LOGO VNBET
trì chùa Chiêu Giác.
Tháng 8, niên hiệu Thiệu Hưng thứ 5, Ất Mão (1135), Sư có chút bệnh rồi viên tịch, vua sắc phong thụy là Chân Giác. Sư đã để lại những tác phẩm nổi tiếng như: Bích nham lục, Ngữ lục, Viên Ngộ tâm yếu, Kích tiết lục.
Nối pháp Sư có thiền sư Thiệu Long.
Tổ Thứ 49
Đời Thứ 12 Tông Lâm Tế
Thiền sư HỔ KHƯU – THIỆU LONG
虎 丘 紹 隆 禪 師
(1077 – 1136)
Sư họ Cổ, sinh năm Đinh Tỵ (1077), niên hiệu Hy Ninh thứ 10 đời vua Tống Thần Tông, tại Hàm Sơn, Hòa Châu (tỉnh An Huy). Năm 9 tuổi, Sư từ tạ song thân vào xuất gia tại viện Phật Huệ. Thọ đại giới xong, Sư tinh chuyên trì luật và sau đó du phương học thiền. Sư từng đến pháp hội của thiền sư Tịnh Chiếu–Sùng Tín ở Trường Lô; thiền sư Trạm Đường–Văn Chuẩn ở Bảo Phong; thiền sư Tử Tâm–Ngộ Tân ở Hoàng Long v.v..., cuối cùng là pháp hội của thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần và chứng ngộ nơi đây.
Sau Sư về trú trì chùa Khai Thánh. Khoảng niên hiệu Kiến Viêm (1127–1131) trong nước có loạn, Sư bèn cất am dưới ngọn Đồng Phong. Quận thú Lý Công Quang mời Sư trú trì chùa Chương Giáo. Sau cùng Sư đến Hổ Khưu ở phủ Bình Giang (nay là Tô Châu) lập đạo tràng, đồ chúng theo về tu học ngày càng đông.
Triều vua Cao Tông nhà Nam Tống, niên hiệu Thiệu Hưng thứ 6, Bính Thìn (1136), Sư viên tịch, bảo tháp được lập phía tây nam chùa để lưu giữ nhục thân. Tác phẩm để lại đời có Hổ Khưu Long Hòa thượng ngữ lục. Đệ tử nối pháp Sư có thiền sư Đàm Hoa.

* Trang 76 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh