ngài cho rằng tất cả đều là Phật pháp.
Một lần, có một vị Tăng đến hỏi:
– Bạch Hòa thượng! Con đang tham cứu theo pháp thiền “Tri vọng”, Hòa thượng thấy như thế nào?
Ngài mặc nhiên không trả lời. Vị ấy hỏi lại nhiều lần thì Ngài chỉ mỉm cười nói nhẹ:
– Đã biết nó vọng thì còn tri làm chi!
Theo thời gian, chiếc thân tứ đại cũng đến ngày trả về cho tứ đại. Sau tết năm Mậu Dần (1998), Hòa thượng thấy trong người không được khỏe. Ngài đã nhẹ nhàng quy Tây vào ngày 28 tháng Giêng năm Mậu Dần (1998), thế thọ 85 tuổi, với 55 hạ lạp.
Cuộc đời của một bậc ẩn sĩ tu hành quả thật khác lạ. Ngài thân tuy ở nơi chốn phồn hoa đô hội náo nhiệt ồn ào nhưng tâm không hề lay động bởi bả lợi danh phù phiếm. Ngài đến và đi trong sự im lặng nhẹ nhàng, nhưng đã để lại tấm gương tu đạo sáng ngời cho hàng hậu học chúng ta noi theo.
9. Hòa thượng Như Trạm–Tịch Chiếu
如 湛 寂 照: Chùa Tây Tạng
Hòa thượng thế danh Trần Đình Thấu, sinh năm Nhâm Tý (1912) tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên–Huế. Trước khi xuất gia, Ngài có một thời gian dài làm đạt điền tại phố cổ Hội An.
Năm Tân Tỵ (1941), Ngài vào Nam xuất gia với tổ Chơn Phổ–Minh Tịnh tại chùa Thiên Chơn, Thủ Dầu Một, Bình Dương. Năm sau, Nhâm Ngọ (1942), Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới và ban cho pháp danh Như Trạm, hiệu Tịch Chiếu, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.

* Trang 486 *
device



Hòa thượng Tịch Chiếu

Năm Quý Mùi (1943), Ngài được Bổn sư cử về trông coi chùa Huê Lâm cùng với ngài Thường Chiếu.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài về trú trì Tổ đình Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam. Đến năm Đinh Sửu (1947), chính quyền Pháp nghi ngờ Ngài hoạt động cho Việt Minh nên hạch sách khám xét. Vì thế, Ngài về ngụ tại chùa Viên Giác một thời gian. Đến năm Canh Dần (1950), Ngài vào lại Bình Dương và kế nghiệp trú trì chùa Tây Tạng sau khi Bổn sư viên tịch vào năm Tân Mão (1951).
Năm Quý Tỵ (1953), Ngài đảm nhận chức vụ Tổng thư ký Giáo hội Lục hòa Tăng. Năm Ất Tỵ (1965), Ngài được cử làm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình Dương. Năm Bính Thìn (1976), Hòa thượng là Phó ban liên lạc Phật giáo yêu nước tỉnh Bình Dương.
Hòa thượng là người kế thừa Tổ nghiệp của Tổ sư Chơn Phổ–Minh Tịnh nên Ngài là một trong những hành giả mật tông đương thời. Năm Nhâm Thân (1992), Hòa thượng đại trùng tu chùa Tây Tạng theo kiến trúc mật giáo Tây Tạng. Đây là một trong những ngôi chùa có kiến trúc đặc biệt theo truyền thống Kim Cương thừa.
Hiện tại, Hòa thượng đã 97 tuổi và giao quyền trú trì cho đệ tử là Thượng tọa Thích Chơn Hạnh. Ngài đương là Chứng minh đạo sư của Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương.

* Trang 487 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh