LOGO VNBET
Hạnh Thuần, trú trì chùa Kim Tân v.v... thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Ni sư Thích Nữ Hạnh Nhân, trú trì chùa Phước Tấn; Ni sư Thích Nữ Hạnh Nghiêm, trú trì chùa Phước Khánh thuộc tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu v.v...
Đồng thời, có một số vị Ni sư là đệ tử của Ni trưởng Thích Nữ Như Hường vào trú trì các chùa như Ni sư Thích Nữ Hạnh Ngọc, trú trì tịnh thất Huệ Ân; Ni sư Thích Nữ Hạnh Hòa, trú trì chùa Phổ Thiện; Ni sư Thích Nữ Hạnh Thuận, trú trì chùa Nam Lộ v.v...
Hiện tại, thế hệ thứ 3 của chư Ni truyền thừa theo bài kệ tổ Minh Hải–Pháp Bảo có pháp danh chữ ĐỒNG hoặc pháp tự chữ THÔNG cũng đang được vun bồi đạo hạnh, từng bước kế thừa chư vị Ni sư gánh vác trách nhiệm tại các chùa trong toàn tỉnh Quảng Ngãi.
V. ĐẶC ĐIỂM CỦA SỰ TRUYỀN THỪA
Trong lịch sử Phật giáo Quảng Nam và Quảng Ngãi, gần như 100% các chùa truyền theo bài kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo. Ở các thế hệ trước, việc cho pháp tự có khi không đúng với bài truyền pháp tự nhưng bài truyền pháp danh vẫn giữ như cũ.
Ví dụ: Ngài Toàn Chiếu có pháp tự Trí Minh, nếu đúng ra phải là chữ Vi; Ngài Chương Trang có pháp tự Nhất Trạch mà đúng phải là chữ Tuyên, hoặc Tôn v.v... Tuy nhiên, đó là những sự sai lệch của một vài vị cũng không đáng kể. Đến những năm giữa thế kỷ XX, sự truyền thừa theo bài kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo có những sự thay đổi lớn. Bắt đầu từ các vị có pháp danh chữ NHƯ thuộc đời 41, truyền xuống đời 42 tức là chữ THỊ.
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì các Ngài cho rằng chữ THỊ(是) ) đọc lên nghe giống chữ THỊ(氏) là chữ lót trong cách đặt tên của người nữ Việt Nam nên dễ bị nhầm lẫn. Vì thế, các Ngài mới cho trại chữ để tránh chữ THỊ. Như Hòa thượng Như Bình–Giải An cho đệ tử pháp danh chữ TÂM. Vì Hòa thượng Thích Giải An là trưởng tử của Hòa thượng Khánh Tín nên phần lớn chư Tăng thuộc chùa Thọ Sơn về sau cho đệ tử với pháp danh chữ TÂM. Chỉ có Thượng tọa Thích Giải Quảng, trú trì chùa Quảng Hiệp (Đồng

* Trang 265 *
device

Nai) vẫn giữ theo truyền thống của tông môn, cho đệ tử pháp danh chữ THỊ.
Trường hợp thứ 2 là Hòa thượng Thích Giải Hậu. Hòa thượng pháp danh Như Thông, tự Giải Hậu, hiệu Huyền Ấn(49), nối pháp đời 41 Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Nhưng khi cho đệ tử, Ngài lại đặt pháp danh chữ DIỆU (妙) chứ không dùng chữ THỊ (是).
Đặc biệt là trường hợp truyền pháp của Hòa thượng Thích Hồng Ân, khai sơn chùa Phước Lộc. Hòa thượng Hồng Ân pháp danh Như Nguyện, tự Giải Trình, nối pháp đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh. Nhưng khi cho pháp danh đệ tử thì Ngài cho xuống chữ TÂM, đặt pháp tự chữ TRỪNG và Hòa thượng cũng có bài kệ truyền pháp như sau:
凈                                                  Như Tâm Nguyên Tịch
然                                                  Tánh Hải Tịch Nhiên
達                                                  Thanh Trung Hiển Đạt
心                                                  Khế Ngộ Bổn Tâm
Và bài kệ truyền pháp tự như sau:
念                                                  Giải Trừng Đức Niệm
明                                                  Túc Liễu Giác Minh
法                                                  Thái Truyền Đăng Pháp
人                                                  Từ Huệ Độ Nhân(50)
 

(49) Ngài là đệ tử của Hòa thượng Thích Diệu Quang, Đệ lục Tổ sư Tổ đình Thiên Ấn.
(50) Vào mùa hạnă 2007, chúng tôi vào tìm hiể hành trạg mộ sốchưvịtôn túc tạ Quảg Ngãi. Đ?n chùa Phư?c Lộ, chúng tôi đ?ợ Thư?ng tọ Thích Trừg Nghịcho ghi chép lạ bài kệnày. Bài kệchúng tôi chép lạ là bả lư?c thuậ hành trạg Hòa thư?ng Hồg Ân do Thư?ng tọ Trừg Nghịsoạ, chứkhông phả là thủbút củ Hòa thư?ng Hồg Ân. Thêm vào đ, nộ dung và cú pháp củ hai bài kệcó vẻmơhồ Đ?ng thờ, đ? tửvà đ? tôn củ Hòa thư?ng Hồg Ân cho pháp danh theo bài kệcủ tổLiễ Quán. Chúng tôi có hỏ nguyên nhân củ vấ đ?, Thư?ng tọ Trừg Nghịnói các vịđ chư nắ bắ bài kệnày, sau này họ môn phong sẽphổbiế đ? chỉh sử. Thư?ng tọ khẳg đ?nh mình thuộ tông môn Chúc Thánh.
 

* Trang 266 *
device

Tuy nhiên, cho đến hiện tại, hàng đệ tử và đồ tôn của Hòa thượng Hồng Ân cho pháp danh đệ tử xuống chữ NGUYÊN và chữ QUẢNG. Nghĩa là truyền pháp theo bài kệ của tổ Thiệt Diệu–Liễu Quán.
Hiện tại, sự truyền pháp của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại tỉnh Quảng Ngãi có những sự thay đổi phức tạp. Sự đổi chữ trong pháp danh đã dẫn đến sự xáo trộn trong tông môn pháp phái. Đôi lúc có những vị không nắm bắt được những thâm ý của tiền nhân nên cho pháp danh không đúng thứ hệ truyền thừa. Tuy nhiên, có một số vị đời 42 có pháp danh chữ TÂM và chữ DIỆU đã cho đệ tử xuống chữ ĐỒNG để khế hợp với bài kệ của Tổ.

* Trang 267 *
device

* Trang 268 *
device

* Trang 269 *
device

* Trang 270 *
device

* Trang 271 *
device

* Trang 272 *
device

* Trang 273 *
device

* Trang 274 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh