LOGO VNBET
TIẾT 6
THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
TẠI HẢI NGOẠI
 
Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn Dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông.
                               (Huyền Không)
 
Phật giáo và Dân tộc đồng hành, đây là một quy luật bất di bất dịch từ 2000 năm nay. Dân Việt đi đến đâu thì Phật Việt theo đến đó, theo để an ủi vỗ về những người con xa xứ trong những lúc gian nan, quạnh quẽ.
Vào những thập niên 70–80 của thế kỷ XX, một số lượng lớn người Việt ra nước ngoài định cư. Người Việt rời Tổ quốc ra đi với hàng nghìn lý do, nhưng Phật Việt ra hải ngoại chỉ một lý do duy nhất: hướng đạo tinh thần cho người Việt xa xứ và truyền bá giáo lý Phật–đà tại Tây phương. Tuy nhiên, cộng đồng người Việt chỉ tập trung chính ở các nước thuộc Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Úc.
Theo dòng người định cư tại hải ngoại, con cháu của tổ Minh Hải–Pháp Bảo cũng đã có mặt khắp các châu lục để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tu tập cũng như ấp ủ chở che cho những người con Việt xa xứ.
I. TẠI CHÂU ÂU
Sau 30 năm du nhập và phát triển tại Châu Âu, cho đến nay đã có trên 100 ngôi chùa Việt Nam được thành lập, đáp ứng được nhu cầu tu học và tín ngưỡng của cộng đồng người Việt, đồng thời khiến cho người phương Tây ngày càng hiểu nhiều về Phật pháp và văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Trong hệ thống những ngôi chùa Việt tại Châu Âu, có 3 ngôi chùa chính truyền thừa theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh: chùa Linh Sơn tại Pháp do cố Hòa thượng Thích Huyền Vi khai sáng, chùa Viên Giác tại

* Trang 527 *
device

Đức do Hòa thượng Thích Như Điển khai sáng và chùa Khuông Việt tại Na Uy do Hòa thượng Thích Trí Minh khai sáng.
1. Hòa thượng Như Kế–Giải Đạo–Huyền Vi
如 继 解 道 玄 微 (1926–2005) ): Chùa Linh Sơn
 


Hòa thượng Huyền Vi

Hòa thượng thế danh Lê Văn Huyền, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Đạo, pháp hiệu Huyền Vi, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh ngày 8 tháng 4 năm Bính Dần (1926) tại làng Phước Khánh, tổng Vạn Phước, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam.
Năm lên 9 tuổi Ngài mồ côi mẹ nên được thân phụ đưa đến quy y và cho làm con nuôi của Hòa thượng Trí Thắng – trú trì chùa Thiên Hưng, làng Vân Sơn, thị xã Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Năm lên 12
tuổi, Ngài được Bổn sư thế độ ban cho pháp danh Như Kế. Năm 14 tuổi, Ngài thọ Sa–di tại chùa Thiên Đức, Bình Định và năm 20 tuổi thọ Cụ túc tại chùa Tây Thiên, Ninh Thuận.
Năm Canh Dần (1950), Ngài vào Nam nhập học tại Phật học đường Nam Việt ở chùa Ấn Quang dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Thích Thiện Hòa và chư tôn đức khác. Năm 1955, Ngài tốt nghiệp Cao đẳng Phật học và làm việc tại Phật học đường Ấn Quang trong cương vị Đốc giáo kiêm Giám viện.
Với tinh thần cầu học nên vào ngày 2/7/1961, Ngài lên đường sang Ấn Độ du học tại Viện Đại học Nalanda. Sau khi học xong chương trình cử nhân Anh văn, Ngài học văn bằng Cổ ngữ Acharta. Những năm kế tiếp, Ngài trình luận án M.A. với đề tài “The four Abhidhammic Reals” (Tứ chân thật pháp). Ba năm sau,

* Trang 528 *
device

Ngài trình luận án tiến sĩ (Ph.D) với đề tài “The life and work of Sariputra Thera” (Cuộc đời và sự nghiệp của Tôn giả Xá–lợi–phất).
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài về nước và được cung cử giữ chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp GHPGVNTN.
 


Xá lợi Hòa thượng Huyền Vi

Năm Giáp Dần (1974), dù tuổi đời còn trẻ nhưng với công phu tu học và giới hạnh tinh nghiêm nên Ngài được Viện tăng thống thỉnh cử làm thành viên Hội đồng Viện tăng thống GHPGVNTN, mà lúc bấy giờ đa số thành viên đều là các bậc trưởng lão.
Giữa năm 1975, Hòa thượng sang Pháp khai sáng chùa Linh Sơn tại Paris,
Pháp quốc. Ngày 3 tháng 9 năm 1978, Ngài chính thức thành lập Giáo hội Linh Sơn với mục đích làm sống lại tinh thần tu học như pháp hội Linh Sơn thời Phật tại thế. Cuộc đời hoằng pháp của Ngài thể hiện phương châm “Hoằng pháp thị gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp”. Không từ lao nhọc, gian nan, đi đến đâu Ngài cũng gióng trống pháp, tuôn mưa pháp, độ vô số chúng sanh. Ngài là bậc trưởng lão tối cao của GHPGVNTN tại hải ngoại và được cung thỉnh làm Yết–ma, Giáo thọ, Đàn đầu Hòa thượng để thí giới cho Tăng đồ. Ngài sáng tác, dịch thuật trên 40 tác phẩm và là bậc pháp sư biện tài có một không hai thời bấy giờ.
Vào lúc 19 giờ 45, ngày 15 tháng 2 năm 2005 (nhằm mồng 7 tháng giêng năm Ất Dậu), Hòa thượng viên tịch tại chùa Linh Sơn, Pháp quốc, trụ thế 80 tuổi, 59 Hạ lạp và 68 Tăng lạp. Sau khi hỏa thiêu, Ngài đã để lại vô số xá–lợi minh chứng cho sự tu tập của mình và làm biểu chứng cho các thế hệ Tăng ni sau này.
Với đạo hạnh và uy tín của mình, Hòa thượng thành lập Giáo hội Phật giáo Linh Sơn trên thế giới và là Tăng thống đầu tiên

* Trang 529 *
device

của Giáo hội này. Tròn 30 năm hành đạo, Hòa thượng đã đào tạo trên 100 Tăng ni, thiết lập trên 50 cơ sở trực thuộc Giáo hội Phật giáo Linh Sơn khắp các nước ở Châu Âu, Châu Úc, Mỹ quốc, Châu Phi, Ấn Độ và Đài Loan v.v...
 

Bảng chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng Huyền Vi
Đứng về mặt truyền thừa tông phong thì Hòa thượng nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh truyền theo bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo. Tuy nhiên, khi ra hải ngoại Hòa thượng không cho xuống chữ THỊ theo bài kệ của Tổ khai tông, mà Ngài đặt đệ tử bắt đầu bằng chữ TỊNH như Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh, Đài Loan (kế thừa Đệ nhị Tăng thống Giáo hội Linh Sơn trên thế giới). Các lớp đệ tử về sau, Ngài cho pháp danh bằng chữ TRÍ, LINHHỰU.
2. Hòa thượng Như Điển–Giải Minh Trí Tâm
如 典 解 明 智 心: chùa Viên Giác, nước Đức
Chùa Viên Giác tại thành phố Hannover là một trong những ngôi chùa Việt Nam lớn nhất ở Châu Âu. Chùa được Hòa thượng Thích Như Điển khai sáng vào năm 1978. Ban đầu, chùa cũng chỉ là một Niệm Phật đường nhỏ, sau đó Hòa thượng cho khởi công xây dựng quy mô vào năm 1989 và khánh thành vào năm 1991. Chùa Viên Giác có một lối kiến trúc đặc thù riêng biệt, kết hợp hài hòa hai trường phái kiến trúc cổ điển của phương Đông và hiện đại của phương Tây. Từ nơi đây, Hòa thượng đã xây dựng 27 Chi hội Phật giáo Việt Nam khắp nước Đức và chùa Viên Giác trở thành chỗ dựa tinh thần của người Việt tại Đức nói riêng và Châu Âu nói chung. Hàng năm chùa mở các khóa giáo lý như

* Trang 530 *
device

khóa tu gieo duyên mùa hè và khóa huân tu Tịnh độ vào mùa đông hoặc những khóa huấn luyện cho thanh thiếu niên và Gia đình Phật tử.
 


Hòa thượng Như Điển

Hòa thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, sinh ngày 28 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1949) tại Xuyên Mỹ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Năm Giáp Thìn (1964), Ngài xuất gia tại chùa Viên Giác, Hội An với Hòa thượng Thích Long Trí; sau đó nhập chúng tu học tại Tổ đình Phước Lâm dưới sự hướng dẫn của cố Hòa thượng Thích Như Vạn. Năm Đinh Mùi (1967), Ngài thọ Sa–di tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng; năm Tân Hợi (1971), thọ cụ túc tại tu viện Quảng Đức, Thủ Đức do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Đàn đầu với
pháp tự Giải Minh, hiệu Trí Tâm, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Năm Nhâm Tý (1972), sau khi tốt nghiệp Tú tài hạng ưu, Ngài được sang Nhật du học và lấy bằng Cử nhân giáo dục tại Đại học Teikyo và Cao học Phật giáo tại Đại học Risso (Tokyo) Nhật Bản.
Năm Đinh Tỵ (1977), nhân duyên Phật bổ xứ, Hòa thượng sang thăm nước Đức và thể theo nhu cầu của đông đảo kiều bào, nên Ngài ở lại Đức hành đạo. Tháng 4 năm Mậu Ngọ (1978), Hòa thượng đã kiến dựng chùa Viên Giác, tiếp nhận đồ chúng hướng dẫn Phật tử tu học. Hòa thượng là người mực thước, giới luật nghiêm trì, tinh cần tu tập, đóng góp công đức rất lớn trong việc hoằng truyền Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại. Ngài là tác giả của trên 50 tác phẩm và dịch phẩm. Với những công đức ấy, Ngài được Giáo hội tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa thượng tại Đại giới đàn Pháp Chuyên tổ chức vào ngày 26 đến 28 tháng 6 năm 2008 tại chùa Viên Giác, Đức.

* Trang 531 *
device



                                               Chùa Viên Giác – Đức quốc
 
 Sau 30 năm hành đạo, Hòa thượng đã đào tạo được một đội ngũ Tăng trẻ đủ khả năng gánh vác Phật sự tại các Chi hội Phật giáo Châu Âu và thành lập một hệ thống các chùa trực thuộc tông Lâm Tế Chúc Thánh như: Viên Ý (Italy); Vạn Hạnh (Đan Mạch); Viên Âm, Tam Bảo (Đức); Niệm Phật đường Thảo Đường (Nga); Trung tâm tu học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ (2002); Niệm Phật đường Viên Giác tại Tiệp Khắc (2003); Cực Lạc Cảnh Giới Tự tại Chaingmai, Thái Lan (2006); Tu viện Viên Đức tại miền Nam nước Đức (2008).
Trong sự truyền thừa của tông môn Chúc Thánh, Hòa thượng thuộc thế hệ thứ 8 với pháp danh chữ NHƯ. Ban đầu khi quy y đệ tử, Hòa thượng cho pháp danh xuống chữ THỊ. Về sau, theo cách đọc của người Việt không phân biệt được THỊ có nghĩa là như thị với THỊ là chữ lót của tên người phụ nữ; vì lẽ đó, trong 100 đệ tử đầu tiên Ngài đặt pháp danh với chữ THỊ, còn từ số 101 đến 7000 thì Ngài đặt lại chữ THIỆN cho tiện việc xưng hô. Tuy nhiên, trong hàng đệ tử xuất gia Ngài vẫn cho pháp tự chữ HẠNH theo bài kệ pháp tự và phú pháp với chữ GIÁC đứng đầu.

* Trang 532 *
device

3. Hòa thượng Đồng Tâm–Thông Tịnh–Trí Minh
同 心 通 凈 智 明chùa Khuông Việt, Na Uy
 


Hòa thượng Trí Minh

Chùa Khuông Việt tại thủ đô Oslo nước Na Uy là một trong những ngôi chùa mang đậm sắc thái kiến trúc Việt Nam tại Châu Âu. Năm 1979, Hội Phật tử được thành lập tại thủ đô Oslo. Đến năm 1984, Thượng tọa Thích Quán Không sang Na Uy hành đạo và tiến hành xây dựng chùa Khuông Việt. Thượng tọa Quán Không đã đem hết tâm nguyện trùng tu chùa, nhưng không may Thượng tọa viên tịch vào năm 1995. Hòa thượng Thích Trí Minh được cung thỉnh kế nhiệm trú trì. Từ đó, Hòa thượng tiếp tục việc trùng kiến
già–lam, tiếp Tăng độ chúng. Hòa thượng thành lập 9 Chi hội Phật giáo khắp cả nước Na Uy và hàng đệ tử xuất gia của Ngài cũng đã ra đảm đương Phật sự tại các nước Bắc Âu.
Hòa thượng Thích Trí Minh pháp danh Đồng Tâm, tự Thông Tịnh, nối pháp đời 43 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Hòa thượng xuất gia với Hòa thượng Thích Thị Châu tại chùa Linh Sơn, làng Phú Hòa, xã Nhơn Phú, thành phố Quy Nhơn. Sau khi thọ giới, Hòa thượng vào Sài–gòn tham học, đến năm 1975 thì về kế thừa trú trì chùa Linh Sơn. Năm 1985 Hòa thượng được chính phủ Na Uy bảo lãnh từ Hồng Kông sang. Tại đây, Hòa thượng cùng với cố Thượng tọa Thích Quán Không chăm lo Phật sự. Sau khi Thượng tọa Quán Không viên tịch, Ngài kế thừa trú trì chùa Khuông Việt và phát huy Phật sự tại Na Uy nói riêng và các nước Bắc Âu nói chung.
Trong sự truyền thừa của tông môn, Hòa thượng pháp danh chữ ĐỒNG cho đệ tử pháp danh chữ VẠN theo bài kệ truyền

* Trang 533 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh