LOGO VNBET
PHẦN DẪN NHẬP

 
Tây Thiên tổ tổ tương truyền
Đông Độ sư sư tương tiếp

Trên pháp hội Linh Sơn, Đức Phật Thích–ca niêm hoa khai thị, Tôn giả Ca–diếp ngộ lý mỉm cười; từ đó cửa thiền tông rộng mở, lý vô ngôn diễn bày. Từ tổ Ca–diếp xuống đến tổ Bồ–đề–đạt–ma cả thảy 28 đời truyền thừa chưa từng gián đoạn. Thế rồi dòng pháp Tây Thiên chảy tràn sang Đông Độ, từ tổ Đạt–ma đến tổ Huệ Năng cả thảy 6 thế hệ tương thừa. Từ Lục tổ về sau, Chánh pháp đã bủa khắp, lòng người cũng bắt đầu khởi tâm tranh chấp, nên chư Tổ chỉ lấy ấn tâm làm biểu chứng truyền thừa chứ không truyền y bát. Lục tổ Huệ Năng có hai đệ tử lừng danh là thiền sư Nam Nhạc–Hoài Nhượng (677–744) và thiền sư Thanh Nguyên–Hành Tư (…?–740), chính hai vị đệ tử thượng thủ này đã làm nguồn thiền chư Tổ chảy mãi đến những thế hệ sau này.
Thiền phái của tổ Thanh Nguyên–Hành Tư lần lượt truyền xuống các đời sau và lập ra 3 tông gồm: tông Tào Động do thiền sư Động Sơn–Lương Giới (807–869) lập; tông Vân Môn do thiền sư Vân Môn–Văn Uyển (864–949) lập; tông Pháp Nhãn do thiền sư Pháp Nhãn–Văn Ích (885–958) lập. Thiền phái của tổ Nam Nhạc–Hoài Nhượng về sau có tổ Quy Sơn–Linh Hựu (771–744) lập tông Quy Ngưỡng và tổ Lâm Tế–Nghĩa Huyền (…?–867) lập tông Lâm Tế. Như vậy, sau thời Lục tổ Huệ Năng, thiền tông Trung Hoa phát triển cực thịnh và chia thành năm tông mà danh từ thiền học thường gọi là “Ngũ gia tông phái”.
Trong 5 tông thì dòng thiền Lâm Tế phát triển thịnh nhất. Đến đời thứ 8 của tông Lâm Tế lại chia ra làm hai nhánh là Lâm Tế Dương Kỳ do thiền sư Dương Kỳ–Phương Hội (992–1046) sáng lập và Lâm Tế Hoàng Long do thiền sư Hoàng Long–Huệ Nam (1002–1069) sáng lập. Cả hai chi phái của tông Lâm Tế đều song hành phát triển. Từ Trung Hoa, dòng Lâm Tế phát triển sang các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v...

* Trang 23 *
device

Riêng tại Việt Nam, dòng thiền Lâm Tế có mặt tại Đàng Trong vào những năm đầu thế kỷ XVII và chủ yếu truyền theo chi phái của thiền sư Dương Kỳ–Phương Hội hay còn gọi là dòng Lâm Tế Dương Kỳ.
Người đầu tiên truyền tông Lâm Tế vào Đàng Trong là tổ Nguyên Thiều–Hoán Bích (1648–1728) hay còn gọi Siêu Bạch–Thọ Tông. Tổ là người nối pháp đời thứ 33 tông Lâm Tế, đệ tử của thiền sư Khoáng Viên–Bổn Quả tại Báo Tư Tân tự thuộc Giang Lăng, Quảng Châu, Trung Quốc. Vào năm 1677 (Đinh Tỵ), Tổ sang phủ Quy Nhơn ở Đàng Trong lập chùa Thập Tháp; sau đó ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung và chùa Quốc Ân. Sau 51 năm hoằng hóa tại Đàng Trong, tổ Nguyên Thiều đã đào tạo được nhiều vị đệ tử lừng danh kế thừa phát triển tông Lâm Tế gồm các ngài: Minh Vật–Nhất Tri; Minh Lượng–Thành Đẳng; Minh Dung–Pháp Thông; Minh Hải–Pháp Bảo; Minh Giác–Kỳ Phương v.v...
Ban đầu, các Tổ truyền theo bài kệ của tổ Vạn Phong–Thời Ủy và tổ Đạo Mân–Mộc Trần. Tiếp đó, tổ Minh Hải–Pháp Bảo lập kệ truyền phái Chúc Thánh và tổ Thiệt Diệu–Liễu Quán xuất kệ truyền phái Liễu Quán, nhờ vậy vườn thiền Việt Nam có thêm hai đóa hoa thắm tươi tỏa hương thơm ngát.
Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh được Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo sáng lập vào cuối thế kỷ XVII tại chùa Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam. Từ đất Quảng Nam, dòng thiền này nhanh chóng phát triển vào các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên v.v... Cho đến nay thiền phái Chúc Thánh có mặt khắp các tỉnh thành và sang tận các châu ở Hải ngoại.
Kể từ khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai tông lập giáo, tính đến nay đã trên 300 năm truyền thừa với 10 thế hệ tiếp nối. Trải suốt ngần ấy năm, Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh đã góp phần rất lớn trong sự phát triển của Phật giáo Đàng Trong trước đây và Phật giáo Việt Nam sau này. Phải khẳng định rằng, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh chiếm một vị trí quan trọng trong bề dày lịch sử của Phật giáo Việt Nam.
Từ trước đến nay, có một số tác phẩm viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam như: Việt Nam Phật giáo Sử Lược của Hoà thượng Mật

* Trang 24 *
device

Thể (NXB Thuận Hóa, Huế, 1993); Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn Lang (NXB Văn học Hà Nội, 1992); Lịch Sử Phật giáo Việt Nam của Thượng tọa Thích Minh Tuệ (Thành hội Phật giáo Tp.HCM, 1993); Thiền Sư Việt Nam của Hoà thượng Thích Thanh Từ, 1997; Lịch Sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức (NXB Tp.HCM, 1995) v.v... Tuy có nhiều tác phẩm viết về lịch sử Phật giáo nước nhà nhưng phần lớn những tác phẩm trên chưa đề cập đúng mức đến thiền phái Chúc Thánh. Nếu có, cũng chỉ giới thiệu sơ qua bài kệ truyền pháp của tổ Minh Hải–Pháp Bảo. Riêng cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức đề cập đến khá nhiều nhưng chưa hoàn chỉnh, hơn nữa các sử liệu ông đưa ra chưa có tính thuyết phục giới nghiên cứu lịch sử và cần có sự thẩm định khoa học cụ thể. Không biết do vô tâm hay hữu ý mà các tác giả trên không đề cập đến dòng thiền này trong những tác phẩm của mình.
Với mong muốn cơ nghiệp của lịch đại Tổ sư không bị vùi quên trong dòng xoáy thời gian và nhằm khơi dậy truyền thống “Ẩm thủy tư nguyên” trong mỗi người con Phật, nên chúng tôi đã mạnh dạn trình bày chi tiết và hệ thống lại lịch sử của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh, ngõ hầu báo đền thâm ân chư Tổ trong muôn một, đồng thời làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến lịch sử phát triển của Phật giáo và Dân tộc. Với tâm nguyện và hoài bão đó, chúng tôi mạo muội trình bày những vấn đề cụ thể sau:
1. Thẩm định lại hành trạng của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo cũng như quá trình khai sơn Tổ đình Chúc Thánh để tránh những hiểu lầm suy luận không căn cứ khi viết về Ngài; đồng thời đưa ra một số tồn nghi để các giới nghiên cứu sử lưu tâm tìm hiểu về Tổ sư khai sơn thiền phái Chúc Thánh.
2. Phác họa lại quá trình hình thành và phát triển của dòng Lâm Tế Chúc Thánh, để từ đó khẳng định lại vị trí lịch sử của dòng thiền này trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ở quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
3. Làm sáng tỏ những đóng góp tích cực, tầm ảnh hưởng của Tăng nhân Chúc Thánh trong các lãnh vực xã hội từ trước đến nay, đồng thời nêu rõ vai trò lịch sử của chư Tăng trong các

* Trang 25 *
device

phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước và sự tự do bình đẳng tôn giáo.
4. Xác lập sự truyền thừa từ Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo cho đến các thế hệ hiện nay.
Đất nước Việt Nam chúng ta trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, chiến tranh loạn lạc, mưa bão lũ lụt v.v... đã khiến cho chùa chiền bị hư hoại rất nhiều. Có những Tổ đình một thời hưng thịnh, giờ chỉ còn lại những bảo tháp rêu phong không khỏi làm tâm hồn của đàn hậu học xuyến xao; có những bậc Cao tăng đức độ một thời nhưng giờ chỉ nghe danh chứ những văn bản ghi lại hành trạng của các Ngài đã không còn, do đó biểu đồ truyền thừa của các thế hệ đôi khi bị đứt đoạn, nguồn mạch tâm linh không được thông suốt. Vì thế, việc lập lại phổ hệ truyền thừa cũng là điều nên làm để các thế hệ mai sau được tỏ tường nguồn cội lịch sử của tông môn.
Có hiểu rõ nguồn cội trong quá khứ thì chúng ta mới kiểm nghiệm lại mình trong hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai. Được vậy, thế hệ chúng ta mới thật sự kế thừa chí nguyện “Thượng cầu, hạ hoá” của lịch đại Tổ sư và hành đạo theo truyền thống sáng đạo, đẹp đời.  

* Trang 26 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh