LOGO VNBET
CHƯƠNG I
BA-LA-DI (1)
 
I. BẤT TỊNH HẠNH (2)
A. DUYÊN KHỞI
1. Sự kiện Tỳ-lan-nhã 

[568c07]Một thời, đức Phật cùng đại chúng tỳ-kheo gồm năm trăm
vị, du hóa đến nước Tô-la-bà,(3) tuần tự du hành đến Tỳ-lan-nhã, (4) và đêm ấy ngủ dưới bóng cây na-lân-la-tân-châu-man-đà-la.(5) Bấy giờ bà-la-môn Tỳ-lan-nhã (6) nghe sa-môn Cù-đàm, họ Thích, bỏ dòng họ Thích đi xuất gia tầm đạo, đã từ nước Tô-la-bà dẫn chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị, tuần tự du hành đến Tỳ-lan-nhã này, và nghỉ đêm dưới  bóng  cây  na-lân-la-tân-châu-man-đà-la. Sa-môn Cù-đàm  này có danh xưng lớn như vầy: “Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sỹ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài ở giữa
___________________                                       
(1) (T22n1428, tr.568c6 四波羅夷法之一)
(2) Ngũ phần 1 (T22n1421, tr.1a08); Tăng kỳ 1 (T22n1425, tr.227a08); Thập tụng 1  (T23n1435,  tr.1a09); Căn bản  1  (T23n1442,  tr.627c27). Pāli,  Suttavibhaṅga, Vin. iii. 1.
(3) Tô-la-bà quốc 蘇羅婆國; Ngũ phần: Tu-lại-bà quốc 須賴婆國; cả hai phiên âm từ Skt. Śūrasena (Pāli: Sūrasena), 1 trong 16 đại quốc thời Phật; xem Trường A-hàm 5, “Kinh Xà-ni-sa”; D.18.  Javasabha. Tăng kỳ: Xá-vệ quốc 舍衛國,  (Skt. Śrāvasti, Pāli: Sāvatthī). Thập tụng: Phật tại Tỳ-da-li 毘耶離, Skt. Vaiśāli  (Pāli: Vesālī): Căn bản: Phật tại nước Lật thị 栗氏國.
(4)Tỳ-lan-nhã 毘籣若. Pāli: Verañjā, thị trấn gần Sāvatthī, trên đường đi Vesālī.
(5) Na-lân-la-tân-châu-man-đà-la 那隣羅濱洲曼陀羅; Pāli:  Naḷeru-pucimanda, cây pucimanda (Nimba, Azadirachta Indica) có miếu thờ dạ-xoa Naḷeru (Sớ giải, i. 109). Ngũ phần: trú lâm thọ hạ 住林樹下.
(6)Tỳ-lan-nhã bà-la-môn 毘蘭若婆羅門. Xem Trung A-hàm, kinh 157  (Hoàng  lô viên). Pāli: Verañjo brāhmaṇo.

* Trang 11 *
device

các  chúng  Thiên, Ma,  Phạm,  sa-môn,  bà-la-môn  công bố  chánh pháp do tự thân chứng nghiệm bằng thắng trí (1). Pháp ấy thiện xảo ở khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng cuối, có nghĩa và vị; (2)phạm hạnh thanh tịnh, tự nhiên, được tu tập đầy đủ.(3)Lành thay! Chúng ta được chiêm ngưỡng con người Vô trước(4) như vậy. Nay  ta nên đến  thăm hỏi sa-môn Cù-đàm.”
Bấy giờ,  bà-la-môn Tỳ-lan-nhã đi đến chỗ đức Thế Tôn. Khi đến nơi, sau khi hỏi chào thăm viếng nhau rồi, ông ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện thuyết pháp, khai hóa, khiến được  hoan hỷ.  Bà-la-môn  sau  khi  nghe  đức  Phật  nói  pháp,  lòng sinh  hoan hỷ,  liền  thưa:  “Cúi  xin  đức  Thế  Tôn  thương  xót  chấp thuận  thỉnh cầu của  con,  cùng với  chúng tỳ-kheo  an cư  ba  tháng mùa mưa.”
Đức Thế Tôn và Tăng tỳ-kheo im lặng nhận lời. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã biết đức Thế Tôn đã  im lặng nhận lời  thỉnh của mình,  liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật rồi cáo lui. Thế Tôn cùng chúng tỳ-kheo gồm năm  trăm vị  nhận lời  an cư ba tháng mùa mưa. Bấy giờ có người  lái ngựa từ nước Ba-ly (5)lùa năm
______________________                                        
(1) Pāli,  thành  cú:  So  imaṃ  lokaṃ   sadevakaṃ   samārakaṃ   sabrahmakaṃ  sassamaṇabrāhmaṇiṃ   pajaṃ    sadevamanussaṃ   sayaṃ  abhiññā  sacchikatvā pavedeti.  “Sau khi tứ  thân  chứng nghiệm bằng  thắng  trí, Ngài  thuyết minh  thế giới này bao gồm Thiên, Ma, Phạm, cùng với sa-môn, bà-la-môn, sanh loại, cùng với chư thiên và loài người.”
(2) Pāli,  thành  cú:  So    dhammaṃ    deseti  ādikalyāṇaṃ  majjhe-kalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ   sātthaṃ   sabyañjanaṃ. “Ngài diễn  thuyết pháp; pháp ấy
thiện xảo phần đầu, thiện xảo phần giữa, thiện xảo phần cuối, có nghĩa, có văn.”
(3) Pāli,  thành  cú:  kevalaparipuṇṇaṃ    parisuddhaṃ    brahma-cariyaṃ    pakāseti; “Ngài hiển thị phạm hạnh tuyệt đối hoàn bị, hoàn toàn thanh tịnh.”
(4)Vô trước nhân 無著人, một dịch nghĩa khác của từ A-la-hán.
(5) Ba-ly  quốc  波離國;  Ngũ  phần:  Ba-lị  quốc  波利國. Pāli  (Vin.iii.  6): Uttarāpathakā assavāṇijā, những người buôn ngựa từ Uttarāpatha, địa danh chỉ
chung vùng Bắc Ấn.

* Trang 12 *
device

trăm  thớt ngựa đến Tỳ-lan-nhã và ở đây đóng  trại chín mươi ngày mùa hạ. Thời  điểm  này gặp  lúc mất mùa,  lúa gạo  quý  giá,  nhân  dân  đói khát, xương trắng ngổn ngang, khất thực khó được. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã  tuy  thỉnh Như Lai và Tăng tỳ-kheo an cư ba  tháng, nhưng hoàn  toàn  không  cúng dường,  cung cấp  những  nhu cầu cần  thiết. Tại sao vậy? [569a] Vì bị ám bởi Ma Ba-tuần. 
Bấy giờ, các tỳ-kheo ở Tỳ-lan-nhã khất thực không được, nên phải đến khất thực nơi người  lái ngựa kia. Lúc ấy, người  lái ngựa nghĩ: “Hiện  nay mất mùa,  lúa gạo  khan  hiếm,  nhân  dân  đói  khát,  khất thực khó được, xương trắng ngổn ngang. Các tỳ-kheo kia khất thực không được  nên đến đây. Nay  ta có nên dùng  lúa mạch của ngựa mỗi  ngày bố  thí  cho tỳ-kheo năm  thăng,  Thế  Tôn một  đấu  hay chăng?” Nghĩ  như vậy rồi, mỗi  ngày  ông bố  thí  cho  các tỳ-kheo năm thăng lúa mạch của ngựa, Thế Tôn một đấu.
Đức Thế Tôn nhận được phần  lúa ngựa rồi, trao cho A-nan. A-nan khiến  người  xay  làm cơm khô để dâng Phật. Đức Phật dùng cơm khô,  còn  các tỳ-kheo nấu  chín rồi mới  ăn. Do  đó,  giữa  đức  Phật cùng các tỳ-kheo thức ăn có khác. 
Lúc bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-liên đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi lui ngồi một bên, thưa:
“Kính bạch Đại  đức,  hiện  nay  lúa gạo  khan  hiếm,  nhân  dân  đói khát, khất thực khó được; thực phẩm của các tỳ-kheo rất là thô xấu, nên tất cả đều bị gầy ốm. Nếu đức Thế Tôn cho phép, các tỳ-kheo có  thần  túc đến nước Uất-đơn-việt (1) lấy  thức ăn bằng gạo của  loại lúa chín mọc tự nhiên, (2) thì chúng con sẽ đi.”
___________________                                        
(1) Uất-đơn-việt 鬱單越; Skt.(=Pāli): Uttarāpatha.
(2) Tự nhiên canh mễ 自然粳米, một thứ lúa tự nhiên mọc, không do người trồng; xem Trường A-hàm 6, kinh Tiểu duyên, Đại 1 tr. 38a1. Cf., D.iii.88 (Aggañña-suttanta): akaṭṭha-pāko sāli pātur ahosi akaṇo athuso, xuất hiện loại lúa chín tự nhiên không do gieo trồng, không vỏ, không cám.

* Trang 13 *
device

Đức Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
“Các vị tỳ-kheo có  thần  túc  thì có  thể đến đó để lấy  thức ăn bằng gạo lúa tự nhiên, còn các vị tỳ-kheo không có thần túc thì thế nào?”
Tôn giả Mục-liên thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, các vị có  thần  túc  thì họ  tùy ý đến, còn các vị không có  thần  túc  thì con sẽ dùng sức  thần  túc của con để giúp các vị đến đó.”(1)
Đức Phật bảo Tôn  giả Mục-liên: “Thôi  đi,  thôi  đi,  đừng  nói vậy! Tại sao? Các ông là những con người (2) đã chứng đắc thần túc thì có thể làm như vậy. Còn các vị tỳ-kheo ở đời vị lai sẽ làm sao?”
2. Xá-lợi-phất thưa hỏi
Lúc bấy  giờ, Tôn  giả Xá-lợi-phất ở nơi  nhàn tĩnh,  nghĩ  như vầy:
“Vị Đẳng Chánh Giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu  dài? Vị Đẳng  Chánh Giác  nào  có  phạm hạnh  tu tập  và  Phật pháp không tồn tại  lâu dài?” Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa  y phục, đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt đảnh lễ, rồi  ngồi qua một bên. Một lát sau, Tôn giả rời chỗ ngồi, đứng dậy thưa:
“Kính bạch  đức Thế Tôn, vừa rồi ở  chỗ  nhàn tĩnh,  con  nghĩ:  ‘Vị Đẳng Chánh Giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu dài? Vị Đẳng Chánh Giác  nào có phạm hạnh  tu tập và Phật pháp không tồn tại lâu dài?’ Cúi xin đức Thế Tôn khai thị cho con.” Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Đức  Phật Tỳ-bà-thi,  đức  Phật  Thức-khí,  đức  Phật  Câu-lưu-tôn, đức  Phật  Ca-diếp, (3)  các vị  Phật  này  có  phạm hạnh  tu tập  và  Phật pháp tồn tại  lâu  dài.  Pháp của  Phật  Tùy-diếp,  Phật  Câu-na-hàm Mâu-ni, thì không tồn tại lâu dài.”
____________________________                                
(1) Pāli (Vin.iii. 7), Mahāmoggallāna bạch Phật: “Phần dưới kia của đại địa này rất sung túc. Con sẽ chuyển ngược đại địa để các tỳ-kheo có thể có thức ăn.”
(2) Nguyên Hán: trượng phu 丈夫.
(3) Xem Trường A-hàm 1, kinh số 1, Đại bản, và các đơn hành bản tương đương.

* Trang 14 *
device

Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Do nhân duyên gì mà [569b] Phật Tỳ-bà-thi, (1) đức Phật Thức, (2) đức Phật  Câu-lưu-tôn, (3) đức  Phật  Ca-diếp,(4) các vị  Phật  này  có  phạm hạnh  tu tập và Phật pháp tồn tại  lâu dài; Pháp của Phật Tùy-diếp, (5) Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, (6) thì không tồn tại lâu dài?”(7)
Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp không công bố pháp rộng  rãi  như:  Khế  kinh, Kỳ-dạ  kinh,  Thọ  ký, Kệ  kinh,  Cú kinh,  Nhân  duyên  kinh, Bản  sinh  kinh,  Thiện  đạo  kinh,  Phương đẳng  kinh, Vị tằng hữu  kinh,  Thí dụ  kinh,  Ưu-bà-đề-xá  kinh. (8)
Không  vì  người rộng  nói  Khế  kinh,  cho  đến  Ưu-bà-đề-xá  kinh, không kết giới cũng không  thuyết giới, cho nên các đệ tử mỏi mệt nhàm  chán, (9) vì vậy  cho  nên  pháp  không tồn tại  dài  lâu. Khi  đức
_____________________                                       
(1) Tỳ-bà-thi Phật 毘婆尸佛; Ngũ phần: Duy-vệ Phật 維衛佛. Pāli: Vipassī.
(2)Thức Phật 式佛; Ngũ phần: Thi-diếp Phật 尸葉佛. Pāli: Sikhī.
(3)Câu-lưu-tôn  Phật 拘留孫佛; Ngũ  phần:  Câu-lâu-tôn  Phật 拘樓孫佛. Pāli: Kakusandha.
(4)Ca-diếp Phật 迦葉佛. Pāli: Kassapa.
(5) Tuỳ-diếp Phật 隨葉佛. Pāli: Vissabhu.
(6) Câu-na-hàm Mâu-ni Phật 拘那含牟尼佛. Pāli: Konāgamana.
(7) Pāli, Vin. iii, tr.7: các Thế Tôn Vipassī, Sikkhī và Vessabhu, phạm hạnh không tồn tại lâu dài. Các Thế Tôn Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa có phạm hạnh tồn tại lâu dài. Ngũ phần (tr.1b26) cũng nói như Pāli.
(8)12 bộ phận Thánh điển: Khế kinh 契經, Kỳ-dạ kinh 祇夜經, Thọ ký 授記經, Cú kinh 句經, Nhân duyên kinh因緣經, Bản sanh kinh 本生經, Thiện đạo kinh 善道經, Phương đẳng kinh 方等經, Vị tằng hữu kinh 未曾有經, Thí dụ kinh 譬 喻經, Ưu-bà-đề-xá kinh 優波提舍經. Liệt kê theo Pāli, chỉ có 9: suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhuta-dhammaṃ vedallaṃ. 
(9) Có điểm ngữ pháp đáng lưu ý trong bản Hán dịch. Trong bản Pāli (Vin. iii. 8): (...) kilāsuno ahesuṃ sāvakānaṃ vitthārena dhammaṃ desetuṃ, “(Các đức Thế Tôn này) không  tích cực  (=mệt mỏi)  thuyết pháp một cách rộng  rãi cho các đệ tử.” Tính từ kilāsuno (mệt mỏi = không tích cực, chủ cách, số nhiều, Hán: bì yếm

* Trang 15 *
device

Thế Tôn kia biết tâm các đệ tự mỏi mệt nhàm chán thì chỉ dạy như vầy: (1) ‘Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy; điều  này không  nên tư duy. Điều  này  nên đoạn; điều  này nên thành tựu và an trú.’ 
“Này  Xá-lợi-phất,  xa xưa về  trước,  đức  Phật  Tùy-diếp  cùng với một ngàn tỳ-kheo sống  trong rừng Kinh sợ. (2) Này Xá-lợi-phất, nếu có  người  nào  chưa  lìa dục mà  vào  trong rừng  kia,  thì  lông  trong người đều bị dựng ngược lên, cho nên gọi là rừng Kinh sợ. (3)
“Lại nữa, này Xá-lợi-phất, đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp Như  lai,  là bậc Chí Chơn, Đẳng Chánh Giác, quán  trong tâm một  ngàn vị tỳ-kheo,  thấy họ mỏi mệt  nhàm  chán,  bèn  nói pháp: ‘Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này nên
tư duy; điều  này không  nên tư duy. Điều  này  nên đoạn; điều  này nên thành tựu và an trú.’
“Này  Xá-lợi-phất,  nên  biết,  lúc bấy  giờ  đức  Phật  kia  và  các vị Thanh văn còn ở đời thì Phật pháp được truyền rộng rãi. Nhưng sau khi  đức Phật  kia  và  các Thanh văn (4) diệt  độ, mọi  người  trong  thế gian đời sau, đủ mọi thành phần khác nhau, đủ các dòng họ, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia. Đó  là  lý do khiến cho Phật pháp mau
_______________________
疲厭) phẩm định danh từ Thế Tôn (bhagavā ) chứ không phẩm định cho danh từ sāvakānaṃ (chỉ định cách, số nhiều, Hán: chư đệ tử 諸弟子) như trong Hán dịch.                                     
(1) Ngũ phần  (tr.1c10): “Thuyết pháp cho đệ tử bằng tâm niệm chứ không nói ra miệng rằng...”
(2) Khủng  úy  lâm 恐畏林. Ngũ  phần:  khủng bố  lâm 恐怖林. Pāli.:  aññtarasmiṃ bhiṃsanake vanasaṇḍe,  trong một khu rừng có nhiều sự kinh sợ kia. Hình như không  chỉ  khu rừng  có  tên  là Kinh sợ  (Khủng bố  hay Khủng  uý). Trong  thời Thích  tôn, cũng  có một  khu rừng  mang  tên  như vậy, Pāli:  Bhesakalāvana (Khủng bố  lâm)  thuộc nước Bhagga  (Bà-kỳ); Cf. A.ii.  61,  iii.  295; S.iii.  1,  iv. 116.
(3) Pāli kết  luận: “Do nguyên nhân này, phạm hạnh (brahmacariya) của các Thế Tôn Vipassī, Sikkhī, Vessabhu không tồn tại lâu dài (na ciraṭṭhitikaṃ ahosi).”
(4) Pāli: buddhānubhānaṃ sāvakānaṃ, các đệ tử đã giác ngộ theo Phật, chỉ các đại đệ tử đã đắc quả A-la-hán.

* Trang 16 *
device

diệt, không tồn tại  lâu dài. Tại sao vậy? Vì không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.
“Này Xá-lợi-phất, ví như các  loại hoa rải trên mặt bàn, gió thổi thì bay. Tại  sao vậy? Vì không dùng sợi  chỉ  xâu  nó lại, cho nên như vậy.
“Này Xá-lợi-phất, đức Phật kia và các chúng Thanh văn khi còn ở đời  thì  Phật  pháp lưu bố. Nhưng  sau  khi  đức  Phật  kia  và  chúng Thanh văn diệt độ, người  trong  thế gian, đủ mọi  thành phần khác nhau, đủ các dòng họ, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia khiến cho chánh pháp mau diệt, không tồn tại lâu dài. Tại sao? Vì không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất: “Đức  Phật Tỳ-Bà-thi,  đức  Phật Thức,  đức  Phật Câu-lưu-tôn,  đức Phật Ca-diếp vì các đệ tử rộng nói kinh pháp, từ Khế kinh cho đến Ưu-bà-xá kinh, cũng kết giới, cũng  thuyết giới. Khi  tâm chúng đệ tử  [569c] mỏi mệt nhàm  chán; đức Phật biết  tâm của họ mỏi mệt nhàm chán, chỉ dạy như vầy: ‘Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này  nên tư duy; điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn; điều này nên thành tựu và an trú.’
“Như vậy, này Xá-lợi-phất, các đức Phật kia và chúng Thanh văn khi còn ở đời thì Phật pháp lưu bố. Nếu các đức Phật kia và chúng Thanh văn  sau  khi  diệt  độ;  người  trong  thế  gian  đời  sau,  đủ mọi thành  phần  khác  nhau,  đủ  các  dòng họ,  đủ  các  gia tộc  khác  nhau xuất gia, không khiến cho Phật pháp mau diệt.” 
Tại sao vậy? Vì được thâu nhiếp bằng kinh pháp.
“Này Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên mặt bàn được xâu lại bằng sợi chỉ; tuy bị gió thổi nhưng không bị phân tán. Tại sao vậy? Nhờ sợi chỉ khéo xâu giữ lại. Cũng vậy, này Xá-lợi-phất, đức Phật kia cùng chúng Thanh văn ở đời rộng nói Phật pháp, như trên.”
“Này Xá-lợi-phất, do nhân duyên này mà Phật pháp  thời đức Phật Tỳ-bà-thi, cho đến đức Phật Ca-diếp được tồn tại  lâu dài, và cũng do nhân duyên này mà Phật pháp  thời đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp không tồn tại lâu dài.”

* Trang 17 *
device

Lúc bấy  giờ,  Tôn  giả  Xá-lợi-phất từ  chỗ  ngồi  đứng dậy, mặc  y trống vai bên hữu, đầu gối hữu chấm đất, chấp tay bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, nay chính  là  lúc. Cúi xin đức Đại Thánh vì các tỳ-kheo kết giới,  thuyết giới, khiến cho phạm hạnh được  tu tập, pháp được tồn tại  lâu dài.” Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất: 
“Hãy  thôi!(1) Như Lai tự biết  thời. Này Xá-lợi-phất, vì sao Như Lai chưa  vì  các tỳ-kheo kết  giới? Vì  trong  chúng tỳ-kheo  chưa  có  ai phạm pháp hữu lậu. Nếu có người  nào phạm pháp hữu lậu, nhiên hậu Thế Tôn mới vì các tỳ-kheo kết giới để đoạn pháp hữu lậu kia. Này Xá-lợi-phất,  khi tỳ-kheo  chưa  được lợi dưỡng  thì  chắc  chắn chưa sinh pháp hữu lậu. Nếu tỳ-kheo được lợi dưỡng  thì pháp hữu lậu  liền  sinh. Nếu  pháp hữu lậu  đã  sinh, Thế Tôn mới  vì  các tỳ-kheo kết giới, vì muốn khiến cho họ đoạn pháp hữu lậu vậy.
“Này Xá-lợi-phất, tỳ-kheo chưa  sinh pháp hữu lậu chỉ  vì chưa có danh  tiếng, chưa ai biết đến nhiều, chưa có  tiếng tăm nhiều, chưa có  tài  nghiệp  nhiều. Nếu tỳ-kheo  được  danh  tiếng,  cho  đến  nhiều tài  nghiệp  thì  pháp hữu lậu  liền  sinh. Nếu  có  pháp hữu lậu  sinh, nhiên hậu Thế Tôn sẽ vì đệ tử kết giới để đoạn pháp hữu lậu. Này Xá-lợi-phất, hãy thôi! Như lai tự biết thời.”
3. Nhân duyên Tu-đề-na: Kết giới lần thứ nhất
Bấy giờ Thế Tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Khi ấy, có Tu-đề-na Tử ở thôn Ca-lan-đà. (2) Trong  thôn  này,  ông  là  người  có  nhiều  tiền của, lắm  đồ châu báu, với tín tâm kiên cố, xuất gia hành đạo.
____________________                                        
(1) Hán:  thả  chỉ 且止. Pāli:  āgamehi  tvaṃ Sāriputta,  “Hãy  chờ  đợi,  này Xá-lợi-phất.”
(2) Con  trai của Tu-đề-na  ở  thôn Ca-lan-đà 迦蘭陀村須提那子. Ngũ  phần:  con trai của  trưởng  giả Na-lan-đà  tên  là Tu-đề-na. Tăng kỳ:  thành Tỳ-da-ly  có  con trai trưởng giả tên là Da-xá 耶舍. Thập tụng: Con trai trưởng giả tên là Tu-đề-na Gia-lan-đà 加蘭陀 Căn bản: Con trai của Yết-lan-đạc-ca tên là Tô-trần-na 羯蘭 鐸迦子蘇陳那. Pāli  (Vin.iii.  11):  Sudinno nāma  Kalanda(ka)putto  seṭṭhiputto, Sudinna, con trai của phú hộ Kalandaka.

* Trang 18 *
device

[570a1] Vào lúc bấy giờ, lúa thóc khan hiếm, các tỳ-kheo khất thực khó được. Tu-đề-na Tử tự nghĩ  như vầy:  “Hiện nay mất mùa, các tỳ-kheo  khất  thực  khó  được. Ta  nên hướng dẫn  các tỳ-kheo  đến thôn Ca-lan-đà để khất  thực. Các tỳ-kheo sẽ nhân bởi  ta mà được lợi dưỡng lớn để có thể  tu phạm hạnh. Cũng khiến cho dòng họ ta tích cực hành bố thí, làm các phước đức.” Nghĩ như vậy rồi, Tu-đề-na Tử liền dẫn các tỳ-kheo về thôn Ca-lan-đà.
Mẹ của  ông Tu-đề-na  nghe  con mình dẫn  các tỳ-kheo về lại bổn thôn, liền đến đón. Khi đến chỗ con, bà nói với con trai của mình: “Con nên bỏ đạo, trở về làm người bạch y. Tại sao vậy? Vì cha con đã qua đời, mẹ sống đơn độc, sợ gia  tài sẽ rơi  vào cửa nhà quan. Của cải của cha con vốn đã nhiều, huống là tài sản của tổ phụ để lại vô lượng. Thật  là đáng  tiếc! Do vậy, nay con hãy bỏ đạo để trở về đời.”
Tu-đề-na trả lời mẹ:
“Con không  thể bỏ đạo để  làm những việc phi pháp này. Hiện tại con rất thích phạm hạnh, tu đạo vô thượng.”
Ba lần người mẹ bảo như vậy, cũng ba lần người con thưa:
“Không thể bỏ đạo để trở về thế tục được!” 
Bà mẹ liền bỏ ra về. Bà ta đến chỗ người con dâu, nói: 
“Khi nào nguyệt kỳ của con đến, tin cho mẹ biết.” 
Người dâu tự biết nguyệt kỳ sắp đến, nên đến thưa với mẹ chồng:
“Thưa đại gia, nguyệt kỳ của con sắp đến.”
Bà mẹ chồng bảo: “Con nên dùng y phục và nữ trang của ngày cưới trang điểm thân con rồi đến đây.” 
Người  con  dâu  theo lời mẹ  chồng dạy,  liền tự  trang  điểm  thân mình; rồi cùng mẹ đến chỗ người chồng. Đến nơi, bà mẹ chồng nói với con bà:
“Nay đã đến  lúc, con phải bỏ đạo về đời. Tại sao vậy? Vì nếu con không bỏ đạo, tài vật của nhà ta sẽ bị thu vào cửa nhà quan.”

* Trang 19 *
device

Người con thưa với mẹ: “Con không thể bỏ đạo!”
Sau khi ba lần nói như vậy, bà nói với con trai:
“Hôm nay hoa thủy của vợ con đã xuất. Con nên lưu lại đứa con để dòng dõi của con không bị đứt.”
Người con thưa: “Việc này rất dễ. Con có thể làm được.”
Lúc bấy  giờ,  trước  khi  Phật  chế  giới,  Ca-lan-đà Tử  không  thấy được dục là ô uế, liền nắm tay người vợ cũ dẫn vào trong vườn, nơi chỗ khuất vắng, ba lần  làm việc bất tịnh. Ngay khi ấy,  trong vườn có  con  quỷ vừa mệnh  chung  liền  gá  vào  thai. Nương nơi  thai  đủ chín tháng, sinh ra một hài nhi nam, dung mạo đoan chánh, có một không  hai  trên  đời,  được  đặt  tên  là  Chủng Tử, (1) các căn  đầy  đủ. Theo thời gian, Chủng Tử khôn lớn, cạo tóc, mặc cà sa, với tín tâm vững chắc xuất gia học đạo, tinh cần không biếng nhác, đắc quả A-la-hán,  thần  thông biến hóa, oai đức vô lượng, cho nên có hiệu  là Tôn giả Chủng Tử. (2)
Tu-đề-na tập oai  nghi của  sa-môn,  không  việc  gì  không  biết, gặp việc gì cũng làm được; [570b] và cũng có thể dạy bảo người khác. 
Từ khi Tu-đề-na  làm việc bất tịnh rồi, về sau  thường ôm  lòng sầu ưu. Các đồng học thấy vậy hỏi:
“Thầy có điều gì sầu ưu phải chăng? Thầy  tu phạm hạnh  lâu, oai nghi lễ tiết không việc gì không biết, tại sao sầu ưu? Hay  là không thích sống đời sống phạm hạnh nữa?” 
Tu-đề-na nói: “Tôi rất  thích đời sống phạm hạnh. Nhưng gần đây, nơi chỗ khuất vắng, tôi đã phạm ác hạnh; cùng vợ cũ (3) làm việc bất tịnh, nên ưu sầu.”
_____________________                                        
(1) Tứ phần, Căn bản: Chủng Tử 種子. Tăng kỳ, Thập tụng: Tục Chủng 續種. Pāli: Bījaka.
(2) Pāli, Vin.iii.19, về sau, Bījaka và mẹ đều xuất gia, và cả hai đều đắc quả A-la-hán.
(3) Nguyên Hán: cố nhị 故二. Pāli: purāṇadutiyakā.

* Trang 20 *
device

Các tỳ-kheo nói với Tu-đề-na:
“Tại sao thầy lại  làm việc xấu như vậy? Trong pháp thanh tịnh của đức Như Lai, ở trong dục mà không dục, ở trong cấu bẩn mà không cấu bẩn, hay đoạn  trừ khát ái, phá bỏ hang ổ, (1)  trừ các  trói buộc, ái diệt tận chứng Niết-bàn. Tại  sao nay ở  trong pháp  thanh tịnh  này Thầy lại cùng vợ cũ làm việc bất tịnh ?”
Lúc bấy  giờ,  các tỳ-kheo  đến  chỗ  đức Thế  Tôn,  cúi  đầu lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này  trình bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Lúc ấy đức Thế Tôn do nhân duyên này mà tập hợp các tỳ-kheo.
Đức Thế Tôn có khi biết mà vẫn hỏi, có khi biết mà không hỏi; đôi khi đúng lúc thì hỏi, đôi khi đúng lúc mà không hỏi; chỉ hỏi khi nào hợp  nghĩa (2), không hợp nghĩa thì không hỏi. Bấy  giờ  đức Thế Tôn  biết  đúng  thời, hợp  nghĩa,  cho nên hỏi Tu-đề-na:  “Thật sự ông  có  cùng vợ cũ  làm hạnh bất tịnh hay không?”
“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn. Con đã phạm bất tịnh hạnh.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:
“Việc ông làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận. Ông đã  làm điều chẳng nên làm.
“Tu-đề-na, tại sao ở trong pháp thanh tịnh này, (như trên, cho đến) ái diệt tận chứng Niết-bàn, lại cùng vợ cũ làm hạnh bất tịnh?”
Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Thà để nam căn vào  trong miệng con rắn  độc,  không  nên  để  vào nữ căn. Tại  sao vậy?  Vì  duyên  này không đọa nơi đường ác, còn nếu phạm vào người nữ thì thân hoại
  ______________________                                      
(1) Sào  quật 巢窟; một dịch nghĩa của  a-lại-da (ālaya). Nghĩa  thông dụng:  chấp, dục cầu, khát vọng. Phá hoại sào quật, Pāli: anālaya, cf. D.ii. tr. 310, Vin. i. 10: Thế nào là Khổ diệt thánh đế?  Đối với khát ái mà hoàn toàn ly dục, diệt tận, xả bỏ,  giải  thoát,  không  chấp  trì (taṇhāya  asesavirāganirodho cāgo  paṭinissago mutti anālayo).
(2) Nghĩa 義; đây hiểu là phù hợp với mục đích giải thoát.

* Trang 21 *
device

mạng chung, đọa vào ba đường ác. Tại sao vậy? Ta đã dùng vô số phương tiện nói pháp đoạn dục, đoạn dục tưởng, diệt dục niệm, trừ tan sức nóng của dục, vượt ra khỏi sự kết buộc của ái. Ta đã dùng vô số phương tiện nói, dục như lửa, dục như bó đuốc cỏ khô trong tay, cũng như trái cây, lại như vật tạm mượn, cũng như xương khô, như cục thịt, như cảnh mộng, như mũi dao nhọn được dẫm lên, như đồ gốm mới  làm đựng nước để dưới nắng sáng giữa ngày, như đầu con rắn độc, như con dao xoay vòng, như trên cọc nhọn, như ngọn lao bén đâm. (1) Dục rất  là nhớp nhúa, rất  là xấu ác,  là điều mà Phật quở trách.
“Tu-đề-na,  ngươi ở  trong giáo pháp  thanh tịnh của Ta, (như  trên, cho  đến)  ái  diệt tận  chứng Niết-bàn, lại  cùng vợ cũ  làm hạnh bất tịnh.”
[570c01] Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách, rồi bảo các tỳ-kheo:  “Tu-đề-na  là  người  ngu  si,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới đầu  tiên. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới,  nhắm đến mười  cú nghĩa: (2) 1. Nhiếp  thủ đối với Tăng. 2. Khiến cho Tăng hoan hỷ. 3. Khiến cho Tăng an lạc. 4. Khiến cho người chưa tín thì có tín. 5. Người đã có tín khiến tăng tưởng. 6. Để điều phục người chưa được điều phục. 7. Người có  tàm quý được an lạc.  8. Đoạn hữu lậu  hiện tại.  9. Đoạn hữu lậu  đời vị  lai.  10. Chánh pháp được tồn tại lâu dài. (3)
 ______________________                                      
(1) Các  thí dụ về  tai hại của dục, xem Trung A-hàm 54  (T1,  tr.763c17); Cf. Pāli, M.22. Alagaddūpama. 
(2) Tập  thập cú nghĩa 集十句義. Ngũ phần, Thập tụng: dĩ  thập lợi cố 以十利故; Tăng-kỳ: thập sự lợi ích 十事利益. Pāli: dasa atthavase paṭicca, căn cứ trên 10 ý nghĩa (mục đích).
(3) Ngũ phần (tr.3c1): 1. Tăng hoà hiệp; 2. Tăng đoàn kết; 3. Chế ngự người xấu; 4. Để cho người biết hổ  thẹn được yên vui; 5. Đoạn hữu lậu đời này; 6. Diệt hữu lậu đời sau; 7. Khiến người chưa tin có tín tâm; 8. Khiến người có tín tâm được tăng trưởng; 9. Để Chánh pháp lâu dài; 10. Phân biệt tì-ni phạm hạnh tồn tại lâu dài. Tăng kỳ (tr.228c24): 1. Nhiếp Tăng; 2. Cực nhiếp Tăng; 3. Để Tăng an lạc; 4. Chiết phục người không biết hổ  thẹn; 5. Để người có  tàm quý sống yên vui; 6.

* Trang 22 *
device

“Muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo nào,  phạm bất tịnh hạnh,  làm  pháp  dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.”
Đức Thế Tôn đã kết giới như vậy cho các tỳ-kheo.
4. Nhân duyên Bạt-xà tử: Kết giới lần thứ hai
Bấy  giờ, tỳ-kheo Bạt-xà Tử (1) sầu ưu  không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng với vợ cũ làm việc bất tịnh. Sau đó suy nghĩ, “Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới:  ‘Tỳ-kheo nào phạm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ Song  ta vì sầu ưu, không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ làm việc bất tịnh. Như vậy  ta có phạm ba-la-di không? Ta sẽ  làm như  thế nào đây?” Bèn nói với các đồng học:
“Thưa Trưởng  lão, đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới:  ‘Tỳ-kheo nào, phạm bất tịnh hạnh,  làm pháp dâm dục, Tỳ-kheo ấy  là kẻ ba-la-di,  không  được sống  chung.’  Song  tôi  vì sầu  ưu,  không muốn
_____________________                                                                                    
Người chưa tin được tin; 7. Người đã tin thì tin thêm; 8. Trong đời này được lậu tận;  9.  Các lậu  đời vị  lai  không  sinh;  10.  Để  chánh  pháp cửu  trụ.  Căn bản(tr.629b22),  như Pāli. Pāli,  Vin.iii.  tr.32:  saṅghasuṭṭhutāya  (vì sự  ưu mỹ của Tăng);  saṅghaphāsutāya  (vì sự  an lạc của Tăng);  dummaṅkūnaṃ  puggalānaṃniggahāya (để chế phục hạng người không biết hổ thẹn) ; pesalānaṃ bhikhūnaṃ phāsuvihārāya  (để  các tỳ-kheo  nhu  hòa sống  an lạc);  diṭṭhadhammikānaṃāsavānaṃ  saṃvarāya (để  ngăn  chặn hữu lậu  đời  này);  sampāratikānaṃ āsavānaṃ paṭighātāya (để đối trị hữu lậu đời sau); appasannānaṃ pasādāya (vì tịnh  tín của người chưa có  tín); pasannānaṃ bhiyyobhāvāya  (vì sự tăng  trưởng của  người  có  tín);  saddhammaṭṭhitiyā  (vì sự  trường tồn của  chánh  pháp);vinayānuggahāya (để nhiếp hộ tì-ni). 
(1) Bạt-xà Tử 跋闍子. Tăng kỳ (tr.231b24), Phật trụ Tì-xá-li, có hai người Li-xa 離車子. Thập  tụng  (tr.1c22), Phật tại Xá-vệ, tỳ-kheo  tên Bạt-kì Tử 跋耆子. Ngũ phần  (tr.4a1), một số  đông  các tỳ-kheo;  nhưng sự  kiện  được  đề cập  sau  nhân duyên vượn  cái. Pāli, Vin.iii.23,  sambahulā vesālikā vajjiputtakā  bhikkhū, một số đông các tỳ-kheo người Vajji ở Vesālī. Nhưng sự kiện đề cập sau nhân duyên vượn cái như Ngũ phần.

* Trang 23 *
device

sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ hành bất tịnh hạnh. Như vậy tôi  có  phạm  ba-la-di  không?  Tôi sẽ  làm  như  thế  nào  đây?  Lành thay, Trưởng  lão vì  tôi đem việc này bạch  lên đức Phật. Tùy  theo đức Phật dạy như thế nào, tôi sẽ phụng hành như thế ấy.”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi  ngồi  qua một  bên,  đem  nhân  duyên  này bạch  đầy  đủ  lên  đức Thế Tôn. 
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Bạt-xà Tử: 
“Việc ông làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận. Ông đã  làm điều chẳng nên làm.
“Thế nào, người ngu si, không  thích tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ làm việc bất tịnh? Vừa mới để vào là ba-la-di. Ông là người ngu si,  phạm  ba-la-di,  không  được sống  chung. Cho  nên,  này  các tỳ-kheo, nếu có ai không thích tịnh hạnh, cho phép xả giới về nhà. Sau đó, muốn xuất gia lại, ở  trong Phật pháp  tu tịnh hạnh, nên độ cho xuất gia,  thọ đại giới. Từ nay về sau [571a01] nên  thuyết giới như vầy:
“Tỳ-kheo nào,  cùng với tỳ-kheo  đồng  giới,  không xả  giới, giới  sút  kém  không tự  phát lồ, (1) phạm bất tịnh hạnh,  làm pháp  dâm dục, tỳ-kheo  ấy  là kẻ  ba-la-di,  không  được sống chung.”
Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy. 
5. Nhân duyên vượn cái: Kết giới lần thứ ba
Tỳ-kheo khất thực (2) sống ở trong rừng.
 ________________                                      
(1) Nguyên Hán: Giới luy bất tự hối 戒羸不自悔. Thập tụng: giới luy bất xuất 戒羸不出. Pāli: dubbalyaṃ anāvikatvā, không tuyên bố sự bất lực của mình (không kham nổi đời sống tỳ-kheo).                                        
(2) Khất  thực tỳ-kheo 乞食比丘; Tỳ-kheo sống chỉ bằng khất  thực; một  trong 12

* Trang 24 *
device

Trong khu rừng này,  trước đó có một con vượn cái (1) đã ở. Tỳ-kheo khất  thực  này mỗi  khi  vào  thôn  khất  thực, rồi  trở về lại rừng,  ăn xong, mang  thức ăn còn dư cho con vượn cái này ăn. Cứ như vậy, dần dần thuần phục được nó. Nó đi theo sau tỳ-kheo, thậm chí dùng tay bắt,  nó vẫn  không  chạy. Tỳ-kheo  này  liền bắt  con vượn  cái cùng làm việc bất tịnh.
Bấy giờ, có một số đông tỳ-kheo đi xem xét các trú xứ, (2) tuần tự đến khu rừng này. Lúc ấy, con vượn cái ở  trước mặt các tỳ-kheo, xoay lưng lại, bày tỏ dấu hiệu hành dâm. Các tỳ-kheo suy nghĩ: 
“Con vượn cái này ở trước mặt chúng ta, xoay lưng lại, bày tỏ dấu hiệu hành dâm, đâu không cùng với tỳ-kheo khác làm việc bất tịnh hay chăng?” Các tỳ-kheo cùng bảo nhau ẩn mình nơi chỗ vắng để rình xem.
Tỳ-kheo khất  thực kia  trở lại khu rừng, ăn xong, dùng  thức ăn dư cho  con vượn. Con vượn  ăn rồi,  cùng  làm  việc bất tịnh. Các tỳ-kheo thấy vậy, liền đến nói với tỳ-kheo khất thực ấy rằng:
“Đức Như Lai há không chế cấm tỳ-kheo không được  làm việc bất tịnh hay chăng?”
Vị tỳ-kheo kia bảo:
“Đức Như Lai chế cấm nam phạm với nữ chứ không chế cấm với súc sinh.”
Các tỳ-kheo nghe  nói lời  như vậy rồi, đến chỗ đức Phật, đảnh lễ, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này liền tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo khất thực kia:
_________________
hạnh  đầu-đà.  Ngũ  phần  (tr.3c6):  a-luyện-nhã tỳ-kheo 阿練若比丘;  Thập tụng (tr.2a1), một tỳ-kheo sống một mình trong rừng, ở Câu-tát-la. Pāli (Vin. iii. 22), một tỳ-kheo sống trong rừng Đại lâm (Mahāvana), Vesāli.
(1) Hán: thư di hầu 雌獼猴; Pāli: makkaṭī.
(2) Hán: án hành trú xứ 案行住處; Ngũ phần: án hành ngoạ cụ 案行臥具. Pāli, nt., senāsanacarikaṃ āhiṇḍantā, du hành để tìm chỗ ngủ nghỉ.

* Trang 25 *
device

“Tỳ-kheo, sao lại cùng với vượn cái  làm việc bất tịnh? Vừa để vào liền phạm ba-la-di. Nay muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không hoàn giới, giới  sút  kém  không tự  phát lồ,  cho  đến  cùng với  loài  súc sinh, phạm bất tịnh hạnh; Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.
C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo nào: gồm có tỳ-kheo danh tự, tỳ-kheo tương tợ, tỳ-kheo tự xưng, tỳ-kheo  thiện  lai, tỳ-kheo khất cầu, (1) tỳ-kheo mặc y cát  tiệt, (2) tỳ-kheo  phá kết sử, tỳ-kheo  thọ  đại  giới  do bạch tứ yết-ma  như pháp thành tựu hợp cách (3). Trong số các tỳ-kheo này, tỳ-kheo ở đây đề cập đến  là tỳ-kheo  thọ đại giới bạch tứ yết-ma như pháp  thành tựu hợp cách. Trụ trong pháp tỳ-kheo đó gọi là tỳ-kheo.
Cùng với tỳ-kheo: (4) ở đây chỉ các tỳ-kheo khác  thọ đại giới bạch tứ yết-ma  [571b1]  như  pháp  thành tựu hợp  cách,  trụ  trong  pháp tỳ-kheo. Đó là nghĩa ‘cùng với tỳ-kheo.’
_____________________                                        
(1) Khất cầu tỳ-kheo  乞求比丘;  Ngũ  phần:  khất tỳ-kheo  乞比丘;  Thập tụng (tr.2b30): khất tỳ-kheo, vì xin ăn nơi người khác. Như bà-la-môn khi đi xin ăn
cũng tự  nói  ‹Ta  là tỳ-kheo.› Pāli:  bhikkhakoti  bhikkhu,  bhikkhācaryaṃ ajjhupagatoti  bhikkhu, tỳ-kheo,  là  người  hành  khất,  là  người  chấp  nhận sống
cuộc đời hành khất.
(2) Cát  tiệt  y  割截衣;  Ngũ  phần:  hoại sắc  cát  tiệt  y  壞色割截衣. Pāli: bhinnapaṭadharoti  bhikkhu, tỳ-kheo,  là  người mặc  y từ  những miếng vải  rách
(khâu lại).
(3) Pāli:  samaggena  saṅghena  ñatticatutthena  kammena  akuppena  ṭhānārahena upasampanno ti bhikkhu, tỳ-kheo, là người thọ cụ túc (=đã thành tựu) với sự hợp cách không di động do bạch tứ yết-ma bởi Tăng hoà hiệp.
(4) Hán: cộng tỳ-kheo  共比丘. Pāli:  bhikkhūnaṃ, sở hữu  cách số  nhiều của bhikkhu:  (học xứ) của  các tỳ-kheo. Bản  Hán  hiểu  là  chỉ  định  cách: ‹đối với (=dành cho) các tỳ-kheo›.

* Trang 26 *
device

Thế  nào gọi  là  đồng  giới? (1) Đối với  giới mà Ta  (Phật)  đã kết  cho các đệ tử,  thà chết chứ không phạm. Trong đây,  cùng với các tỳ-kheo khác duy nhất giới, đồng nhất giới, bình đẳng giới; đó gọi  là đồng giới.
Thế nào gọi là không xả giới? Xả giới khi đang điên cuồng; xả giới trước người điên cuồng; xả giới khi đau đớn; xả giới  trước người đau đớn; xả giới khi điếc; xả giới khi câm; xả giới khi câm điếc; xả giới trước người câm; xả giới trước người điếc; xả giới trước người câm  điếc. Người  trung  quốc xả  giới  trước  người  biên  địa;  người biên địa xả giới  trước người  trung quốc. Chỗ không tĩnh, tưởng  là tĩnh mà xả giới. (2) Tĩnh tưởng  là không tĩnh mà xả giới. Giỡn cười xả giới. Trước  trời, rồng, dạ xoa, ngạ quỷ, người ngủ, người chết, người không biết gì, không tự nói hoặc nói mà người nghe không hiểu..., các trường hợp như vậy không gọi là xả giới.
Thế  nào gọi  là  xả  giới? Nếu tỳ-kheo  không  thích  tu  phạm hạnh, muốn được  trở về nhà, nhàm chán pháp tỳ-kheo,  thường ôm  lòng hổ thẹn, (3) tham thú vui tại gia, tham muốn pháp ưu-bà-tắc, hoặc chỉ niệm tưởng  pháp  sa-di, (4) hoặc  ưa  pháp  ngoại  đạo,  ưa  pháp  đệ tử ngoại đạo, (5) ưa pháp phi  sa-môn, phi Thích tử, bèn  nói  lên lời nói
____________________
(1) Đồng  giới 同戒; Ngũ  phần:  đồng học  giới  pháp 同學戒法;  Thập tụng:  đồng nhập tỳ-kheo học  pháp 同入比丘學法  ;  Căn bản:  đồng  đẳng học xứ. Pāli:sikkhāsājīvasamāpanno, đã chấp nhận đời sống và học xứ (của các tỳ-kheo); giải thích  (Vin.  iii. 23):  sikkhā  (học) chỉ cho ba học: tăng  thượng giới, tăng  thượng tâm, tăng thượng tuệ (adhisīla, adhicitta, adhipaññā); sājīvaṃ (đời sống): chỉ các học xứ mà Phật đã qui định (bhagavatā paññattaṃ sikkhāpadaṃ).
(2) Ngũ phần: độc tưởng 獨想: tưởng chỉ có một mình; Căn bản: độc tĩnh xứ 獨 靜 處, chỗ vắng vẻ một mình.
(3) Nghĩa  là, cảm  thấy xấu hổ  khi  nghĩ  mình  là tỳ-kheo.  Cf. Pāli,  Vin.iii.24: bhikkhubhāvaṃ aṭṭīyamāno harāyamāno, khó chịu và xấu hổ vì mình là tỳ-kheo.
(4) Cf. Pāli, nt., sāmaṇerabhāvaṃ patthayamāno, ước muốn làm sa-di (hơn là làm tỳ-kheo).
(5) Cf. Pāli,  nt.,  titthayasāvakabhāvaṃ  patthayamāno,  ước muốn  làm  đệ tử của ngoại đạo

* Trang 27 *
device

như vầy: “Tôi xả Phật, xả Pháp, xả tỳ-kheo Tăng, xả Hòa-thượng, xả  đồng Hòa-thượng, xả  A-xà-lê, xả  đồng A-xà-lê, xả  các  phạm hạnh, (1) xả giới, xả  luật, xả học sự, nhận pháp tại nhà. Tôi  làm tịnh nhân. Tôi làm ưu-bà-tắc. Tôi làm sa-di. Tôi làm ngoại đạo. Tôi làm đệ tử ngoại đạo. Tôi làm phi sa-môn, phi Thích tử.” 
Hoặc lại nói như vầy: “Thôi, không cần Phật. Phật đối với  tôi đâu có  ích gì. Tôi  lìa bỏ chỗ Phật.” Cho đến đối với học sự cũng  nói như vậy. Hoặc lại nói những lời hủy báng Phật, Pháp và Tăng cho đến học sự; khen ngợi gia nghiệp, cho đến phi  sa-môn, phi Thích tử. Bằng lời nói như vậy một cách rõ ràng để nói thì gọi là xả giới.
Giới sút kém: (2) hoặc có giới sút kém mà không xả giới, hoặc có giới sút kém mà xả giới.
Tại sao gọi  là giới sút kém mà không xả giới? Nếu tỳ-kheo sầu ưu, không  thích  phạm hạnh, muốn  được về  nhà,  nhàm  chán  pháp tỳ-kheo, ôm  lòng xấu hổ, ý muốn ở nhà, cho đến ưa muốn  làm pháp phi sa-môn, phi Thích tử, bèn nói như vầy: “Tôi nghĩ đến cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, xóm  làng,  thành ấp,  [571c1]  ruộng vườn, ao hồ. Tôi muốn xả Phật, Pháp, Tăng, cho đến học sự.” Liền muốn thọ trì gia nghiệp, cho đến, phi sa-môn, phi Thích tử. Như vậy gọi là giới sút kém mà không xả giới.
Thế nào gọi  là giới sút kém mà xả giới? Nếu khởi tư duy như vầy: ‘Tôi muốn xả giới.’ Rồi xả giới. Như vậy gọi là giới sút kém mà xả giới. Bất tịnh hạnh: (3) là pháp dâm dục. 
Cho đến cùng với súc sinh: là chỉ đối tượng có thể hành dâm.
___________________
(1) Chư  phạm hạnh 諸梵行; cũng nói  là  đồng  phạm hạnh  (Pāli:  sabrahmacārin) đây chỉ các tỳ-kheo đồng học, hay bạn đồng tu.
(2) Hán: giới luy 戒羸. Pāli, nt., dubbalyaṃ, sự yếu đuối (của mình).
(3)  Bất tịnh hạnh  (hành)  不淨行, cũng  nói  là  phi  phạm hạnh.  Phạm hạnh (Skt.=Pāli: brahmacariya) nguyên nghĩa, sống cuộc đời (đoạn dục để) phụng sự Phạm  thiên. Trong  Phật  giáo,  chỉ sự  đoạn  trừ  dâm dục.  Luận  trí  độ  20:  “Chư thiên đoạn trừ dâm dục đều được gọi là Phạm.” Hán dịch “tịnh hạnh” theo nghĩa ly dục thanh tịnh.

* Trang 28 *
device

Thế nào  là ba-la-di? (1) Ví như cái đầu của con người đã bị chặt  thì không  thể mọc  trở lại. Tỳ-kheo cũng  như vậy,  người  phạm  pháp này không còn thành tỳ-kheo nữa, cho nên gọi là ba-la-di.
Thế nào gọi  là không được sống chung? (2) Có hai  trường hợp gọi  là được sống chung: đồng một yết-ma, đồng một  thuyết giới. Không được  cùng  chung  làm  hai  việc  này  cho  nên gọi  không  được sống chung.
D. PHẠM TƯỚNG
Có ba trường hợp hành bất tịnh hạnh thành ba-la-di: loài người, phi nhơn, súc sinh. Lại có năm loại hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di: thuộc loài người là phụ nữ, đồng nữ, có hai hình, (3) huỳnh môn, (4) người nam. Nơi năm đối tượng này hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di.
Đối với ba loại giống cái hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Những gì là ba? Người nữ, phi nhân (5) nữ, súc sinh cái. Đối với ba đối tượng
_________________
 (1) Ngũ phần (tr.4c21): “Ba-la-di, gọi là đọa pháp,  là ác pháp, là đoạn đầu pháp.” Tăng kỳ (tr.237b24): “Ba-la-di, là đối với pháp trí mà thối thất, đọa lạc, không có đạo quả phần.” Thập tụng (tr.4b13): “Ba-la-di, là đọa lạc, không bằng 墮不如; là tội cực  ác,  sâu nặng.”  Căn bản  (tr.630c6):  “Ba-la-thị-ca 波羅市迦,  là tội cực trọng, rất đáng ghê tởm, rất đáng bị ruồng bỏ... mất thể tính Bí-sô, trái ngược với thể tính Niết-bàn; là sự đọa lạc, sụp đổ, bị kẻ khác đánh bại không còn cứu được nữa.” Pāli,  Vin.iii.28:  pārājiko  hotī  ti  seyyathāpi nāma  puriso sīrascchinno abhobbo  tena  sarīrabandhanena jīvituṃ,  “Pārājika,  người  phạm  ba-la-di,  như một người mà cái đầu đã bị chặt không thể sống với thân được ráp nối lại.”
(2) Bất cộng  trú  不共住. Pāli,  nt.,  asaṃvāso  ti  saṃvāso nāma  ekakammaṃ ekuddeso samasikkhatā, “Bất cộng trú: đồng nhất yết-ma, đồng nhất thuyết giới, đồng đẳng học xứ, đó là cộng trú.”
(3) Nhị  hình 二形.  Ngũ  phần,  Thập  tụng:  nhị căn 二根. Pāli:  ubhatovyañjana, lưỡng tính, ái nam ái nữ.
(4) Huỳnh môn 黃門, bất năng nam 不能男. Căn bản: bán-trạch-ca 半擇迦. Pāli: paṇḍaka, người bị hoạn/ thiến.
(5) Phi nhân 非人, chỉ các loại trời, thần, và tương tự. Pāli: amanussa.

* Trang 29 *
device

này hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Ba loại đồng nữ, ba loại nhị hình, ba  loại bất năng nam, ba  loại người nam; đối với những  loại này hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Cũng như vậy, phạm ba nơi của người phụ nữ, thành ba-la-di. Ba nơi  là, đường đại tiện, đường tiểu tiện và miệng. Cũng vậy, ba nơi của loài phi nhân cái, súc sinh giống cái, đồng nữ loài người, đồng nữ loài phi nhơn, súc sinh mới lớn, người nhị hình, phi nhân nhị hình, súc sinh nhị hình.
Hành bất tịnh hạnh ở hai nơi của người huỳnh môn, thành ba-la-di. Hai nơi  là đường đại  tiện và miệng. Phi nhân huỳnh môn, súc sinh huỳnh môn cũng vậy. Ở  hai nơi  loại bất năng  nam,  súc  sinh  đực cũng như vậy.
Tỳ-kheo với  tâm  dâm, hướng  đến nơi  đường  đại  tiện,  đường  tiểu tiện  và  miệng của  người  phụ nữ; vừa  vào  thì  phạm;  không  vào không  phạm. Hai  bên  có vật  cách;  hoặc  bên  có vật  cách,  bên  kia không; hoặc bên kia không có vật cách, bên này có; hoặc cả hai bên đều không có vật cách; thảy đều thành ba-la-di.
Nếu tỳ-kheo với  ý dâm, hướng đến ba nơi của hạng phi  nhân nữ, súc  sinh cái, đồng nữ người, đồng nữ phi  nhân,  súc  sinh nhị  hình cũng  như vậy. Hay hướng đến  hai nơi của  người huỳnh môn, phi nhân huỳnh môn, súc sinh huỳnh môn; người nam, phi nhân nam; súc sinh đực lại cũng như vậy.
Nếu tỳ-kheo với ý dâm hướng đến đường đại  tiện, đường  tiểu  tiện và miệng của  người  phụ nữ  đang  ngủ  hoặc  chết  [572a] mà  hình chưa hư hoại hay phần nhiều chưa hư hoại, vừa để vào  liền phạm, không vào  thì không phạm. Có vật ngăn cách hay không vật ngăn cách cũng vậy... cho đến, người nam cũng như vậy.
Nếu tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến chỗ người phụ nữ, cưỡng đem  nam căn  đặt  vào  trong  ba nơi. Khi mới  để  vào  có cảm  giác thích thú, khi vào rồi, khi ra cũng như vậy, phạm ba-la-di. Khi mới vào, và khi vào rồi có cảm giác  thích  thú, nhưng khi  ra  thì không, vẫn phạm ba-la-di. Khi mới vào, khi vào rồi không cảm  thấy  thích thú, nhưng khi ra có cảm  thọ lạc, cũng phạm ba-la-di. Khi vào thọ lạc, khi vào rồi và khi ra không  thọ lạc cũng mắc tội ba-la-di. Khi mới vào không thọ lạc, khi vào rồi và khi ra có thọ lạc, mắc tội ba-

* Trang 30 *
device

la-di. Khi vào rồi thọ lạc, khi ra thọ lạc cũng như trên đã nói, cho đến có vật cách hay không vật cách cũng như vậy. Từ đạo vào đạo; từ đạo vào phi đạo; (1) từ phi đạo vào đạo. Hoặc vào có  chừng mức,  hoặc  vào hết;  hoặc  nói  hoặc  không  nói. Nếu, với tâm dâm, cho đến chỉ vào như sợi lông, đều phạm ba-la-di. Phương tiện mà không vào, phạm thâu-lan-giá.(2)
Nếu tỳ-kheo phương tiện muốn tìm cầu  làm việc bất tịnh, thành thì phạm ba-la-di, không thành thì phạm thâu-lan-giá.
Nếu tỳ-kheo xúi tỳ-kheo làm việc bất tịnh; tỳ-kheo kia làm theo lời xúi  (thì tỳ-kheo  xúi)  phạm  thâu-lan-giá;  (tỳ-kheo  kia)  không  làm theo lời  xúi  (thì tỳ-kheo  xúi) mắc  đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni  xúi tỳ-kheo,  làm  phạm  thâu-lan-giá,  không  làm  thì mắc  đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,  các  chúng  khác  xúi  nhau  làm hạnh bất tịnh, làm hay không  làm đều mắc đột-kiết-la. Nếu tử thi phân nửa bị hư hoại mà  làm việc bất tịnh, khi để vào  liền phạm  thâu-lan-giá. Nếu phần lớn bị hư hoại,
_______________________________
(1) Đạo 道, chỉ các đường đại và tiểu tiện; phi đạo 非道, chỉ các đường khác. Pāli: magga: passāva-magga, vacca-magga.
(2) Thâu-lan-giá 偷蘭遮. Ngũ  phần:  thâu-la-giá 偷羅遮. Pāli:  thulla/thūlaccaya; Skt.  sthūlātyaya, dịch:  thô tội,  đại tội,  trọng tội; Thiện  kiến 9: “Thâu-lan  (Pāli: thulla,  thūla; Skt. sthūla), nghĩa  là lớn. Giá 遮, chỉ sự chướng ngại đạo, về sau đọa ác đạo.”

* Trang 31 *
device

hay bị hoại hết  thì phạm  thâu-lan-giá. Nơi kẽ hở của xương  làm hạnh bất tịnh,  phạm  thâu-lan-giá. Đào  đất  làm thành lỗ,  hoặc nơi miệng  bình,  phạm  thâu-lan-giá. Tưởng  là  đạo hay nghi như vậy, tất cả đều phạm thâu-lan-giá.
Nếu nơi  đạo mà  khởi  ý tưởng  là  đạo,  phạm  ba-la-di. Nếu  nghi  là đạo, phạm ba-la-di. Nếu nơi đạo mà tưởng phi đạo, phạm ba-la-di. Phi  đạo mà  [572b] tưởng  là  đạo,  phạm  thâu-lan-giá.  Phi  đạo mà nghi, phạm thâu-lan-giá. Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni mắc đột-kiết-la diệt tẫn. Đó là phạm. (1)
Sự không phạm: khi ngủ không hay biết, không  thọ lạc, hoàn  toàn không có ý dâm thì không phạm.
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới,  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. Bức bách thì không phạm.(2)
II. BẤT DỮ THỦ (3)
A. DUYÊN KHỞI

Một  thời, đức Thế Tôn du hóa nơi  thành La-duyệt,  trong núi Kỳ- xà-quật. (4)
__________________________
(1) Thập  tụng  (tr.2c29),  nhân  duyên Nan-đề:  Phật tại Xá-vệ. Bấy  giờ Nan-đề  tu thiền trong rừng, bị Ma thiên thần dụ, dẫn đến chỗ hành dâm với con ngựa cái đã chết. Ngay  sau  đó tức  thì tỉnh ngộ,  chạy  thẳng về  tinh-xá, khẩn  thiết  xin Tăng đừng diệt tẫn. Phật khiến các tỳ-kheo  tác pháp bạch tứ yết-ma cho Nan-đề sám tội ba-la-di, gọi  là “Yết-ma dữ học pháp 與學法.” Nhân đó, Phật quy định các điều  kiện  và  các  phận sự  cho tỳ-kheo  được dữ học  pháp.  Cf.  Tứ  phần  35 (tr.809a8), về yết-ma dữ học pháp cho Nan-đề.
(2)Tăng kỳ  (tr.238a23) phần kết, “Thế Tôn  trú tại  thành Tỳ-da-ly,  sau  thành đạo năm thứ 5, nửa tháng thứ năm, ngày 12, sau bữa ăn trưa, bóng ngả về phía đông cỡ nửa người đang ngồi, nhân trường hợp Trưởng  lão Da-xá Ca-lan-đà Tử, chế giới này.”
(3) Ngũ phần, tr. 5b1; Tăng-kỳ, tr. 238a27; Thập tụng, tr. 3b8; Căn bản, tr. 635c24; Vin. iii. tr. 41.
(4) La-duyệt  thành Kỳ-xà-quật sơn 羅閱城耆闍崛山. Ngũ  phần  (tr.5b1), Phật tại

* Trang 32 *
device

Bấy giờ trong thành La-duyệt có tỳ-kheo tự là Đàn-ni-ca, (1)con  người  thợ  đồ gốm, lưu  trú  trong một  thảo  am nơi  chỗ  khuất vắng. (2) Sau  khi vị tỳ-kheo  kia  vào  trong  thôn  khất  thực,  có  người lấy củi, phá thảo am của tỳ-kheo đem về  làm củi. Tỳ-kheo kia khất
thực xong trở về thấy thảo am không còn, bèn khởi  lên ý nghĩ: “Ta đã sống một mình nơi khuất vắng; tự mình lấy cỏ cây làm am để ở. Khi  vào  thôn khất  thực, người lấy củi phá am  thất của  ta đem đi. Bản  thân  ta có  tay nghề;  ta có  thể  trộn bùn đất  làm  thành căn nhà toàn bằng gạch (3).”
Tỳ-kheo  kia  nghĩ  xong,  liền  trộn  bùn  đất  làm  thành căn  nhà  toàn bằng gạch; rồi lấy củi và phân bò mà nung, căn nhà có màu sắc đỏ tươi như lửa.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống. Từ xa trông thấy cái nhà màu đỏ như lửa. Thấy vậy, Ngài biết mà cố hỏi các tỳ-kheo: “Cái gì màu đỏ vậy?” Các tỳ-kheo bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, có một tỳ-kheo tên  là Đàn-ni-ca,  con  người  thợ  đồ gốm. Tỳ-kheo  ấy một mình ở nơi khuất vắng,  làm một cái thất bằng cỏ để ở. Khi đi khất thực, bị những  người lấy củi  phá  cái  thất mang  đi. Vị tỳ-kheo  ấy  khi về, thấy  thất của mình bị phá  liền nghĩ: ‘Ta có tay nghề,  ta có thể  làm
____________________________
thành Vương-xá 王舍城. Căn bản  (tr.635c24):  Phật tại Vương-xá,  bên bờ  ao Yết-lan-đạc-ca,  trong vườn  Trúc  lâm  王舍城羯闌鐸迦池竹林園中. Pāli,
Vni.iii.41: rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.  
(1) Đàn-ni-ca đào sư tử 檀尼迦陶師子. Ngũ phần, Thập  tụng: Đạt-ni-ca 達尼迦. Tăng kỳ: ngoã sư tử trưởng lão Đạt-nị-già 瓦師子長老達膩伽. Căn bản: Đản-ni-ca bí-sô đào sư tử 但尼迦苾芻陶師子. Pāli: dhaniyo kumbhakāraputto, con  trai người thợ gồm tên Dhaniya.
(2) Nhàn tĩnh xứ 閑靜處, cũng  nói  là  a-lan-nhã  (Pāli:  arañña),  thường  chỉ  khu rừng vắng, không thú dữ. Ngũ phần: Ất-la sơn 乙羅山. Căn bản: tại a-lan-nhã 阿 蘭 若. Pāli: Isigilipassa, hang Tiên nhân.
(3) Hán: toàn thành ngõa ốc 全成瓦屋. Pāli: sabbamattikāmayaṃ kūṭikaṃ, căn nhà làm toàn bằng đất sét.

* Trang 33 *
device

một cái  thất  toàn bằng gạch.’ Nghĩ  như vậy rồi  liền  làm. Cái  nhà sắc đỏ đó là của tỳ-kheo Đàn-ni-ca.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện để quở trách vị tỳ-kheo kia: “Việc ngươi  làm sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy thuận,  làm  điều  không  nên  làm. Tại  sao, tỳ-kheo Đàn-ni-ca,  con người thợ gốm, tự mình  làm thất, tập trung với nhiều số lượng củi, phân bò v.v... rồi nung. Ta thường dùng vô số phương tiện nói đến lòng từ mẫn đối với chúng sinh. Tại sao người ngu si này tự mình trộn bùn đất làm thất, dồn chứa gai củi và phân bò để nung? Từ nay trở đi, các ông không được làm thất toàn bằng gạch có màu đỏ như lửa như thế. (1) Nếu làm, phạm đột-kiết-la.”
Lúc bấy  giờ  đức Thế Tôn  ra lệnh  cho  các tỳ-kheo:  “Các  ông tập hợp lại, cùng nhau nhanh chóng đến chỗ thất của Đàn-ni-ca mà phá bỏ đi.” (2) Các tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, đến đập phá cái  thất đó. Đàn-ni-ca thấy [572c] các tỳ-kheo đập phá cái thất của mình bèn hỏi: “Tôi có lỗi gì mà đập phá thất của tôi ?”
Các tỳ-kheo trả lời:  “Thầy không có lỗi. Chúng tôi cũng không ghét Thầy. Song chúng tôi vừa  nhận lời dạy của  đức Thế Tôn,  nên  đến  đây  phá  thất của Thầy.”
Tỳ-kheo Đàn-ni-ca nói:  “Nếu đức Thế Tôn đã dạy, các Thầy cứ tùy nghi.” Lúc bấy giờ Bình-sa, vua nước Ma-kiệt (3), có người giữ cây gỗ nhà nước, (4) cùng với tỳ-kheo Đàn-ni-ca  là bạn thân từ thời còn nhỏ, nên tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ người giữ cây gỗ ấy nói rằng: 
___________________________________
(1) Ngũ phần (tr.5b21): Tỳ-kheo làm nhà toàn bằng gạch nung, phạm thâu-lan-giá.
(2) Pāli còn  thêm: mā pacchimā  janatā pāṇesu pātavyataṃ āpajjati, chớ để người sau gây hại cho các sinh vật.
(3) Ma-kiệt quốc Bình-sa vương 摩竭國瓶沙王. Thập tụng: Ma-kiệt quốc chủ Vi-đề-hi Tử  A-xà-thế vương 摩竭國主韋提希子阿闍世王.  Căn  bản: Ma-yết-đà quốc Thắng Thân chi tử Vị Sinh Oán Vương 摩揭陀國勝身之子未生怨王. Pāli, Vin.iii.43, chuyện xảy ra dưới triều vua Seniya Bimbisāra vua nước Magadha.
(4)Thủ tài nhân 守材人. Ngũ phần: điển tài lệnh 典材令. Tăng kỳ: mộc tượng đại

* Trang 34 *
device

“Ông bạn  có biết chăng, vua Bình-sa cho  tôi cây gỗ. Nay  tôi cần gỗ, ông bạn có thể cho tôi nhận được không?”
Người giữ gỗ nói:  “Nếu nhà vua đã cho, thì  loại tốt hay  loại xấu, cần nhiều hay  ít, cứ tùy ý lấy.” 
Loại cây gỗ  thiết yếu của  nhà  vua (1)để dành, bị tỳ-kheo Đàn-ni-ca chặt mang đi.
Khi ấy có một vị Đại thần tổng giám sát các sự việc của thành, (2) đến chỗ chứa gỗ,  thấy những cây gỗ  thiết yếu, mà nhà vua lưu  trữ, bị chặt lung tung, liền hỏi người giữ gỗ rằng:  “Những cây gỗ  thiết yếu này nhà vua lưu  trữ ở đây, ai chặt mang đi?”
Người  giữ gỗ  nói:   “Tỳ-kheo Đàn-ni-ca  đến nơi  tôi  và  nói,  ‘Nhà vua  cho  tôi gỗ. Nay  tôi cần,  có  thể lấy  được  không?’ Tôi  trả lời: ‘Nhà vua cho  thì  thầy cứ lấy.’ Tỳ-kheo  liền vào vựa chứa cây lưu trữ chặt mang đi.”
Khi Đại  thần nghe nói như vậy rồi,  liền phiền  trách nhà vua rằng: ‘Tại sao đem  loại gỗ  thiết yếu này cho tỳ-kheo? Trong khi còn có những  thứ gỗ khác có thể cho được, mà khiến tỳ-kheo này chặt gỗ thiết yếu mang đi!’ Rồi vị Đại thần đến chỗ nhà vua tâu: 
“Tâu Đại vương, số cây gỗ  thiết yếu được lưu  trữ, tại  sao nay lại cho tỳ-kheo  chặt mang  đi? Còn  có  nhiều  thứ gỗ  khác  có  thể  cho được, sao lại phá hoại loại gỗ quí đó?”
Nhà vua bảo rằng: “Ta hoàn toàn không nhớ đã đem gỗ cho ai. Nếu Đại thần có nhớ thì nhắc lại cho ta.”
Khi  ấy vị Đại  thần  liền  cho  đi bắt  người  giữ  cây gỗ  đến  chỗ  nhà vua. Người giữ cây gỗ từ xa thấy tỳ-kheo Đàn-ni-ca, liền kêu nói: 
________________________
thần  Da-thâu-đà 木匠大臣耶輸陀.  Thập  tụng:  tài mộc sư 材木師.  Căn  bản: chưởng mộc đại thần 掌木大臣. Pāli: dārugaha gaṇaka, người quản lý lâm sản.
(1) Cf. Vin.iii. 43: devagahadārūni nagarapaṭisaṅkhārikāni, gỗ được giữ cho Vua để tu sửa thành. 
(2) Ngũ  phần: Vũ  Xá  đại  thần 雨舍大臣. Pāli:  Vassakāra,  đại  thần của nước Magadha.

* Trang 35 *
device

“Đại đức, vì thầy lấy gỗ mà tôi bị bắt. Đại đức hãy vì tôi, đi đến đó để giải quyết. Xin thương xót tôi.”
Tỳ-kheo trả lời: “Ông cứ đến đó. Tôi cũng đi ngay đây.”
Sau đó tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ nhà vua, đứng im lặng trước mặt vua. Nhà vua liền hỏi: “Đại đức, có thật là tôi cho thầy gỗ hay không?”
Tỳ-kheo đáp: “Sự thật nhà vua có cho tôi gỗ.”
Nhà vua nói:  “Tôi không nhớ là có cho người gỗ. Thầy hãy nhắc lại để tôi nhớ.”
Tỳ-kheo nói rằng:  “Đại vương còn nhớ chăng? Khi mới đăng vị, từ miệng nhà vua nói ra rằng,  ‘Trong  thời  tôi còn  trị nước,  [573a1]  trong phạm  vi quốcgiới, có các sa-môn, bà-la-môn nào biết  tàm quý, ưa học giới, cho thì lấy, không cho không lấy; cho thì dùng, không cho không dùng; kể từ  hôm  nay,  các  sa-môn,  bà-la-môn  được  phép  tùy  ý  dùng cỏ, cây và nước. Không được không cho mà dùng. Từ nay về sau cho phép sa-môn, bà-la-môn tùy ý dùng cỏ, cây và nước.’”
Nhà vua nói:  “Này Đại đức, khi tôi mới đăng vị, thật sự có nói như vậy. Đại đức, tôi nói đối với vật vô chủ chứ không  nói đối với vật có chủ. (1) Tội của Đại đức đáng chết.”
Nhà  vua lại tự nghĩ:  “Ta  là Vua Quán đỉnh, dòng Sát-lợi,(2) đâu có thể chỉ vì một  ít gỗ mà đoạn mạng người xuất gia. Điều ấy không nên.”
Bấy giờ, nhà vua dùng vô số phương  tiện quở trách tỳ-kheo, rồi ra lệnh  các  thần  thuộc phóng  thích tỳ-kheo.  Các  thần  thuộc  y lệnh Vua, phóng thích tỳ-kheo.
________________________________
(1) Pāli: araññe apariggahitaṃ, vật vô chủ (không được ai thủ hộ) ở trong rừng (a-lan-nhã).
(2) Sát-lợi vương Thủy kiêu đầu chủng 剎利王水澆頭種.

* Trang 36 *
device

Sau đó các thần thuộc này lớn tiếng bình luận, bất bình, rằng, ‘Nhà vua nghĩ sao? Tội đáng chết như vậy mà chỉ khiển trách rồi thả.’ Lúc ấy,  trong thành La-duyệt có các cư sĩ không  tin ưa Phật pháp, họ đều chỉ  trích rằng, “Sa-môn Thích tử không có tàm quý, không biết sợ  là gì, nên lấy vật không cho. Bên ngoài tự nói ta biết chánh pháp.  Như vậy  làm  gì  có  chánh  pháp! Gỗ của  nhà  vua  còn lấy, huống là của người khác? Chúng ta từ nay về sau đừng gần gũi với sa-môn Thích tử, lễ bái hỏi chào, cúng dường cung kính. Đừng cho vào thôn ta, cũng đừng cho nghỉ ngơi.”
Bấy giờ có các tỳ-kheo nghe chuyện ấy. Trong số đó có những vị hiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, biết tàm quý, ưa học giới, hiềm trách Đàn-ni-ca: “Sao lại ăn trộm cây gỗ của Vua Bình-sa?”Các tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo;  tuy biết vẫn cố hỏi tỳ-kheo Đàn-ni-ca:
“Có thật ngươi lấy gỗ mà nhà vua không cho?” Đàn-ni-ca thưa: “Bạch Thế Tôn, thực sự đúng như vậy.” Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Đàn-ni-ca:  “Việc ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải  pháp  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm. Này, Đàn-ni-ca,  sao lại lấy gỗ mà nhà vua không cho? Ta dùng vô số phương tiện khen ngợi sự lấy những gì đã được cho. Nay ngươi sao lại lấy gỗ mà nhà vua không cho?” Khi ấy có một tỳ-kheo tên  là Ca-lâu, vốn  là Đại thần của vua,(1) rành về  thế  pháp,  ngồi trong  chúng,  [573b]  cách  đức  Thế  Tôn không xa. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo Ca-lâu:
_________________________________
(1) Ca-lâu 迦樓. Ngũ phần: Ma-kiệt đại thần 摩竭大臣. Thập tụng Căn bản: Phật sai A-nan đi hỏi những người hiểu biết  trong  thành về mức tội phạm  theo  luật Vua. V.iii. 45: purāṇavohāriko mahāmatto, (tỳ-kheo) nguyên là đại thần tư pháp.

* Trang 37 *
device

“Theo  pháp  luật của  nhà  vua,  không  cho mà lấy, vật  trị  giá  bao nhiêu phải tội chết?” (1)
 Tỳ-kheo Ca-lâu bạch Phật: 
“Nếu lấy năm tiền (2) hay vật trị giá năm tiền sẽ bị tội chết.” “Tỳ-kheo Đàn-ni-ca, sao lại lấy gỗ mà nhà vua không cho?”
Lúc bấy  giờ,  đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách tỳ-kheo Đàn-ni-ca, rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Tỳ-kheo Đàn-ni-ca  là kẻ ngu si,  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu  tiên phạm giới. Từ nay về  sau Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa,... cho đến để chánh pháp tồn tại lâu dài.”  Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy: 
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo  nào, nơi  thôn  xóm  hay  chỗ  trống vắng, với  tâm trộm cắp, lấy vật không được cho. Tùy theo vật không được cho mà lấy,  hoặc bị  vua  hay Đại  thần của  vua bắt,  hoặc giết, hoặc trói, hoặc đuổi ra khỏi nước, rằng ‘Ngươi là giặc, ngươi ngu si, ngươi không biết gì.’ Tỳ-kheo ấy  là kẻ ba-la-di, không được sống chung.  (3)
_______________________
(1)Vin. nt.,  ... coraṃ gahetvā hanati vā bandhati vā pabbājeti vā, “... sau khi bắt tên trộm hoặc sát hại, hoặc cột trói, hoặc trục xuất.”
(2)Vin.nt., pādena...  tena kho pana  samayena rājagahe pañcamāsako pādo hoti, “bằng 1 pāda...  thời bấy giờ, ở Rājagaha, 1 pāda = 5 māsaka. Ngũ phần, Thập tụng:  5  tiền 五錢. Căn bản:  5 ma-sái 磨灑.  Tăng-kỳ 3,  Phật  trực  tiếp hỏi  vua Bình-sa.  Vua  trả lời:  “19  tiền  là  1 kế-lị-sa-bàn.  Phân  1 kế-lị-sa-bàn  (Pāli: kahāpaṇa) thành 4; trộm 1 phần, hay vật trị giá 1 phần, tội chết. “ 
(3)Ngũ phần, giới này được kết hai lần. Tăng kỳ, giới được kết ba lần;  thời gian kết giới: Thành đạo năm thứ 6, mùa đông, nửa tháng phần hai, ngày 10 (tức ngày 20  tháng  âm lịch),  sau bữa  trưa,  lúc  bóng  sáng ngả về  đông  dài bằng  2 người rưỡi. Thập tụng, Căn bản, cũng như Tứ phần, giới kết một lần. Pāli, giới kết hai lần.

* Trang 38 *
device

C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thôn: (1) có bốn  loại,  1.  Chung  quanh  đều  có tường  xây  thấp.  2. Chung  quanh  có  hàng  rào.  3. Có  rào  và tường  nhưng  không  giáp vòng. 4. Chung quanh đều có nhà. (2) Chỗ trống vắng (3) khoảng đất trống và vắng vẻ ở ngoài thôn.
Vật không được cho: vật mà người khác không vất bỏ. (4)
 Trộm cắp: lấy với tâm trộm cắp. (5)
 Tùy  theo vật (6) không được cho mà lấy:  là năm  tiền hay  trị giá năm tiền. (7)
_____________________
(1) Thôn, hay thôn lạc, tụ lạc. Pāli: gāma, làng xóm.
(2) Pāli còn thêm yếu tố: chỗ mà một thương đội đóng trại hơn 4 tháng cũng được gọi là làng (gāma).
(3) Nhàn tĩnh xứ. Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng: không địa 空地. Căn bản: không nhàn xứ 空閑處. Ngũ  phần:  ngoài tụ lạc,  và  đường  đi của tụ lạc,  còn lại  đều được gọi  là không địa. Tăng-kỳ:  trừ giới của tụ lạc, ngoài  ra  thảy đều  là không địa. Pāli, Vin.iii.48: araññaṃ, khu rừng, và giải  thích,  trừ  làng và các khu phụ cận  làng, còn lại đều là arañña (ṭhapetvā gāmañ ca gāmūpacārañ ca avasesaṃ araññaṃ nāma).
(4) Bất dữ  thủ  不與取. Pāli:  adinnaṃ nāmaṃ  yaṃ  adinnaṃ  anissaṭṭhaṃ apariccattaṃ  rakkhittaṃ  gopitaṃ  mamāyitaṃ  para-pariggahitaṃ  (Vin.iii.46), vật không được cho, là những gì không được cho, không được tặng, không bị vất bỏ, được bảo vệ, được canh chừng.
(5) Đạo  tâm  thủ 盜心取; Ngũ phần  (tr.6a22): vật sở  thuộc của người khác, được người  khác bảo vệ,  không  được  cho  mà lấy, gọi  là  đạo  tâm  盜心. Pāli: theyyasaṅkhātan ti  theyyacitto avaharaṇa-citto, với  tâm  lén  trộm, với  tâm cướp giựt, gọi là (lấy) bằng cách lén trộm.
(6) Nên hiểu là “bất cứ vật gì.”
(7) Ngũ  tiền 五錢; Tăng kỳ  (tr.244b1): Vương pháp không nhất định. Hoặc  trộm nhỏ mà chết. Hoặc trộm lớn mà không chết. Theo phép vua Bình-sa, 19 tiền là 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli: kahāpaṇa); 1 kế-lị-sa-bàn phân làm tư;  trộm vật giá  trị ¼ thì bị tội  chết.  Căn  bản:  ngũ ma-sái 五摩灑. Pāli, Vin.iii.  tr.48:  pañcamāsakaṃ. Theo nghĩa đen, 1 māsaka (Skt. māṣaka) là vật có giá trị trao đổi bằng 1 hạt đậu (đỗ).

* Trang 39 *
device

Vua: là người tự tại, không lệ thuộc ai.
Đại thần: chỉ chung cho các vị Đại thần trợ giúp nhà vua.
Ba-la-di không được sống chung: như trên đã nói.
D. PHẠM TƯỚNG
Có ba trường hợp lấy vật không được cho phạm ba-la-di: tự tay lấy, giám sát sự lấy, khiến người lấy.
Lại có ba trường hợp lấy vật không được cho phạm ba-la-di: lấy vật với  ý tưởng  không  phải của mình, lấy vật với  ý  chẳng  phải tạm dùng, lấy vật không được đồng tâm ý.
Lại có ba loại (1) lấy: lấy vật của người, tưởng vật của người, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có ba  loại lấy: lấy vật có chủ, tưởng  là có chủ, di chuyển khỏi nguyên vị trí.
Lại có ba  loại lấy: lấy vật có người khác giám hộ, tưởng có người khác giám hộ, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có bốn  loại lấy vật không cho  thành ba-la-di (2) tự tay mình lấy, giám sát sự lấy, sai người lấy, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có bốn  loại lấy  thành ba-la-di: lấy vật với ý tưởng chẳng phải của mình, không phải lấy tạm, không được đồng  tâm ý mà lấy, (3) và dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có bốn  loại lấy: lấy vật của người, tưởng vật của người,  trọng vật,(4) dời khỏi nguyên vị trí.
Lại  có bốn  loại lấy:  có  chủ, tưởng  là  có  chủ,  trọng vật, dời  khỏi nguyên vị trí.
_________________________
(1) Hán: tam chủng 三種, khác với trên chỉ 3 trường hợp; từ đây trở xuống, chủng (loại), chỉ các yếu tố hội đủ để cấu thành tội phạm.
(2) Nên hiểu là 4 yếu tố hội đủ để cấu thành tội phạm.
(3) Tức lấy vật mà sở hữu chủ không phải là người đồng tâm chí, thâm giao với mình.
(4)Thập tụng: trọng vật 重物, chỉ vật giá trị 5 tiền hoặc quá 5 tiền.

* Trang 40 *
device

Lại có bốn loại lấy: người khác giám hộ, tưởng có người khác giám hộ, trọng vật, dời khỏi nguyên vị trí.
[573c] Lại  có năm  loại  không  cho mà lấy  thành  ba-la-di: tự  tay mình lấy, giám sát người khác lấy, khiến người khác lấy, trọng vật, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm loại: lấy vật với ý tưởng chẳng phải của mình, không có ý tạm lấy,  chẳng  phải  đồng  tâm  ý  mà lấy,  trọng vật, dời  khỏi nguyên vị trí.
Lại  có năm  loại lấy: lấy vật của  người, tưởng  là vật của  người, trọng vật, với tâm trộm, và dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm  loại: có chủ, tưởng có chủ, trọng vật, với tâm trộm, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm  loại lấy: vật có người khác giám hộ, trọng vật, với tâm trộm cắp, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có  sáu  loại không cho mà lấy  thành ba-la-di: tự  tay mình lấy, giám  sát người lấy,  sai người lấy,  trọng vật, với  tâm  trộm cắp, và dời khỏi chỗ cũ. Chẳng phải vật của mình, tưởng  là chẳng phải vật của mình, có sáu loại như vậy. Đó gọi là sáu loại lấy trộm phạm tội ba-la-di.
Vị trí: (1) vị trí trong lòng đất, vị trí trên đất, vị trí trên cộ, vị trí trong gánh, vị  trí  trong hư không, vị  trí  trên cây, vị  trí  thôn, vị  trí a-lan-nhã, vị trí ruộng, vị trí xứ sở, vị trí ghe thuyền, vị trí nước. Hoặc lén qua ải mà không đóng  thuế. Hoặc lấy vật của người khác ký  thác. Hoặc lấy nước; lấy tăm, trái cây, thảo mộc, chúng sinh không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, sản nghiệp chung. Hoặc cùng hẹn, (2) hoặc rình chờ, (3)
 hoặc canh giữ, (4) hoặc chặn lối đường hiểm. Như vậy
________________________
(1) Hán: xứ 處, xác định nguyên vị  trí của vật trộm để xác định yếu tố cấu  thành tội phạm.
(2) Pāli: saṅketakammaṃ, hẹn nhau ăn trộm.
(3) Pāli: ocarako, trinh sát.
(4) Pāli: oṇirakkho, người canh giữ  tài vật  (do người khác ký  thác), lấy  trộm vật mình canh giữ.

* Trang 41 *
device

gọi là vị trí. (1)  
Vị trí trong lòng đất: (2) các kho tàng chôn dưới đất chưa ai phát hiện, như bảy  báu gồm  vàng, bạc, lưu  ly, chân châu,  bích  ngọc, xa cừ, mã não; các thứ vàng ròng, (3) vật báu làm bằng vàng, áo, chăn; hoặclại có những  nhu yếu phẩm khác có chủ và được chôn  trong  lòng đất. Những vật này có giá  trị năm  tiền hoặc quá năm  tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi  nguyên vị  trí; vật vừa rời khỏi  nguyên vị trí,  thành ba-la-di. Nếu phương  tiện muốn nhấc  lên, nhưng không nhấc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị  trí  trên  đất: (4)các  thứ  không  chôn dưới  đất  như bảy  báu gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ và ở  trên mặt đất. Những vật này có giá  trị năm  tiền hoặc quá năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị  trí,  thành ba-la-di. Nếu phương  tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc nổi, phạm thâu-lan-giá. 
Vị  trí  trên cộ: (5) cộ  có bốn  loại, cộ  voi, cộ  ngựa, cộ  xe, cộ  đi bộ. Hoặc lại  có  các  phương  tiện  chuyên  chở  khác  đều gọi  là cộ. Các thứ  trên cộ như bảy  báu gồm  vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những  nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này  có giá  trị năm  tiền  hoặc  quá năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi  kéo  đi  chỗ  khác,  hoặc  chôn dấu  đi,  hoặc  di  chuyển  khỏi
________________
(1) Tăng kỳ 3 (tr.245a28), 16 vật: đất, vật trong đất, nước, vật trong nước, thuyền, vật  trong  thuyền; cộ, vật  trong cộ;  loài bốn chân, vật  trên  (thân)  loài bốn chân; hai  chân, vật  trên  (thân)  loài  hai  chân;  không  chân, vật  trên  (thân)  loài  không chân; hư không, vật trong hư không.
(2) Địa xứ 地處. Pāli: bhūmaṭṭhaṃ.
(3) Nguyên Hán: sanh tượng 生像, Pāli, theo nghĩa đen: jātarūpa.
(4) Địa thượng xứ 地上處. Pāli: thalaṭṭhaṃ, vật trên đất liền.
(5) Hán: thừa 乘, cũng đọc là thặng. Ngũ phần: thừa thừa vật 乘乘物, xe cộ và vật trong xe cộ. Pāli: yānaṃ yānaṭṭhaṃ xe cộ và vật trong/trên xe cộ.

* Trang 42 *
device

nguyên vị  trí; vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di. Nếu phương  tiện  muốn  nhấc  lên,  [574a1]  nhưng  không  nhấc,  phạm thâu-lan-giá. Hoặc dẫn xe cộ từ đường chính đến đường chính, từ đường  chính  đến  đường  phụ, từ  đường  phụ  đến  đường  chính, từ trong hầm lên trên bờ hầm, từ trên bờ hầm đến trong hầm, như vậy lấy cộ rời khỏi nguyên vị  trí. Vừa rời khỏi nguyên vị  trí, phạm ba-la-di. Nếu phương tiện muốn lấy mà không lấy, phạm thâu-lan-giá.
Vị  trí  gánh: vật  đội  trên  đầu, vật  vác  trên  vai, vật  cõng  sau lưng, hay ôm trước ngực; hoặc lại có các vật khuân vác khác. Trên những gánh này có các vật như bảy báu gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo,chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách  lôi  kéo  đi  chỗ  khác,  hoặc  chôn dấu  đi,  hoặc  di  chuyển  khỏi nguyên vị  trí. Vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc, phạm thâu-lan-giá. Hoặc mang gánh từ đường chính đến đường chính, từ đường chính đến đường phụ, từ đường phụ đến đường chính, từ  trong hầm  lên trên bờ hầm, từ trên bờ hầm đến trong hầm. Như vậy với tâm trộm mà mang  khỏi  chỗ cũ; vừa rời  khỏi vị  trí của vật,  thành  ba-la-di. Nếu phương tiện muốn lấy mà không lấy mắc tội thâu-lan-giá.
Vị  trí  trong không: (1) những vật mà gió  thổi bay như  lông, kiếp-bối, câu-giá-la, sai-la-ba-ni, sô ma, gai, bông, bát-đam-lam-bà, đầu-đầu-la, chim  nhạn, chim hạc, chim khổng tước, chim  anh võ, chim bồ câu. Lại  có vật hữu dụng  khác,  có  chủ. Những vật  này  có  giá  trị năm  tiền  hoặc  quá năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng
_________________
(1) Không xứ 空處; Ngũ  phần: hư  không vật 虛空物,  chỉ vật  được  đặt  vào hư không do bởi  thần lực, hoặc vật ngậm bởi chim có chủ, hoặc vật có chủ mà gió thổi đến. Tăng kỳ: hư không hư không trung vật 虛空虛空中物, chỉ các loại cây lá, hoa quả. Thập tụng: các  loại vải quý giá, vải ba-đầu-ma, đầu-cầu-la, cưu-la-xà, những thứ này được treo mà chưa rơi xuống đất. Pāli: ākāsaṭṭhaṃ, vật trong hư không, chỉ những vật phi hành trong hư không (ākāsagataṃ): chim chóc, giải lụa, vải vóc, cho đến vàng (từ trên người) bị rơi xuống đất.

* Trang 43 *
device

cách  lôi  kéo  đi  chỗ  khác,  hoặc  chôn dấu  đi,  hoặc  di  chuyển  khỏi nguyên vị  trí. Vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí  thành  ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc nổi, phạm thâu-lan-giá. 
Vị trí bên trên: (1) vật được nhấc lên để trên cây, trên tường, trên rào, trên vực,  trên cọc bằng  ngà  voi, (2) trên  giá móc  áo,  trên  võng,  trên giường gỗ, trên nệm lớn nhỏ, trên gối, trên chiếu trải trên đất. Trên những  thứ  này  mà  có  vàng, bạc,  v.v...  cho  đến,  áo,  chăn;  hoặc những  nhu yếu  phẩm  khác  có  chủ. Những vật  này  có  giá  trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di.  Nếu phương  tiện muốn nhấc  lên, nhưng mà không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí thôn: Có bốn loại thôn xóm như trên đã nói. (3) Trong thôn xóm này,  có  vàng, bạc,  v.v…  cho  đến,  áo,  chăn;  hoặc  những  nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi,  hoặc di chuyển khỏi nguyên vị  trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị  trí  thành ba-la-di. Nếu phương  tiện muốn nhấc  lên, nhưng  không  nhắc nổi,  phạm  thâu-lan-giá.  Dùng máy  móc  công kích, phá hoại thôn xóm; hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào cường lực của người quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện bác mê hoặc lừa dối mà lấy; vừa lấy được, thành
______________
(1) Thượng xứ 上處; trong liệt kê nói là thọ thượng 樹上. Pāli: vehāsaṭṭhaṃ, nghĩa gần như trong hư không, nhưng được giải thích là vật trên giường, trên ghế, trên tượng, trên cọc, v.v...
(2) Nguyên Hán: long nha dặc 龍牙杙. Pāli: nāgadanta, ngà voi (hay gạc nai) gắn vào vách tường để máng đồ.
(3) Pāli:  gāmaṭṭhaṃ,  trong  thôn  xóm, vật  được cất tại bốn  chỗ:  trong  đất (bhūmaṭṭhaṃ),  trên  đất  liền (thalaṭṭhaṃ),  trong hư  không (ākāsaṭṭhaṃ),  trong khoảng trống (vehāsaṭṭhaṃ).

* Trang 44 *
device

ba-la-di; phương tiện [574b] muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
 Vị  trí a-lan-nhã: vùng đất  trống ở ngoài  thôn mà có chủ. Nơi chỗ đất  trống  này  mà  có  vàng, bạc,  v.v…  cho  đến,  áo,  chăn;  hoặc những  nhu yếu  phẩm  khác  có  chủ. Những vật  này  có  giá  trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc, phạm thâu-lan-giá. 
Hoặc bằng  phương  tiện  phá  hoại  vùng  đất  trống của  người  khác, hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào cường lực của người quen thân,hoặc dùng lời lẽ biện  luận, mê hoặc, lừa dối để lấy. Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí ruộng: ruộng trồng lúa dé, ruộng trồng lúa mạch, ruộng trồng mía. Hoặc lại có các loại ruộng khác mà nơi đó có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu  dùng  phương  tiện  phá  hoại  ruộng của  người  hoặc  cho nước  ngập,  hoặc dựa  vào cường lực của  người  quen  thân,  hoặc dùng lời lẽ biện  luận, mê hoặc, lừa dối để lấy. Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội  thâu-lan-giá.
Xứ sở: (1) hoặc  là khu vực của nhà, hoặc khu vực chợ quán, hoặc  là vườn cây, hoặc  là vườn  rau, hoặc ao hồ, hoặc sân  trước, hoặc sau nhà, hoặc  là những nơi khác mà ở đó có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có
___________________________
(1) Xứ sở 處所, chỉ phạm vi cư trú của người. Pāli: vihāraṭṭhaṃ, vật trong khu vực cư trú, có bốn chỗ, như trong thôn xóm, xem cht. trước.

* Trang 45 *
device

giá  trị năm  tiền hoặc quá năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi  nguyên vị  trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di. Nếu  dùng  phương  tiện  phá  hoại xứ sở của  người,  hoặc  cho nước ngập, hoặc dựa vào cường lực của người quen  thân, hoặc dùng lời lẽ biện  luận, mê hoặc, lừa dối để lấy. Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị  trí ghe  thuyền: thuyền nhỏ, thuyền lớn,  thuyền bầu, (1) thuyền độc mộc, (2) thuyền bành, thuyền buồm, thuyền hình con rùa, thuyền hình con ba ba, thuyền bằng da, thuyền bằng phao nổi, thuyền bằng trái cây, (3) thuyền  treo, (4) thuyền  cánh  bè;  hoặc  những  loại  thuyền  khác mà nơi đó có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di.  Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội  thâu-lan-giá. Hoặc từ bờ này đến bờ kia, từ bờ kia đến bờ này; hoặc ngược dòng, hoặc xuôi dòng; hoặc cho chìm dưới đáy nước, hoặc dời lên trên bờ; hoặc cởi (thuyền) rồi dời đi chỗ khác, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không được, mắc tội Thâu-lan-giá.
[574c] Vị  trí nước: kho  tàng chứa vàng bạc bảy báu và các  thứ áo chăn  chìm dưới  đáy nước,  hoặc  con  rái  cá,  hoặc  cá,  hoặc  ba  ba, hoặc cá sấu, (5) hoặc hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi, (6)và các vật khác ở trong nước, có chủ. Những vật
________________
(1) Bản Cao Ly: đài thuyền 臺船; Tống-Nguyên-Minh: hồ thuyền 壺船. Pāli: nāvā nāma yāya tarati, thuyền, chỉ phương tiện qua sông.
(2) Nhất mộc thuyền 一木船, loại ghe thuyền được làm từ một khúc cây/gỗ.
(3) Quả thuyền 果船.
(4) Huyền thuyền 懸船.
(5) Nguyên Hán âm:  thất-thâu ma-la 失收摩羅; Pāli: suṃsumāra  (Skt. śiśumāra), cá sấu.
(6) Các loại hoa trong nước: ưu-bát-la 優钵羅 (Pāli: uppala, Skt. utpala, sen/súng

* Trang 46 *
device

này  có  giá  trị năm  tiền  hoặc  quá năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội  thâu-lan-giá. Nếu dùng phương tiện phá hoại chỗ nước của người... cho đến, mắc tội thâu-lan-giá, như trên đã nói.
Không  đóng  thuế: (1) theo  pháp  luật, tỳ-kheo  không phải  đóng  thuế. Nếu vật của bạch y cần phải đóng thuế mà tỳ-kheo với tâm ăn trộmmang hộ  cho  người  khác  qua  khỏi  chỗ  đóng  thuế,  hoặc  ném  ra ngoài cửa ải, vật trị giá năm tiền hay trên năm tiền, hoặc chôn dấu, di chuyển, hoặc dùng lời lẽ biện  luận, mê hoặc, lừa dối, hoặc dùng chú thuật để đưa qua... cho đến, phương tiện, thì phạm thâu-lan-giá, như trên.
Lấy vật ký thác của người: vật của người gởi mang đi mà đem tâm trộm cắp, trị giá năm tiền hay trên năm tiền; từ trên đầu dời xuống vai, từ  trên vai dời  lên đầu; (2) từ bên vai hữu dời qua bên vai tả, từ bên vai tả dời qua bên vai hữu; từ nơi tay tả dời qua tay hữu, từ tay hữu dời  qua  tay tả;  hoặc  ôm  trong  lòng,  hoặc  để nơi  đất mà dời khỏi nguyên vị  trí. Vừa dời khỏi vị  trí cũ,  thành ba-la-di. Phương tiện... thâu-lan-giá.
Nước: các  loại nước  thơm, hoặc nước  thuốc, được đựng  trong các đồ đựng nước như lu, vại lớn nhỏ, hoặc các loại dụng cụ chứa nước khác, có giá  trị năm  tiền hoặc hơn năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí; vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội  thâu-lan-giá.
________________________
xanh,  thanh  thụy  liên  hoa);  bát-đầu-ma 钵頭摩  (Pāli:  paduma,  Skt.  padma, sen/súng  đỏ);  câu-vật-đầu 拘勿頭  (Pāli=Skt.  kumuda,  sen  trắng,  hay hồng), phân-đà-lị/lợi 分陀利 (Pāli=Skt. puṇḍarīka, sen trắng).
(1) Pāli: suṅkaghāṭa, trạm thuế (tại các cửa khẩu biên giới).
(2) Các thủ đoạn đánh tráo vật ký thác để sang đoạt.

* Trang 47 *
device

Tăm: (1) hoặc một hoặc hai, hoặc nhiều cây, hoặc một nắm, một bó, một ôm, một gánh; hoặc có ướp hương, hoặc có thoa thuốc, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách  lôi  kéo  đi  chỗ  khác,  hoặc  chôn dấu  đi,  hoặc  di  chuyển  khỏi nguyên vị  trí. Vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá. 
Vườn: tất cả cỏ cây rừng rú hoa quả có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm  tiền, nếulấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di.  Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng sinh không chân: như rắn, cá, và tất cả các  loài chúng sinh không có chân khác có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu  đi,  hoặc  di  chuyển  khỏi  nguyên vị  trí. Vật vừa rời  khỏi nguyên vị  trí, thành ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng  sinh  hai  chân:  loài  người,  loài  phi  nhơn, chim  và  các  loại chúng sinh hai chân có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu  đi,  hoặc  di  chuyển  khỏi  nguyên vị  trí. Vật vừa rời  khỏi nguyên vị  trí, thành ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng sinh bốn chân[575a1] như voi, ngựa, bò, lạc đà, lừa, nai, dê và các loại chúng sinh bốn chân, có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp; lấy bằng cách  lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời  khỏi  nguyên vị  trí,  thành  ba-la-di.  Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được,mắc tội thâu-lan-giá.
________________________
(1) Hán: dương chi 楊支. Pāli: dantapoṇaṃ, đồ chà răng,  thường được  làm bằng gỗ thông.
 

* Trang 48 *
device

Chúng sinh nhiều chân: như ong, uất-châu-long-già, (1) hoặc rết, (2) hay chúng  sinh  nhiều chân khác, có chủ, có giá  trị năm  tiền hoặc hơn năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp,  phạm  ba-la-di.  Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Sản nghiệp chung: (3) tài vật kiếm được do sự nghiệp chung cần phảichia chung, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp,  phạm  ba-la-di.  Phương  tiện  muốn lấy  mà  không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Cùng hẹn:(4) cùng với người khác giao ước, lúc nào đó đi, lúc nào đó đến;  hoặc  đục  vách lấy của,  hoặc  giữa  đường cướp lấy,  hoặc  đốt cháy; từ  đó  được  tài vật  chung. Những vật  ấy  có  giá  trị năm  tiền hoặc hơn năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp,  phạm  ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Dò xét: “Tôi sẽ đến quan  sát  thôn kia;  hoặc  thành ấp, chỗ  thuyền đò, hang núi, hoặc chỗ dân cư, chỗ chợ quán, nơi làm việc.” Những tài vật  thu được từ những nơi đó  thành của chung, có giá  trị năm tiền hoặc hơn năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp, phạm  ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Canh giữ: “Tôi sẽ canh giữ tài vật kiếm được từ bên ngoài. Những vật kiếm được chia chung.” Những vật ấy có giá  trị năm  tiền hoặc hơn năm  tiền, nếu lấy với  tâm  trộm cắp,  phạm  ba-la-di.  Phương tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Canh  đường:  “Tôi sẽ  canh  gác nơi  đường. Nếu  có  quân của  nhà vua  đến,  quân của  giặc  đến,  quân của  trưởng  giả  đến sẽ  báo  cho nhau biết. Tài vật kiếm được sẽ chia chung.” Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương  tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội  thâu-lan-giá.
_________________________
(1) Hán: uất-châu-long-già 鬱周隆伽; Pāli: uccāliṅga, loại mao trùng (sâu róm).
(2) Hán: bách túc 百足; Pāli: satapadī.
(3) Đồng tài nghiệp 同財業.
(4) Cộng yếu 共要; Pāli: saṃketakamma.

* Trang 49 *
device

Nếu phương  tiện  tìm cầu hơn năm  tiền, được hơn năm  tiền,  thành ba-la-di. Nếu phương tiện tìm cầu hơn năm tiền mà được năm tiền, thành  ba-la-di. Nếu  phương  tiện  tìm cầu hơn năm  tiền  được dưới năm  tiền,  thâu-lan-giá. Nếu phương  tiện  tìm cầu hơn năm  tiền mà không  được,  thâu-lan-giá. Nếu  phương  tiện  tìm cầu năm  tiền mà được hơn năm  tiền,  thành  ba-la-di. Phương  tiện  tìm cầu năm  tiền mà  được dưới năm  tiền,  thành  thâu-lan-giá.  Phương  tiện  tìm cầunăm  tiền mà không được,  thành  thâu-lan-giá. Phương  tiện  tìm cầu dưới năm tiền, được hơn năm tiền, thành ba-la-di. Phương tiện tìm cầu năm  tiền mà  được,  thành  ba-la-di.  Phương  tiện  tìm cầu dưới năm  tiền, được dưới năm  tiền,  thành  thâu-lan-giá. Phương  tiện  tìm cầu dưới năm tiền mà không được, đột-kiết-la.
Sai người phương tiện tìm cầu năm tiền, [575b] được hơn năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di. Phương  tiện sai người  tìm cầu hơn năm tiền,  được năm  tiền, cả  hai  đều  phạm  ba-la-di.  Phương  tiện  sai người tìm cầu năm tiền, được dưới năm tiền cả hai đều phạm thâu-lan-giá.  Phương  tiện  sai  người  tìm cầu hơn năm  tiền  mà  không được, cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người tìm cầu năm  tiền,  được hơn năm  tiền, cả  hai  đều  phạm  ba-la-di.  Phương tiện sai người tìm cầu năm tiền, mà được năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di.  Phương  tiện  sai  người  tìm cầu năm  tiền, mà  được dưới năm  tiền, cả hai đều phạm  thâu-lan-giá. Phương  tiện sai người  tìm cầu năm  tiền,  mà  không  được, cả  hai  đều  phạm  thâu-lan-giá. Phương  tiện  sai  người  tìm cầu dưới năm  tiền  mà hơn năm  tiền, người lấy phạm ba-la-di; người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai  người  tìm cầu dưới năm  tiền,  được năm  tiền;  người lấy  phạm ba-la-di;  người dạy  phạm  thâu-lan-giá. Phương  tiện  sai  người  tìm cầu dưới năm  tiền, được dưới năm  tiền, cả hai đều phạm  thâu-lan-giá. Phương  tiện sai người  tìm cầu dưới năm  tiền mà không được, cả  hai  đều  phạm  đột-kiết-la.  Phương  tiện  sai  người  tìm cầu năm tiền hoặc hơn năm tiền; nhưng người được dạy lấy vật khác; người lấy  phạm  ba-la-di,  người sai  phạm  thâu-lan-giá.  Phương  tiện  sai người  tìm cầu năm  tiền, hoặc hơn năm  tiền; nhưng người nhận lời

* Trang 50 *
device

dạy lại lấy vật  ở  chỗ  khác,  người lấy  phạm  ba-la-di,  người dạy phạm  thâu-lan-giá.  Phương  tiện  sai  người  tìm cầu năm  tiền  hoặc hơn năm tiền; người nhận lời dạy  là người bị sai chứ không có tâm trộm cắp, lấy được năm  tiền  hoặc hơn năm  tiền,  người dạy phạm ba-la-di, kẻ bị sai không phạm. Nếu sai người lấy vật, (1) người nhậnlời dạy hiểu là dạy lấy trộm; nếu lấy được trị giá năm tiền hoặc hơn năm  tiền,  người  nhận lời dạy  phạm  ba-la-di,  người dạy  không phạm. Có chủ, biết rõ là có chủ, không cho mà lấy, trị giá năm tiền hay hơn năm tiền, phạm ba-la-di. Nghi là có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm  tiền,  phạm  thâu-lan-giá.  Không  chủ, tưởng  có  chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền phạm thâu-lan-giá. Nghi vật không chủ tưởng có chủ, lấy năm  tiền hoặc hơn năm  tiền phạm  thâu-lan-giá. Lấy vật  có  chủ, tưởng  có  chủ, dưới năm  tiền  phạm  thâu-lan-giá. Lấy vật có chủ, mà  nghi, dưới năm  tiền, phạm đột-kiết-la. Không chủ tưởng là có chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la. Nghi là vật không chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la.Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di-ni: đột-kiết-la, tẫn xuất. Đó là phạm.
Sự không phạm: lấy với ý tưởng được cho, tưởng  là của mình, với ý tưởng là đồ vất bỏ, với ý tưởng tạm lấy, với ý tưởng là thân hữu... tất cả những trường hợp trên [575c] không phạm. 
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới,  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. Đó là không phạm. (2)
III. ĐOẠN NHÂN MẠNG (3)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Thế Tôn du hóa Tỳ-xá-ly, (4) ở trong giảng đường, bên
_______________
(1) Giáo thủ vật 教取物, dạy đi lấy vật không nhất thiết bảo đi ăn trộm.
(2) Bản Hán, hết quyển 1.
(3) Tứ  phần,  quyển  2  (tr.575c6);  Ngũ  phần  2  (tr.7a27);  Tăng-kỳ  4  (tr.253c9); Căn bản 3 (tr.518a21); Thập tụng 2 (tr.7b21). Vin. iii. 68.
(4) Tỳ-xá-ly 毘舍離; Sk. Vaiśālī (Pl.) Vesāli.

* Trang 51 *
device

sông Di hầu. (1) Bằng vô số phương  tiện, Phật giảng cho các tỳ-kheothực hành (quán) bất tịnh, (2) khen ngợi sự thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi tư duy về sự thực hành quán bất tịnh.(3)
Các tỳ-kheo  khởi  lên  ý  nghĩ:  “Nay  đức Thế Tôn  vì  chúng  ta  nói thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi sự  thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi tư duy về sự thực hành quán bất tịnh.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo  liền dùng vô số phương  tiện  tu tập quán bất tịnh. Sau  khi từ  thiền  định tỉnh  giác,  các vị  ấy  sinh  ghê tởm  thân mạng, sầu  ưu,  không  an lạc. Cũng  như  con  trai  hay  con  gái  yêu thích bản thân, (4) đem rắn chết, chó chết, người chết cột nơi cổ mình, để rồi ghê tởm mùi hôi thối ấy. Các tỳ-kheo cũng như vậy, bằng vô số  phương  tiện  tu tập  quán bất tịnh,  ghê tởm  thân mạng, sầu ưu, không an lạc, bèn  tìm dao muốn tự sát, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết. Các tỳ-kheo ở  trong một khu vườn, bên  sông Bà-cầu, (5) khởi  lên  ý  nghĩ: “Đức Thế Tôn  đã từng  dùng  vô số  phương tiện  nói về sự  thực  hành  (quán) bất tịnh,  khen  ngợi sự  thực  hành (quán) bất tịnh,  khen  ngợi tư  duy về sự  thực  hành  quán bất tịnh. Tỳ-kheo kia dùng vô số phương  tiện tập tu quán bất tịnh, sinh ghê tởm  thân mạng, sầu ưu,  không  an lạc,  tìm  dao muốn tự  sát,  khen ngợi sự  chết,  khuyến  khích  cho  chết.” Bấy  giờ,  có tỳ-kheo  tên
______________________
(1) Di hầu giang biên 獼猴江邊; Thập tụng 2, Bạt-kỳ quốc Bạt-cầu-ma hà thượng 跋耆國跋求摩河上 tức Pāli, sông Vaggumudā, thuộc nước Vajji, gần chỗ Phật nhập Niết-bàn.  Căn bản:  Phật tại  thành Quảng Nghiêm 廣嚴城,  bên bờ  sông Thắng  Tuệ  勝慧河, rừng  Sa-la-trĩ  娑羅雉林. Pāli,  Vn.iii.70,  Vesāliyam viharati  mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ,  trú tại  Vesālī,  trong rừng  Đại  Lâm, trong một ngôi nhà sàn.
(2) Thuyết bất tịnh hành 說不淨行. Ngũ phần 2, nt.,  tu bất tịnh quán 修不淨觀; Pāli, Vn.iii.nt., asubhabhāvana.
(3) Xem Tạp A-hàm 29 kinh 809. S. 54. 9  Vesāli.
(4) Nguyên  Hán:  tự hỉ  nam tử...自喜男子;  Thập tụng  2,  nt.,  niên  thiếu tự hỷ nghiêm sức 年少自喜嚴飾; Vn.iii.dd., maṇḍanajātiko, thích trang điểm.
(5) Bà-cầu hà 婆裘河; tức Pāli, sông Vaggumudā.

* Trang 52 *
device

Là Vật-lực-già Nan-đề,  dòng  sa-môn  xuất gia,  tay cầm dao bén  vàotrong vườn Bà-cừu.(3)Có một tỳ-kheo đang ghê tởm thân mạng ô uế bất tịnh,(4) từ xa thấy tỳ-kheoVật-lực-già Nan-đề đến, bèn nói rằng: “Đại đức, hãy đoạn mạng tôi. Tôi đem y bát cho ông.” Vật-lực-già liền chịu thuê bằng y bát, tức thì đoạn mạng vị tỳ-kheo ấy. Y đi đến bờ sông kia để rửa dao. Lòng sinh hối hận, tự nói: “Hôm nay  thật bất lợi cho  ta;  [576a1]  thật chẳng  lành cho  ta. Tỳ-kheo kia không tội lỗi gì, ta lại nhận lời đoạn mạng căn của ông ấy.”
 Vào  lúc đó, có một Thiên ma(5)biết tâm niệm của tỳ-kheo này,  liền dùng  thần  túc đến  trước Vật-lực-già Nan-đề. Đứng  trên mặt nước mà không chìm;(6)khen ngợi, khuyến khích rằng:
“Lành  thay,  lành  thay  thiện nam tử! Hôm nay ông được công đức lớn; đã độ người chưa được độ.”
Tỳ-kheo Nan-đề nghe Thiên ma khen, sự hối hận kia tan biến,  liền
khởi  lên  ý nghĩ:  “Nay  ta đặng công đức lớn; độ người chưa được
độ.” Nghĩ như vậy rồi, y lại cầm dao vào trong vườn(7) mà hỏi:
“Ai chưa độ, nay tôi sẽ độ cho.”
_______________________________
(1)Vật-lực-già Nan-đề 物刀伽難提  (Sk. Mṛga-nandī?); Ngũ  phần  (tr.7b5), Di-lân chiên-đà-la 彌鄰旃陀羅, một người chiên-đà-la  tên  là Di-lân; Thập tụng 2 (tr.7c4), Lộc Trượng phạm chí 鹿杖梵志, một người phạm chí tên Lộc Trượng (Skt. Mṛgadaṇḍa, tức Pāli Migadaṇḍa,  thay  vì Migalaṇḍa). Pāli,  Vn.iii.68,
Migalaṇḍika samaṇakuttaka, một người giả trang Sa-môn tên là Migalaṇḍa. 
(2) Phụ chú trong bản Hán: “Nói Sa-môn chủng, chỉ dòng họ.” Tức Pāli samaṇa-kūla: dòng họ Sa-môn, thay vì samaṇakuttaka, giả trang Sa-môn. 
(3) Bà-cừu  viên 婆裘園; Thập tụng  2  (tr.7b21), Bạt-cầu-ma  hà 跋求摩河; Pāli, Vn.iii.68: Vaggumudā nadī, sông Vaggumudā
(4) Tăng-kỳ 4 (tr.253c9): một tỳ-kheo bệnh lâu ngày, đau đớn không chịu nổi, bèn nhờ tỳ-kheo nuôi bệnh giết giùm.
(5) Thập tụng (tr.7c7): Ma thiên thần 魔天神; Ngũ phần (tr.7b9): Tự tại thiên ma 自在天魔. Pāli, Vn.iii.69: mārakāyikā devatā, một thiên thần thuộc hạ của Māra.
(6) Vin. iii. 69: abhijjamāne udake gantvā, đi trên nước mà nước không bị chẻ ra.
(7) Thập tụng:  đến  trú xứ  kia. Pāli,  Vn.iii.69:  vihārena  vihāraṃ  pariveṇena pariveṇaṃ, từ tinh xá đến tinh xá, từ phòng đến phòng.

* Trang 53 *
device

Khi ấy, có tỳ-kheo chưa  ly dục,  thấy tỳ-kheo Vật-lực-già Nan-đề, thì quá kinh hoảng,  lông  trong người dựng ngược  lên. Vật-lực-già
Nan-đề thấy vậy, nói các tỳ-kheo rằng:
“Các ngài chớ sợ. Các căn chưa  thuần  thục,  thì chưa  thể hóa kiếp được. Đợi đến lúc thành thục, tôi sẽ hoá kiếp cho.” Trong số các tỳ-kheo ái dục đã diệt tận, thấy Vật-lực-già Nan-đề, lòng không sợ sệt, lông trong người không dựng ngược lên.
Khi  ấy tỳ-kheo Vật-lực-già  Nan-đề  hoặc một  ngày  giết một tỳ-kheo,  hoặc  giết  hai,  ba, bốn, năm  cho  đến  sáu mươi  người. Xác chết  trong vườn  kia vất bỏ bừa  bãi,  hôi  thối, bất tịnh,  giống  như một bãi tha ma.
Lúc bấy  giờ,  có  các cư sĩ lễ  bái  các  chùa. Lần hồi  đến vườn  kia, thấy vậy, ai nấy đều kinh sợ, lấy  làm kỳ quái, cùng nhau chê bai:
“Trong vườn này có sự đại biến. Sa-môn Thích tử không có lòng từ mẫn, giết hại nhau. Tự xưng rằng ta tu chánh pháp. Như vậy đâu có gì  là  chánh  pháp? Họ  giết hại lẫn  nhau. Các tỳ-kheo  còn tự  giết nhau huống  là đối với  người khác. Từ nay chúng  ta chớ nên kính
phụng, thừa sự, cúng dường sa-môn Thích tử nữa.” 
Họ  rao  truyền  trong  thôn ấp, đừng cho cư  trú và vãng  lai. Khi ấy các cư sĩ thấy trong vườn này uế ác như vậy nên không tới lui nữa.
Bấy giờ, tỳ-kheo  trú tại Tỳ-xá-ly, có nhân duyên nhỏ, tập hợp lại một  chỗ. (1) Lúc  ấy,  đức Thế Tôn  quan  sát số lượng  các  chúng tỳ-kheo giảm thiểu, và các đại tỳ-kheo có tiếng tăm đều không có mặt.
Đức Thế Tôn tuy đã biết nhưng vẫn hỏi A-nan:
“Chúng Tăng tại sao giảm  thiểu? Các Đại đức nổi  tiếng ở đâu mà không thấy mặt hôm nay?”
Tôn  giả  A-nan  đem  nhân  duyên  đã xảy  ra  trình  bày  đầy  đủ với Phật:
“Thế Tôn  trước đây dùng vô số phương  tiện vì các tỳ-kheo  thuyết giảng một cách rộng  rãi về sự  thực hành  (quán) bất tịnh,
___________________________________
(1) Thập tụng 2 (tr.7c15): ngày 15 trong tháng, lúc thuyết giới.

* Trang 54 *
device

khen sự thực hành (quán) bất tịnh, khen tư duy sự thực hành (quán) bất tịnh.
Các tỳ-kheo nghe rồi tu tập, nhàm tởm  thân mạng, tìm người đoạn mạng. [576b] Do vậy mà số lượng bị giảm  thiểu. Cúi xin đức Thế Tôn  vì  các tỳ-kheo mà  phương  tiện  thuyết  pháp  khác,  khiến  cho tâm mọi người khai mở, vĩnh viễn không nghi hoặc.”
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: “Nay hãy tập hợp các tỳ-kheo nơi giảng đường.”
Tôn  giả A-nan  vâng lời  Phật dạy, tập hợp  các tỳ-kheo nơi  giảng đường; rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên, thưa: “Kính bạch  đức  Thế  Tôn,  nay  chúng Tăng  đã họp,  nguyện  đức Thánh biết thời.”
Lúc bấy  giờ,  đức  Thế  Tôn  liền  đến  giảng  đường,  ngồi  giữa  đại
chúng, bảo các tỳ-kheo: “Có  a-na-ban-na  tam-muội, (1) tịch  nhiên khoái lạc.Các  pháp bất thiện đã sinh, nó có khả năng diệt trừ, vĩnh viễn không phát sinh trở lại. Ví  như  tiết  trời mùa  thu,  sau cơn mưa  thì không còn bụi bẩn. Lại như một trận mưa lớn có khả năng chận đứng  luồng gió mạnh. A-na  ban-na  tam-muội cũng lại  như vậy, tịch tịnh  khoái lạc. Với các pháp bất thiện đã sinh, nó có khả năng diệt trừ.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện vì các tỳ-kheo nói a-na ban-na  tam-muội, khen a-na ban-na  tam muội, khen sự  tu
tập a-na ban-na  tam-muội. Các tỳ-kheo  liền khởi  lên ý nghĩ: “Đức Thế Tôn hôm nay dùng vô số phương tiện vì chúng ta nói a-na ban-
na tam-muội, khen a-na ban-na tam muội, khen sự tu tập a-na ban-na tam-muội. Chúng ta hãy tinh cần tu tập.” 
Rồi các tỳ-kheo  liền bằng đủ phương  tiện khác nhau tư duy, nhập a-na ban-na  tam-muội. Sau khi từ a-na ban-na  tam-muội tỉnh giác,
_________________________________
(1) A-na-ban-na tam-muội 阿那般那三昧; Thập tụng 2 (tr.8a13):a-na ban-na niệm 阿那般那念; Ngũ phần 2  (tr.7c6): an-ban niệm 安般念; Pāli, Vn.  iii. 70:
ānāpānassati-samādhi, sự tập trung trên hơi thở ra vào.
 

* Trang 55 *
device

họ tự biết mình chứng đắc pháp tăng  thượng  thù  thắng, an  trụ nơi quả chứng.
Lúc bấy  giờ,  đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bằng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu:  “Việc  làm của  các  ngươi  là  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi,chẳng  phải  pháp của  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  là việc không nên  làm. Làm sao các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu này lại ngu si mà dứt mạng lẫn nhau?”
Đức Thế Tôn sau khi dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu là những người ngu si, là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là những người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay về  sau, Ta vì các tỳ-kheo mà kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Người muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo  nào, cố  ý tự  tay dứt  sinh mạng  người, (1) cầm  dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‘Này nam tử, ích gì cuộc sống xấu ác này, thà chết còn hơn sống!’ Với tâm tư duy như vậy, dùng mọi phương tiện khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung. (2)
__________________________                                       
(1) Hán: đoạn nhân mạng 斷人命; Pāli: manussaviggahaṃ jīvitā voropeyya, tước đoạt sinh mạng của con người. 
(2) Ngũ phần 2, giới này được kết bởi ba lần: Lần  thứ nhất, tỳ-kheo giết người, nhân duyên cũng gần như Tứ phần với một vài chi tiết khác biệt. Lần thứ hai, tỳ-kheo bệnh muốn tự sát, nhân vì có giới cấm giết người nên các tỳ-kheo đưa dao cho người bệnh tự sát; Phật kết thêm lần nữa. Thứ ba, tỳ-kheo bệnh muốn tự sát nhưng  các tỳ-kheo  không  dám  giúp  phương  tiện,  bèn  đi  tìm  thợ săn,  khuyến khích giết giùm; Phật kết thêm lần nữa. Pāli, Phật kết hai lần; lần thứ nhất, giết và giúp phương tiện tự sát; thứ hai, khuyến khích người tự sát. Tăng-kỳ và Thập tụng, kết một lần như Tứ phần. Đại tỳ-kheo giới bản (tr. 549c15): giới được kết sau khi thành Phật năm thứ sáu, ngày 9, nửa tháng phần thứ ba, mùa đông.

* Trang 56 *
device

C. THÍCH NGHĨA
[576c]Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Người: (1) từ  khi  thức  đầu  tiên (2) cho  đến  khi  thức  sau  cùng, mà dứt mạng sống của nó. 
Giết: (3) tự mình giết, sai bảo người giết, sai sứ giết, sai người đi và về mà  giết,  hoặc  trùng sứ mà  giết,  hoặc  sai sứ  luân  chuyển  giết, hoặc  nhờ  người  đàn  ông  giết,  hoặc  sai  người  tìm  người  đàn  ông giết, tìm cầu người cầm dao giết, sai người tìm cầu cầm dao giết, ra dấu bằng thân, miệng nói, thân miệng đều hiện tướng, hoặc gởi thư, sai khiến người đưa thư, giết bằng hầm hố, bằng ỷ phát, (4) cho uống thuốc, đặt dụng cụ giết.
- Tự mình giết: dùng tay hoặc gạch đá, dao, gậy, và các vật khác để tự mình giết. Người giết phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
-  Sai bảo  người  giết: (5) khi  giết, tự  mình  giám  sát  việc  giết, (6) sai người  trước (7) ném  vào  trong nước, lửa;  hoặc từ  trên  núi  xô  xuống hố sâu, hoặc khiến voi chà chết; hoặc khiến ác  thú ăn, hoặc khiến
__________________
(1) Hán: nhân 人. Pāli, Vin. iii. tr. 73: manussaviggaha (thân thể con người): tâm đầu  tiên  trong  sinh khởi  thai mẹ,  thức tối sơ xuất hiện, cho đến khi chết,  trong khoảng giữa đó gọi là thân người. Ngũ phần: “nhược nhân, nhược tợ nhân 若人 若似人. Sau khi nhập thai mẹ, trong vòng 49 ngày, gọi là tợ nhân. Từ đó về sau, gọi  là nhân.’’  Thập tụng: nhược nhân nhược  loại nhân 若人若類人  (người và loại tợ của người). Căn bản: “nhược nhân, nhược nhân thai. Nhân (người), trong thai mẹ, đã đủ 6 căn. Nhân thai, mới nhập thai mẹ.’’
(2) Hán: sơ thức 初識. Pāli: paṭhaṃ paṭisandhicittaṃ, kết sanh tâm đầu tiên.
(3) Hán: sát 殺. Văn kết giới nói: đoạn nhân mạng 斷人命, không nói từ sát. Pāli: jīvitā voropeyya, tước đoạt sinh mạng, là làm đoạn tuyệt mạng căn, hủy diệt nó, chặn đứng dòng tương tục.
(4) Ỷ phát 倚發; bản Thánh: ỷ bát 倚撥, xem cht. sau
(5) Giáo sát 教殺. Pāli: adhiṭṭhāyā, bằng sự giám thị (giám sát giết), tức giết bằng sự ra lịnh, hay chỉ đạo.
(6) Bản Cao Ly: ... khán giáo 看教...; bản Tống-Nguyên-Minh: ... khán sát 看殺...
(7) Hán: tiền nhân 前人; đây chỉ thuộc hạ.

* Trang 57 *
device

rắn cắn,  và  các lệnh  giết  khác. Người (được lệnh)  giết,  (người  ra lệnh) phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
-  Sai sứ  giết: tỳ-kheo  sai  khiến sứ  giả  đoạn mạng  người  nào  đó. (Người ấy) vâng lời mà đi, (1) nếu đoạn được mạng, (người sai khiến) thành ba-la-di. Phương tiện mà không đoạn được mạng, (người sai) thâu-lan-giá.
- Sai người đi và về mà giết: (2) tỳ-kheo  sai sứ đi đoạn mạng  người nào đó. Người đó vâng theo lời mà đi, muốn giết nhưng chưa được bèn  trở về. Sau đó, người ấy lại vâng  theo lời dạy trước mà đi giết lần nữa. Nếu giết được, (người sai) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người sai) thâu-lan-giá.
- Trùng sứ mà giết: (3) tỳ-kheo sai sứ giả, “Ngươi hãy đi đoạn mạng người  đó.” Lại nối  tiếp  sai sứ  như vậy,  cho  đến bốn, năm lần. Người được sai  liền đến giết. Giết được, (người sai) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người sai) thâu-lan-giá.
- Sứ  giả  luân  chuyển mà  giết: (4) tỳ-kheo  sai sứ,  “Ngươi  hãy  đoạn mạng người đó.” Người bị sai lại sai người khác, cho đến một trăm hay một ngàn lần sai như vậy để đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người sai) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người sai) thâu-lan-giá. 
- Tìm cầu  nam tử  giết:  như  nói,  “Trong  đây  ai  biết  có  người  như vậy, có khả năng dùng dao, có phương  tiện, học tập  lâu, không sợ sệt, không bỏ cuộc, có  thể đoạn mạng của người nào đó?” Người
__________________                                       
(1) Hán:  tùy ngữ  trụ 隨語住; có lẽ chính xác là tùy ngữ vãng 隨語往, đi  theo lời (chỉ đạo).
(2) Hán: vãng  lai sứ 往來使; Pāli: gatapaccāgatena dūtena, bởi sứ giả đi và quay trở lại. 
(3) Hán:  trùng sứ 重使. Pāli: dūtaparamparāya, sứ giả này  tiếp  theo sứ giả khác, một chuỗi sứ giả. 
(4) Hán: triển chuyển sứ 展轉使. Pāli: visakkiyena dūtena, bởi sứ giả lần lượt giết nhau (để phi tang thủ phạm).

* Trang 58 *
device

được sai  liền đi đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người  tìm cầu) thành  ba-la-di. Phương  tiện mà  không  giết  được,  (người  tìm cầu) thâu-lan-giá.
- Sai người  tìm cầu nam tử giết: như sai người, “Trong đây ai biết có người như vậy, cókhả năng dùng dao, có phương  tiện, học tập lâu, không sợ sệt, không bỏ cuộc, có thể đoạn mạng của người nào đó?”  Người bị  sai  liền  đến  đoạn mạng  người  kia.  Đoạn  được, (người sai  tìm) phạm ba-la-di. Phương  tiện mà không giết,  (người sai tìm) phạm thâu-lan-giá.
- Tìm cầu người cầm dao giết: tự mình  tìm cầu, nói  “Ai  là  người dũng kiện có khả năng cầm dao đoạn mạng người nào đó?” Người kia  liền đến giết. Giết được, (người  tìm cầu)  thành ba-la-di, không giết được, (người tìm cầu) phạm thâu-lan-giá.
- Sai [577a1] người tìm cầu kẻ cầm dao giết: cũng như vậy.
- Ra dấu bằng  thân: (1) thân  làm dấu hiệu giết. Như  làm cho rớt vào trong nước,  trong lửa, từ  trên  cao rớt  xuống  đáy  hang  sâu;  hoặc khiến voi chà chết, khiến ác  thú ăn, độc xà cắn. Người kia do nơi dấu hiệu bằng thân này mà tự mình giết, (người ra dấu) phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người ra dấu) phạm thâu-lan-giá.
- Miệng nói: (2) hoặc nói  thế  này,  “Ngươi đã  làm điều ác, không có tâm nhân từ,  lòng ôm sự độc hại, không  làm các điều  thiện; ngươi không  làm  việc cứu hộ. Ngươi sống sẽ chịu  nhiều tội báo, không bằng chết.” Hoặc  là nói như vầy: “Ngươi không  làm các điều bạo ác, có nhân từ, không ôm lòng độc hại, ngươi đã làm các điều thiện như vậy, ngươi đã  làm công đức, ngươi đã  làm việc cứu hộ. Ngươi sống để chịu các khổ. Nếu ngươi chết sẽ sinh Thiên.” Nhân lời nói này,  người  kia tự  sát;  thành  ba-la-di.  Phương  tiện  mà  không  sát
_______________                                       
(1)Thân hiện tướng 身現相. Đây chỉ sự ra dấu để khuyến khích người tự sát. Pāli, Vin.i.76: kāyena saṃvaṇṇeti.
(2) Khẩu thuyết 口說; khuyên người tự sát bằng lời nói. Pāli: vācāya saṃvaṇṇeti.

* Trang 59 *
device

được, phạm thâu-lan-giá.
- Ra dấu bằng thân và miệng: cũng như vậy.
- Sai sứ: (1) sai sứ đến người kia nói, “Ngươi đã  làm điều ác,... điều thiện”, nói đầy đủ như trên. Nhân nơi miệng của người sứ khen sự chết  này,  mà  người  kia tự  sát;  thành  ba-la-di.  Phương  tiện  mà không chết được, phạm thâu-lan-giá.
- Gởi  thư: (2) viết  thư (3) nói, “ngươi đã  làm điều ác,... điều  thiện”, nói đầy đủ như trên. 
- Sai bảo khiến sứ viết thư: cũng như vậy.
- Hầm hố: (4) xét  biết  người  kia sẽ  đi  qua lại  trên  tuyến  đường  đó; giữa đường đào một cái hầm sâu, trong hầm để lửa hoặc dao, hoặc rắn  độc,  hoặc  chông  nhọn,  hoặc  dùng  thuốc  độc bôi  lên vật  nhọn bén. Người kia rơi vào  trong đó, nếu chết,  thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Ỷ phát: (5) biết người kia sẽ đứng tựa (6) nơi chỗ nào đó, hoặc nơi cây, nơi tường, nơi  rào;  bên  ngoài đó để lửa, dao, chông, rắn độc, bôi chất độc nơi vật nhọn bén, bẫy gài, khiến người kia rơi vào đó; nếu chết,  thành  ba-la-di.  Phương  tiện mà  không  chết,  phạm  thâu-lan-giá.
____________________
(1) Khiển sứ 遣使; tức là sai người đi khuyến khích người kia tự sát. Pāli: dūtena saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng sứ giả.
(2) Khiển  thư 遣書. Pāli: lekhāya saṃvaṇṇeti, khuyến khích  (chết) bằng cách viết (thư).
(3) Hán:  chấp  thư 執書,  nghĩa  đen  “cầm  thư.” Pāli:  lekhaṃ  chindati,  “khắc văn tự;” VA. 452 giải  thích: paṇṇe vā potthake vā akkharāni likkhati, “viết các chữ cái  lên  lá  hay  sách.” Văn  luật,  Vin.i.76,  còn  nói:  akkharakkharāya  āpatti dukkaṭassa, mỗi âm tiết là một tội đột-kiết-la.
(4) Khanh  hãm 坑陷;  Ngũ  phần  2  (tr.9a1):  ưu-bà-đầu 優婆頭  Tăng kỳ 4  (tr. 256a6): ô-mãn-thổ 烏滿吐; Pāli: opāta.
(5) Ỷ  phát 倚發; bản Tống-Nguyên-Minh:  ỷ  bát 倚撥. Thập tụng 2:  cơ  bát 機撥 (phát  động bằng máy  móc  hay bẫy  cài);  Ngũ  phần 2:  a-ba-xa 阿波奢. Pāli: apassena: vật để tựa, bẫy ngụy trang.
(6) Hán: ỷ phát..

* Trang 60 *
device

- Cho uống thuốc: biết người kia bệnh, cho loại thuốc không đúng (1) ,hoặc tạp  độc,  hoặc  quá hạn,  cùng  các  loại  thuốc  khiến  cho  chết, thành ba-la-di. Cho thuốc mà chẳng chết, thành thâu-lan-giá.
- Đặt dụng cụ giết: (2) trước đã biết người kia vốn đã nhàm chán cái thân hèn hạ này nên đem dao, đồ độc, hoặc dây và các thứ dụng cụ làm cho chết để đó. Người kia dùng một trong những vật này để tự sát; nếu  chết,  (người  đặt)  ba-la-di.  Phương  tiện  mà  không  chết, (người đặt) thành thâu-lan-giá. 
Nếu  làm các việc như vậy, cho đến các phương  tiện khác để giết, người  kia  do  đó mà  chết,  thành  ba-la-di.  Phương  tiện mà  không chết, phạm thâu-lan-giá.
Nếu con của trời, con của rồng, con của a-tu-la, con của kiền-thát-bà, con của dạ-xoa, ngạ quỷ; hoặc  trong  loài súc sinh mà con nào có trí hiểu biết được tiếng người, [577b] hoặc lại có khả năng biến hình;  phương  tiện  tìm cầu  giết  nó  cho  chết. Người  giết,  thâu-lan-giá.  Phương  tiện mà  không  chết,  đột-kiết-la.  Súc  sinh  không  thể biến hình, giết nó thành ba-dật-đề. Phương tiện mà không chết, đột-kiết-la. Thật người, tưởng là người mà giết, ba-la-di. Nghi là người, thâu-lan-giá. Người, tưởng  chẳng phải  người,  thâu-lan-giá. Chẳng phải  người tưởng  là  người,  thâu-lan-giá. Nghi  chẳng  phải  người, thâu-lan-giá. 
Tỳ-kheo-ni,  ba-la-di.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la, diệt tẫn, Đó là trường hợp phạm. (3)
 Sự không phạm:  là  ném dao, gậy, gạch, đá nhầm  trúng người kia chết. Xây cất phòng xá,  làm rơi đá, gỗ, cây, đòn  tay... chết người. Người bệnh nặng mà dìu, đỡ nằm, ngồi, đi, đứng, tắm rửa, khi uống
___________________
(1) Phi dược 非藥.
(2) An sát cụ 安殺具. Ngũ phần: ưu-ba-hại 優波害; Tăng-kỳ: a-ba-khâm-mãn 阿 波欽滿; Pāli: upanikkhipana (skt, upanikṣepana)
(3) Tăng-kỳ (tr.257c4): hội đủ 5 yếu tố, phạm ba-la-di: 1. người; 2. có ấn tượng đó là người; 3. phương tiện để giết; 4. cố ý giết chết; 5. người ấy chết.

* Trang 61 *
device

thuốc, từ  chỗ lạnh  đến  chỗ  nóng, từ  chỗ  nóng  đến  chỗ lạnh,  vào phòng, ra phòng, đến nhà xí, trở về... tất cả không có tâm sát hại mà (người bệnh) chết thì (người đỡ) không phạm. 
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
IV. ĐẠI VỌNG NGỮ (1)
A. DUYÊN KHỞI
1. Kết gới lần thứ nhất
Một  thời, đức Thế Tôn du hóa tại Tỳ-xá-ly, (2) ở  trong giảng đường Cao-các bên sông Di hầu. Bấy giờ gặp lúc lúa gạo quý hiếm, (3) nhân dân đói khổ, khất thực khó được. Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
“Hãy tập họp tất cả tỳ-kheo trú ở Tỳ-xá-ly vào giảng đường.”  Tôn  giả  A-nan  vâng lời  Phật dạy, tập hợp  các tỳ-kheo tại  giảng đường. Chúng Tăng tập hợp xong, Tôn giả đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, thưa:
“Tất cả các tỳ-kheo có mặt tại Tỳ-xá-ly đã tập hợp tại giảng đường. Cúi xin đức Thánh biết thời.”
Khi  ấy,  đức Thế Tôn  liền  đến  giảng  đường,  ngồi  giữa  đại  chúng, bảo các tỳ-kheo: 
“Các ngươi nên biết, hiện nay gặp  lúc  lúa gạo quý hiếm, nhân dân đói  khổ,  khất  thực  khó  được.  Các  ngươi  ai  có  thân hữu  tri  thức đồng Hòa thượng, đồng thầy (4) , ở gần Tỳ-xá-ly này, thì đến đó
__________________                                         
(1) Ngũ phần 2, tr. 9a11; Tăng-kỳ 4, tr. 257c16; Thập tụng 2, tr. 11a6; Căn bản 9, tr. 668c22; Vin. iii. tr. 87.
(2) Tăng-kỳ 4  (tr.257c16): Phật tại Xá-vệ  thành. Thập tụng 2  (tr.11a6): Phật an cư mùa hạ tại Duy-da-li. Pāli, Vin.  iii.87:  trú tại Vesāli,  trong rừng Mahāvana, trong một ngôi nhà sàn (Trùng các giảng đường).
(3) Pāli, nt: nạn đói kém tại Vajjī.
(4) Đồng sư, tức đồng a-xà-lê.

* Trang 62 *
device

nhờ,  cùng  tùy  theo sự  thích hợp mà  an cư. Ta cũng sẽ  an cư nơi này. Tại sao vậy? Vì  thức ăn khó khăn, nên khiến cho chúng Tăng mệt nhọc.”
Các tỳ-kheo  nghe  đức Thế Tôn dạy rồi, mỗi  người  đều  theo  thân hữu tri thức đồng Hòa thượng, đồng thầy, ở gần Tỳ-xá-ly mà an cư. Đức Thế Tôn cũng an cư trong thành Tỳ-xá-ly.
Khi ấy, có số đông tỳ-kheo an cư ở  trong Tăng-già-lam  bên  sông Bà-cừu, khởi lên ý nghĩ: “Như hiện nay trong nước này lúa gạo quý hiếm,  nhân  dân  đói  khổ,  khất  thực  khó  được. Chúng  ta  nên  dùng phương  tiện  thế  nào  để  khỏi  khổ sở  vì  ẩm  thực?” Họ  nghĩ  ra phương  tiện như  sau: “Nay  ta nên đến các nhà cư sĩ nói:  ‘Tôi đạt được pháp thượng nhân. [577c] Tôi là A-la-hán, đạt được thiền, đạt được  thần  thông, biết được  tâm người khác.’ Rồi lại khen tỳ-kheo nào  đó  chứng  đắc A-la-hán,  đắc  thiền,  đắc  thần  thông,  biết  được tâm người khác. Trong đó có những cư sĩ tin ưa, có thức ăn uống gì không dám tự ăn  riêng, không cho vợ con, mà lại mang đến cúng dường chúng ta. Các cư sĩ kia cũng sẽ khen ngợi chúng ta: ‘Các vị tỳ-kheo này thật sự là ruộng phước, đáng tôn kính.’ Như vậy chúng ta  có  thể  nhận  được  thức  ăn uống  ngon bổ,  có  thể sống  an lạc, không bị vấn đề khất thực gây khó khổ.”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo ở bên sông Bà-cừu suy nghĩ như vậy rồi liền đến nhà các cư sĩ, tự nói: “Tôi chứng đắc pháp  thượng nhân. Tôi  là A-la-hán, đắc  thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác.”
Lại khen vị tỳ-kheo nào đó chứng đắc A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác.
Khi ấy các cư sĩ tin ưa, tin nhận lời nói kia,  liền đem thức ăn uống có được và phần của vợ con không dám cho ăn hết, mang đến cúng dường cho các tỳ-kheo và nói: “Đây  là bậc đáng  tôn kính của  thế gian.”
Các tỳ-kheo này nhờ  thọ sự cúng dường của các vị cư sĩ nên nhan sắc sáng sủa, tươi vui, khí lực đầy đủ. Các tỳ-kheo khác an cư tại

* Trang 63 *
device

Tỳ-xá-ly nhan sắc  tiều tụy, hình  thể khô héo, y phục rách rưới. An cư xong, họ thu xếp y bát đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo:
“Các ngươi đi đứng có được hòa hiệp an lạc chăng? Không khổ vì ẩm thực chăng?”
Các tỳ-kheo    thưa:  “Kính bạch  đức Thế Tôn,  chúng  con  đi  đứng hòa  hiệp,  an lạc;  nhưng gặp  lúc  lúa gạo  quý  hiếm,  nhân  dân  đói khổ, khất thực khó được. Vì vậy mà khổ.”
Trong khi đó, các tỳ-kheo an cư trong Tăng-già-lam, bên sông Bà-cừu thì nhan sắc sáng sủa, tươi vui, khí lực đầy đủ. An cư xong, thu xếp y bát, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn. Đến nơi, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo:
“Các ngươi đi đứng có được hòa hiệp an lạc chăng? Không khổ vì ẩm thực chăng?”
Các tỳ-kheo bạch  Phật:  “Kính bạch  đức  Thế  Tôn,  chúng  con  đi đứng hòa hợp an lạc; không gặp phải khó khăn về ẩm thực.”
Đức Phật hỏi:
“Hiện nay gặp  lúc  lúa gạo quý hiếm, nhân dân đói khổ, khất  thực khó được. Các ngươi dùng phương tiện nào mà không gặp phải khó khăn vì vấn đề ẩm thực?”
Các tỳ-kheo  liền đem  nhân duyên  trước  trình bày đầy đủ với đức Thế Tôn và thưa:
“Nhờ vậy chúng con không gặp phải khó khăn về ẩm thực.”
Đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo:
“Sự thật các ngươi có chứng đắc như vậy không?”
Các tỳ-kheo thưa:
“Hoặc có người chứng thật. Hoặc có người không chứng thật.”

* Trang 64 *
device

[578a1] Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các  ngươi,  những kẻ  ngu  si,  thật  có mà  còn  không  nên  nói với người, huống là không thật mà lại đến nói với người!”
Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Trong đời có hai hạng giặc: (1) một  là  thật chẳng phải tịnh hạnh mà tự xưng là tịnh hạnh. Hai là vì miệng và bụng nên không chơn thật, chẳng  phải mình  có mà  ở  trong  chúng cố  ý  nói lời vọng  ngữ, tự xưng rằng đạt được pháp thượng nhân. Trong hai hạng giặc này, kẻ vì miệng và bụng nên không chơn  thật, chẳng phải mình có mà ở trong đại chúng cố ý nói lời vọng ngữ: tự xưng mình đạt được pháp thượng  nhân,  là kẻ  giặc lớn  nhất  không  gì bằng. Tại  sao vậy? Vì chúng ăn trộm thức ăn uống của người.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách các tỳ-kheo an cư trong Tăng-già-lam bên sông Bà-cừu rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Đây  là  những  người  ngu  si,  là nơi  trồng nhiều  giống hữu lậu,  là những người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay về  sau Ta vì các tỳ-kheo mà kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.’’ 
Người muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
“Tỳ-kheo  nào,  thật  không sở  tri  mà tự xưng rằng:  ‘Tôi chứng đắc pháp thượng nhân, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy.’ Vào  lúc khác, tỳ-kheo ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vầy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’ Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.”
2. Kết giới lần thứ hai
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, lúc ấy có một
_______________________
(1) Ngũ phần (tr.9b17): năm đại tặc 五大賊. Thập tụng (tr.12a12): ba đại tặc 三大賊. Pāli: pañca mahācorā, năm đại tặc.

* Trang 65 *
device

tỳ-kheo tăng  thượng mạn (1) nói với người rằng: “Tôi đắc đạo.” Thời gian sau, vị ấy tinh tấn không giải đãi, cần cầu phương tiện, chứng đắc pháp thù thắng tối thượng. Vị ấy nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng:  ‘Tôi chứng đắc pháp  thượng nhân,  tôi biết như vậy,  tôi  thấy như vậy.’ Vào  lúc  khác, Tỳ-kheo  ấy  hoặc bị  người cật vấn,  hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vậy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’ Tỳ-kheo ấy  là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ Với tâm kiêu mạn,  tôi  đã tự  nói  tôi  đắc  đạo. Thời  gian  sau với  tâm  siêng năng,  phương  tiện  tinh tấn,  không  giải  đãi,  chứng  đắc  pháp  thù thắng tối  thượng. Như vậy  tôi  há không phạm  ba-la-di? Nay phải làm thế nào?” Vị ấy tìm các tỳ-kheo đồng tâm ý: (2) “Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết  giới:  ‘Tỳ-kheo  nào,  thật  không sở  tri mà tự xưng rằng:  ‘Tôi chứng đắc pháp  thượng nhân,  tôi biết như vậy,  tôi  thấy như vậy.’ Vào  lúc  khác, Tỳ-kheo  ấy  hoặc bị  người cật vấn,  hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vậy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’ Tỳ-kheo này  là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ [578b] Tôi với tâm tăng thượng mạn tự xưng  là tôi đắc đạo. Thời gian sau do sự  siêng năng, phương  tiện  tinh tấn không giải đãi, chứng đắc pháp  thù  thắng tối  thượng. Như vậy  tôi  há  không  phạm  ba-la-di sao? Lành thay, Đại đức vì tôi bạch Phật. Tùy theo lời Phật dạy, tôi sẽ vâng làm.”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đem nhân duyên này  trình bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Lúc ấy, đức Thế Tôn do nhân này tập hợp tỳ-kheo Tăng,  vì  các tỳ-kheo  tùy  thuận  thuyết  pháp,  dùng  vô số
_____________________
(1) Tăng thượng mạn: chưa chứng đắc mà tưởng là đã chứng đắc. Skt. Abhimāna.
(2) Đồng tâm ý tỳ-kheo 同心意比丘. Pāli (Vin. iii. 159): sabhāgānān bhikkhūnaṃ, những tỳ-kheo chung trong một nhóm.. Ngũ phần 2, Pāli: hỏi ý kiến A-nan. 

* Trang 66 *
device

phương tiện  tán thán đầu-đà, tán thán (1) thiểu dục tri túc, ưa xuất  ly, và bảo các tỳ-kheo:
“Người tăng thượng mạn không phạm.” 
Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo  nào,  thật  không sở  tri  mà tự xưng rằng:  ‘Tôi chứng đắc pháp thượng nhân, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy.’ Vào  lúc khác, tỳ-kheo ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vầy:
‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ,’  trừ tăng  thượng mạn, Tỳ-kheo ấy  là kẻ ba-la-di, không được sống chung.
C. Thích nghĩa
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Không biết không thấy: (2) thật sự không thấy biết.
Tự xưng: tự mình xưng nói có tín, giới, thí, văn, trí tuệ, biện tài.
Pháp của người: uẩn (3) của con người, giới của con người, xứ (4) của con người. (5)
___________________
(1) Để bản: đoan nghiêm 端嚴. Bản Thánh: đoan nghiêm vi diệu pháp 端嚴微妙法. Nhưng đây là do từ tán thán bị chép nhầm.
(2) Bất tri bất kiến 不知不見. Thích từ trong giới văn, nhưng từ trong giới văn nói: thật vô sở tri. Ngũ phần, Thập tụng: bất tri bất kiến 不知不見. Tăng-kỳ: vị tri vị liễu  未知未了: Căn bản:  thật  vô  tri  vô  biến  tri  實無知無遍知. Pāli: anabhijānaṃ, không chứng tri, không chứng đắc, không thắng tri.
(3) Nguyên Hán: ấm 陰; nay từ quen dùng đọc là uẩn. Pāli: khandha.
(4) Nguyên Hán: nhập 入; từ thông dụng là xứ. Pāli: āyatana.
(5) Nhân pháp 人法 đồng nghĩa với nhân ấm 人陰: pháp ở đây được hiểu  là uẩn, xứ và giới. Tăng kỳ (tr.260c24): nhân pháp, chỉ ngũ dục, 5 hạ phần kết... cho đến, 10 thiện và bất thiện nghiệp đạo.

* Trang 67 *
device

Pháp thượng nhân: các pháp có khả năng thành tựu xuất ly. (1)
Tự nói: (2) tự nói niệm tại  thân, tự nói chánh ức niệm, tự nói  trì giới, tự nói có dục, (3) tự nói không buông  lung, tự nói  tinh tấn, tự nói đắc định, tự nói đắc chánh  thọ, tự nói có đạo, tự nói  tu tập, tự nói có huệ, tự nói kiến, tự nói đắc, tự nói quả.
-  Tự  nói  niệm tại  thân: (4) có  niệm  có  khả năng dẫn  đến  xuất  ly; chuyên cần,  thân cận pháp này,  tu tập và phát  triển rộng lớn, như điều khiển cỗ xe,  thủ hộ và quán sát, khéo đạt được bình đẳng, đã được quyết định, không còn khó khăn, được (5) tự tại. Như vậy gọi  là tự mình nói đạt được thân niệm xứ.
-  Tự  nói  chánh  ức  niệm:  có  niệm  có  khả năng dẫn  đến  xuất  ly; chuyên cần,  thân cận pháp này,  tu tập và phát  triển rộng lớn, như điều khiển cỗ xe,  thủ hộ và quán sát, khéo đạt được bình đẳng, đã được quyết định, không còn khó khăn, được tự tại. Như vậy gọi  là tự mình nói chánh ức niệm.
- Tự nói đắc giới, tự nói có dục, tự nói không  buông  lung, tự nói tinh tấn, cũng được nói như trên.
_____________________
(1) Ngũ phần (tr.9c24): quá nhân pháp 過人法, chỉ hết thảy pháp xuất yếu, tức các thiền,  giải  thoát,  tam-muội,  chánh  thọ,  các Thánh  đạo  và Thánh  quả.  Tăng kỳ (tr.261a7): quá nhân pháp, chỉ 10 trí,... vô sanh trí,... cho đến 10 vô học pháp, 10 lậu tận lực. Pāli,  Vin.i.91:  uttaramanusadhammo nāma  jhānaṃ  vimokkho samādhi samāpatti ñāṇadassanaṃ..., “Pháp của bậc thượng nhân, chỉ cho thiền, giải thoát, chánh định, chánh thọ, tri kiến...”
(2) Hán:  tự ngôn 自言, tức nói những điều  liên hệ đến mình, nói gợi ý về mình. Pāli: attupanāyikam
(3) Tức dục tam-ma-địa, thứ nhất trong 4 như ý túc.
(4) Niệm tại  thân 念在身;  đây  chỉ  thân  niệm xứ.  Tham  chiếu,  Trường A-hàm  9 (T1,  tr.50c9),  Trung  A-hàm  24  (T1,  tr.582b20),  Pháp uẩn  túc  luận  5  (T26, tr.475c27); Pāli,  D.ii.  tr.  94,  290  (No  22.  Mahāsatipaṭṭhāna,  i.  tr.56 (Satipaṭṭhāna).
(5) Đắc 得, bản Thánh: phục 復.

* Trang 68 *
device

- Tự nói đắc định: nói chứng đắc  tam-muội có giác có quán; (1) tam-muội không giác có quán; (2) tam-muội không giác không quán; (3) tam muội không - vô tướng - vô tác; (4) chuyên cần, thân cận tư duy định này. Ngoài ra [578c] như trên đã nói.
-  Tự  nói  đắc  chánh  thọ: (5)  chánh  thọ  có tưởng,  chánh  thọ  không tưởng, chánh thọ tùy pháp, chánh thọ tâm tưởng, chánh thọ trừ sắc tưởng, chánh  thọ không  trừ sắc tưởng, chánh  thọ  trừ nhập, (6) chánh thọ nhất  thiết nhập, (7) làm quen, học tập, gần gũi, tư duy chánh  thọ này. Ngoài ra như trên đã nói.
- Tự nói có đạo: từ đạo có một chi đạo cho đến đạo có mười một chi; (8) chuyên cần, thân cận tư duy đạo này. Ngoài ra như trên đã nói.
- Tự  nói  tu:  tu  giới,  tu  định,  tu  trí,  tu  giải  thoát  huệ,  tu  kiến  giải thoát huệ, chuyên cần, thân cận. Ngoài ra như trên đã nói.
- Tự nói có  trí: pháp trí, (9)  tỉ  trí, (10) đẳng  trí, (11) tha tâm  trí  làm quen,
____________________
(1) Hữu giác hữu quán  tam-muội 有覺有觀三昧 hay hữu tầm hữu tứ  tam-ma-địa (đẳng  trì; Pāli:  savitakka-savicāra-samādhi), chánh định với sự có mặt của tầm và tứ; chỉ trạng thái sơ thiền. Cf. Câu-xá 28, (T29, tr.149c5).
(2) Vô  giác hữu  quán  tam-muội 無覺有觀三昧,  hay  vô tầm  duy tứ  tam-ma-địa, trạng thái trung gian tĩnh lự, giữa sơ và nhị thiền. Cf. Câu-xá 28, (T, tr.149c5).
(3) Chỉ các trạng thái định từ nhị thiền trở lên.
(4) Không, vô tướng, vô tác tam-muội 空無相無作三昧, hay không, vô tướng, vô nguyện tam-ma-địa, chỉ ba giải thoát môn. Cf. Câu-xá 28, (T29, tr.149c22).
(5) Chánh thọ, cũng dịch là đẳng chí (Pāli. samāpatti: tam-ma-bát-để). 
(7) Trừ nhập  chánh  thọ 除入正受,  chỉ  8  thắng xứ  (Pāli: aṭṭha  abhibhāyatanāni); Cf. Câu-xá 29, (T29, tr.151c12); Cf. Pāli, D.iii. tr.260, Saṅgīti-suttanta.
(8) Nhất  thiết nhập 一切入,  chỉ  10  biến xứ  định  (Pāli: dasa  kasiṇāyatanāni). Cf. Câu-xá 29 (T29, tr.151c24); D.iii. 268 (Saṅgītisuttanta).
(9) Pháp  trí 法智  (skt. dharma-jñāna),  trí  tuệ nhận  thức bốn Thánh đế  thuộc Dục giới. Xem Câu-xá 26, (T29, tr. 135b6).
(10) Tỉ  trí 比智 hay  loại  trí (Skt. anvaya-jñāna),  trí nhận thức bốn Thánh đế  thuộc thượng giới. Xem Câu-xá 26, (T29, tr. 135b6).
(11) Đẳng  trí 等智, có lẽ chỉ hiện quán biên  thế tục  trí  (Skt. abhisamayāntyākhya-laukika-jñāna), tức trí thuộc phàm phu địa tu quán 16 hành tướng của bốn Thánh

* Trang 69 *
device

Thuộc, gần gũi, tư duy trí này. Ngoài ra như trên đã nói.
- Tự nói kiến: (1)  thấy khổ, thấy tập, thấy tận và thấy đạo. Hoặc lại nói như vầy:  thiên  nhãn  thanh tịnh  quán  các  chúng  sinh,  hoặc  sinh, hoặc tử, hoặc có sắc đẹp, hoặc có sắc xấu, hoặc  thiện  thú, ác  thú; hoặc biết có tốt xấu, quý  tiện,  tùy  theo nghiệp báo của chúng sinh. Biết điều đó đúng như thật, chuyên cần, thân cận.  Ngoài ra như trên đã nói.
- Tự  nói  đắc:  đắc  Tu-đà-hoàn,  đắc Tư-đà-hàm,  A-na-hàm,  A-la-hán, làm quen, học tập, gần gũi. Ngoài ra như trên đã nói.
- Tự nói quả: Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả, làm quen, học tập, gần gũi... ngoài ra như trên đã nói.
Với  những sự hư vọng,  không  thiệt  như vậy;  không  biết,  không thấy  mà  nói với  người:  “Tôi  đạt  được  pháp  thượng  nhân.” Tự miệng mình  nói với  người mà  người  ấy  hiểu,  phạm  ba-la-di. Nói mà người ấy không hiểu, phạm thâu-lan-giá.
Hoặc dùng tay làm dấu, hoặc sai sứ, hoặc viết thư, hoặc ra dấu hiệu cho biết, mà người ấy  biết, phạm ba-la-di, không biết phạm  thâu-lan-giá.
Tự mình  ở  chỗ vắng  người,  khởi  ý tưởng  là  không vắng  người, miệng  nói:  “Tôi  đạt  được  pháp  thượng  nhân”,  phạm  thâu-lan-giá. Chỗ không vắng khởi  ý tưởng  là vắng, miệng mình  nói:  “Tôi đạt được  pháp  thượng  nhân”,  phạm  thâu-lan-giá. Nói với  chư Thiên,
A-tu-la, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, ngạ quỷ, súc sinh có thể biến hình, có trí,  là mình đắc pháp  thượng nhân, mà những hạng ấy hiểu, phạm thâu-lan-giá;  chúng  không  hiểu,  phạm  đột-kiết-la.  Làm dấu bằng tay, sai sứ, viết  thư,  ra dấu mà người kia hiểu, phạm  thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la. Nói với súc sinh không thể biến hình, là mình đắc pháp thượng nhân, phạm đột-kiết-la.
_________________
đế. Xem Câu-xá 26, (T29, tr. 183b15).
(1) Kiến 見, chỉ tri kiến trong giai đoạn kiến đạo (Skt. darśana-mārga).

* Trang 70 *
device

Nếu  thật sự người đắc đạo mà  nói với vị đại tỳ-kheo không đồng tâm  ý,  mình  đạt  được  pháp  thượng  nhân,  phạm  đột-kiết-la. Nếu giảng cho người về căn, lực, giác ý, giải thoát, tam-muội, chánh thọ mà lại  nói rằng:  “Tôi  đạt  được”,  [579a1]  phạm  ba-la-di.  Người, khởi  ý tưởng  là  người,  phạm  ba-la-di. Nghi  là  người,  phạm  thâu-lan-giá.  Người  mà tưởng  chẳng  phải  người,  phạm  thâu-lan-giá. Chẳng  phải  người mà tưởng  là  người,  phạm  thâu-lan-giá.  Chẳng phải  người mà  nghi cũng  phạm  thâu-lan-giá.Tỳ-kheo-ni,  ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, phạm đột-kiết-la, tẫn xuất. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: người tăng thượng mạn tự nói  là nghiệp báo nhân duyên chứ chẳng phải  tu đạt được, hoặc hướng đến vị đại tỳ-kheo đồng  tâm ý (1) mà  nói  pháp  thượng  nhân. Hoặc  giảng  cho  người về căn, lực, giác ý, giải thoát, tam-muội, chánh thọ mà không tự xưng là “Tôi đạt được.” Hoặc vui đùa mà nói; hoặc nói nhanh vội; (2) nói chỗ vắng,  nói một mình,  nói  trong mộng, muốn  nói  việc  này  nói nhầm việc kia thì không phạm. 
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống não bức bách. 
_____________________
(1) Các luật khác không nói đến trường hợp không phạm này.
(2) Tật tật  thuyết 疾疾說. Đoạn  sau,  trong các ba-dật-đề: nhân ngữ  thứ  thất khẩu thuyết, nói lỡ lời vì nói lộn thứ tự lời.

* Trang 71 *
device

* Trang 72 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)