LOGO VNBET
với Hòa thượng Thích Trí Minh tại chùa Pháp Bảo, Hội An. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Thị Uẩn, tự Hạnh Đạo, hiệu Thuần Phong, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Ngài từng tham học tại các Phật học viện miền Nam, sau đó trú trì chùa Báo Ân, Đà Nẵng.
Hòa thượng sang định cư tại Mỹ và khai sơn chùa Phổ Đà tại thành phố Santa Anna tiểu bang Cali.
4. Hòa thượng Đồng Đạt–Thông Đạt–Thanh An
同 達 通 達 清 安: An Tường tự viện
Hòa thượng sinh quán tại thành phố Đà Nẵng. Ngài xuất gia với Hòa thượng Thị Năng–Trí Hữu tại chùa Linh Ứng, Ngũ Hành Sơn. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Đồng Đạt, tự Thông Đạt, hiệu Thanh An, nối pháp đời 43 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh.
Một thời gian dài, Ngài vào tham học với Hòa thượng Tịch Tràng tại chùa Linh Sơn, Vạn Ninh, Khánh Hòa.
Sau năm 1975, Hòa thượng sang định cư tại Mỹ, cùng với bào đệ là cố Thượng tọa Thích Thiện Tường khai sơn An Tường tự viện tại Mỹ. Hòa thượng phát nguyện chép bộ kinh Pháp Hoa bằng máu và hiện tại bộ kinh này được Hòa thượng Bảo Lạc lưu giữ tại chùa Pháp Bảo, Úc quốc.
III. TẠI CHÂU ÚC
Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam được thành lập tại Úc Châu, số lượng chư Tăng sang hoằng pháp tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan ngày một đông và nhiều ngôi chùa đã được thành lập. Cho đến nay, toàn bộ Châu Úc có 34 tự viện sinh hoạt theo truyền thống Phật giáo Việt Nam. Trong đó, những ngôi tự viện truyền thừa theo pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh có số lượng tương đối nhiều như: chùa Bảo Vương do Hòa thượng Thích Huyền Tôn khai sáng tại Victoria; chùa Pháp Hoa do Hòa thượng Thích Như Huệ khai sáng tại Adelaide; chùa Pháp Bảo và Tịnh thất Đa Bảo do Hòa thượng Thích Bảo Lạc khai sáng tại Sydney; chùa Phổ Quang do Thượng tọa Thích Phước Nhơn khai sáng; Tu viện Vạn Hạnh và Tu viện Nguyên Thiều do Thượng tọa Thích Quảng Ba khai sáng; chùa Thiên Ấn do Thượng tọa Thích Như

* Trang 538 *
device

Định khai sáng; chùa Minh Giác do cố Thượng tọa Thích An Thiên khai sáng v.v... Hiện tại, dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Châu Úc có 3 vị Hòa thượng là thạch trụ của tông môn và Giáo hội tại châu này, đó là Hòa thượng Thích Huyền Tôn; Hòa thượng Thích Như Huệ và Hòa thượng Thích Bảo Lạc.

                                                               Chùa Phổ Quang – Nam Úc


Hòa thượng Huyền Tôn

1. Hòa thượng Như Kế–Giải Tích–Huyền Tôn
如 继 解 積 玄 尊 chùa Bảo Vương
Hòa thượng Thích Huyền Tôn, pháp danh Như Kế, tự Giải Tích, sinh năm 1928 tại tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1934, Ngài xuất gia với tổ Chơn Trung–Diệu Quang tại chùa Viên Giác núi Thình Thình huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Ngài thọ Sa–di năm 1941 và thọ Tỳ–kheo năm 1947, được Bổn sư ban pháp hiệu Huyền Tôn, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái
 

* Trang 539 *
device

Chúc Thánh. Ngài tham học Phật pháp với Bổn sư tại quê nhà, tốt nghiệp cử nhân Hán học năm 1960 tại Sài–gòn. Ngài từng là giảng sư của các Phật học đường tại Quảng Ngãi và trường Bồ Đề, Sài–gòn. Từ năm 1967 đến 1972, Ngài giữ chức quyền Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Gia Định. Năm 1980 Hòa thượng sang Úc định cư tại Melbourn và khai sơn chùa Bảo Vương. Hòa thượng là một trong những sáng lập viên của GHPGVNTN Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan. Ngài phiên dịch trước tác rất nhiều kinh điển cũng như thơ văn, truyện ngắn rất có giá trị. Hiện nay, Hòa thượng là vị Chứng minh tối cao của GHPGVNTN Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan.
 
                                                              Chánh điện chùa Bảo Vương
Đứng về sự truyền thừa của tông môn thì Hòa thượng không có đệ tử xuất gia. Còn đệ tử tại gia Ngài lấy chữ BẢO là chữ đầu tiên của hiệu chùa Bảo Vương để đặt như: Bảo Minh Đức, Bảo Minh Đạo v.v...
2. Hòa thượng Như Huệ–Giải Trí–Trí Thông
如 慧 解 智 智 通 chùa Pháp Hoa
Pháp Hoa là ngôi chùa đầu tiên của người Việt tại Adelaide thuộc tiểu bang South Australia (Nam Úc), là một đạo tràng lớn

* Trang 540 *
device

không những chỉ dành cho người Việt, mà cho cả người ngoại quốc đến tu học và tìm hiểu về đạo Phật. Ngôi tự viện này còn là một trong những nét văn hoá lớn của người Việt Nam điểm tô thêm vào nền văn hoá đa quốc gia của Úc Đại Lợi.

                                                         Chùa Pháp Hoa – Nam Úc
Năm 1982, từ Nhật Bản, Hòa thượng Thích Như Huệ đến hoằng pháp và lãnh đạo tinh thần cho đồng bào Phật tử tại Nam Úc bởi sự giới thiệu của Thượng tọa Thích Như Điển và sự cung thỉnh của Hội Phật giáo Việt Nam tại Nam Úc lúc đó, do đạo hữu Thiện Liên Nguyễn Văn Tươi làm Hội trưởng. Ban đầu chùa cũng chỉ mua một ngôi nhà nhỏ để sinh hoạt tạm thời.
Để đáp ứng nhu cầu Phật sự ngày càng phát triển, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại Nam Úc đã mua một lô đất tại số 20 Butler Avenue khu Pennington, nằm cách trung tâm thành phố Adelaide (thủ phủ của Tiểu bang Nam Úc) 10 km về hướng Tây Bắc để tạo lập nên ngôi chùa Pháp Hoa hôm nay. Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng chùa vào ngày 19/3/1984 (tức ngày 17/2 năm Giáp Tý). Sau gần 5 năm xây dựng, chùa được khánh thành vào ngày 23/12/1989 (tức ngày 26/11 năm Kỷ Tỵ). Đến năm 2003, chùa bị kẻ gian đột nhập đập phá nên Hòa thượng một lần nữa trùng tu khang trang như hiện nay.

* Trang 541 *
device



Hòa thượng Như Huệ

Hòa thượng Thích Như Huệ thế danh Phạm Kim Lai, sinh năm 1934 tại phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ngài xuất gia khi tuổi hài đồng với Hòa thượng Chơn Chứng–Thiện Quả tại Tổ đình Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam. Năm 1957, Ngài thọ Cụ túc giới tại chùa Hải Đức, Nha Trang do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Đàn đầu và được Bổn sư ban cho pháp tự Giải Trí, hiệu Trí Thông, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài được Giáo hội Tăng Già Trung
phần bổ nhiệm làm giảng sư tỉnh Quảng Nam. Trong mùa pháp nạn 1963, Ngài là một trong những nhân tố tích cực của Ủy ban Tranh đấu tỉnh Quảng Nam. Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam thành lập, Ngài làm Phó ngoại vụ, sau đó làm Chánh đại diện trong nhiệm kỳ 1966–1968. Ngài từng là Đốc giáo của trường Bồ Đề Hội An, trú trì chùa Tỉnh hội Quảng Nam. Năm 1980, Hòa thượng rời nước ra đi và đến định cư tại Úc năm 1982. Với uy tín và kinh nghiệm nhiều năm hành đạo, Hòa thượng được thỉnh làm Hội chủ GHPGVNTN Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan. Ngài nhiều lần được cung thỉnh làm Đàn đầu, Yết–ma, Giáo thọ trong các đàn giới tại hải ngoại. Hiện tại, Hòa thượng là Phương trượng chùa Pháp Hoa, việc điều hành Phật sự Ngài đã cử Đại đức Thích Viên Trí kế vị trú trì. Hiện tại, Hòa thượng là Trưởng môn phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Hải ngoại.
Về sự truyền thừa của môn phong, lúc còn trong nước Hòa thượng cho đệ tử xuống chữ THỊ, khi ra hải ngoại thì Hòa thượng cho chữ THIỆN để tiện việc xưng hô. Tuy nhiên, với hàng đệ tử xuất gia thì Hòa thượng vẫn cho pháp tự chữ HẠNH và phú pháp chữ VIÊN.

* Trang 542 *
device

3. Hòa thượng Đồng An–Thanh Nghiệp–Bảo Lạc
同 安 清 業 寶 樂chùa Pháp Bảo
 


Hòa thượng Bảo Lạc

Hòa thượng Thích Bảo Lạc, pháp danh Đồng An, pháp hiệu Thanh Nghiệp, nối pháp đời 43 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Ngài là bào huynh của Hòa thượng Thích Như Điển – Phương trượng chùa Viên Giác, Đức quốc. Hòa thượng thế danh Lê Bảo Lạc sinh năm 1942 (Nhâm Ngọ) tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Năm 1958, Ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Trí Hữu tại chùa Non Nước, Ngũ Hành Sơn. Năm 1964, Hòa thượng thọ Tỳ–kheo giới tại Đại giới đàn Việt Nam Quốc Tự. Từ năm 1971 đến 1973, Ngài là giáo sư Việt văn và Pháp
ngữ. Năm 1974, Hòa thượng sang du học tại Nhật Bản, đồng thời làm Tổng thư ký Chi bộ GHPGVNTN kiêm Chủ nhiệm tờ báo Khuông Việt tại Nhật.
Năm 1980, Ngài tốt nghiệp cử nhân Tôn giáo Xã hội học tại Đại học Komozawa, Tokyo, Nhật Bản. Năm 1981, qua sự giới thiệu của Thượng tọa Thích Như Điển, Hòa thượng sang định cư tại Úc, tiểu bang NSW thành phố Sydney, lập chùa và Gia đình Phật tử lấy tên Pháp Bảo – đạo hiệu của Tổ khai tông dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.
Từ đó đến nay, Hòa thượng đem hết tâm nguyện phục vụ đạo pháp tại xứ Úc. Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng, Giáo thọ, Tuyên luật sư các Đại giới đàn được tổ chức khắp các châu lục tại hải ngoại. Với đạo hạnh cao thâm, Hòa thượng được Tăng ni và Phật tử thỉnh cử vào nhiều chức vụ quan trọng của Giáo hội Úc Châu. Đối với vấn đề giáo dục văn hóa được Ngài đặt lên hàng

* Trang 543 *
device

đầu. Trong 25 năm qua, Hòa thượng đã sáng tác, biên khảo, dịch thuật trên 40 tác phẩm rất có giá trị như: Bách Trượng Thanh Quy – một tác phẩm lớn của thiền sư Bách Trượng–Hoài Hải lần đầu tiên được dịch ra Việt văn.
 Hiện nay, Hòa thượng giao quyền trú trì chùa Pháp Bảo cho Đại đức Thích Phổ Huân, còn Ngài ở tại thất Đa Bảo mới lập năm 2000 để tu tập và dịch thuật. Về sự truyền thừa theo tông môn thì Hòa thượng vẫn cho đệ tử xuống chữ CHÚC theo như bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo, pháp tự chữ GIÁC, pháp hiệu chữ PHỔ.
Phần lớn, sự truyền thừa của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Châu Úc đều bắt nguồn từ chư tôn đức tại miền Trung, Việt Nam sang. Vì thế, các vị đều giữ nguyên truyền thống của tông môn. Tại Châu Úc có Thượng tọa Thích Quảng Ba là trường hợp đặc biệt. Thượng tọa thuở bé quy y với Hòa thượng Thích Giác Tánh với pháp danh Quảng Ba. Sau này xuất gia thế độ với Hòa thượng Thị Phong–Bửu Quang tại chùa Hưng Long, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, vì cảm nghĩa Hòa thượng Giác Tánh nên Hòa thượng Bửu Quang giữ nguyên pháp danh, chỉ cho pháp tự. Vì lẽ đó, tuy pháp danh theo bài kệ tổ Liễu Quán, nhưng thế độ theo dòng Chúc Thánh, nên trong mọi sinh hoạt của tông môn Chúc Thánh tại Châu Úc thì Thượng tọa tham gia đóng góp tích cực. Trường hợp này thường gặp trong sự truyền thừa của chư Tổ cũng như chư tôn đức trong hiện tại.

* Trang 544 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh