LOGO VNBET
IV. SỰ TRUYỀN THỪA CỦA CHƯ NI
Đầu những thập niên 30 – 40 của thế kỷ XX, Ni bộ Bắc tông Quảng Nam–Đà Nẵng được hình thành. Từ đó, Ni bộ dần dần phát triển dưới sự lãnh đạo của chư vị Ni trưởng: Thích Nữ Đàm Minh, trú trì chùa Bảo Quang, Đà Nẵng; Thích Nữ Từ Hạnh, trú trì chùa Châu Phong, Điện Bàn; Thích Nữ Diệu Lý, trú trì chùa Quang Minh, Đà Nẵng; Thích Nữ Như Hường, Thích Nữ Diệu Hạnh, trú trì chùa Bảo Thắng, Hội An. Đến năm 1974, Ni trưởng Thích Nữ Diệu Trí từ Huế vào đảm nhận trú trì chùa Diệu Quang, thị xã Tam Kỳ (tỉnh Quảng Tín cũ). Trong đó, 3 vị Ni trưởng Thích Nữ Đàm Minh, Thích Nữ Từ Hạnh, Thích Nữ Diệu Lý truyền theo pháp kệ tổ Liễu Quán; còn Ni trưởng Thích Nữ Như Hường, Thích Nữ Diệu Hạnh, Thích Nữ Diệu Trí truyền theo pháp kệ tổ Minh Hải–Pháp Bảo. Ni trưởng Thích Nữ Như Hường cho pháp danh xuống chữ Thị; Ni trưởng Thích Nữ Diệu Hạnh cho pháp danh xuống chữ Đồng và Ni trưởng Thích Nữ Diệu Trí cho pháp danh xuống chữ Chúc.
Tuy nhiên bên Ni bộ có điểm đặc biệt là phần lớn chư Ni khi còn tại gia đã thọ 5 giới với chư tôn đức Tăng, đến khi xuất gia quý Ni trưởng vẫn giữ nguyên pháp danh, chỉ đặt pháp tự. Nhị vị Ni trưởng tại Bảo Thắng cho pháp tự chữ Hạnh hoặc Tịnh; còn Ni trưởng Diệu Trí tại chùa Diệu Quang cho pháp tự chữ Nhật hoặc Pháp.
Tại thành phố Đà Nẵng, có các Ni sư đệ tử của Hòa thượng Thích Trí Hữu đang trú trì một số ngôi chùa như Ni sư Diệu Thanh, trú trì chùa Hòa Phước; Ni sư Diệu Nguyên, trú trì chùa Hương Sơn; Ni sư Thông Đạo, trú trì chùa Mỹ Khê v.v....
1. Ni trưởng Đồng An–Diệu Trí
同 安 妙 智 (1927–1992): Chùa Diệu Quang
Ni trưởng thế danh Võ Thị Lạc, pháp danh Đồng An, pháp tự Diệu Trí, sinh ngày 20 tháng 5 năm Đinh Mão (1927) tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là cụ ông Võ Khắc Sương và thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Tùng. Sớm có chí xuất gia, lại được hai đấng từ thân khích lệ nên Ni truởng đầu sư với Ni trưởng khai sơn Ni viện Diệu Đức.

* Trang 188 *
device




Ni trưởng Diệu Trí
Năm Kỷ Sửu (1949), Ni trưởng thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc, Huế do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu truyền giới. Ni trưởng đắc pháp với Hòa thượng Thị hạ Bình, hiệu Diệu Khai, trú trì chùa Viên Thông, cố đô Huế thuộc đời thứ 43 dòng thiền Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Từ đó, Ni trưởng ở tại Ni trường Diệu Đức vừa tu học tiến tu đạo nghiệp, vừa giảng dạy tiếp dẫn các thế hệ Ni chúng hậu lai.
Năm Giáp Dần (1974), cố Hòa thượng Thích Từ Ý – viện chủ chùa Hòa An,
Tam Kỳ khai sơn chùa Diệu Quang và đã mời Ni trưởng vào trú trì để dìu dắt hàng nữ lưu tại tỉnh Quảng Tín tu học. Từ đó, Ni trưởng hết lòng chăm sóc Phật sự cho đến ngày xả báo thân ngày 22 tháng Chạp năm Tân Mùi (1992), hưởng thọ 66 tuổi, hạ lạp 44 năm.
2. Ni trưởng Như Hường–Giải Liên–Thọ Minh
如 紅 解 蓮 壽 明 (1920–2000): ): Chùa Bảo Thắng
 



Ni trưởng Như Hường

Ni trưởng thế danh Lê Thị Trang, sinh ngày 24 tháng 3 năm Canh Thân (1920) tại thôn Xuân An, xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Lê Văn Trò và thân mẫu là cụ bà Trương Thị Bài. Ni trưởng quy y với Hòa thượng Khánh Tín ở chùa Thọ Sơn, Quảng Ngãi và được Bổn sư cho pháp danh là Như Hường. Như vậy, Ni trưởng thuộc đời 41 dòng thiền Lâm Tế và thế hệ thứ 8 của pháp phái Chúc Thánh.
 

* Trang 189 *
device

Năm Giáp Tuất (1934), Ni trưởng xuất gia với Hòa thượng Khánh Tín tại chùa Thọ Sơn. Hòa thượng Bổn sư nhận thấy Ni trưởng học hạnh khiêm ưu nên đã gởi Ni trưởng theo học tại ni trường Diệu Đức, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Năm Đinh Sửu (1937), Ni trưởng được Sư trưởng Ni viện Diệu Đức cho thọ giới Sa–di ni với pháp tự là Giải Liên.
Năm Canh Thìn (1940), Ni trưởng được Sư trưởng Diệu Đức đưa vào Nam theo học lớp Phật pháp tại chùa Kim Huê, Sa Đéc. Được một thời gian ngắn, Ni trưởng về lại tu học tại Diệu Đức và thọ Thức–xoa–ma–na giới.
Với chí nguyện tầm cầu học đạo, Ni trưởng đã nỗ lực tinh tấn không ngừng. Thấy sự tiến bộ vượt bậc ấy, vào năm Kỷ Sửu (1949) khi vừa tròn 30 tuổi, Ni trưởng được Hòa thượng Bổn sư cho thọ Tỳ–kheo ni và Bồ–tát giới tại giới đàn chùa Báo Quốc do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết – Pháp chủ Giáo hội TăngGià Việt Nam làm Đàn đầu. Đồng thời Ni trưởng được Bổn sư Khánh Tín phú pháp hiệu là Thọ Minh.
Năm Giáp Ngọ (1954), Ni trưởng được Ni bộ Thừa Thiên – Huế bổ nhiệm vào làm phó trú trì chùa Sư nữ Bảo Thắng, Hội An, cùng với Ni trưởng trú trì Thích Nữ Đàm Minh phát triển Ni bộ tại Quảng Nam.
Năm Nhâm Dần (1962), Ni trưởng Đàm Minh ra Đà Nẵng thành lập chùa Sư nữ Bảo Quang, Ni trưởng lại được GHTG Quảng Nam–Đà Nẵng bổ nhiệm làm trú trì chùa Bảo Thắng.
Trong pháp nạn 1963, Ni trưởng được Ủy ban tranh đấu tín nhiệm bầu làm Thủ quỹ. Và từ đó, Ni trưởng đảm nhận chức vụ Thủ quỹ cho Giáo hội trải qua nhiều nhiệm kỳ.
Năm Nhâm Dần (1962), Ni trưởng thành lập trường tiểu học Bồ Đề Diệu Nghiêm để các trẻ mồ côi có nơi theo học. Đến năm Bính Ngọ (1966), Ni trưởng lại thành lập Cô nhi viện Diệu Nhân để làm mái ấm che chở và sớm hôm gần gũi trang trải tình thương đến những tâm hồn nhỏ bé cô đơn này.
Năm Canh Tuất (1970), Ni trưởng trùng tu chánh điện chùa Bảo Thắng với kiến trúc 1 tầng trệt để làm nhà giảng.
Với giới hạnh trang nghiêm, Ni trưởng được Ni bộ nhiều lần cung thỉnh làm Tôn chứng, Yết–ma, Giáo thọ cho các giới đàn

* Trang 190 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh