LOGO VNBET
Giám thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu. Môn đệ của Sư đắc pháp và hoằng hóa sau này như: 1. Thiền sư Hành Tư ở núi Thanh Nguyên. 2. Thiền sư Hoài Nhượng ở Nam Nhạc. 3. Thiền sư Pháp Hải. 4. Thiền sư Huệ Trung. 5. Thiền sư Bổn Tịnh. 6. Thiền sư Thần Hội. 7. Thiền sư Huyền Giác. 8. Thiền sư Huyền Sách. 9. Tam Tạng Quật Đa v.v... Những lời Tổ chỉ dạy được môn hạ biên tập thành Pháp Bảo Đàn kinh.
Tổ Thứ 34
Thiền sư NAM NHẠC – HOÀI NHƯỢNG

(677 – 744)
Sư họ Đỗ, sinh ngày mồng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (677) niên hiệu Nghi Phụng thứ 2 đời vua Đường Cao Tông tại Kim Châu (nay là khu Hán Tân, thành phố An Khương, tỉnh Thiểm Tây). Sư tính cách khiêm nhường dễ hòa đồng, luôn ấp ủ chí nguyện cứu đời nên có tên là Hoài Nhượng. Năm 10 tuổi, Sư đến chùa Vạn Xuân xuất gia và tu học tại chùa Song Khê, chùa Kim Đường thuộc Kim Châu. Năm 15 tuổi, Sư bái Luật sư Hoằng Cảnh chùa Ngọc Tuyền đất Kinh Châu làm thầy. Sau khi thọ Cụ túc giới, Sư đến học thiền với thiền sư Huệ An ở Tung Sơn. Được một thời gian, Huệ An giới thiệu Sư đến đạo tràng Tào Khê của tổ Huệ Năng.
Tại đây, Sư ngộ đạo và theo hầu Tổ ngót 15 năm.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên thứ 2, Quý Sửu (713), Sư đến ngụ tại chùa Bát Nhã ở núi Hoành Nhạc nên người đời gọi Sư là Nam Nhạc thiền sư. Với công án “Mài đá thành kim” Sư đã khai ngộ cho Mã Tổ và đọc kệ rằng:
種                                                         Tâm địa hàm chư chủng
萠                                                         Ngộ trạch tất giai manh
相                                                         Tam muộn hoa vô tướng
成                                                         Hà hoại phục hà thành

* Trang 61 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh