LOGO VNBET
LUẬT TỨ PHẦN
Phần II

CHƯƠNG I 
BA-LA-DI (1)
 
A - THÔNG GIỚI
I. Bất tịnh hạnh*(2)
[714a7] Một  thời, đức Phật ở tại giảng đường Lâu các, (3) bên  sông Di hầu, Tỳ-xá-ly. Bấy  giờ,  đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này (4) tập hợp các Tăng tỳ-kheo, nói:
Từ  nay  trở  đi,  Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, tập hợp mười  cú nghĩa: 1. Nhiếp  thủ đối với Tăng; 2. Khiến cho Tăng hoan hỷ; 3. Khiến cho Tăng an lạc;  4. Khiến cho người chưa  tín  thì có  tín; 5. Người  đã  có  tín  khiến Tăng  trưởng;  6. Để  điều  phục  người  chưa được điều phục; 7. Người có tàm quý được an lạc; 8. Đoạn hữu lậu hiện tại; 9. Đoạn hữu lậu đời vị lai; 10. Chánh pháp được cửu trụ.(5)
________________________
(1) Bản Hán, quyển 22  (tr.714a1). Ngũ phần 11  (tr.77b27): Phần II. Ni  luật. Tăng kỳ 36  (tr.514a25). Thập tụng 42  (tr.302c15): Ni  luật. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ Bí-sô-ni tỳ-nại-da (vt. Căn bản ni) 1 (tr.907a1). Pāli: Bhikkhunīvibhaṅga, Vin.  iv. 206. Các bộ đều có 8 điều. Trong đó, 4 điều  thuộc  thông giới. Những học xứ, tuy duyên khởi từ tỳ-kheo, chung cho cả hai bộ. Duyên khởi, giới tướng, giải  thích từ ngữ, của những học xứ này  đại  thể giống nhau. Xem Phần  I,  các điều liên hệ. Các thông giới sẽ được đánh dấu hoa thị (*).
(2) Thông giới. Các bộ trong Hán tạng đều có nguyên nhân kết, và giới văn của 4 thông giới. Thập tụng và Luật Pāli không có giới văn của 4 thông giới này. 
(3) Lâu các giảng đường 樓閣講堂. Ngôi nhà sàn dùng  làm nhà hội. Trên kia, có chỗ (tr.577b13) dịch là Cao các giảng đường 高閣講堂.
(4) Xem Phần  I, Ch.i ba-la-di 1, do nguyên nhân Tu-đề-na, Phật kết giới cho tỳ-kheo. Nhân đó, kết giới  luôn cho tỳ-kheo-ni. Có 4 ba-la-di là  thông giới, chung cho cả hai bộ. Bốn điều riêng biệt cho tỳ-kheo-ni gọi là “bất cộng giới.”
(5) Xem cht. 38, Phần I, Ch.i ba-la-di 1.

* Trang 761 *
device

Muốn nói giới nên nói như sau: (1)
Tỳ-kheo-ni nào, hành pháp dâm dục, phạm bất tịnh hạnh, cho đến cùng với  loài súc sanh, Tỳ-kheo-ni ấy  là kẻ ba-la-di, không được sống chung. 
Tỳ-kheo-ni: có tỳ-kheo-ni danh tự, tỳ-kheo-ni tương tự, tỳ-kheo-ni tự xưng, tỳ-kheo-ni  thiện  lai, (2) tỳ-kheo-ni khất cầu, tỳ-kheo-ni mặc áo cắt rọc, tỳ-kheo-ni  phá kết sử, tỳ-kheo-ni  thọ  đại  giới bạch tứ yết-ma như pháp  thành tựu đúng cách. Tỳ-kheo-ni nói ở đây  là tỳ-kheo-ni thọ đại giới, bạch tứ yết-ma như pháp, thành tựu như pháp, trụ trong pháp tỳ-kheo-ni. Đó gọi là nghĩa tỳ-kheo-ni. 
Hành  pháp  dâm dục,  phạm bất tịnh hạnh,  cho  đến  cùng với  loài súc sanh: đó là chỉ chỗ có thể hành dâm. 
Ba-la-di: ví như người bị chặt đầu, không thể sống trở lại được. Tỳ-kheo-ni cũng  như vậy,  phạm  ba-la-di rồi,  không  thành tỳ-kheo-ni được nữa, nên gọi là ba-la-di.
Thế nào gọi  là không được sống chung? Không  được sống chung với  hai  việc:  cùng một yết-ma,  cùng một  thuyết  giới. Tỳ-kheo-ni kia không được cùng sinh hoạt  trong hai việc này. Cho nên gọi  là không được sống chung.
Có ba đối tượng hành dâm thành ba-la-di. Loài người, phi nhân và súc sanh. Cùng hành dâm với ba đối tượng này thì phạm ba-la-di.
Lại nữa, hành dâm với ba đối tượng nam phạm ba-la-di: Nam  loài người,  nam  phi  nhân,  súc  sanh  đực.  [714b] Hành  dâm với  ba  đối tượng này thì phạm ba-la-di.
_______________________
(1) Ngũ  phần, Ưu-ba-li hỏi  Phật:  “Thế  Tôn  đã kết  giới  cho tỳ-kheo… Được  áp dụng cho một, hay cả hai bộ Tăng?” Phật đáp: Cho cả hai bộ… tỳ-kheo-ni, cùng với các tỳ-kheo-ni đồng giới, phạm bất tịnh hạnh...(xem Phần I, Ch.i ba-la-di 1). 
(2) Thiện lai tỳ-kheo-ni 善來比丘尼. Pāli (Vin. iv. 214): ehi bhikkhunī. Trong các nguyên nhân đắc giới, không có  trường hợp tỳ-kheo-ni  thiện  lai. Xem Phần  III, Chương I. Thọ giới.

* Trang 762 *
device

Hành dâm với ba đối tượng có hai hình, (3) phạm ba-la-di: Loài người có hai hình, loài phi nhân có hai hình, súc sanh hai hình. Đối với ba đối tượng hai hình này cùng hành dâm, phạm ba-la-di.
Hành  dâm với  ba  đối tượng  huỳnh  môn, (4) phạm  ba-la-di:  Nhơn huỳnh môn, phi nhân huỳnh môn, súc sanh huỳnh môn. Đối với ba đối tượng này hành dâm phạm ba-la-di.
Tỳ-kheo-ni với  tâm  dâm dục, nắm  nam căn của  người  để  vào  ba chỗ  đại,  tiểu  tiện,  và miệng;  vào  thì  phạm,  không  vào  thì  không phạm.  Có  ngăn  cách với  có  ngăn  cách;  có  ngăn  cách với  không ngăn  cách;  không  ngăn  cách với  có  ngăn  cách;  không  ngăn  cách với  không  ngăn  cách;  thảy  đều  phạm  ba-la-di.  Đối với  phi  nhân nam, súc sanh đực, nhị hình nam, huỳnh môn cũng như vậy.
Tỳ-kheo-ni với  tâm dâm dục, nắm nam căn của nam tử đang ngủ, của người chết mà thân chưa hư hoại hay hư hoại một ít, mà để vào ba chỗ, vào thì phạm; không vào thì không phạm. Có ngăn cách với có ngăn cách; có ngăn cách với không ngăn cách; không ngăn cách với có ngăn cách; không ngăn cách với không ngăn cách; đều ba-la-di. Phi nhân nam, súc sanh đực, nhị hình nhơn nam, huỳnh môn cũng như vậy.
Tỳ-kheo-ni nào bị giặc bắt đem đến chỗ người nam, giặc cầm nam căn để vào ba chỗ. Khi mới vào, (tỳ-kheo-ni) cảm thấy thọ lạc; vào rồi thấy thọ lạc; khi lấy ra thấy thọ lạc, phạm ba-la-di. Khi mới vào, (tỳ-kheo-ni)  thấy  thọ lạc; đã vào rồi  thấy  thọ lạc; khi lấy  ra không thấy  thọ lạc,  phạm  ba-la-di.  Khi mới  vào  thấy  thọ lạc,  vào rồi không thấy thọ lạc, khi lấy ra thấy thọ lạc, phạm ba-la-di. Khi mới vào  thấy  thọ lạc, vào rồi không  thấy  thọ lạc, lấy ra không  thấy  thọ lạc, phạm ba-la-di. Khi mới vào không thấy  thọ lạc, vào rồi không thấy thọ lạc, lấy ra thấy thọ lạc, phạm ba-la-di. Khi vào, không thấy thọ lạc, vào rồi thấy thọ lạc, lấy ra không thấy thọ lạc, phạm ba-la-
________________________                                       
(3) Xem Phần I, Ch. i ba-la-di 1.
(4) Xem Phần I, Ch. i ba-la-di 1.

* Trang 763 *
device

di. Khi mới vào không thấy thọ lạc, vào rồi thấy thọ lạc, lấy ra thấy thọ lạc, phạm ba-la-di. Trường hợp thứ sáu này, (1) có ngăn cách cho đến,  không  ngăn  cách với  không  ngăn  cách, cũng  như  trên.  Phi nhân nam, súc  sanh đực, nhị hình nam, huỳnh môn, có ngăn cách cho đến, không ngăn cách với không ngăn cách, cũng như trên.
Tỳ-kheo-ni bị giặc bắt đem đến chỗ nam tử đang ngủ, người chết thân chưa hư hoại hay hư hoại một ít, dùng nam căn của họ để vào ba chỗ. Khi mới để vào, (tỳ-kheo-ni) cảm thấy thọ lạc; vào rồi, thọ lạc. Cho đến, mới để vào không  thọ lạc, vào rồi không  thọ lạc, lấy ra thọ lạc, cũng như trên
Có ngăn cách với không ngăn cách, cho đến không ngăn cách với không  ngăn  cách, cũng  như  trên.  Cho  đến  huỳnh môn  cũng  như trên, có ngăn cách với có ngăn cách, cho đến không ngăn cách với không ngăn cách, cũng như trên.
Tỳ-kheo-ni nào bị giặc bắt, hành dâm nơi ba chỗ. Khi mới để vào, (tỳ-kheo-ni) cảm  thấy  thọ lạc;  vào rồi  thọ lạc, lấy  ra  thọ lạc,  cho đến khi mới để vào không thọ lạc, vào rồi không thọ lạc, lấy ra thọ lạc, cũng như trên. Có ngăn cách [714c] với có ngăn cách, cho đến không ngăn cách với không ngăn cách, cũng như trên.
Tỳ-kheo-ni nào, phương tiện muốn hành bất tịnh, làm thì phạm ba-la-di, không làm phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo  phương  tiện  chỉ bảo tỳ-kheo-ni  phạm  dâm,  (tỳ-kheo-ni) làm theo, (tỳ-kheo dạy kia) phạm thâu-lan-giá. (Tỳ-kheo-ni) không làm,  (tỳ-kheo)  phạm  đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni (2) chỉ bảo tỳ-kheo-ni phạm dâm,  (tỳ-kheo-ni)  làm  theo,  (tỳ-kheo-ni dạy kia) phạm  thâu-lan-giá.  (Tỳ-kheo-ni)  không  làm,  (tỳ-kheo-ni dạy  kia)  phạm  đột-kiết-la. Dạy người khác,  trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni; người ấy  làm hay không làm, (tỳ-kheo-ni dạy) phạm đột-kiết-la.
_________________________                                        
(1) Đệ lục cú. Tổ hợp 3 giai đoạn hành dâm cùng với cảm thọ hay không cảm thọ lạc, thành 6 trường hợp phân biệt.
(2) Các bản Tống Nguyên Minh không có từ ni.

* Trang 764 *
device

Tỳ-kheo, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la diệt tẫn. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Ngủ không hay  biết, không  thọ lạc, tất cả không có dục tâm. Thảy đều không phạm. 
Người  không  phạm: Người  phạm lần  đầu  tiên  khi  chưa kết  giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
II. BẤT DỮ THỦ*
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong  núi Kỳ-xà-quật,  thành La-duyệt. Bấy giờ,  đức Thế Tôn  vì  nhân  duyên  này (1)  tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:  “Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nơi  thôn xóm hay chỗ  trống vắng, với  tâm trộm cắp, lấy vật không được cho. Tùy theo vật không được cho mà lấy, hoặc bị vua hay đại thần của vua bắt, hoặc giết, hoặc  trói,  hoặc  đuổi  ra  khỏi nước, rằng  ‘Ngươi  là  giặc, ngươi ngu si, ngươi không biết gì;’ tỳ-kheo-ni ấy  là kẻ ba-la-di, không được sống chung. (2)
III. ĐOẠN NHÂN MẠNG*
Một  thời, đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly, vì nhân duyên này (3) tập hợp các Tăng tỳ-kheo, bảo các tỳ-kheo rằng: Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cố ý tự  tay dứt sinh mạng người, cầm dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‘Này bạn, sống cuộc sống xấu ác này  làm gì,  thà chết còn hơn!’ Với tâm tư duy như vậy, bằng mọi phương tiện khen
____________________________
(1) Nguyên nhân bởi tỳ-kheo Đàn-ni-ca; xem Phần I, Ch.i ba-la-di 2.
(2) Thông giới cho cả hai bộ. Xem Phần I, Ch.i ba-la-di 2. 
(3) Thông giới cho cả hai bộ, xem Phần I, Ch.i ba-la-di 3.

* Trang 765 *
device

ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; tỳ-kheo-ni ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung. 
IV. ĐẠI VỌNG NGỮ*
Một thời, đức Phật ở trên nhà lầu các, bên sông Di hầu, Tỳ-xá-ly, vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, bảo các tỳ-kheo rằng:  “Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa,cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: (1)
Tỳ-kheo-ni nào, thật không [715a1] sở tri mà tự xưng rằng:‘Tôi  chứng  đắc  pháp  thượng  nhân,  tôi  biết  như vậy,  tôi thấy như vậy.’ Vào  lúc  khác, tỳ-kheo-ni  ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vầy:  ‘Tôi  thật  không  biết,  không  thấy, mà nói  cóbiết  có  thấy,  nói lời hư dối vọng  ngữ.’  Trừ tăng  thượng mạn. Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.
B - BẤT CỘNG GIỚI
V. MA XÚC (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có  trưởng  giả  đại  hào  quý  tên  là Đại Thiện Lộc Lạc, (3) tướng mạo đoan chánh. Thâu-la-nan-đà(4) tỳ-kheo-ni  nhan sắc
________________________
(1) Thông giới, xem Phần I, Ch.i ba-la-di 4.
(2) Ngũ phần 11  (tr.78a3). Tăng kỳ 36  (tr.515a17). Thập tụng 42  (tr.302c16). Căn bản ni 5 (tr.929a29). Pāli, Vin. iv. 211.
(3) Đại Thiện Lộc Lạc 大善鹿樂. Ngũ phần: Thi-lị-bạt 尸利跋, cháu ngoại của bà Tỳ-xá-khư. Thập tụng: Lộc Tử cư sĩ nhi 鹿子居士兒, con trai ông Lộc Tử. Pāli: Sāḷho Migāranattā, cháu của bà Migāra. Tứ phần đọc là Sādhu Migāraratta.
(4) Thâu-la-nan-đà 偷羅難陀. Tăng kỳ: Lại-tra tỳ-kheo-ni 賴吒比 丘尼 dạy  kinh cho một  thiếu  niên họ  Thích.  Thập tụng:  Châu-na-nan-đà  周那難陀. Pāli:

* Trang 766 *
device

cũng xinh đẹp. Ông trưởng giả Lộc Lạc để ý Thâu-la-nan-đà, Thâu-la-nan-đà cũng để ý trưởng giả Lộc Lạc.
Sau đó một  thời gian, ông  trưởng giả vì Thâu-la-nan-đà nên  thỉnh các tỳ-kheo-ni và Thâu-la-nan-đà đến nhà dùng cơm. Đêm ấy, ông chuẩn bị đầy đủ các thức ăn, sáng sớm, đi báo giờ. Thâu-la-nan-đà biết trưởng giả vì mình nên thỉnh Tăng, bèn ở lại chùa không đi.
Đến giờ, các tỳ-kheo-ni khoác y, bưng bát, đến nhà ông trưởng giả.
Đến nơi,  các vị  ngồi  vào  chỗ  ngồi. Khi  ấy,  ông  trưởng  giả  nhìn khắp ni chúng, không thấy Thâu-la-nan-đà, liền hỏi: “Thâu-la-nan-đà ở đâu không thấy đến?”
Chư ni đáp: “Cô ấy ở lại chùa, không đến.”
Ông trưởng giả vội vàng sớt thức ăn xong, liền đến chùa, nơi Thâu-la-nan-đà  ở.  Thâu-la-nan-đà từ  xa  thấy  ông  trưởng  giả  đến,  liền nằm trên giường.
Ông trưởng giả hỏi: “A-di (1) bệnh khổ thế nào?”
Thâu-la-nan-đà trả lời: “Không có bệnh khổ chi cả. Chỉ có những điều  tôi muốn mà ông không muốn thôi.”
Ông trưởng giả nói rằng: “Tôi muốn chứ chẳng phải không muốn.”
Bấy  giờ,  ông  trưởng  giả  liền  ôm  choàng  phía  trước,  đặt  cô nằm xuống, sờ, mó, hôn hít. Sau đó, trưởng giả ngồi trở lại, hỏi: “A-di cần thứ gì?”
Thâu-la-nan-đà nói:  “Tôi muốn được táo chua.”
Ông trưởng giả nói:  “Muốn có thứ ấy, sáng mai tôi sẽ đem đến.”
Bấy giờ, có cô sa-di-ni nhỏ giữ phòng,  thấy sự việc như vậy. Chư ni thọ thực về, cô kể lại đầy đủ.
____________________________
Thullanandā.  Cf.  Vin.  iv.  212, bốn  chị  em  xuất  gia:  Nandā,  Nandavatī, Sundarīnandā,  Thullanandā.  Trong  đó,  chuyện xảy  ra  giữa  Thullanandā  và Sāḷha.
(1) A-di 阿姨. Từ  phiên  âm,  không  phải  nghĩa. Pāli:  ayye, từ xưng  hô  đối với người trên.

* Trang 767 *
device

Chúng tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  hiềm  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rằng: “Sao cô lại làm việc như vậy với ông trưởng giả?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch  lên  Phật. Đức Phật liền vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo (1) , bằng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Việc cô làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, [715b] chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,  làm điều không  nên  làm. Thâu-la-nan-đà,  sao lại cùng với ông  trưởng giả làm việc như vậy?”
Đức Thế Tôn Sau khi bằng  vô số phương  tiện quở  trách, bảo các tỳ-kheo:  “Kẻ  ngu  si tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đàn  này  là nơi  trồng  nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. 
Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, với  tâm nhiễm ô, cùng người nam có  tâm nhiễm  ô,  thân  xúc  chạm nhau từ nách  trở  xuống, từ  đầu gối trở lên; (2) hoặc sờ mó, hoặc kéo, hoặc đẩy, hoặc vuốt lên, hoặc vuốt xuống, hoặc nâng lên, hoặc để xuống, hoặc nắn, hoặc  bóp; (3) tỳ-kheo-ni  ấy  là kẻ  ba-la-di,  không  được sống chung. Vì thân xúc chạm nhau vậy.(4)
____________________________                                       
(1) Ngũ phần, Thập tụng: tập hợp hai bộ Tăng. Tăng kỳ: tập hợp tất cả tỳ-kheo-ni tại Ca-duy-la-vệ.
(2) Ngũ phần, Thập tụng: từ chân tóc trở xuống, từ đầu gối trở lên. Tăng kỳ: từ bờ vai (giải thích: từ vú) trở xuống, từ đầu gối trở lên (giải thích: đến rốn). Căn bản: từ  con mắt  trở  xuống, từ  đầu gối  trở  lên. Pāli:  adhakkhakaṃ ubbhajāṇumaṇḍalaṃ, từ xương cổ  (xương đòn gánh)  trở xuống, từ đầu gối  trở lên.
(3) Ngũ phần, Tăng kỳ, không có chi tiết này.
(4) Pāli: ubbhajānumaṇḍalikā ti, “vì xúc chạm từ đầu gối trở lên.” Các bộ khác, trừ Tứ phần và Pāli, không có yếu tố này.

* Trang 768 *
device

b. Giới tướng 
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tâm nhiễm ô:(1) tâm nhiễm đắm nhau. 
Người nam có tâm nhiễm ô: cũng như vậy.
Từ nách trở xuống: phần thân bên dưới nách.
Từ đầu gối trở lên: phần thân bên trên đầu gối.
Thân: là từ ngón chân cho đến tóc trên đầu.
Thân xúc chạm nhau: hai thân hoặc sờ mó, hoặc kéo, hoặc xô, hoặc vuốt  ngược,  hoặc  vuốt  xuôi,  hoặc  nâng  lên,  hoặc  để  xuống,  hoặc bóp, hoặc nắn. (2)
- Sờ mó: (3) dùng tay vuốt ve phía trước hay phía sau thân.
- Kéo: là kéo ra phía trước.
- Đẩy: là xô ra.
- Vuốt ngược: từ dưới sờ lên.
- Vuốt xuôi: từ trên sờ xuống.
- Nâng:  ẵm lên.
- Để xuống: ẵm để xuống, ngồi hay đứng.
- Nắn: nắm phía trước, phía sau, nơi bắp vế, nơi vú.
__________________
(1) Ngũ phần: dục  thạnh biến tâm 欲盛變心. Xem cht. Phần  I, Ch.  ii tăng-già-bà-thi-sa 2. Thập tụng: lậu tâm 漏心. Pāli: avassutā, bị rò rĩ  (lậu  tiết bởi dục); giải thích: ham muốn dục lạc (sārattā), mơ tưởng dục lạc (apekkavatī), tâm bị hệ lụy (paṭibaddhacittā).
(2) Hán:  tróc ma 捉摩, khiên 牽,  thôi 推, nghịch ma 逆摩, thuận ma 順摩, cử 舉, hạ  下,  tróc  捉, nại  捺. Pāli,  5  động  tác:  adhakkhakaṃ  ubhajānumaṇḍalaṃ āmasanaṃ  vā  parāmasanaṃ  vā  gahanaṃ  chupanaṃ  vā  paṭipīḷanaṃ  vā sādiyeyyāti, “… thuận tình cho vuốt ngược, vuốt xuôi, ôm ghì, sờ mó hay ép sát, từ xương cổ  trở xuống và từ đầu gối  trở  lên…” Xem  thêm, Phần  I, Ch. II tăng-già-bà-thi-sa 2 & cht. 3, 4, 5, tr. 82.
(3) Tróc ma 捉摩.

* Trang 769 *
device

- Nắn bóp: (1) nắn phía trước, phía sau, nơi bắp vế, nơi vú.
Nam tử, tưởng  là nam tử; nam tử dùng  tay sờ  thân cô ni, hai  thân xúc chạm nhau, với dục tâm nhiễm đắm, thọ lạc bởi xúc chạm, (tỳ-kheo-ni) phạm ba-la-di. Nam tử, tưởng  là nam tử, nam tử dùng tay xoa  thân cô ni, động  thân với dục  tâm nhiễm đắm, thọ lạc bởi xúc chạm, phạm ba-la-di. Cho đến nắn, bóp cũng như vậy.
Là  nam tử mà  nghi,  phạm  thâu-lan-giá. Hoặc  là  nam,  khởi tưởng nam. Ni dùng thân xúc chạm y, anh lạc, đồ trang sức của người kia, với dục tâm nhiễm đắm, thọ lạc bởi xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Hoặc  nam,  khởi tưởng  nam. Ni  dùng  thân  xúc  chạm  y  phục,  anh lạc, đồ trang sức của người kia, với tâm dục nhiễm đắm, không thọ lạc; khi xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Hoặc  là nam, khởi tưởng nam. Nam dùng  trang cụ, anh lạc, y nơi thân mình mà xúc chạm thân của cô ni. Ni với dục tâm nhiễm đắm, thọ lạc bởi sự xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Hoặc  là nam khởi tưởng nam. Nam dùng  trang cụ, anh lạc, y phục nơi thân mình mà xúc chạm thân cô ni. Ni có dục tâm nhiễm trước, nhưng không thọ lạc khi xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Nam, khởi tưởng nam. Ni dùng  thân xúc chạm  trang cụ, anh lạc, y phục nơi  thân  nam, với dục  tâm  nhiễm  trước,  động  [715c]  thân, không thọ lạc khi xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Hoặc  là  nam,  khởi tưởng  nam. Ni  dùng  thân  xúc  chạm  trang cụ, anh lạc,  y  phục nơi  thân  nam, với dục  tâm  nhiễm  trước,  không động thân, thọ lạc khi xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Hoặc  là nam, khởi tưởng nam. Nam dùng  trang cụ, anh lạc, y nơi thân mình mà  xúc  chạm  thân  cô  ni. Ni  có dục  tâm  nhiễm  trước, động thân, không thọ lạc khi xúc chạm, phạm thâu-lan-giá. 
Nam, khởi tưởng nam. Nam dùng trang cụ, anh lạc, y phục nơi thân mình mà xúc chạm  thân cô ni. Ni có dục  tâm nhiễm  trước, thọ lạc
____________________
(1) Nại 捺, lấy ngón tay đè, ấn xuống.

* Trang 770 *
device

khi  xúc chạm, không động  thân, phạm  thâu-lan-giá. Hoặc  là nam, khởi tưởng nam,  thân xúc chạm nhau. Ni có dục tâm nhiễm  trước,không thọ lạc khi xúc chạm, động thân, phạm thâu-lan-giá. 
Nam, khởi tưởng nam,  thân xúc chạm nhau. Ni có dục  tâm nhiễm trước, thọ lạc khi xúc chạm, không động thân, phạm thâu-lan-giá. 
Cũng vậy, từ vuốt ve cho đến sờ nắn, tất cả đều phạm thâu-lan-giá.
Nghi là nam, phạm đột-kiết-la. 
Nam khởi tưởng nam. Ni dùng y phục nơi thân của mình xúc chạm y phục, trang sức, anh lạc nơi thân của người nam. Ni với dục tâm nhiễm trước, khi xúc chạm thọ lạc, đột-kiết-la. 
Nam  khởi tưởng  nam. Ni  dùng  y nơi  thân của mình  xúc  chạm  y phục,  trang sức bằng  anh lạc của  người  nam, với dục  tâm  nhiễm trước, không thọ lạc khi xúc chạm, đột-kiết-la. 
Nam, khởi tưởng nam. Ni dùng y phục nơi thân của mình xúc chạm y  phục,  trang cụ,  anh lạc nơi  thân của  người  nam, với dục  tâm nhiễm truớc, không thọ lạc khi xúc chạm, động thân, đột-kiết-la.
 Nam,  khởi tưởng  nam.  Ni  dùng  y  phục nơi  thân của  mình  xúc chạm  y  phục,  trang cụ,  anh lạc nơi  thân của  người  nam, với dục tâm nhiễm  trước  thọ lạc khi xúc chạm, không động  thân, đột-kiết-la.
Nam, khởi tưởng nam. Ni dùng y phục nơi thân của mình xúc chạm phục, trang cụ, anh lạc nơi thân của người nam, với dục tâm nhiễm trước, không thọ lạc khi xúc chạm, không động thân, đột-kiết-la. 
Nam, khởi tưởng nam. Ni dùng y phục nơi thân của mình xúc chạm y  phục,  trang cụ,  anh lạc nơi  thân của  người  nam, với dục  tâm nhiễm truớc, thọ lạc khi xúc chạm, động thân, đột-kiết-la. 
Cũng vậy, cho đến nắm, đẩy, tất cả đều đột-kiết-la. Đó  là nam mà nghi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni  cùng với  nam tử,  hai  thân  xúc  chạm  nhau; mỗi  xúc

* Trang 771 *
device

chạm  là phạm một ba-la-di. Tùy theo sự xúc chạm nhiều hay  ít, tất cả đều phạm ba-la-di.
Nếu  là nam của  loài  trời, nam của a-tu-la, cho đến giống đực của súc sanh có thể biến hình, hai thân xúc chạm nhau, đều phạm thâu-lan-giá. Với súc sanh không thể biến hình, hai thân xúc chạm nhau, đột-kiết-la.  Nếu cùng với người nữ, hai thân xúc chạm nhau, đột-kiết-la.  Nếu cùng với hạng hai hình, hai thân xúc chạm nhau thâu-lan-giá. Nếu người nam đảnh lễ, mà nắm bàn chân; nếu ni có cảm giác thọ lạc khi xúc, không động thân, đột-kiết-la. 
Nếu tỳ-kheo-ni với dục  tâm mà  xúc  chạm  y,  bát,  ni-sư-đàn,  ống đựng  kim,  dép,  cho  đến tự  xúc  chạm  thân của  chính mình, tất cả đều đột-kiết-la.
Nam loài người tưởng là nam loài người, ba-la-di. Nghi là nam loài người,  thâu-lan-giá.  Nam  loài  người, tưởng  nam  loài  phi  nhân, thâu-lan-giá.  Nam  loài  phi  nhân,  khởi tưởng  là  nam  loài  người, thâu-lan-giá. Nam loài phi nhân [716a1] mà sinh nghi, thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo, tăng-già-bà-thi-sa. (1) Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu khi đưa hay nhận vật gì, xúc chạm thân; hoặc khi  giỡn  chơi mà  xúc  chạm;  hoặc  khi  để cứu  giải mà  có sự  xúc chạm. Tất cả nếu không có tâm dục. Thảy đều không phạm. 
Người  không  phạm: Người  phạm lần  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
VI. BÁT SỰ(2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Thế Tôn ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ,  trong  thành Xá-vệ, có ông  trưởng giả  tên
______________________
(1) Xem Phần I, Ch. ii Tăng-già-bà-thi-sa 2, “Ma xúc giới.”
(2) Pāli, bất cộng giới thứ tư.

* Trang 772 *
device

là Sa-lâu Lộc Lạc, (1) tướng mạo đẹp đẽ. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà cũng có nhan sắc xinh đẹp. Trưởng giả Lộc Lạc để  tâm nơi Thâu--nan-đà, Thâu-la-nan-đà cũng để tâm nơi Lộc Lạc. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, với dục  tâm, bằng  lòng để cho  trưởng giả nắm  tay, nắm  áo,  cùng  vào  chỗ vắng,  cùng  đứng,  cùng  nói, cùng đi, hai thân dựa nhau, cùng hẹn hò.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết  tàm quý,  hiềm  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Sao cô với dục tâm bằng  lòng để cho trưởng giả nắm tay, nắm áo, cùng vào chỗ vắng, cùng đứng, cùng nói, cùng đi, hai thân dựa nhau, cùng hẹn hò?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo  đến bạch  đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp  các Tăng tỳ-kheo (2) , quở trách Thâu-la-nan-đà: “Việc cô làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không  nên  làm. Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà,  sao  cô với dục  tâm bằng  lòng để cho trưởng giả nắm  tay, nắm áo, cùng vào chỗ vắng, cùng đứng, cùng nói, cùng đi, hai thân dựa nhau, cùng hẹn hò?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Thâu-la nan-đà rồi bảo các tỳ-kheo: “Thâu-la-nan-đà này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các Tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, với  tâm  nhiễm  ô,  biết  người  nam  có  tâm nhiễm ô, bằng lòng để cho nắm tay, nắm áo, vào chỗ vắng,
__________________
(1) Sa-lâu Lộc Lạc 沙樓鹿樂. Cùng nhân vật như trên, Đại Thiện Lộc Lạc, nhưng âm nghĩa có khác. Pāli: Sāḷha Migāranatta; Hán đọc là Sādhu Migāraratta.
(2) Nhu ba-la-di 5.
 

* Trang 773 *
device

cùng  đứng,  cùng  nói, (1) cùng  đi,  thân dựa kề  nhau, hẹn nhau. Tỳ-kheo-ni  ấy  là kẻ  ba-la-di,  không  được sống chung. Vì phạm tám sự vậy. (2)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tâm nhiễm ô: tâm có nhiễm trước.
Người nam có tâm nhiễm ô: cũng có nhiễm trước.
Nắm tay: nắm bàn tay cho đến cổ tay. (3)
Nắm áo: nắm lấy áo trên thân.
Vào chỗ vắng: [716b] xa chỗ không thấy, không nghe.
Cùng đứng chỗ vắng: đứng chỗ người không thấy, không nghe. 
Cùng nói: cũng ở chỗ người không thấy không nghe.
Cùng đi: cũng ở chỗ không thấy nghe.
Thân dựa nhau: thân này nương vào thân kia.
Hẹn nhau: hẹn đến chỗ có thể hành dâm. (4)
_______________________________
(1) Tăng kỳ: “cùng đứng nói chuyện trong tầm tay với.”
(2) Pāli: aṭṭhavatthukā, “vì phạm tám sự.” Tăng kỳ, không có câu này. Thập tụng: “Biểu lộ tướng tham trước bằng tám việc này.” Căn bản ni: “Cùng nhau lãnh thọ tám việc như vậy.”
(3) Ngũ phần: nắm tay, nắm từ cùi chỏ về trước.
(4) Tám sự, theo Ngũ phần (tr.716a28): nắm tay, nắm áo, cùng đi, cùng đứng, cùng nói,  cùng ngồi một  chỗ,  thân  thể cọ  sát nhau. Thập tụng  (tr.303c20):  cho nắm tay;  cho nắm  áo;  cùng  đứng;  cúng nói;  cùng hẹn;  vào  chỗ  khuất;  chờ  đàn  ông đến; trao thân như nữ bạch y. Căn bản ni (tr.930c13): 1. trạo cử; 2. đùa giỡn; 3. cười cợt; 4. chỉ định chỗ; 5. hẹn giờ; 6. ước  tín hiệu; 7. đi đến chỗ đàn ông; 8. cùng  ở  chỗ  có  thể  hành sự. Pāli:  hatthaggahaṇaṃ,  cho nắm  tay, saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ,  cho nắm vạt  áo tăng-già-lê,  santiṭṭheyya  (…purissa hatthapāse),  đứng  (trong tầm  tay với của  đàn  ông),  sallapeyya  (…purissa hatthapāse), nói  chuyện  (trong tầm  tay với…),  saṅketam vā  gaccheyya,  đi  đến chỗ hẹn,  purissa  vā  abbhāgamanaṃ,  cho  đàn  ông  đến gần,

* Trang 774 *
device

Tỳ-kheo-ni với tâm nhiễm ô bằng  lòng cho nam tử có tâm nhiễm ô nắm  tay,  phạm  thâu-lan-giá. Nắm  áo,  thâu-lan-giá. Vào  chỗ vắng cùng đứng, chỗ vắng cùng nói, chỗ vắng cùng đi, lấy đó làm sự vui thích, để thân nương dựa nhau. Mỗi mỗi đều phạm thâu-lan-giá.
Phạm trong bảy sự này, nếu không phát lồ sám hối, tội chưa trừ, mà phạm đến việc thứ tám thì phạm ba-la-di. (1)
Với con của trời, con của rồng, con của a-tu-la, con của dạ-xoa, ngạ quỷ, súc sanh có thể biến hình, phạm bảy sự, mỗi mỗi đều đột-kiết-la; phạm đến sự  thứ  tám  thì  thâu-lan-giá. Với  súc  sanh không  thể biến hình, phạm đến việc thứ tám, đột-kiết-la.
Cùng người nữ có tâm nhiễm ô, phạm việc thứ tám, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,  tuỳ  theo  chỗ  giới. (2) Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu khi có cái cần trao hay nhận, khi ấy tay chạm nhau; hoặc vui giỡn. Hoặc để giải cứu nên phải nắm áo. Hoặc có sự dâng cúng, hoặc lễ bái, hoặc sám hối, hoặc thọ pháp vào chỗ vắng cùng chung một chỗ. Hoặc có sự dâng cúng, hoặc lễ bái, hoặc sám hối, hoặc thọ pháp vào chỗ vắng cùng đứng. Hoặc có sự dâng cúng, hoặc lễ bái, hoặc sám hối, hoặc  thọ pháp, vào chỗ vắng cùng nói.
Hoặc có sự dâng cúng, hoặc lễ  bái,  hoặc  sám hối,  hoặc  thọ pháp, vào chỗ vắng cùng đi. (3) Hoặc bị người đánh; hoặc có giặc đến; hoặc có voi đến, ác  thú đến;  hay gặp phải gai  nhọn, nên  xoay mình để tránh; hoặc đến cầu giáo thọ, hoặc nghe pháp, hoặc thọ thỉnh, hoặc
__________________________-
channaṃ  vā anupavíseyya, đi theo vào chỗ khuất, kāyaṃ vā tadatthāya upasaṃhareyya, trao thân cho mục đích ấy.
(1) Ngũ phần (tr.78b20): mỗi việc riêng biệt, phạm thâu-lan-giá. Phạm bảy việc, dù đã sám hối tùy mỗi việc; khi phạm đến việc thứ tám, đủ cả tám việc, ba-la-di. 
(2) Tuỳ trường hợp: hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hoặc ba-dật-đề. 
(3) Giống nhau câu trên; chỉ khác: cùng chung chỗ, cùng đứng, cùng nói, cùng đi.

* Trang 775 *
device

đến  trong chùa;  hoặc cùng hẹn nơi không  thể  làm  việc ác. Tất cả đều không phạm. 
Người  không  phạm: Người  phạm lần  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
VII. PHÚ TÀNG TRỌNG TỘI (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà nước Xá-vệ.
Bấy  giờ,  có  em  gái của tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, (2) tên  là Để-xá-nan-đà (3) cũng xuất gia, mà phạm pháp ba-la-di. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, biết mà nghĩ rằng: “Để-xá-nan-đà  là em của  ta, nay phạm pháp ba-la-di, chính  ta muốn nói với người, nhưng sợ em  ta mang tiếng xấu. Nếu em ta mang tiếng xấu thì đối với ta đâu tốt lành gì.” Bèn  im lặng  không  nói.  Sau  đó một  thời  gian, tỳ-kheo-ni Để-xá-nan-đà  [716c] bỏ  đạo.  Các tỳ-kheo-ni  biết, hỏi  Thâu-la-nan-đà rằng: “Cô có biết em của cô thôi tu hay không?”
Thâu-la-nan-đà nói: “Em của tôi làm như vậy là đúng chứ không phải không đúng.”
Các tỳ-kheo-ni hỏi: “Làm như vậy là đúng, nghĩa là sao?”
Thâu-la-nan-đà cho biết: “Trước đây  tôi biết em  tôi  làm  việc  như vậy, như vậy.”
Các tỳ-kheo-ni nói: “Nếu trước đây cô có biết, tại sao cô không nói với các tỳ-kheo-ni?”
Thâu-la-nan-đà  nói: “Để-xá  là  em của  tôi,  phạm  pháp  ba-la-di, chính  tôi muốn  nói với  người  khác. Nhưng sợ  em  tôi mang  tiếng xấu. Nếu em tôi mang tiếng xấu thì xấu lây tới tôi. Do đó tôi không
_____________________
(1) Ngũ phần (tr.79a1), ba-la-di thứ tám. Pāli, bất cộng giới thứ hai.
(2) Xem cht. 18 trước.
(3) Để-xá-nan-đà 坻舍難陀. Pāli: Sundarīnandā; xem cht. 18 trước. Thập tụng: hai chị em, tỳ-kheo-ni Di-đa-la 彌多羅 phạm giới dâm; em gái là tỳ-kheo-ni Di-đế-lệ 彌帝隸, thanh tịnh, biết nhưng giấu tội cho chị.
 

* Trang 776 *
device

nói với ai.” Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết hổ  thẹn, quở  trách Thâu-la-nan-đà: “Sao cô che giấu trọng tội của Để-xá?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo  đến bạch  đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp  các Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: 
“Việc cô làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không  nên  làm. Thâu-la-nan-đà,  sao  cô  che  giấu  trọng tội của tỳ-kheo-ni Đề xá?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:
 “Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới này ban đầu.  Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  biết người  khác  phạm  ba-la-di,  không tự mình cử tội,  không bạch với Tăng,  không  nói  cho  người biết. Thời  gian  khác, tỳ-kheo-ni  kia, hoặc  thôi  tu, hoặc bị diệt tẫn, hoặc chúng Tăng ngăn, (1) hoặc theo ngoại đạo. Sau đó lại nói rằng: “Tôi trước đây đã biết cô ấy có tội như vậy, như vậy.” Tỳ-kheo-ni  ấy  là kẻ  ba-la-di,  không  được sống chung. Vì che giấu trọng tội. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni chế giới như vậy. Có người phạm ba-la-di ở trong thành, ra ngoài thôn xóm để sống; có người phạm ba-la-di nơi thôn xóm vào trong thành để ở. Các tỳ-kheo-ni không biết họ có phạm ba-la-di hay không, sau mới biết  là họ có phạm ba-la-di.
Do đó nói mình đã phạm ba-la-di, hoặc nghi. Đức Phật dạy: 
“Không biết thì không phạm.” 
________________________-
(1) Tăng giá 僧遮; giới văn lần sau không có.
 

* Trang 777 *
device

Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết tỳ-kheo-ni  phạm  ba-la-di,  không tự mình  [717a1]  phát lồ, (1) không  nói  cho mọi  người,  không bạch với  đại  chúng. Thời  gian  khác, tỳ-kheo-ni  kia,  hoặc qua  đời, (2) hoặc bị  chúng cử tội,  hoặc  thôi  tu,  hoặc  theo ngoại đạo, (3) sau đó mới nói rằng: “Tôi  trước đây đã biết cô ấy có tội như vậy, như vậy.” Tỳ-kheo-ni này  là kẻ ba-la-di, không được sống chung. Vì che giấu trọng tội. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Biết: là nói tôi biết phạm tội như vậy, như vậy.
Tăng: cùng một yết-ma, cùng một thuyết giới.
Đại chúng: hoặc bốn người, hay hơn bốn người. (4)
Thôi tu: ra khỏi pháp này.
Diệt tẫn: Tăng trao cho pháp bạch tứ yết-ma đuổi đi.
Ngăn: (5)  Khi trong chúng quyết đoán tội trạng, ngăn chận không chonhập chúng.
Ngoại đạo: thọ giáo của ngoại đạo.
________________________________________
(1) Bất tự  phát lồ  不自發露,  trên  kia: bất tự cử  不自舉. Pāli:  nevattanā paṭicodeyya, chính mình đã không buộc tội.
(2) Giới văn trên kia không có. Pāli: sā ṭhitā vā assa cutā vā, cô ấy vẫn tồn tại, hay đã chết; giải thích: ṭhitā (trụ, hay tồn tại), nghĩa là vẫn nguyên giới tính (salliṅge ṭhitā vuccati). Cf. Ngũ phần: nhược tại, nhược tử, nhược viễn hành, nhược bị tẫn, nhược  bãi  đạo,  nhược  hình  biến 若在若死若遠行若被擯若罷道若形變.  Thập tụng: nhược trụ 若住, giải thích: trụ trong pháp bạch y (hoàn tục).
(3) Có sự bất nhất trong bản dịch Hán, hai đoạn văn trong hai lần kết giới không đồng nhất.- Ngũ phần, thêm các yếu tố: nhược tại 若在, vẫn còn đó; nhược viễn hành 若遠行, đi xa; và nhược hình biến 若形變, thay đổi giới tính  (khi đó mất giới tỳ-kheo-ni). 
(4) Đại chúng, nhóm người, đông nhưng không thành Tăng. Pāli: gana.
(5) Từ ngữ được giải thích không có trong giới văn lần hai; có trong lần đầu.

* Trang 778 *
device

Trọng tội: tám ba-la-di. Trong tám pháp này phạm bất cứ pháp nào.
Tỳ-kheo-ni kia biết tỳ-kheo-ni này phạm ba-la-di trước bữa ăn, sau bữa ăn mới nói, phạm  thâu-lan-giá. Sau bữa ăn biết, đầu đêm nói, phạm thâu-lan-giá. 
Đầu đêm biết giữa đêm nói, phạm thâu-lan-giá. Giữa đêm biết, sau đêm  nói,  phạm  thâu-lan-giá.  Sau  đêm  biết  không  nói,  đến tướng sáng xuất hiện phạm ba-la-di. Trừ  tám pháp ba-la-di, che giấu các tội khác không nói, tùy  theo tội phạm mà xử  lý. Tự che giấu  trọng tội phạm thâu-lan-giá. 
Che giấu tội người khác trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu không biết, hoặc nói với người, hoặc không có người để nói, ý muốn nói mà chưa nói, tướng sáng xuất hiện; nói sẽ bị mạng nạn, phạm hạnh nạn nên không nói, thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
VIII. TUỲ THUẬN BỊ XỬ (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cù-sư-la, tại Câu-thiểm-di. 
Bấy giờ, Tôn giả Xiển-đà tỳ-kheo bị Tăng cử tội, (2) đúng pháp đúng luật đúng lời Phật dạy mà không  thuận  tùng, không sám hối, Tăngchưa tác pháp cho ở chung.
_______________________
(1) Ngũ phần, ba-la-di thứ 7. Pāli, bất cộng giới thứ ba.
(2) Cf. Phần I, Ch.ii Tăng-già-bà-thi-sa 13.- Ngũ phần: Xiển-đà bị Tăng tác yết-ma bất kiến tội (ngoan cố không chịu nhận tội, bị Tăng xả trí). Tăng kỳ: bất kiến tội cử yết-ma 不見罪舉羯磨. Thập tụng: Ca-lưu-la Đề-xá 迦留羅提舍 bị Tăng tác yết-ma bất  kiến tẫn 不見擯. Pāli: Tỳ-kheo Ariṭṭha bị Tăng xả  trí (samaggena saṅghena ukkhitta). Cf. Phần I, Ch.v Ba-dật-đề 68; Pāli, Pāc. 69.

* Trang 779 *
device

Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni tên là Úy-thứ, (1) tới lui phục vụ tỳ-kheo Xiển-đà. Các tỳ-kheo-ni nói: “Tỳ-kheo Xiển-đà bị Tăng cử tội như pháp, như  luật, như lời Phật dạy, mà không thuận tùy, không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho ở chung, cô đừng nên thuận tùng.”
Úy-thứ trả lời: “Thưa các đại tỷ, Xiển-đà  là anh của  tôi. Nay không cúng dường thì đợi đến khi nào.” Rồi vẫn như cũ, Uý-thứ không chịu chấm dứt tuỳ thuận.
[717b] Các tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý, hiềm  trách tỳ-kheo-ni Uý-thứ rằng: “Tỳ-kheo Xiển-đà bị Tăng cử tội, như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không  thuận  tùng, không sám hối, Tăng chưa  tác pháp cho ở chung, tại sao nay cô vẫn cố ý thuận tùng như vậy?”
Các tỳ-kheo-ni thưa với các tỳ-kheo, các tỳ-kheo đến bạch Phật. 
Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở  trách tỳ-kheo-ni Uý-thứ rằng:
“Việc cô làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm. Tỳ-kheo Xiển-đà đã bị Tăng cử tội, như pháp, như luật như lời Phật dạy, mà không  thuận  tùng, không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho ở chung, tại sao cô thuận tùng?”
Sau  khi bằng  vô số  phương  tiện  quở  trách,  Phật  nói với  các tỳ-kheo: Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo-ni Uý-thứ pháp bạch tứ yết-ma ha trách, nên quở trách như vầy:
Trong ni chúng, nên sai một vị có khả năng, hoặc thượng tọa, hoặc thứ tọa, hoặc người tụng  luật hay không tụng  luật được, mà có thể tác pháp yết-ma, tác bạch như vầy:
____________________________
(1) Uý-thứ 尉次. Ngũ phần: Xiển-đà có em gái là tỳ-kheo-ni Ưu-ta 優蹉. Tăng kỳ:Xiển-đà có mẹ 闡陀母  là tỳ-kheo-ni bênh vực chống lại Tăng. Thập tụng: Tỳ-kheo Ca-lưu-la Đề-xá 迦留羅提舍 bị Tăng tác yết-ma bất kiến tẫn 不見擯 (bị xảtrí,  vì  không  nhận tội);  có  7  cô  em  gái  đều  là tỳ-kheo-ni  tùy  thuận  chống lạiTăng. Pãli: Thullanandã a tòng theo Arittha.

* Trang 780 *
device

“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Uý-thứ này đã biết tỳ-kheo Xiển-đà bị Tăng cử tội, như pháp như luật, như lời Phật dạy mà không thuận tùng, không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho ở chung; nhưng cô  thuận  tùng tỳ-kheo Xiển-đà. Các tỳ-kheo-ni nói với cô rằng: ‘Tỳ-kheo Xiển-đà đã bị Tăng cử tội  như  pháp,  như luật,  như lời  Phật dạy,  mà không thuận tùng, không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho ở  chung;  cô  không  được  thuận  tùng.’ Nhưng  cô vẫn cố  ý thuận  tùng. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với Tăng, Tăng chấp  thuận, nay Tăng  trao cho tỳ-kheo-ni Uý-thứ pháp ha trách, để bỏ việc này. Nói rằng: ‘Đại tỷ, tỳ-kheo Xiển-đà đã bị Tăng cử tội như  pháp, như  luật, như lời Phật dạy, mà không thuận tùng, không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho ở chung; cô chớ tùy thuận.’ Đây là lời tác bạch. 
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Uý-thứ đã biết tỳ-kheo Xiển-đà bị Tăng cử tội, như pháp, như  luật, như lời Phật dạy, mà không thuận tùng, không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho ở chung, mà cô vẫn thuận tùng tỳ-kheo Xiển-đà. Các tỳ-kheo-ni nói với cô rằng: ‘Tỳ-kheo Xiển-đà đã bị Tăng cử tội,  như  pháp,  như  luật,  như lời  Phật dạy, mà không  thuận  tùng;  cô  không  được  tùy  thuận.’ Nhưng  cô vẫn cố  ý  tùy  thuận. Nay Tăng  trao  cho tỳ-kheo-ni Uý-thứ [717c]  pháp  ha  trách  để bỏ  việc  này. Nói rằng:  ‘Tỳ-kheo Xiển-đà bị tăng cử tội,  như  pháp,  như  luật,  như lời Phật dạy, mà không  thuận  tùng, không sám hối, Tăng chưa  tác pháp  cho ở  chung,  cô  chớ  tùy  thuận.’ Các  đại tỷ,  ai  chấp thuận Tăng  trao cho tỳ-kheo-ni Uý-thứ pháp ha  trách cho bỏ việc này  thì  im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần  thứ nhất.”  (Lần  thứ hai, lần  thứ ba cũng nói như vậy). 
“Tăng  đã  chấp  thuận  trao  cho tỳ-kheo-ni Uý-thứ  pháp ha trách để bỏ việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

* Trang 781 *
device

Nên tác pháp ha trách tỳ-kheo-ni Uý-thứ như vậy. Tăng đã trao cho pháp bạch tứ yết-ma rồi,  nên bạch  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo  đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu có Tỳ-kheo-ni nào thuận tùng tỳ-kheo bị Tăng cử tội như vậy thì Tăng cũng  trao cho pháp bạch tứ yết-ma ha  trách như vậy. Từ nay  trở đi, Ta vì Tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đã biết tỳ-kheo bị Tăng cử tội, như pháp, như  luật,  như lời  Phật dạy,  nhưng  không  thuận  theo, không  sám hối, Tăng  chưa  tác  pháp  ở  chung, (1) mà  thuận theo, thì các tỳ-kheo-ni nên nói với cô rằng: ‘Đại tỷ, tỳ-kheo này  đã bị Tăng cử tội,  như pháp,  như  luật,  như lời Phật dạy, mà không  thuận  theo, không sám hối, Tăng chưa  tác pháp cho ở chung, cô không nên thuận theo.” 
Khi tỳ-kheo-ni  can  gián tỳ-kheo-ni  kia  như vậy mà  cô  ấy kiên trì không bỏ việc này. Tỳ-kheo-ni nên can gián lần thứ hai, lần  thứ ba cho bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, bỏ  thì tốt,  không bỏ, tỳ-kheo-ni  kia  phạm  ba-la-di,  không được sống chung. Vì tùy thuận bị cử. (2)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tăng: như trên.
Cử tội: bị Tăng cử tội, bạch tứ yết-ma.
Pháp: như pháp, như luật, như lời Phật dạy.
Không thuận theo: không thuận theo pháp trị tội.
Không sám hối: chưa chịu sám hối tội phạm cho thanh tịnh.
___________________________
(1) Ngũ phần: bất cộng trú, bất cộng sự, bất cộng ngữ.
(2) Pāli: ukkhittānuvattikā, đi theo người bị Tăng xả trí. Pāli, như Tứ phần. Các bộ khác không có câu này.

* Trang 782 *
device

Tăng chưa  tác pháp cho ở chung: Tăng chưa  tác pháp yết-ma giải tội.
Tùy thuận: có hai thứ; một là pháp, hai là y thực.
-  Pháp  tùy  thuận: dạy tăng  thượng  giới, tăng  thượng  tâm, tăng thượng huệ, dạy học vấn, tụng kinh.
- Y thực: cung cấp ăn uống, y phục, giường nằm, tọa cụ thuốc chữa bệnh.
Tỳ-kheo-ni đã biết tỳ-kheo bị Tăng cử tội, như pháp, như  luật, như lời Phật dạy, nhưng không  tùy  thuận, không sám hối, [718a] Tăng chưa tác pháp cho ở chung mà thuận theo. Các tỳ-kheo-ni nên nói: “Tỳ-kheo này đã bị Tăng cử tội  như pháp, như  luật, như lời Phật dạy, nhưng khôngthuận  theo, không sám hối, Tăng chưa  tác pháp cho  ở  chung;  cô  đừng  thuận  theo.  Cô  nên bỏ  việc  này,  đừng  để Tăng phải cử tội mà thành trọng tội.”
Nếu cô ấy nghe lời thì tốt; bằng không, nên tác bạch. Tác bạch rồi, nên nói:  “Cô nên  biết,  tôi đã bạch xong, còn  tác pháp yết-ma. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải cử tội mà thành trọng tội.”
Nếu cô ấy nghe lời  thì tốt. Bằng không nghe, nên  tác pháp yết-ma lần  thứ nhất. Tác pháp yết-ma lần  thứ nhất rồi, nên  nói:  “Này  cô, tôi đã tác bạch và  tác yết-ma lần  thứ nhất rồi, còn hai pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải cử tội mà thành trọng tội.”
Nếu  cô  ấy  nghe lời  thì tốt. Bằng  không,  nên  tác  pháp yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần  thứ hai xong, cũng phải nói: “Cô nên biết, tôi  đã  tác bạch  và  tác  pháp yết-ma lần  thứ  hai rồi,  còn một  pháp yết-ma nữa.  Cô  nên bỏ  việc  này,  đừng  để Tăng  phải cử tội  mà thành trọng tội.”
Nếu nghe  theo lời  thì tốt. Bằng không,  tác pháp yết-ma lần  thứ ba xong, phạm ba-la-di. 
Sau khi  tác bạch và yết ma lần  thứ hai, yết-ma xong mà bỏ, phạm ba  thâu-lan-giá. Sau khi  tác bạch và yết-ma lần  thứ nhất xong mà

* Trang 783 *
device

bỏ, phạm hai  thâu-lan-giá. Tác bạch xong mà bỏ, phạm một  thâu-lan-giá. Nếu  tác bạch  chưa  xong mà bỏ,  phạm  đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, tùy thuận tỳ-kheo bị cử tất cả đều phạm đột-kiết-la.(1)
Nếu khi Tăng  tác pháp ha  trách tỳ-kheo-ni mà có tỳ-kheo khuyến khích: “Cô đừng bỏ!” Sau khi Tăng tác pháp ha trách xong, tỳ-kheo ấy phạm  thâu-lan-giá. Nếu Tăng không  tác pháp ha  trách, tỳ kheo ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu, tỳ-kheo-ni  xúi: “Đừng bỏ!” Sau  khi Tăng  tác  pháp  ha  trách xong, tỳ-kheo-ni  ấy  phạm  thâu-lan-giá. Tăng  không  tác  pháp  ha trách, Tỳ-kheo-ni ấy phạm đột-kiết-la.
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,  người khác bảo: “Đừng bỏ!” Tăng đã  ha trách hay chưa quở trách, thảy đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,  tùy cử  thì phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Khi bắt đầu can gián  liền bỏ; phi pháp biệt chúng, phi  pháp  hòa hợp  chúng,  pháp  biệt  chúng, tợ  pháp  biệt  chúng, tợ pháp  hòa hợp  chúng,  khác với  pháp,  khác với tỳ-ni,  khác với lời Phật dạy; tất cả trước khi  chưa tác pháp ha trách. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
______________
(1) Thập tụng:  đối với tỳ-kheo bị Tăng xả  trí, Tăng tỳ-kheo-ni  tác yết-ma  không cung kính: tỳ-kheo sẽ không lễ bái, không cúng dường, không nói chuyện với tỳ-kheo ấy.

* Trang 784 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)