LOGO VNBET
TIẾT 2
THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
TẠI THỪA THIÊN–HUẾ
 
I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ TRUYỀN THỪA
Thừa Thiên–Huế tức Thuận Hóa xưa, là kinh đô của các chúa và vua nhà Nguyễn trong vòng 4 thế kỷ (1601–1945). Nhắc đến Huế, người ta liên tưởng đến sự cổ kính của cố đô, đồng thời cũng là chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay. Là kinh đô của một vương triều sùng mộ đạo Phật, Huế đã vinh dự đón nhận bước chân của các bậc Cao tăng đến giảng pháp.
Người đầu tiên truyền tông Lâm Tế tại Huế là thiền sư Nguyên Thiều–Siêu Bạch. Ngài từ Trung Hoa sang Quy Nhơn lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau đó ra Thuận Hóa lập chùa Quốc Ân và Hà Trung. Hòa thượng Nguyên Thiều truyền pháp theo bài kệ của tổ Mộc Trần–Đạo Mân. Kế tiếp đời sau, Hòa thượng Thiệt Diệu–Liễu Quán đắc pháp với tổ Minh Hoằng–Tử Dung, xuất kệ truyền thừa lập tông phái Tử Dung–Liễu Quán mà thiền sử thường gọi là thiền phái Lâm Tế Liễu Quán. Cả hai dòng thiền này truyền thừa rất mạnh tại Thuận Hóa. Tuy nhiên, cho đến thời cận đại thì dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán đóng vai trò chủ đạo trong việc hoằng pháp tại mảnh đất thần kinh này.
Căn cứ vào những Pháp quyển xưa nhất còn lưu giữ được, chúng ta biết rằng thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo đắc pháp với tổ Nguyên Thiều–Siêu Bạch tại chùa Quốc Ân, Huế. Tuy nhiên Ngài không hoằng pháp tại Huế mà vào Hội An khai sơn chùa Chúc Thánh cũng như xuất kệ truyền thừa, lập tông truyền pháp tại Quảng Nam.
Sự kiện ghi nhận các thiền sư dòng Chúc Thánh lần đầu tiên ra Thuận Hóa hoằng pháp là việc Hòa thượng Pháp Kiêm–Minh Giác trú trì chùa Phước Lâm tham dự Đại trai đàn tại chùa Linh

* Trang 209 *
device

Mụ vào năm Minh Mạng thứ 2, tức năm Tân Tỵ (1821). Cùng đi với Hòa thượng Minh Giác còn có 20 người đệ tử. Tuy nhiên, sau khi trai đàn thành tựu Ngài về lại Quảng Nam chứ không ở lại kinh đô hoằng pháp.
Đến những năm cuối thế kỷ XIX, thiền sư Vĩnh Gia trú trì chùa Phước Lâm thường được triều đình thỉnh ra kinh đô thuyết pháp. Trong thời gian ra Huế, Ngài thường ngụ tại chùa Thiên Hưng do Hòa thượng Huệ Pháp trú trì. Vì thế, giữa Ngài và chư Tăng đất Thuận Hóa có mối thâm giao chí thiết. Ngài đã tác thành giới thể cho các vị Cao tăng Thừa Thiên thời cận đại như: Hòa thượng Thích Giác Tiên (người khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Trung); Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hòa thượng Thích Giác Nhiên (Đệ nhất và Đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN).
Đến thời vua Thành Thái, có thiền sư Chơn Tâm–Đạo Tánh–Pháp Thân dòng dõi Tuy Lý Vương tu hành tại chùa Phước Sơn với Hòa thượng Ấn Thiên–Huệ Nhãn và đắc pháp với Hòa thượng Ấn Chánh–Huệ Minh tại chùa Bảo Sơn, Phú Yên về lập chùa Phước Huệ tại thôn Vỹ Dạ; Hòa thượng Chơn Pháp–Đạo Diệu–Phước Trí ở chùa Tam Thai, Quảng Nam ra khai sơn chùa An Hội tại Gia Hội. Đến năm Kỷ Sửu (1889), thiền sư Chơn Kim–Pháp Lâm thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ chùa Châu Lâm, Phú Yên ra kinh đô hoằng hóa tại chùa Viên Thông. Chùa Viên Thông do tổ Liễu Quán khai sơn, truyền đến đời ngài Tánh Trạm thì không có người kế thừa nên thiền sư Chơn Kim–Pháp Lâm đảm nhận chức vụ trú trì.
Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, tại Thừa Thiên–Huế có 3 ngôi chùa truyền thừa theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tuy nhiên, sự truyền thừa của hai chùa Phước Huệ và An Hội đến những năm giữa thế kỷ XX thì không còn nữa. Chùa Phước Huệ thì giao về phủ Tuy Lý Vương quản lý. Chùa An Hội thì do gia tộc Nguyễn quản lý. Duy chỉ còn chùa Viên Thông truyền thừa theo bài kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo. Hiện tại trú trì Tổ đình Viên Thông là Thượng tọa Đồng Huy–Quảng Tú, đời 43 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh.

* Trang 210 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh