LOGO VNBET
CHƯƠNG II
TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA (1)

I. MAI MỐI*
[718b2] Một thời, đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt. Bấy giờ, Thế Tôn vì nhân duyên này (2) tập hợp Tăng tỳ-kheo, nói với các tỳ-kheo:
“Từ  nay  trở  đi, Ta  vì tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa,  cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào  làm  mai mối,  đem lời  người  nam  nói với người nữ,  đem lời  người nữ  nói với  người  nam;  hoặc  để thành việc vợ chồng, hoặc vì việc tư thông, cho đến chỉ trong chốc lát. Tỳ-kheo-ni này phạm pháp lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. (3)
II. VÔ CĂN BÁNG*
Một  thời, đức Thế Tôn ở  trong núi Kỳ-xà-quật, tại  thành La-duyệt.
Bấy giờ, Thế Tôn vì nhân duyên này (4) tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo các
_______________________-
(1) Tứ phần, Ngũ phần,: 17 điều,  trong đó, 7  thông giới. Tăng kỳ: 19 điều, 6  thông giới. Căn bản: 20 điều. Thập tụng, Pāli, 17 điều, trong đó 7 thông giới, đều không có giới văn của các thông giới.
(2) Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Chương ii Tăng-già-bà-thi-sa 5. 
(3) Hán:  phạm sơ  pháp  ưng xả tăng-già-bà-thi-sa 犯初法應捨 僧伽婆尸沙.  Ngũ phần: sơ phạm tăng-già-bà-thi-sa khả hối  quá 初犯僧伽婆尸沙可悔過. Tăng kỳ: thị  pháp sơ tội tăng-già-bà-thi-sa 是法初罪僧伽婆尸沙.  Thập tụng:  thị  pháp sơ phạm tăng-già-bà-thi-sa  khả hối  quá 是法初犯僧伽婆尸沙可悔過. Vin.  i.  224: ayaṃ  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāranīyaṃ  saṅghā-disesam, “tỳ-kheo-ni này phạm pháp lần thứ nhất, tăng-già-bà-thi-sa, cần phải bị xả ly.” Nghĩa là, ngay khi vi phạm lần đầu, tức thành tăng-già-bà-thi-sa với hình phạt là bị cách ly với Tăng mà không kinh qua sự khuyến cáo (asama-nubhāsanāya). 
(4) Duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii Tăng-già-bà-thi-sa 8.

* Trang 785 *
device

tỳ-kheo: “Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận hờn, không hoan hỷ, (1) vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ, muốn hủy hoại đời sống  thanh tịnh của vị kia. Về sau, dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, sự việc ấy được biết  là không căn cứ, Tỳ-kheo-ni này nói rằng: ‘Tôi vì thù hận nên nói như vậy.’ Tỳ-kheo-ni này phạm pháp lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
III. GIẢ CĂN BÁNG*
Một  thời, đức Thế Tôn ở  trong núi Kỳ-xà-quật, tại  thành La-duyệt.
Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhân duyên này (2) tập hợp Tăng tỳ-kheo bảo các tỳ-kheo: “Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các Tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận hờn, không hoan hỷ, dựa vào tiểu tiết trong phần sự khác, đối với tỳ-kheo-ni không phải là ba-la-di mà  vu  khống bằng  pháp  ba-la-di  không căn cứ, muốn hủy hoại đời sống thanh tịnh của vị ấy. Về sau, dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, sự  việc  ấy  được  biết  là dựa lấy  tiểu  tiết trong  phần sự  khác, tỳ-kheo-ni  này tự  nói rằng:  ‘tôi  vì  thù hận nên nói như vậy.’ Tỳ-kheo-ni này  phạm  pháp lần  đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí.
IV. TỐ TỤNG (3)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại
______________________
(1) Nên  thêm văn: “đối với tỳ-kheo-ni  không phạm  ba-la-di mà  (vu  khống).” Xem giới văn trong thông giới tỳ-kheo. 
(2) Duyên khởi, xem Phần I, Ch.ii Tăng-già-bà-thi-sa 9.
(3) Ngũ  phần, tăng-già-bà-thi-sa  7. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa  4. Thập tụng:  tăng-già-bà-thi-sa 7. Pāli, biệt giới 1.

* Trang 786 *
device

nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni sống ở nơi a-lan-nhã. Nơi đó, có một cư sĩ cất tinh xá, cúng dường cho Tăng tỳ-kheo-ni ở.
Sau đó một thời gian, có việc xấu xảy ra cho tỳ-kheo-ni nơi trú xứ a-lan-nhã. Các tỳ-kheo-ni bỏ tịnh xá này đi. Khi cư sĩ qua đời, người con của cư sĩ đến cày đất nơi tịnh xá. Các [718c] tỳ-kheo-ni thấy vậy, nói: “Đất này của chúng Tăng, ông chớ cày.”
Con của cư sĩ trả lời:
“Đúng vậy! Khi cha tôi còn sinh tiền, làm tịnh xá này cúng cho Tăng tỳ-kheo-ni. Tăng Tỳ-kheo-ni bỏ đi. Cha  tôi qua đời. Nay  tôi cày để trồng trọt, chứ để bỏ đất không hay sao?” 
Con của cư sĩ nói như vậy rồi cứ  tiếp tục cày. Tỳ-kheo-ni đến quan đoán sự thưa kiện.
Bấy giờ, các quan đoán sự  liền kêu con của cư sĩ đến. Y  theo pháp luật quyết đoán, tịch thâu tài sản của con cư sĩ nhập vào nhà quan.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni kia: “Tỳ-kheo-ni sao lại đến nhà quan thưa kiện con của cư sĩ, khiến cho nhà quan tịch thâu tài sản của họ?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo, các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo (1) , quở  trách tỳ-kheo-ni kia:
“Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao lại đến cửa quan kiện thưa?”
Đức Thế Tôn dùng  vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni kia rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ  phạm  giới này ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
________________________
(1) Ngũ phần: tập hai bộ Tăng.

* Trang 787 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  thưa kiện người, hoặc cư sĩ, con cư sĩ, hoặc kẻ  tôi tớ,  người  làm  thuê,  hoặc  ngày,  hoặc  đêm,  hay  trong một  niệm,  trong  cái  búng  ngón  tay,  hay  trong  chốc  lát; tỳ-kheo-ni này  phạm  pháp lần  đầu, tăng-già-bà-thi-sa,  phải bị xả trí. 
Thế Tôn, vì tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ, có người vợ nhỏ (1) của  vua  Ba-tư-nặc nước  Câu-tát-la,  làm một  tinh  xá  cúng  cho tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo-ni  kia  nhận rồi  ở một  thời  gian,  sau  đó bỏ  đi  du hành  trong nhân gian. Vợ nhỏ của vua, nghe tỳ-kheo-ni bỏ tịnh xá, du hành  trong nhân gian, vội đem tịnh  xá  này chuyển cúng cho nữ phạm-chí. Tỳ-kheo-ni  kia  nghe  nghĩ rằng:  “Ta vừa  đi vắng,  đã vội đem tịnh xá của  ta cúng cho người khác.” Tỳ-kheo-ni  liền  trở về lại tinh xá, nói với nữ phạm-chí:  “Cô dọn đi! Tại sao ở tịnh xá của tôi?”
Nữ phạm-chí kia nói: “Tinh xá này vốn là của cô thật! Thí chủ đã xây cất cho cô, nhưng cô bỏ đi du hành  trong nhân gian,  thí chủ đó đã đem cúng cho  tôi rồi. Bây giờ tôi không thể bỏ đi.” 
Tỳ-kheo-ni kia giận, xô kéo, bảo nữ phạm-chí ra.
[719a1]Bấy giờ, nữ Phạm-chí đến quan đoán sự thưa. Các quan đoán sự  kêu tỳ-kheo-ni  đến. Tỳ-kheo-ni  nghi,  không  dám  đến, tự  nghĩ:“Thế Tôn chế giới, không được đến cửa quan kiện tụng.” Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch với đứcThế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: “Từ nay trở đi, nếu có quan kêu thì phải đến.” 
Tỳ-kheo-ni liền đến chỗ quan đoán sự. Các quan đoán sự hỏi: “A-di! Sự việc ấy thế nào? Cứ nói rõ ràng.” 
Tỳ-kheo-ni kia trả lời: “Tất cả đất đai đều thuộc về nhà vua. Gia sự thuộc về cư sĩ. Phòng xá thuộc thí chủ. Giường ghế, ngọa cụ cũng vậy. Sửa sang phòng xá làm chỗ cơ ngơi cho chúng Tăng được nhiều phước. Tại sao vậy? Do thí chủ cúng, tôi được cư trú.” 
________________________-
(1) Tiểu phụ.

* Trang 788 *
device

Các quan đoán sự vặn nói: “Như A-di nói, ‘Tất cả đất đai đều thuộc về nhà vua. Gia sự  thuộc về cư sĩ. Phòng xá  thuộc  thí chủ. Giường ghế,  ngọa cụ cũng vậy. Sửa  sang  phòng  xá  làm  chỗ cơ  ngơi  cho chúng Tăng  được  nhiều  phước. Tại  sao vậy? Do  thí  chủ  cúng,  tôi được cư trú.’ Nay tịnh xá này nên giao cho nữ Phạm-chí ở.”
Các Tỳ-kheo đến bạch với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:  “Tỳ-kheo-ni  này  không  khéo  nói. Quan  đoán sự cũng  không khéo giải quyết. Tại sao vậy? Lần thí trước là như pháp, lần thí sau là phi pháp.”
Vua Ba-tư-nặc nghe Tỳ-kheo-ni nói như vậy, các quan đoán sự giải quyết như vậy, đức Thế Tôn giảng như vậy. Nhà vua phạt, tịch  thu tất cả tài sản nhập của quan đoán sự vào nhà công khố.
Các tỳ-kheo nghe, đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  đến  quan  thưa  kiện nhau (1) cư sĩ,  con cư sĩ, kẻ  tôi tớ,  người  làm  thuê, (2) hoặc  ngày  hoặc  đêm,  hay  trong khoảnh  khắc,  trong  cái  búng ngón  tay, hay  trong  chốc  lát; (3) tỳ-kheo-ni này  phạm  pháp lần  đầu, tăng-già-bà-thi-sa,  phải bị xả trí.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Thưa kiện nhau: đến cửa quan cùng nhau tranh cãi ngay, gian.
Cư sĩ: là người không xuất gia.
Con: là do cư sĩ sanh ra.
_________________________
(1) Hán: tương ngôn 相言. Ngũ phần: ngôn nhân 言人. Tăng kỳ:  tranh tụng tươngngôn 諍訟相言. Thập tụng:  thị thế ngôn nhân 恃勢言人. Pāli: ussaya-ādika, kiệncáo.
(2) Pāli,  thêm:  antamaso  samaṇaparibbājakenāpi,  cho  đến  sa-môn  du sĩ  (xuất  giangoại đạo). Tăng kỳ: hoặc người tục, hoặc xuất gia.
(3) “Hoặc ngày, hoặc đêm..” Tăng kỳ: hoặc ngày, hoặc đêm, hoặc chốc  lát. Các bộ khác không có các chi tiết thời gian này.

* Trang 789 *
device

Tôi tớ: hoặc thuê mướn hay do trong nhà sanh ra.
Người làm thuê: trả tiền bảo họ làm.
Nữ Phạm-chí: (1) kẻ nữ xuất gia ngoài pháp này.
Nếu tỳ-kheo-ni  kiện  thưa  người  khác,  hoặc cư sĩ,  hoặc  con cư sĩ, hoặc tôi tớ, hoặc người  làm thuê, hoặc ngày đêm, hoặc trong khoảnh khắc,  hay  trong  cái  búng  ngón  tay,  hoặc  trong  chốc  lát.  Như nữ Phạm-chí đến cửa quan  trình bày sự việc này. Quan đoán sự hạ  thủ [719b] phê án, ni phạm tăng-già-bà-thi-sa. Chỉ nói miệng mà không ghi thành danh tự, ni phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  hoặc bị  kêu;  hoặc  có  việc cần  đến  tâu;  hoặc bị cường lực bắt  đi,  hoặc bị  trói dẫn  đến,  hoặc mạng nạn,  phạm hạnh nạn; tuy miệng nói mà không báo cáo với quan thì không phạm. 
Người  không  phạm:  Người  phạm lần  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
V. ĐỘ NỮ TẶC (2)                                 
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Thế Tôn ở  trên lầu các bên sông Di hầu tại Tỳ-xá-ly.
Bấy giờ, những người phụ nữ dòng Ly-xa  ra ngoài dạo chơi. Trong đám đông đó có nữ tặc trà trộn cùng đi; đợi lúc vui đùa, trộm lấy của cải rồi tẩu thoát.
Bấy giờ, các phụ nữ sai người đến báo cáo với Ly-xa, “Ở đây có bọn tặc nữ lấy của cải của chúng  tôi đào  thoát, yêu cầu vì chúng  tôi tầm nã.” Các Ly-xa sai người tầm nã, nếu bắt được thì giết liền.
Bấy giờ, tặc nữ nghe  tin bị người tầm nã, nếu bắt được  thì giết  liền,
_______________________
(1) Phiên âm  (không phải dịch nghĩa) từ tương đương Pāli: paribbājikā, nữ xuất gia (ngoại đạo).
(2) Ngũ  phần, tăng-già-bà-thi-sa  5.  Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa  8.  Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 8. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 10. Pāli, biệt giới 2.

* Trang 790 *
device

nên liền bỏ Tỳ-xá-ly trốn thoát đến thành Vương-xá, vào trong Tăng-già-lam nơi ni chúng ở, thưa với các ni rằng: “Con có tín tâm, muốn xuất gia.”
Chư ni nghe vậy, liền độ cho xuất gia, thọ giới cụ túc.
Bấy giờ, các Ly-xa nghe tặc nữ  trốn  thoát đến thành Vương-xá,  liền đến báo cáo với Bình-sa vương nước Ma-kiệt:
“Có tặc nữ lấy của cải của phụ nữ tôi trốn thoát đến đây, yêu cầu vua vì tôi tầm nã cho.”
Bình-sa vương liền ra lệnh cho tả hữu tra xét để bắt. Các quan tả hữu tâu với nhà vua: “Có một tặc nữ đang ở trong Tăng-già-lam của ni, xuất gia học đạo.”
Khi Bình-sa vương nghe, có một tặc nữ đến đây, và tỳ-kheo-ni đã độ cho xuất gia học đạo, liền gởi tín sứ cho Ly-xa, nói rằng:
“Tôi nghe có một nữ tặc đang ở trong Tăng-già-lam của ni, nhưng đã xuất gia học đạo. Tôi không thể nói được.”
Bấy giờ, các Ly-xa cùng nhau cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni không biết hổ  thẹn. Họ đều  là tặc nữ. Bên ngoài tự xưng,  tôi  biết chánh pháp. Tại sao tặc nữ có tội đáng chết, mọi người đều biết, mà họ cho xuất gia thọ giới cụ túc. Như vậy có gì là chánh pháp?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách tỳ-kheo-ni kia: “Tại sao cô độ tặc nữ xuất gia hành đạo?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với  các tỳ-kheo.  [719c] Các tỳ-kheo  đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni kia:  “Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳngphải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm. Tại sao biết là tặc nữ mà độ cho xuất gia thọ giới cụ túc?”
 
Đức Thế Tôn dùng  vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni kia rồi, bảo các tỳ-kheo:  “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”

* Trang 791 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, nữ tặc  phạm tội  đáng  chết, mọi  người  đều biết, mà  độ  cho  xuất  gia,  thọ  giới cụ  túc; tỳ-kheo-ni  phạm pháp này lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. 
Có người làm giặc trong thành rồi ra ngoài thôn. Ngoài thôn làm giặc rồi  vào  trong  thành. Bấy  giờ,  các tỳ-kheo-ni  không  biết họ  là  giặc hay không phải giặc, tội đáng chết hay không đáng chết, người biết hay không biết. Sau mới biết họ là giặc phạm tội đáng chết, có người biết, nên nói là phạm tăng-già-bà-thi-sa, hoặc nghi. Đức Phật dạy:  “Không biết thì không phạm.” 
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  đã  biết  là nữ tặc, tội  đáng  chết, mọi người đều  biết, (1) mà  không hỏi  đại  thần của  vua,  không hỏi  dòng họ, (2) lại độ cho xuất gia thọ giới cụ túc; tỳ-kheo-ni phạm pháp này lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tặc (cướp): (3) trộm năm tiền hoặc trên năm tiền.
Đáng chết: tức bị xử vào tội chết.
Nhiều người biết: (4) vua biết, đại thần biết, nhân dân biết.
Vua: không nương vào người để có ăn.
___________________________
(1) Pāli: coriṃ vajjhaṃ viditaṃ.
(2) Pāli, Vin.  226,  “Chưa  được  phép của  vua, của Tăng (saṅgha), của cộng  đồng (gaṇa), của hội  đoàn (seṇi),  trừ  phi hợp  pháp (kappā).”  Tăng kỳ:  chủ  chưa  cho. Ngũ phần: chủ chưa cho, trừ trước đó đã xuất gia. Thập tụng: vua và chúng sát-lợi chưa hủy án tử.
(3) Pāli: corī, nữ tặc. Phân biệt ăn trộm (adinnadāna: bất dữ thủ, lấy trộm vật dưới 5māsaka), và trộm cướp (cora), trộm vật có giá trên 5 māsaka.
(4) Pāli: viditā: aññehi manussehi ñātā hoti, esā vajjhā’ ti, tội chết đã được công bố, mọi người đều biết “Người này đáng bị giết.”

* Trang 792 *
device

Đại  thần:  nhận  địa vị  quan  trọng của  nhà  vua,  giúp  quản  lý  việc nước.
Dòng họ: (1) Xá-di, Câu-ly-di-ninh, Bạt-kỳ, Mãn-la, Tô-ma.
Tỳ-kheo-ni  kia  biết tặc nữ, tội  đáng  chết,  nhiều  người  biết,  không hỏi (2) đại  thần của vua, họ hàng  liền độ cho học đạo, ba phen yết-ma xong, Hòa-thượng ni phạm tăng-già-bà-thi-sa; hai phen yết-ma xong, phạm  ba  thâu-lan giá; yết-ma lần  đầu  xong,  phạm  hai  thâu-lan-giá; bạch  xong, phạm một  thâu-lan-giá; nếu bạch chưa xong, phạm đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, nếu có cạo tóc, hoặc cho xuất gia, cho thọ giới, tập hợp chúng Tăng, tất cả đều phạm đột-kiết-la, đủ chúng cũng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, phạm đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di,  [720a1]  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu không  biết; hoặc có  tâu với  vua, đại  thần, họ hàng. Hoặc tội đáng chết, vua cho xuất gia. Hoặc có tội,  (quan  tha) cho xuất gia; trong trường hợp giam cầm rồi phóng thích cho đi xuất gia. Hoặc cầu cứu khiến được thoát khỏi. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
VI. TỰ Ý GIẢI TỘI (3)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Uỷ-thứ (4) bị Tăng cử tội, như pháp,
_____________________________
(1) Pāli,  chi  tiết: (được hứa  khả bởi) Tăng tức tỳ-kheo-ni Tăng (saṅgho nāma bhikkhunisaṅgho  vuccati); bởi cộng  đồng (gaṇo:  chúng  hay  chúng hội); bởi hội đoàn (pūgo: đoàn thể), tập đoàn (seṇi); và chưa được miễn tội (aññatra kappā)
(2) Không hỏi: không xin phép. Pāli: apaloketabbo, chưa được sự hứa khả (của...).
(3) Ngũ  phần, tăng-già-bà-thi-sa  6.  Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa  8.  Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 10. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 12. Pāli, biệt giới 4. 
(4) Xem Ch. i ba-la-di 8. Thập tụng 43 (tr.310b19): tỳ-kheo-ni Xiển-đề 闡提, em gái của Xa-nặc, tính ngang ngược, bị các tỳ-kheo-ni tác yết-ma bất kiến tẫn (bị xả trí vì ngoan cố không nhận tội). Mẹ là tỳ-kheo-ni Ưu-bà-hòa 憂婆和, vốn là người đoán

* Trang 793 *
device

như  luật,  như lời  Phật dạy, mà  cô  ấy  không  thuận  theo,  có tội mà không  sám hối, Tăng  chưa  tác  pháp  cho cộng  trú,  mà tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà  không bạch với  ni Tăng,  ni Tăng  không  sai  khiến, vội tự ý ra ngoài giới tác pháp yết-ma giải tội cho Uỷ-thứ.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà rằng: “Tại sao, ni Tăng như pháp, như  luật, như lời Phật dạy, cử tội tỳ-kheo-ni Uỷ-thứ, mà  cô  không  thuận  theo,  có tội  không  sám hối, Tăng chưa tác pháp cộng trú, ni Tăng không sai khiến, mà cô vội tự ý ra ngoài cương giới, giải tội cho cô ấy?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà: “Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm. Thâu-la-nan-đà, tại sao, ni Tăng như pháp, như  luật, như lời Phật dạy cử tội tỳ-kheo-ni Uỷ-thứ, cô ấy không  thuận  theo, có tội không sám hối, Tăng chưa tác pháp cho phép cộng trú, ni Tăng không sai khiến, mà cô vội tự ý ra ngoài cương giới tác pháp yết-ma giải tội cho cô ấy?”
Đức Thế Tôn bảo  các tỳ-kheo:  “Thâu-la-nan-đà  là nơi  trồng  nhiều giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này”.
Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết tỳ-kheo-ni kia bị Tăng cử tội, (1) như pháp, như  luật, như lời Phật dạy, mà không thuận  theo, chưa sám hối, Tăng  chưa  tác  pháp yết-ma  cho  phép ở  chung;  vì  thân ái, (2) không hỏi Tăng, Tăng  không  sai bảo,  ra  ngoài  giới  tác
_________________________
sự của Tăng, tự  ý  ra  ngoài  giới  tác  pháp  giải tội. Pāli, Vin.  iv.  231: tỳ-kheo-ni Caṇḍaklī bị các tỳ-kheo xả  trí vì không nhận tội (āpattiyā adassane ukkhipi). Tỳ-kheo-ni Thullanandā tự ý tập hợp tỳ-kheo-ni giải tội cho Caṇḍakalī
(1) Pāli: saṅghena ukkhittaṃ, bị Tăng xả trí.
(2) Vị ái cố 為愛故. Các bộ không có chi tiết này. 

* Trang 794 *
device

yết-ma giải tội; tỳ-kheo-ni phạm pháp này lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: [720b]nghĩa như trước.
Tăng: nghĩa cũng như trước.
Cử tội: Tăng bạch tứ yết-ma để cử.
Pháp: như pháp, như luật, như lời Phật dạy.
Không thuận theo: không tuân hành theo pháp trị tội do Phật chế.
Chưa sám hối: có tội mà không hướng đến người nói lên sự ăn năn.
Chưa tác pháp cho phép ở chung: bị Tăng cử tội, chưa được giải tội.
Vì thân ái nhau nên không hỏi Tăng, Tăng không sai khiến, ra ngoài giới  tác yết-ma  giải tội,  ba  phen yết-ma  xong, tăng-già-bà-thi-sa; bạch  nhị yết-ma xong,  ba  thâu-lan-giá; bạch  nhất yết-ma  xong,  hai thâu-lan-giá; bạch xong, một thâu-lan-giá; bạch chưa xong, đột-kiết-la; trước khi chưa bạch, tập chúng, đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Có bạch với chúng Tăng, hoặc được Tăng sai khiến; hoặc phạm nhơn hạ ý sám bổn tội. Hoặc Tăng vì giận hờn nên không giải tội cho người kia,  thì giải mà không phạm. Hoặc trước đó Tăng tác  pháp yết-ma rồi, Tăng  này  di  chuyển,  hoặc  chết,  đi  xa,  thôi  tu, hay bị giặc bắt dẫn đi, hoặc bị nước cuốn  trôi; bấy giờ giải tội cho, không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng,loạn tâm, thống não bức bách. 
VII. ĐỘC HÀNH (1)
 _______________________
(1) Pāli, Tăng tàn biệt giới 3. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 6. Tăng kỳ: 9. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 6, phân thành 4 khoản nhỏ cho 4 sự kiện. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 6, 7, 8, 9 (gồm 4 điều).

* Trang 795 *
device

a. Duyên khởi
1. Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni một mình vén cao y lội qua sông, từ bờ bên này đến bờ bên kia. Tỳ-kheo-ni này lại có nhan sắc xinh đẹp.
Khi ấy, có một kẻ giặc để ý, chờ cô ni kia lội qua sông xong,  liền ôm lấy  và  quấy rối. Các cư sĩ  thấy,  cùng  nhau cơ  hiềm rằng:  “Tỳ-kheo-ni  này  không  biết  tàm  quý,  hành  pháp bất tịnh. Bên  ngoài tự xưng,  tôi  biết  chánh  pháp. Một mình  vén  y  cao, lội  qua  sông  như dâm nữ không khác. Như vậy có gì là chánh pháp?”
2. Bấy  giờ, tỳ-kheo-ni  Sai-ma  có  nhiều  đệ tử.  Cách Tăng-già-lam không  xa,  có một  thôn  xóm  quen  biết. Vì  việc cần,  nên bỏ  chúng, một mình  vào  thôn. Các cư sĩ  thấy, bảo  nhau:  “Tỳ-kheo-ni Sai-ma này một mình đi vào thôn là muốn kiếm đàn ông.” 
3. Tỳ-kheo-ni kia một mình nghỉ đêm lại nơi thôn, không trở về. Các cư sĩ lại  nói:  “Sở dĩ cô ni  ngủ lại  thôn một mình, chính  là cần đàn ông.”
4. Bấy giờ, có nhóm sáu tỳ-kheo-ni và Thâu-la-nan-đà cùng số đông tỳ-kheo-ni  trên con đường giữa Câu-tát-la và Khoáng-dã. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni và [720c] tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà  thường một mình đi sau chót. Các tỳ-kheo-ni thấy vậy, nói: “Này các cô, sao các cô không đi chung với chúng tôi, mà cứ đi sau?
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni trả lời:  “Các cô cứ đi  theo đường của các cô. Chuyện gì các cô can dự đến việc của chúng tôi?”
Ni chúng liền nói: “Các cô không nghe đức Phật kết giới, phải đi chung với bạn đồng hành, hay sao?”
Nhóm sáu tỳ-kheo-ni và Thâu-la-nan-đà trả lời: “Các cô không biết tôi chăng?”
Chư ni nói: “Không biết.”
Thâu-la-nan-đà nói: “Sở dĩ chúng tôi đi sau là muốn gặp đàn ông!”
Các tỳ-kheo-ni nghe  thế,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách  những tỳ-kheo-ni  kia

* Trang 796 *
device

rằng:  “Sao tỳ-kheo-ni lại  vén  cao  y một  mình lội  qua  sông?  Vào trong thôn một mình? Ngủ lại đêm một mình? Cùng với bạn đi mà lại một mình đi sau?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế  Tôn.  Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo dùng vô số phương tiện quở trách những tỳ-kheo-ni kia rằng: “Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Sao tỳ-kheo-ni lại một mình vén cao y lội qua sông? Một mình đi vào thôn xóm? Một mình ngủ lại đêm? Cùng với bạn đi sau một mình?” 
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách những tỳ-kheo-ni kia rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ  phạm giới  này  ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, lội qua nước một mình, vào xóm một mình, ngủ đêm một mình, đi sau một mình; (1) tỳ-kheo-ni phạm pháp này lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nước: nước sông, một mình không nên lội qua.
1. Tỳ-kheo-ni kia nên  tìm tỳ-kheo-ni cùng lội. Tỳ-kheo-ni nên từ từ vén  y  khi  xuống nước,  đợi bạn. Tỳ-kheo-ni  đi  trước vội  vàng lội xuống nước,  khiến  cho bạn  không  đi kịp, tăng-già-bà-thi-sa.  Khi xuống nước, tùy theo mức nước sâu cạn mà vén y lên, đợi bạn đi sau. Nếu vội vàng xuống nước, không đợi bạn đi sau, phạm  thâu-lan-giá. Đến bờ bên kia, từ từ xổ y xuống, đợi bạn đi  sau; nếu vội vàng đi,
___________________________-
(1) Bốn độc, bốn trường hợp tỳ-kheo-ni không được phép đơn độc: độc độ, độc vãng, độc túc, độc lưu.

* Trang 797 *
device

không từ từ xổ y xuống; lên bờ không đợi bạn đi sau, phạm thâu-lan-giá.
2. Tỳ-kheo-ni kia nên  tìm một tỳ-kheo-ni cùng đi vào xóm. Nếu tỳ-kheo-ni một mình đi vào xóm,  tùy  theo chỗ đến, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nếu  đi  qua  vùng  [721a]  đồng  trống một  mình,  quá một khoảng  cách,  đánh một  tiếng  trống  không  nghe,  phạm tăng-già-bà-thi-sa. Một mình, đi chưa đến nơi xóm, phạm thâu-lan-giá. Dưới tầm không  nghe một  tiếng  trống,  phạm  thâu-lan-giá. Một mình  đi  vào trong xóm, cùng một cương giới, phạm đột-kiết-la. Tìm phương  tiện muốn đi mà không đi; hoặc kết bạn muốn đi mà không đi; tất cả đều phạm đột-kiết-la.
3. Tỳ-kheo-ni  kia  cùng  ngủ,  nên nằm  trong tầm  tay  duỗi  ra  đụng nhau. Tỳ-kheo-ni kia ngủ một mình, khi hông chạm đất, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Mỗi lần nghiêng mình qua lại, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tỳ-kheo-ni cùng ở trong xóm, khi nằm ngủ, phải nằm trong tầm duỗi cánh  tay  đụng  nhau. Nếu  duỗi  cánh  tay  không  đụng  nhau, mỗi lần nghiêng mình là phạm một tăng-già-bà-thi-sa.
4. Tỳ-kheo-ni kia cùng đi trên một đường, không được cách xa (đồng bạn) ngoài tầm thấy nghe. Nếu tỳ-kheo-ni cùng đi trên một đường mà ở  ngoài tầm  nghe  và  thấy  (của  đồng bạn),  phạm tăng-già-bà-thi-sa. Ngoài chỗ  thấy mà không ngoài tầm nghe, phạm  thâu-lan-giá. Cách chỗ nghe, không cách chỗ thấy, phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: 
1. Hai tỳ-kheo-ni cùng lội qua nước, khi xuống nước,  tùy  theo mức nước sâu cạn mà từ từ vén y, đợi bạn đi sau; khi xuống nước không đi nhanh, đợi bạn, khi lên bờ từ từ xổ y, đợi bạn; hoặc vượt qua bằng thần  túc, bằng  xe cộ,  hay bằng  thuyền, bằng cầu. Hoặc tỳ-kheo-ni đồng hành qua đời, hay thôi tu, đi sau, hoặc bị giặc dẫn đi, mạng nạn, phạm hạnh nạn, nạn  ác  thú. Hoặc bị cường lực bắt, bị  trói dẫn  đi. Hoặc bị nước cuốn trôi. Thảy đều không phạm.
2. Nếu, hai tỳ-kheo-ni vào xóm, mà khi đang ở trong xóm có một tỳ-

* Trang 798 *
device

kheo-ni đồng bạn qua đời, hoặc  thôi  tu, hoặc đi xa, hoặc bị giặc dẫn đi, cho đến bị nước cuốn trôi, như trên, thì không phạm.
3. Nếu cùng hai tỳ-kheo-ni ngủ lại đêm, duỗi cánh  tay  ra phải đụng nhau;  hoặc một tỳ-kheo-ni  đi  ra  ngoài  đại  tiểu  tiện,  hoặc  thọ  kinh, tụng kinh; hoặc ưa ở chỗ vắng một mình khi đi kinh hành; hoặc vì tỳ-kheo-ni bị bệnh, nấu canh, cháo, cơm;  hoặc qua đời,  thôi  tu, đi  xa, hoặc bị  giặc dẫn  đi,  cho  đến bị nước  cuốn  trôi cũng  như  trên,  thì không phạm.
4. Hai tỳ-kheo-ni  cùng  đi  không  cách  nhau  chỗ  thấy  chỗ  nghe  thì không  phạm;  hoặc một tỳ-kheo-ni  đi  ra  ngoài  đại  tiểu  tiện,  hoặc mạng chung,  thôi  tu, hoặc bị giặc bắt dẫn đi, cho đến bị nước cuốn trôi, như trên, thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. (1)
VIII. NHẬN CỦA NAM NHIỄM TÂM (2)
a. Duyên khởi
[721b9] Một  thời, đức Phật ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, giá  lúa gạo tăng vọt,  trở  thành  kham  hiếm,  khất  thực  khó  được. Có tỳ-kheo-ni vào thành khất thực, mang bát về không. Cùng lúc ấy, tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà đến giờ, đắp y bưng bát, vào thành khất thực, tuần tự đến nhà một  người  buôn,  đứng  im lặng. Tỳ-kheo-ni Đề-xá  là  người  có nhan sắc xinh đẹp, nên người buôn thấy,  liền để ý cô. Ông đến trước mặt cô và hỏi: “A-di cần gì?”
Đề-xá trả lời: “Tôi muốn khất thực.”
Nhà buôn bảo: “Cô đưa bát đây.” 
Đề-xá trao bát. Nhà buôn lấy cơm canh đựng đầy bát, rồi trao lại cho tỳ-kheo-ni Đề-xá.
__________________________
(1) Bản Hán, hết quyển 22.
(2) Pāli, biệt giới 5. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 8. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa 11. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 4. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 4.

* Trang 799 *
device

Sau đó,  thường xuyên Đề-xá cũng quấn y bưng bát đến đó,  im lặng đứng. Nhà buôn cũng lại hỏi: “A-di cần thứ gì?”
“Tôi cần khất thực.”
Nhà buôn cũng lại lấy bát đựng đầy cơm canh rồi trao lại cho Đề-xá.
Các tỳ-kheo-ni thấy vậy hỏi: “Hiện nay ngũ cốc khan hiếm, khất thực khó được. Hầu hết chúng tôi mang  bát  vào  thành  khất  thực,  trở về  bát  không. Hằng  ngày  cô  đi khất thực, khi trở về đều được đầy bát. Lý do nào cô được như vậy?”
Đề-xá trả lời: “Các cô khất, cũng có thể được vậy.”
Lại một ngày khác, tỳ-kheo-ni Đề-xá cũng quấn y bưng bát đến nhà người  buôn  đó. Người  kia từ  xa  trông  thấy tỳ-kheo-ni  đến,  liền tự tính nhẩm: Từ trước đến nay ta đã cho cô ni này ăn, tính theo giá có thể đủ 500 tiền vàng, bằng với giá mua một người nữ. Vừa nghĩ như vậy xong, ông  ta  liền bước đến  trước ôm cô tỳ-kheo-ni, muốn hành dâm. Tỳ-kheo-ni kia liền kêu la: “Đừng làm vậy, đừng làm vậy!”
Người lân cận liền hỏi: “Vừa rồi, sao cô la lớn thế?”
Đề-xá trả lời: “Người này bắt tôi.”
Người kia hỏi: “Sao ông bắt tỳ-kheo-ni?”
Đáp: “Tôi trước sau cho tỳ-kheo-ni này ăn, tính ra giá trị bằng [721c] 500 tiền  vàng. Đủ  để mua một  cô  gái. Nếu tỳ-kheo-ni  này  không  ham thích tôi, sao lại nhận đồ ăn của tôi.”
Người kia hỏi: “Có thật vậy không cô?”
Cô trả lời: “Có thật vậy.”
Người kia hỏi: “Cô biết ý người ta cho cô ăn không?”
Đáp:  “Biết.”
Người kia nói: “Cô đã biết rồi. Sao còn kêu la?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni  nghe  biết. Trong đó có người  thiểu dục,  tri túc, biết  tàm quý, hiềm  trách tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà: “Tại  sao tỳ-kheo-ni với  tâm nhiễm ô nhận  thức ăn của người cho có  tâm nhiễm ô?”

* Trang 800 *
device

Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà: “Việc cô làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Tại sao đem  tâm nhiễm ô thọ nhận thức ăn của người có tâm nhiễm ô?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  có  tâm  nhiễm  ô, (1) đến  người  nam cũng  có tâm nhiễm  ô nhận,  thứ  có  thể  ăn,  thức  ăn  và  các vật  khác. Tỳ-kheo-ni phạm pháp này lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy. Các tỳ-kheo-ni không biết người ấy có tâm nhiễm ô hay không, sau mới biết họ có tâm nhiễm ô, nên nói mình phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc nghi. Đức Phật dạy: 
“Không biết thì không phạm.” Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, với  tâm  nhiễm  ô,  biết  người  nam  có  tâm nhiễm  ô, mà  đến người  ấy nhận,  thứ  có  thể  ăn,  thức ăn  và các vật  khác. Tỳ-kheo-ni  phạm  pháp này lần  đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tâm nhiễm ô: tâm nhiễm trước dục.
Người nam có tâm nhiễm ô: nam tử có tâm nhiễm đắm trước dục.
__________________________
(1) Tăng kỳ: Tỳ-kheo-ni không có lậu tâm 無漏心. Thập tụng: tỳ-kheo-ni có lậu tâm, và người nam cũng vậy. Pāli: bhikkunī avassutā avassutassa purisapuggalassa, tỳ-kheo-ni có  tâm nhiễm ô, (nhận) của người nam có  tâm nhiêm ô. Xem cht. 23, ba-la-di 5 (ma xúc giới).

* Trang 801 *
device

Thứ  có  thể  ăn:  thức  ăn bằng gốc  (củ),  thức  ăn bằng cọng,  thức  ăn bằng lá, thức ăn bằng bông, thức ăn bằng trái, thức ăn bằng dầu, thức ăn bằng hồ ma, thức ăn bằng đường đen, thức ăn nát vụn. (1)
Thức ăn: cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt. (2)
Các vật khác: vàng, bạc,  trân, bảo, ma-ni, chân châu, tỳ lưu  ly, kha bối, bích ngọc, san hô, hoặc tiền sanh tượng kim.
Tỳ-kheo-ni với  tâm  nhiễm  ô,  biết  người  nam  có  tâm  nhiễm  ô, [722a1]  đến  người  đó  nhận vật  có  thể  ăn  và  thức  ăn,  cùng  các vật dụng khác. Người (nam) kia đưa; (tỳ-kheo-ni) này nhận, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Người  (nam)  này đưa;  (tỳ-kheo-ni)  không  nhận,  thâu-lan-giá. Phương  tiện muốn cho mà không cho, hoặc cùng hẹn, hoặc (tỳ-kheo-ni) ăn năn rồi trả lại; tất cả đều thâu-lan-giá. 
Con  trai của  chư Thiên,  con  trai của A-tu-la,  con  trai  Càn-thát-bà, con trai Dạ-xoa, con trai ngạ quỉ, súc sanh đực có thể biến hình; (tỳ-kheo-ni) đến nơi chúng mà nhận vật có  thể ăn và  thức ăn, cùng các vật  khác; kẻ  kia  đưa,  (tỳ-kheo-ni)  này  nhận,  thâu-lan-giá. Với  loài không thể biến hình, (tỳ-kheo-ni) phạm đột-kiết-la. 
Đến nơi người nữ có tâm nhiễm nhận vật có thể ăn và thức ăn, cùng các vật khác, đột-kiết-la. 
Tâm nhiễm ô tưởng là tâm nhiễm ô, tăng-già-bà-thi-sa. Tâm nhiễm ô, thâu-lan-giá. Tâm  không  nhiễm  ô, tưởng  là  tâm  nhiểm  ô,  thâu-lan-giá. Tâm không nhiễm ô, nghi, thâu-lan-giá.Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: trước không biết, hoặc mình không có tâm nhiễm ô, người kia cũng không có tâm nhiễm ô, thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
___________________________-
(1) Đây  chỉ  loại  thức ăn cứng  khư-đà-ni,  xem Phần  I,  cht. 227 Ch.v Ba-dật-đề 35. Pāli: khādanīyaṃ.
(2) Đây chỉ  loại  thức ăn mềm, hay chánh  thực, hay bồ-xà-ni; xem Phần  I, cht. 180, Ch.v ba-dật-đề 35. Pāli: bhojanīyaṃ.

* Trang 802 *
device

IX. TÁN TRỢ NI KHẤT THỰC BẤT CHÍNH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng  cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, giá lúa gạo tăng vọt, khất cầu khó được, các tỳ-kheo-ni vào  thành khất  thực, mang bát không về. Tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà vào thành khất thực cũng mang bát không về.
Các tỳ-kheo-ni hỏi tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà rằng: “Thường  khi  cô  khất  thực mang về  đầy  bát, tại  sao  nay mang  bát không về, khất thực khó được chăng?”
Đề-xá trả lời: “Thật vậy.”
Chư ni hỏi: “Tại sao vậy?”
Đề-xá nói: “Này các cô, trước đây tôi thường đến nơi nhà người thương gia xin, nên dễ dàng được. Nay tôi không đến đó, nên xin khó được.”
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni, Thâu-la-nan-đà và mẹ của tỳ-kheo-ni Đề-xá nói với tỳ-kheo-ni Đề-xá rằng: “Dầu cho người kia có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô, can hệ gì đến cô? Miễn cô tự mình không có  tâm nhiễm ô  thì, khi nhận được thức ăn cứ thanh tịnh mà nhận, có sao đâu?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni, Thâu-la-nan-đà  và mẹ của  ni Đề-xá rằng:  “Sao  các  cô  nói với  ni Đề-xá, ‘Dầu cho người kia có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô, can hệ gì đến cô? Miễn cô tự mình không có tâm nhiễm ô, khi nhận được thức ăn cứ thanh tịnh mà nhận, có sao đâu?’”
Các tỳ-kheo-ni bạch với  các tỳ-kheo.  [722b] Các tỳ-kheo  đến bạch lên đức Thế Tôn.  Đức Thế Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni, Thâu-la-nan-đà và mẹ của tỳ-kheo-ni Đề-xá.
_______________________
(1) Pāli, biệt giới 8. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 9. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa 12. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 5. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 5.

* Trang 803 *
device

“Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Sao các cô nói với ni Đề-xá, ‘Dầu cho người kia có tâm nhiễm ô hay không có  tâm nhiễm ô, can hệ gì đến cô? Miễn cô tự mình không có tâm nhiễm ô, khi nhận được thức ăn, cứ thanh tịnh mà nhận, có sao đâu?’”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách lục quần, Thâu-la-nan-đà và mẹ của ni Đề-xá rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những tỳ-kheo-ni này,  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào dạy tỳ-kheo-ni  nói  như vầy: ‘Đại tỷ,  người kia có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô, can hệ gì đến cô? Miễn cô tự mình không có  tâm nhiễm ô, khi nhận được thức ăn, cứ thanh tịnh mà nhận.’ Tỳ-kheo-ni phạm pháp này lần đầu, tăng-già-bà-thi-sa, phải bị xả trí. (1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni kia nói với tỳ-kheo-ni: “Đại tỷ, người kia có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô, can hệ gì đến cô? Miễn cô tự mình không có tâm nhiễm ô, khi nhận được thức ăn, cứ thanh tịnh mà nhận.” Nói rõ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nói không rõ ràng, phạm  thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  hoặc  nói  vui  chơi,  nói gấp vội, nói một mình,  nói trong mộng,  hay muốn  nói  việc  này  nhầm  nói  việc  khác  thì  không phạm.
___________________________
(1) Các bộ giống nhau. Riêng Tăng kỳ  (tr.521c5): tỳ-kheo-ni  (nói như vậy),  sau ba lần được can gián mà không bỏ, tăng-già-bà-thi-sa.

* Trang 804 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
X. PHÁ HÒA HIỆP TĂNG*
Một  thời, đức Phật ở  trong núi Kỳ-xà-quật, tại  thành La-duyệt. Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhân duyên này (1) tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo các tỳ-kheo: “Từ  nay  trở  đi,  ta  vì Tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa,  cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, muốn phá hoại hòa hợp Tăng, tiến hành phá hoại hòa hợp Tăng, chấp chặt pháp phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Các tỳ-kheo-ni kia nên can gián tỳ-kheo ni này rằng: ‘đại tỷ chớ phá hòa hợp Tăng, chớ tiến hành phá hoại hòa hiệp Tăng, chớ chấp chặt phá hoại hòa hợp Tăng kiên trì không bỏ. Đại tỷ,  [722c]  nên  cùng Tăng  hòa hợp,  vì  cùng Tăng  hòa hợp,  hoan hỷ không  tranh  chấp,  đồng một  thầy học, hòa hợp như nước với sữa thì ở trong Phật pháp mới có sự tăng  ích, sống  an lạc.’ Tỳ-kheo-ni  ấy  khi  được  can  gián như vậy ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt, nếu không bỏ, tỳ-kheo-ni này phạm ba pháp tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí.(2) 
XI.TÙY THUẬN PHÁ TĂNG*
Một  thời, đức Phật ở  trong núi Kỳ-xà-quật, tại  thành La-duyệt. Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhân duyên này (3) tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo các tỳ-kheo: “Từ nay trở đi, ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”
____________________________
(1) Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii Tăng-già-bà-thi-sa 10.
(2) Hán:  phạm  tam  pháp  ưng xả tăng-già-bà-thi-sa 犯三法應捨 僧伽婆尸沙.  Ngũ phần:  tam  gián  phạm tăng-già-bà-thi-sa  khả hối  quá 三諫犯僧伽婆尸沙可悔過. Pāli, không có giới văn cho  thông giới này. Tham khảo biệt giới 7 (Vin. iv. 236): yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissaraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ,  phạm  pháp  này, (được can gián) cho đến lần thứ ba, tăng-già-bà-thi-sa cần xả trí. 
(3) Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii Tăng-già-bà-thi-sa 11.

* Trang 805 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  có  bè  đảng từ một, hoặc hai, hoặc  ba,  cho đến vô số. Các tỳ-kheo-ni bè đảng ấy nói với các tỳ-kheo-ni rằng: ‘Đại tỷ, chớ can gián tỳ-kheo-ni ấy. Tỳ-kheo-ni ấy là tỳ-kheo-ni  nói  như  pháp. Tỳ-kheo-ni  ấy  là tỳ-kheo-ni nói  như luật.  Những  điều tỳ-kheo-ni  ấy  nói,  chúng  tôi  ưa  thích. Những điều tỳ-kheo-ni ấy nói chúng  tôi chấp nhận.’ Chúng tỳ-kheo-ni  nên  nói với tỳ-kheo-ni  bè  đảng  ấy rằng: ‘Đại tỷ chớ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo-ni ấy  là tỳ-kheo-ni nói như pháp. Tỳ-kheo-ni  ấy  là tỳ-kheo-ni  nói  như  luật.  Những  điều tỳ-kheo-ni ấy nói chúng  tôi ưa  thích. Những điều tỳ-kheo-ni ấy nói  là  chúng  tôi  chấp  nhận.’ Tại  sao vậy? Những  điều tỳ-kheo-ni ấy nói  là phi pháp,  là phi  luật. Đại tỷ, chớ phá hoại hòa hợp Tăng.  Các  cô  nên  hoan hỷ  hòa hợp Tăng. Đại tỷ cùng Tăng  hòa hợp, hoan hỷ,  không  tranh  chấp,  đồng học một thầy, hòa hợp như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có tăng  ích  an lạc.’ Các tỳ-kheo-ni  bè  đảng  được  can  gián như vậy mà kiên trì không bỏ. Chúng tỳ-kheo-ni kia nên can gián ba lần cho bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt. Nếu không bỏ, tỳ-kheo-ni này phạm ba pháp tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí.
XII. Ô THA GIA*
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng  cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhân duyên này (1) tập hợp Tăng tỳ-kheo bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay trở đi, ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nương tựa nơi  làng xóm hoặc nơi  thành ấp mà  làm hoen  ố nhà người,  có hành  vi xấu. Sự  làm hoen  ố
____________________________
(1) Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii Tăng-già-bà-thi-sa 12.

* Trang 806 *
device

 nhà  người mọi  người  đều  thấy  đều  nghe;  [723a1]  hành  vi xấu mọi người  đều  thấy  đều nghe. Tỳ-kheo-ni này nên  can gián tỳ-kheo-ni kia rằng: ‘Đại tỷ, cô  làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, sự làm hoen ố nhà người mọi người đều thấy đều nghe; hành vi xấu mọi người đều thấy đều nghe. Đại tỷ, cô làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, nay nên xa lìa xóm làng này, không nên ở nơi đây nữa.’  
Tỳ-kheo-ni  ấy  nói với tỳ-kheo-ni  kia rằng: ‘Đại tỷ,  các tỳ-kheo-ni có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo-ni đồng tội như vậy mà có người bị đuổi có người không bị đuổi.’
Các Tỳ-kheo-ni nên trả lời tỳ-kheo-ni ấy rằng: ‘Đại tỷ, cô chớ nói: ‘Các tỳ-kheo-ni có  thiên vị, có  thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo-ni đồng tội như vậy mà có người bị đuổi,  có người  không bị  đuổi.’ Tại  sao vậy? Các tỳ-kheo-ni không  có  thiên vị,  không  có  thù  nghịch,  không  có sợ  hãi, không có bất minh, tỳ-kheo-ni đồng tội như vậy, có người bị đuổi, có người không bị đuổi; mà vì đại tỷ là người làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người mọi người  đều  thấy  đều nghe.’Khi  các tỳ-kheo-ni này  can  gián mà tỳ-kheo-ni kia kiên  trì không bỏ, các tỳ-kheo-ni này nên can gián ba lần cho bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; không bỏ, tỳ-kheo-ni này phạm ba pháp, tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí. 
XIII. ÁC TÁNH BẤT THỌ GIÁN NGỮ*
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại Câu-thiểm-di. Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhân duyên này (1) tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay trở đi, ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
_______________________                                     
(1) Thông giới, duyên khởi, xem Phần I Ch. ii Tăng-già-bà-thi-sa 13.

* Trang 807 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào  có  tánh  ngoan cố,  không  nghe lời  người khuyên,  đã  được  các tỳ-kheo-ni  khuyên  can  như  pháp về những điều trong học giới, tự thân không nhận lời can gián, lại nói: ‘Các đại tỷ, chớ nói với tôi điều gì hoặc tốt, hoặc xấu; tôi cũng không nói với các đại tỷ điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các đại tỷ hãy thôi, chớ can gián tôi.’ Các tỳ-kheo-ni này nên can gián tỳ-kheo-ni kia rằng: ‘Đại tỷ, cô chớ tự  thân không nhận lời can gián. Đại tỷ, hãy tự thân nhận lời can gián. Đại tỷ như pháp can gián các tỳ-kheo-ni. Các tỳ-kheo-ni cũng sẽ như pháp can gián đại tỷ. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng  ích lần lượt  can  gián lẫn  nhau, lần lượt  chỉ bảo  cho nhau, lần lượt  phát lồ với  nhau.’  Khi tỳ-kheo-ni  này  được can gián như vậy, kiên  trì không bỏ, các tỳ-kheo-ni nên can gián ba lần cho bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, [723b] bỏ  thì tốt; không bỏ, tỳ-kheo-ni này phạm ba pháp, tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí.
XIV. TƯƠNG THÂN TƯƠNG TRỢ ÁC HÀNH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng  cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có hai Tỳ-kheo-ni, một  tên  là Tô-ma, một  tên là  Bà-phả-di, (2) cùng sống gần gũi với  nhau,  cùng  làm  hành  vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, hỗ tương cùng che giấu tội lỗi cho nhau. Các Tỳ-kheo-ni nói rằng:
“Đại tỷ,  hai vị  chớ  nên gần gũi  nhau,  cùng  nhau  làm  hành  vi xấu, tiếng xấu đồn vang, lần lượt cùng che giấu tội lỗi cho nhau. Hai vị, nếu  không gần gũi  ăn ở với  nhau,  làm  các  việc xấu,  tiếng xấu  đồn
_________________
(1) Pāli, biệt giới 9. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 15. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa 17. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 16. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 15.
(2) Tô-ma, Bà-phả-di. Ngũ  phần:  Tu-hưu-ma 修休摩, Bà-phả 婆頗Tăng kỳ: Chân Đàn 真檀, Uất-đa-la欝多羅.  Thập tụng: Đạt-ma 達摩, Đàm-di 曇彌. Căn bản: Khả Ái 可愛, Tùy Ái 隨愛. Pãli: Thullanandã với các tỳ-kheo-ni đệ tử.

* Trang 808 *
device

khắp, lần lượt che giấu tội lỗi cho nhau, thì ở trong Phật pháp mới có tăng ích, sống an lạc.”
Nhưng họ vẫn cố chấp, không chịu cải hối.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di: “Tại  sao hai cô cùng nhau gần gũi, cùng  làm  hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, lần lượt cùng che giấu tội lỗi cho nhau? Các tỳ-kheo-ni đã khuyên rằng, ‘Đại tỷ, hai vị chớ nên gần gũi nhau, cùng nhau làm  hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, lần lượt cùng che giấu tội lỗi cho nhau. Hai vị, nếu không gần gũi ăn ở với nhau, làm các việc xấu, tiếng xấu  đồn  khắp, lần lượt  che  giấu tội lỗi  cho  nhau,  thì  ở  trong Phật pháp mới có tăng  ích, sống an lạc.’ Nhưng các vị vẫn cố chấp không chịu cải hối!”
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di: “Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Tại sao hai cô cùng nhau gần gũi, cùng  làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, lần lượt cùng che giấu tội lỗi cho nhau? Các tỳ-kheo-ni  đã  khuyên rằng, ‘Đại tỷ,  hai  cô  chớ  nên gần gũi  nhau, cùng  làm điều xấu,  tiếng xấu đồn khắp, lần lượt che giấu tội lỗi cho nhau. Nếu, hai cô không gần gũi nhau, cùng  làm hành vi xấu,  tiếng xấu đồn vang, cùng nhau che giấu tội lỗi nhau  thì ở trong Phật pháp có tăng  ích, sống an lạc.’ Nhưng cả hai vẫn cố chấp không chịu cải hối. Thế là sao?”
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, bảo các tỳ-kheo: “Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di pháp can gián cho bỏ việc này, bằng bạch tứ yết-ma.”
Nên can gián như vầy: trong ni chúng, sai một vị có thể tác pháp yết-ma, theo sự việc trên [723c] tác bạch như vầy:
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di này sống gần gũi nhau,  cùng nhau  làm  hành  vi xấu,  tiếng

* Trang 809 *
device

xấu  đồn  khắp, hỗ tương  che  giấu tội lỗi  cho  nhau. Các tỳ-kheo-ni khác đã can gián rằng: ‘Đại tỷ, hai cô chớ nên sống gần gũi  nhau,  cùng  nhau  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn khắp; đừng hỗ tương che giấu tội lỗi cho nhau. Nếu, hai cô không cùng nhau gần gũi, cùng nhau làm xấu, tiếng xấu đồn khắp,  thì  ở  trong  Phật  pháp  có sự tăng  ích, sống  an lạc.’ Nhưng họ vẫn cố  chấp  không  chịu cải hối. Nếu  thời  gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di pháp can gián cho bỏ việc này, nói: ‘Đại tỷ, hai cô chớ nên sống gần gũi nhau, cùng nhau  làm hành vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp;  đừng hỗ tương  che  giấu tội lỗicho nhau. Nếu, hai cô không cùng nhau gần gũi, cùng nhau làm xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  thì  ở  trong Phật  pháp  có sự tăng ích, sống an lạc.’ Đây là lời tác bạch.” 
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di này  cùng  nhau gần gũi  cùng nhau  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp, lần lượt  cùng nhau  che  giấu tội lỗi. Các tỳ-kheo-ni  khác  đã nói: ‘Đại tỷ, hai  cô  chớ nên sống gần gũi nhau, cùng nhau làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp; đừng hỗ tương che giấu tội lỗi cho nhau. Nếu, hai cô không cùng nhau gần gũi, cùng nhau làm xấu, tiếng xấu đồn khắp, thì ở trong Phật pháp có sự tăng  ích, sống an lạc.’ Nhưng họ vẫn cố  chấp  không  chịu cải hối. Nay, Tăng  trao  cho tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di pháp can gián cho bỏ việc này, nói: ‘Đại tỷ, hai cô chớ nên sống gần gũi nhau, cùng nhau  làm hành vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp;  đừng hỗ tương  che  giấu tội lỗi cho nhau. Nếu, hai cô không cùng nhau gần gũi, cùng nhau làm xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  thì  ở  trong Phật  pháp  có sự
tăng  ích, sống an lạc.’ Các đại tỷ nào chấp  thuận Tăng  trao cho tỳ-kheo-ni  Tô-ma  và  Bà-phả-di  pháp  can  ngăn  cho bỏ việc này,  thì  im lặng. Vị nào  không  đồng  ý  xin nói. Đây  là yết-ma lần  thứ nhất.” (lần  thứ hai, lần  thứ ba cũng nói như vậy). 
“Tăng đã chấp  thuận  trao cho tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-

* Trang 810 *
device

di pháp can gián cho bỏ việc này rồi. Tăng chấp nhận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.” 
Tăng  tác pháp can gián bạch tứ yết-ma rồi, các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo, đến bạch lên đức Phật. Đức Phật dạy:
Nếu có Tỳ-kheo-ni  nào như các tỳ-kheo-ni  này  thì Tăng tỳ-kheo-ni cũng sẽ  trao  cho  pháp  ha  trách  can  gián bạch bằng tứ yết-ma  như vậy. “Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, gần gũi sống chung, [724a1] cùng làm hành vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp, lần lượt  che  giấu tội lỗi  cho nhau. Các tỳ-kheo-ni này nên can gián tỳ-kheo-ni kia rằng: ‘Đại tỷ,  các  cô  chớ gần gũi sống  chung,  cùng  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  cùng  nhau  che tội. Nếu  các  cô không gần gũi sống  chung  thì  trong  Phật  pháp  được tăng ích, sống an lạc.’ Khi tỳ-kheo-ni này can gián, tỳ-kheo-ni kia, kiên trì không bỏ. Tỳ-kheo-ni này nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; nếu không bỏ, tỳ-kheo-ni kia phạm ba pháp, tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Gần gũi:  thường  cùng  nhau  vui  đùa,  thường  cùng  nhau  giỡn cợt, thường cùng nhau nói chuyện.
Hành vi xấu: tự mình trồng bông, trồng cây, chỉ bảo người trồng. Tự mình tưới nước, chỉ bảo người tưới. Tự mình hái hoa, chỉ bảo người hái  hoa. Tự mình  làm  tràng hoa, chỉ bảo người  làm. Tự mình dùng chỉ xâu, chỉ bảo người xâu. Tự mình mang đi, chỉ bảo người mang đi. Tự mình cầm  tràng  hoa  đi,  chỉ bảo  người cầm  đi. Tự mình lấy  chỉ xâu cầm  đi,  chỉ bảo  người lấy  chỉ  xâu cầm  đi. Hoặc  ở  trong  thôn cùng người, cùng nam tử đứng ngồi chung chạ, ăn uống chung một đồ đựng, nói cười, vui đùa, tự mình ca múa hát xướng, hoặc người khác  làm mình xướng họa,  hoặc  nói lối,  hoặc  đánh  trống,  thổi  ống

* Trang 811 *
device

tiêu,  làm tiếng kêu của con chim tước, hay các  loài chim, hoặc nhảy, hoặc đi khập khiễng, hoặc  thổi địch, hoặc tự uốn éo thân hình, hoặc thọ nhận sự ngắm nghía giỡn chơi…(1)
Tiếng xấu: tức lời  nói xấu  đồn  khắp bốn  phương,  không  chỗ  nào không nghe.
Tội: che giấu các tội khác, trừ tám pháp ba-la-di.
Nếu tỳ-kheo-ni cùng nhau gần gũi, cùng nhau  làm hành vi xấu, tiếng xấu  đồn  khắp,  cùng  nhau  che tội lỗi. Các tỳ-kheo-ni  khác  nên  can gián tỳ-kheo-ni này: “Các đại tỷ! Các cô chớ nên cùng nhau gần gũi, cùng  nhau  làm  hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, cùng  nhau che tội cho nhau. Nếu, các cô không cùng nhau gần gũi cùng nhau làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, thì ở trong Phật pháp được tăng ích, sống an lạc. 
Các cô nên chấm dứt việc này, đừng để cho Tăng phải quở trách can gián mà phạm tội  trọng.” Nếu họ nghe lời  thì tốt, bằng không nghe lời  thì  nên  tác bạch. Tác bạch rồi nên nói: “Này  cô,  tôi đã  tác bạch rồi, còn các phápyết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở  trách  can  gián mà  phạm  trọng tội.” Nếu  nghe  theo lời  thì tốt, bằng  không  nghe  theo lời  thì  nên  tác  pháp sơ yết-ma. Tác  pháp sơ yết-ma rồi, nên nói lại: “Này cô, tôi đã tác bạch và sơ yết-ma rồi, còn [724b] hai yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách can gián, mà phạm  trọng tội.” Nếu nghe  theo lời  thì tốt, bằng không  nghe  theo  thì  tác yết-ma lần  thứ hai. Tác yết-ma lần  thứ  hai rồi, lại nên nói: “Này cô, tôi đã tác bạch và yết-ma hai lần rồi, còn lại một pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc  này, đừng để Tăng phải quở trách can gián mà phạm trọng tội.”
Nếu họ nghe  theo thời tốt, bằng không nghe  theo, yết-ma lần  thứ ba xong,  phạm tăng-già-bà-thi-sa.  Tác bạch,  hai yết-ma  xong rồi mới bỏ, phạm ba  thâu-lan-giá. Bạch xong, một yết-ma rồi mới bỏ phạm hai  thâu-lan-giá. Bạch  xong rồi bỏ,  phạm một  thâu-lan-giá.  Chưa bạch xong mà bỏ, phạm đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch cùng nhau
_____________________________
(1) Xem Phần I, Ch. ii. Tăng già-bà-thi-sa 12.

* Trang 812 *
device

gần gũi,  cùng  nhau  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn  đãi, tất cả  đều phạm  đột-kiết-la. Tỳ-kheo  tùy  theo  đó mà  phạm. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi mới bắt đầu nói  liền bỏ; hoặc tác pháp ha  trách phi  pháp  biệt  chúng,  phi  pháp  hòa hợp  chúng,  pháp  biệt  chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ pháp hòa hợp chúng, phi pháp, phi  luật, phi Phật dạy bảo mà ha  trách, hoặc hoàn  toàn không ha  trách can gián. Thảy đều không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
XV. TÁN TRỢ ÁC HÀNH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng  cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  hai tỳ-kheo-ni  Tô-ma  và  Bà-phả-di bị Tăng quở  trách  can  giánrồi,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo-ni  Thâu-lan-nan-đà bảo họ rằng: “Hai cô nên cùng sống với  nhau. Tại  sao vậy? Vì  tôi cũng  thấy  các tỳ-kheo-ni  khác  cùng sống với  nhau, gần gũi nhau, cùng  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau. Chúng Tăng vì thù hận nên bảo các cô sống riêng.”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Tăng đã trao cho tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di pháp quởtrách can gián rồi, tại sao các cô bảo họ: ‘Các cô nên cùng ở với nhau. Tại sao vậy? Vì  tôi cũng  thấy các tỳ-kheo-ni khác cùng ở với nhau, gần gũi nhau, cùng  làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau. Chúng Tăng vì  thù hận nên bảo các cô sống riêng.’”
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. 
_____________________
(1) Pāli, biệt giới 10. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 15. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa 18. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 17. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 16.

* Trang 813 *
device

Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách lục quần và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Tăng  đã  vì tỳ-kheo-ni  Tô-ma  và  [724c]  Bà-phả-di  tác  pháp  quở trách  can  gián, tại  sao  các  cô lại bảo họ:  ‘Các  cô  nên  cùng  ở với nhau. Tại sao vậy? Vì  tôi cũng  thấy các tỳ-kheo-ni khác cùng ở với nhau, gần gũi nhau, cùng  làm hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau. Chúng Tăng vì thù hận nên bảo các cô sống riêng.’?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rồi bảo các tỳ-kheo: 
Cho phép Tăng tỳ-kheo-ni trao cho nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà pháp quở trách bằng bạch tứ yết-ma. Nên can gián như vầy: Trong ni chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
“Đại tỷ Tăng  xin lắng  nghe!  Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  và tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  này, Tăng  đã  trao  cho tỳ-kheo-ni Tô-ma và Bà-phả-di pháp can gián quở  trách mà họ lại bảo rằng:  ‘Các  cô nên  cùng sống với nhau. Tại  sao vậy? Vì  tôi cũng  thấy các tỳ-kheo-ni khác cùng sống với nhau, gần gũi nhau, cùng làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau. Chúng Tăng  vì  thù hận  nên bảo  các  cô sống  riêng.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trao cho nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà pháp quở  trách, cho bỏ việc này, nói:  ‘Các cô đừng nói như vầy: ‘Các cô đừng sống riêng, nên sống chung.’ Cũng đừng nói: ‘Tôi cũng  thấy các tỳ-kheo-ni khác cùng sống với nhau, gần gũi nhau, cùng làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, che tội cho  nhau.  Chúng Tăng  vì  thù hận  nên bảo  các  cô sống riêng.’’ Nhưng chỉ có hai tỳ-kheo-ni này cùng nhau gần gũi, làm hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau chứ không có cô nào nữa. Nếu, tỳ-kheo-ni không gần gũi nhau, cùng  làm hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp  thì ở  trong Phật pháp mới có tăng ích, sống an lạc. Đây là lời tác bạch. 
“Đại tỷ Tăng  xin lắng  nghe!  Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  và tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  này, Tăng  đã  trao  cho tỳ-kheo-ni

* Trang 814 *
device

Tô-ma  và Bà-phả-di  phép  can  gián, mà họ lại bảo:  ‘Các  cô nên cùng sống với nhau. Tại sao vậy? Vì tôi cũng thấy các tỳ-kheo-ni  khác  cùng sống với nhau, gần gũi nhau,  cùng  làm hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  che tội  cho nhau. Chúng Tăng vì  thù hận nên bảo các cô sống riêng.’ Nay Tăng  trao cho nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà pháp quở  trách cho bỏ việc này, bảo:  ‘Các cô đừng nói như vầy: ‘Các cô đừng sống riêng, nên sống chung.’ Cũng đừng nói: ‘Tôi cũng  thấy các tỳ-kheo-ni khác cùng sống với nhau, gần gũi nhau, cùng làm hành vi xấu, [725a1] tiếng xấu đồn khắp, che tội  cho  nhau.  Chúng Tăng  vì  thù hận  nên bảo  các  cô sống riêng.’ Nhưng chỉ có hai tỳ-kheo-ni này cùng nhau gần gũi,  làm hành vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau chứ  không  có  cô  nào nữa. Nếu tỳ-kheo-ni  không gần gũi nhau,  cùng  làm hạnh  ác,  tiếng xấu  đồn  khắp,  thì  ở  trong Phật pháp có Tăng ích, sống an lạc.’ 
“Các đại tỷ nào chấp  thuận Tăng vì nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà  tác pháp quở  trách can gián cho bỏ việc này  thì  im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. Đây  là yết-ma lần  đầu.”  (yết-ma lần  thứ  hai, lần  thứ  ba cũng  nói như vậy). 
“Tăng đã chấp  thuận quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  khiến  cho bỏ  việc  này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.” 
Tăng  đã  vì  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  và tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  tác pháp can gián quở  trách bằng pháp bạch tứ yết-ma rồi, các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy:
“Nếu có tỳ-kheo-ni nào như vậy, Tăng cũng sẽ tác pháp ha trách cho bỏ việc ấy bằng bạch tứ yết-ma như vậy. 
“Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  khi Tăng tỳ-kheo-ni  vì họ  tác  pháp  quở trách,  mà tỳ-kheo-ni  khác dạy họ  như vầy:  ‘Các  cô  đừng sống  riêng, nên sống chung với nhau. Tôi cũng  thấy có các tỳ-

* Trang 815 *
device

kheo-ni khác không sống riêng; cùng sống với nhau, cùng làm  các  hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  che  giấu tội  cho nhau. Tăng vì không bằng  lòng các cô nên bảo các cô sống riêng.’ Các tỳ-kheo-ni nên can gián tỳ-kheo-ni kia rằng: ‘Đại tỷ, cô đừng bảo các tỳ-kheo-ni khác rằng:  
‘Các  cô  đừng sống  riêng.  Tôi cũng  thấy  có  các tỳ-kheo-ni sống với nhau làm các hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, che giấu tội cho nhau. Tăng vì không bằng  lòng các cô nên bảo các cô sống riêng.’ Nay chỉ có hai tỳ-kheo-ni này, cùng sống với nhau, cùng làm các hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, che giấu tội  cho  nhau,  chớ không  có  cô  nào nữa. Nếu  các tỳ-kheo-ni này sống  riêng  thì ở  trong Phật pháp mới tăng  ích, sống an lạc.’ Khi các tỳ-kheo-ni này can gián tỳ-kheo-ni kia, kiên  trì  không bỏ,  thì  các tỳ-kheo-ni  nên  ba lần  can  gián, khiến cho bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, bỏ  thì tốt; không bỏ, tỳ-kheo-ni này  phạm  ba  pháp, tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tăng: cũng như trước.
Khi Tỳ-kheo-ni  nào bị Tăng  tác pháp  ha  trách, các tỳ-kheo-ni khác bảo:  [725b] “Các cô đừng ở  riêng, nên ở chung. Tôi cũng  thấy các tỳ-kheo-ni cùng nhau gần gũi, cùng nhau  làm hành vi xấu, tiếng xấu đồn khắp, che tội cho nhau. Tăng vì không bằng lòng các cô nên bảo các cô ở riêng.” Tỳ-kheo-ni này nên can gián tỳ-kheo-ni kia: “Đại tỷ! Cô đừng bảo các tỳ-kheo-ni rằng: ‘Các cô đừng ở riêng nên ở chung. Tôi cũng  thấy  các tỳ-kheo-ni cùng  nhau gần gũi, cùng  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu đồn khắp che tội cho nhau. Tăng vì không bằng  lòng các cô nên bảo các cô ở  riêng.’ Nay, chỉ  có hai tỳ-kheo-ni  này  chớ không có cô nào nữa. Các cô cùng nhau gần gũi, cùng  làm  hành vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  che tội  cho  nhau. Nếu tỳ-kheo-ni  này  ở riêng thì có tăng ích, sống an lạc trong Phật pháp. Nay, các cô nên bỏ việc này, đừng để tăng phải quở trách mà phạm trọng tội.”
 

* Trang 816 *
device

Nếu  nghe  theo  thì tốt, bằng  không  nên  tác bạch. Tác bạch rồi  nên nói: “Đại tỷ,  tôi đã  tác bạch rồi. Còn có các yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này.”
Nếu nghe lời  thì tốt; bằng không, nên  tác pháp yết-ma lần  thứ nhất. Tác  pháp yết-ma lần  thứ  nhất rồi,  nên  nói:  “Tôi  đã  tác bạch  và  tác pháp yết-ma lần  thứ  nhất rồi,  còn  hai  pháp yết-ma nữa. Cô  nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách, lại phạm trọng tội.”
Nếu nghe  theo lời  thì tốt; bằng không,  tác pháp yết-ma lần  thứ hai. Tác pháp yết-ma lần  thứ hai xong, nên nói: “Này cô, tôi đã tác bạch yết-ma lần thứ hai rồi, chỉ còn một pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để cho Tăng quở trách mà phạm trọng tội.”
Nếu  nghe  theo lời  thì tốt; bằng  không,  tác bạch yết-ma lần  thứ  ba xong, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tác yết-ma lần  thứ hai  xong mà bỏ, phạm  ba  thâu-lan-giá. Yết-ma lần  thứ  nhất  xong mà bỏ  phạm  hai thâu-lan-giá.  Tác bạch  xong  mà bỏ,  phạm một  thâu-lan-giá. Bạch chưa xong mà bỏ, phạm đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, dạy rằng:
“Các cô đừng ở riêng. Tôi cũng  thấy tỳ-kheo-ni khác cùng ở chung, cùng  làm  hành  vi xấu,  tiếng xấu  đồn  khắp,  cùng  che tội  cho  nhau. Tăng vì không bằng  lòng các cô nên bảo các cô ở riêng.” Tất cả đều phạm đột-kiết-la. 
Nếu có Tỳ-kheo-ni nào như vậy, khi Tăng trao pháp can gián. Có tỳ-kheo bảo: “Đừng bỏ!” Đã quở  trách, phạm  thâu-lan-giá; không quở trách,  phạm  đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni bảo: “Đừng bỏ!”  Khi  quở trách, phạm thâu-lan-giá; chưa quở trách, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  [725c]  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  khi mới  nói  liền bỏ;  hoặc  tác  pháp  quở  trách  phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ pháp hòa hợp chúng, phi pháp phi  luật, phi Phật dạy bảo mà  quở  trách; tất cả  không  thành  quở  trách.  Thảy  đều  không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 

* Trang 817 *
device

XVI. DỌA BỎ ĐẠO (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng  cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni, chỉ vì một việc nhỏ mà giận hờn, bất mãn, liền nói như vầy: “Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không  phải  chỉ  có  sa-môn  Thích tử mà  còn  có  sa-môn  bà-la-môn khác tu phạm hạnh. Chúng tôi cũng có thể đến đó tu phạm hạnh.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:  “Tại  sao  các  cô  chỉ  vì một  việc  nhỏ,  giận hờn bất mãn mà  nói: ‘Tôi bỏ  Phật, bỏ  Pháp, bỏ Tăng. Không  phải  chỉ  riêng  có  Sa-môn Thích tử,  mà  còn  có  các  sa-môn  bà-la-môn  khác  tu  phạm hạnh. Chúng tôi cũng có thể đến đó tu phạm hạnh.’?”
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Tại sao các cô chỉ vì một việc nhỏ, giận hờn bất mãn, nói:  ‘Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không phải chỉ  riêng có  sa-môn Thích tử, mà còn có các sa-môn bà-la-môn khác tu phạm hạnh. Chúng tôi cũng có thể đến đó tu phạm hạnh.’?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi, bảo các tỳ-kheo: Cho phép Tăng  trao cho nhóm  sáu tỳ-kheo-ni pháp ha  trách cho bỏ việc này, bằng bạch tứ yết-ma. Nên quở trách như vầy: Trong chúng nên  sai một vị  có  khả năng  tác  pháp yết-ma,  theo sự  việc  trên  tác bạch:
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này, chỉ vì một  việc  nhỏ,  giận hờn bất  [726a1] mãn,  bèn  nói:  ‘Tôi bỏ Phật, bỏ  Pháp, bỏ Tăng.  Không  phải  chỉ  riêng  có  Sa-môn Thích tử, mà  còn  có  các  sa-môn  bà-la-môn  khác  tu  phạm hạnh. Chúng tôi cũng có thể đến đó tu phạm hạnh.’ Nếu thời
_________________
(1) Pāli, biệt giới 7. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 17. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa 19. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 14. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 13. 

* Trang 818 *
device

gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  pháp  quở  trách, bỏ  việc  này,  nên nói: ‘Này cô! Chớ nên vì một việc nhỏ giận hờn bất mãn mà nói  ‘Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không  phải  chỉ  có  sa-môn  Thích tử, mà  còn  có  sa-môn  bà-la-môn  khác cũng  tu phạm hạnh. Chúng tôi có thể đến đó tu phạm hạnh.’’ Đây là lời tác bạch.
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này chỉ vì một  việc nhỏ,  giận hờn bất mãn,  bèn nói:  ‘Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không phải chỉ riêng có sa-môn Thích tử, mà còn  có  các  sa-môn của  bà-la-môn  khác  tu  phạm hạnh. Chúng tôi cũng có thể đến đó tu phạm hạnh.’ Nay Tăng trao cho nhóm  sáu tỳ-kheo-ni này pháp ha  trách cho bỏ việc ấy. Nói rằng, ‘Đại tỷ, chớ nên vì một việc nhỏ, giận hờn bất mãn mà  nói:  ‘Tôi bỏ  Phật, bỏ  Pháp, bỏ Tăng.  Không  phải  chỉ riêng có Sa-môn Thích tử, mà còn có các sa-môn bà-la-môn khác  tu phạm hạnh. Chúng  tôi cũng có  thể đến đó  tu phạm hạnh.’’ Các  đại tỷ nào  chấp  thuận Tăng  tác  pháp ha  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni,  cho bỏ  việc  này,  thì  im lặng. Vị  nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần  thứ nhất.” (lần  thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy). 
“Tăng đã chấp  thuận  trao cho nhóm sáu tỳ-kheo-ni pháp ha trách,  cho bỏ  việc  này rồi. Tăng  chấp  thuận  nên  im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.” 
Tăng tác pháp ha trách đối với nhóm sáu tỳ-kheo-ni cho bỏ việc này, bằng bạch tứ yết-ma như vậy rồi, bạch lại các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Nếu  có Tỳ-kheo-ni  nào  như vậy, Tăng cũng sẽ  trao  cho  pháp  ha trách bằng bạch tứ yết-ma như vậy. 
“Từ  nay  trở đi, Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, chỉ vì một việc nhỏ, giận hờn bất mãn, bèn nói: ‘Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không phải chỉ riêng có

* Trang 819 *
device

sa-môn Thích tử mà thôi, còn có các sa-môn bà-la-môn khác tu phạm hạnh. Chúng tôi cũng có thể đến đó tu phạm hạnh.’ Các tỳ-kheo-ni  nên  can  gián tỳ-kheo-ni  kia rằng: ‘Đại tỷ, đừng chỉ vì một việc nhỏ, giận hờn bất mãn, bèn vội nói: ‘Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không phải chỉ riêng có sa-môn Thích tử  mà  thôi,  còn  có  các  sa-môn  bà-la-môn  khác  tu phạm hạnh. Chúng  tôi cũng có  thể đến đó  tu phạm hạnh.’’ Các tỳ-kheo-ni khi can gián mà tỳ-kheo-ni kia kiên trì không bỏ; các tỳ-kheo-ni nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián,[726b] bỏ thì tốt. Nếu không bỏ, tỳ-kheo-ni phạm ba pháp tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nếu tỳ-kheo-ni chỉ  vì một việc  nhỏ, giận hờn bất mãn bèn vội  nói: ‘Tôi bỏ  Phật, bỏ  Pháp, bỏ Tăng. Không  phải  chỉ  riêng  có  sa-môn Thích tử mà  thôi, còn có các sa-môn bà-la-môn khác  tu phạm hạnh. Chúng  tôi cũng  có  thể  đến  đó  tu  phạm hạnh.’ Tỳ-kheo-ni  này  can gián tỳ-kheo-ni kia: “Đại tỷ! Cô đừng vì một việc nhỏ giận hờn bất mãn, vội nói:  ‘Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không phải chỉ riêng có sa-môn Thích tử mà thôi, còn có các sa-môn bà-la-môn khác cũng tu phạm hạnh, chúng tôi có thể đến đó tu phạm hạnh.’ Cô nên bỏ việc này đừng để Tăng quở trách mà phạm trọng tội.”
Nếu  nghe lời  thì tốt. Bằng  không,  nên  tác bạch. Tác bạch rồi,  nên nói: “Tôi đã bạch rồi, còn các pháp yết-ma nữa, cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách, mà phạm trọng tội.”
Nếu nghe theo thì tốt; bằng không, nên tác pháp yết-ma thứ nhất. Tác pháp yết-ma lần thứ nhất rồi, nên nói: “Tôi đã tác bạch và tác yết-ma lần thứ nhất rồi, còn hai pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách mà phạm trọng tội.”
Nếu nghe lời thì tốt; bằng không, nên tác yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần  thứ  hai rồi, cũng  nên  nói:  “Tôi  đã  tác bạch  và  tác  hai  pháp yết-ma rồi, còn một pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách, lại phạm trọng tội.”

* Trang 820 *
device

Nếu nghe lời  thì tốt; bằng không,  tác yết-ma lần  thứ ba xong, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tác pháp yết-ma lần thứ hai xong mà bỏ, phạm ba thâu-lan-giá. Tác yết-ma lần  thứ  nhất  xong mà bỏ,  phạm  hai  thâu-lan-giá.  Tác bạch  xong mà bỏ,  phạm một  thâu-lan-giá. Bạch  chưa xong mà bỏ, phạm đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, vì một việc nhỏ giận hờn, không  vui,  bèn vội  nói:  “Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng. Không phải chỉ riêng có sa-môn Thích tử mà thôi, còn có các sa-môn của bà-la-môn khác  tu phạm hạnh. Chúng  tôi cũng có  thể đến đó  tu phạm hạnh;” tất cả đều phạm đột-kiết-la. 
Nếu tỳ-kheo-ni nào như vậy, khi Tăng  tác pháp ha  trách; có tỳ-kheo bảo: “Đừng bỏ!” Nếu Tăng đã tác pháp ha trách thì tỳ-kheo ấy phạm thâu-lan-giá,  chưa  ha  trách  phạm  đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni bảo:
“Đừng phạm!” [726c]  trước khi Tăng đã  tác pháp ha  trách, tỳ-kheo-ni  ấy  phạm  thâulan-giá,  chưa  ha  trách,  phạm  đột-kiết-la.  Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni dạy  người  khác bảo: “Đừng bỏ!” Tất cả  đều  đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi mới nói  liền bỏ. Hoặc phi pháp biệt chúng quở trách, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ  pháp  hòa hợp  chúng  quở  trách.  Phi  luật,  phi  Phật dạy bảo  quở trách.  Hoặc  hoàn  toàn  không  tác  pháp  ha  trách.  Thảy  đều  không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
XVII. VU TĂNG THIÊN VỊ (1)
a. Duyên khởi                     
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại Câu-thiệm-di. Bấy giờ,
_____________________
(1) Pāli, biệt giới 8. Ngũ phần: tăng-già-bà-thi-sa 16. Tăng kỳ: tăng-già-bà-thi-sa 15. Thập tụng: tăng-già-bà-thi-sa 15. Căn bản: tăng-già-bà-thi-sa 14.

* Trang 821 *
device

có tỳ-kheo-ni  tên Hắc (1) ,  ưa gây gổ. Vì không khéo ghi nhớ  tránh sự (2) ,  sau đó bèn giận hờn nói: “Tăng có thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách tỳ-kheo-ni Hắc: “Tại sao cô ưa gây gổ; khi không khéo ghi nhớ tránh sự, bèn giận hờn nói: ‘Tăng có thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách tỳ-kheo-ni Hắc:  “Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Tại  sao cô ưa gây gổ; khi không khéo ghi nhớ tránh sự, bèn giận hờn nói: ‘Tăng có thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’?”
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, bảo các tỳ-kheo: “Từ nay  trở đi, cho phép Tăng vì tỳ-kheo-ni Hắc  tác pháp ha trách  cho bỏ  việc  này, bằng bạch tứ yết-ma. Theo sự  việc  trên  tác bạch như vầy:
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Hắc này ưa gây gổ, không  khéo  ghi  nhớ  tránh sự,  sau  đó  bèn  giận hờn  nói: ‘Tăng có  thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận nay Tăng trao  cho tỳ-kheo-ni  (Hắc)…  pháp ha  trách  cho bỏ  việc này. Nói rằng, ‘Đại tỷ! Cô đừng ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ tránh sự, sau đó bèn giận hờn nói: ‘Tăng có thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’  [727a1] Chính nơi cô có  thiên
__________________________
(1)Hắc 黑, Pāli: Caṇḍakāḷī. Ngũ phần: mẹ của Xiển-đà, có biệt danh là Chiên-trà Tu-ma-na 旃荼修摩那. Thập tụng: tỳ-kheo-ni Ca-la 迦羅比丘尼. Căn bản:  Thổ-la-nan-đà 吐羅難陀.
(2)Bất  thiện  ức  trì  tránh sự.  Nghĩa  là, bị  đuối  lý, mỗi  khi  có sự  gây gổ. Pāli: adhikaraṇe  paccākatā, bị cự  tuyệt  trong  khi  có  tránh sự. Giải  thích:  paccākatā nāma parājitā vuccati, bị cự tuyệt, nghĩa là bị thua. 

* Trang 822 *
device

vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’ Đây là lời tác bạch: “Đại tỷ Tăng  nghe  cho! Tỳ-kheo-ni Hắc  này  ưa  gây gổ, không  khéo  ghi  nhớ  tránh sự,  sau  đó  bèn  giận hờn  nói: ‘Tăng có  thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’ Nay Tăng  trao cho tỳ-kheo-ni  (Hắc)… pháp ha  trách cho bỏ việc này. ‘Này cô! Cô đừng ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ tránh sự, sau đó bèn giận hờn nói: ‘Tăng có  thiên vị, có giận hờn, có sợ  hãi,  có bất minh.’  Chính nơi  cô  có  thiên vị,  có  giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’ Các đại tỷ nào chấp nhận Tăng trao  cho tỳ-kheo-ni  pháp  quở  trách  cho bỏ  việc  này  thì  im lặng. Vị  nào  không  đồng  ý  xin  nói. Đây  là yết-ma lần  thứ nhất.” (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
“Tăng đã đồng ý trao cho tỳ-kheo-ni Hắc pháp quở trách cho bỏ  việc này rồi. Tăng  đồng  ý nên  im lặng. Việc này  tôi  ghi nhận như vậy.”
Tăng trao cho tỳ-kheo-ni Hắc pháp quở trách, bằng pháp bạch tứ yết-ma rồi, bạch với các tỳ-kheo, các tỳ-kheo vì nhân duyên này bạch lên đức Phật, đức Phật dạy: “Nếu có Tỳ-kheo-ni nào như  thế này, Tăng tỳ-kheo ni cũng sẽ trao cho pháp bạch tứ yết-ma ha trách như vậy.
 “Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”
Muốn nói giới nên nói như sau:
Tỳ-kheo-ni nào, ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ tránh sự, sau đó  bèn  giận hờn nói:  ‘Tăng  có  thiên vị,  có  giận hờn,  có sợ hãi,  có bất minh.’  Các tỳ-kheo-ni  nên  can  gián tỳ-kheo-ni kia: ‘Này cô! Cô đừng ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ tránh sự, sau đó bèn giận hờn nói: ‘Tăng có  thiên vị, có giận hờn, có sợ  hãi,  có bất minh.’  Chính nơi  cô  có  thiên vị,  có  giận hờn, có sợ hãi, có bất minh.’  
Khi các tỳ-kheo-ni can gián mà tỳ-kheo-ni kia kiên trì không bỏ, các tỳ-kheo-ni nên ba lần can gián, bỏ thì tốt. Nếu không bỏ, tỳ-kheo-ni  ấy  phạm  ba  pháp, tăng-già-bà-thi-sa, cần xả trí.

* Trang 823 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Gây gổ:(1) có bốn  loại:  ngôn  tránh,  mích  tránh,  phạm  tránh,  và sự tránh.
Tăng: đồng nhất yết-ma, đồng nhất thuyết giới.
Tỳ-kheo-ni ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ, gây gổ xong lại giận hờn nói: Tăng có ái, có nhuế, có bố, có si. Các tỳ-kheo-ni nên can gián tỳ-kheo-ni  kia:
“Đại tỷ!  Cô  chớ  nên  ưa  gây gổ,  không  khéo  ghi  nhớ tránh sự,  sau đó bèn giận hờn, nói  ‘Tăng có  thiên vị,  [727b] có  thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh.’ Mà sự thật, Tăng không có thiên vị, không có  thù nghịch, không có sợ hãi, không có bất minh. Này cô, nên bỏ việc này, đừng để tăng phải quở trách mà phạm trọng tội.”
Cô ấy nghe  theo  thì tốt. Bằng không, nên  tác bạch. Tác bạch  xong, nên nói: “Tôi đã tác bạch xong, còn các pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách, mà phạm trọng tội.”
Cô  ấy  nghe  theo  thì tốt. Bằng  không,  nên  tác  pháp yết-ma lần  thứ nhất. Yết-ma lần  thứ nhất xong, nên nói: “Tôi đã  tác yết-ma lần  thứ nhất rồi, còn hai pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để tăng phải quở trách, mà phạm trọng tội.”
Nếu cô ấy nghe theo thì tốt. Bằng không, nên tác yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai xong, cũng phải nói: “Tôi đã tác pháp yết-ma lần  thứ  hai rồi,  còn lại một  pháp yết-ma nữa. Cô  nên bỏ  việc  này, đừng để Tăng phải quở trách, mà phạm trọng tội.”
Cô  ấy  nghe  theo  thì tốt. Bằng  không,  tác yết-ma lần  thứ  ba  xong, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Yết-ma lần  thứ  hai  xong mà bỏ,  phạm  ba thâu-lan-giá. Yết-ma lần thứ nhất xong mà bỏ, phạm hai thâu-lan-giá. Bạch  xong mà bỏ,  phạm một  thâu-lan-giá. Bạch  chưa  xong mà bỏ, phạm  đột-kiết-la. Trước  khi  chưa bạch, ưa  gây gổ,  không  khéo  ghi
___________________________
(1) Hán: đấu tránh 鬥諍. Pāli: adhikaraṇa, tránh sự, có 4.

* Trang 824 *
device

nhớ tránh sự, sau đó lại giận hờn, nói: ‘Tăng có ái, có nhuế, có bố, có si,’ tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Nếu tỳ-kheo-ni ưa đấu tranh, khi Tăng trao cho pháp yết-ma ha trách, tỳ-kheo bảo: “Đừng bỏ!” Nếu Tăng đã  tác pháp quở  trách,  (tỳ-kheo ấy)  phạm  thâu-lan-giá;  chưa  quở  trách,  phạm  đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni bảo: “Đừng bỏ!” Tăng  ha  trách rồi,  (tỳ-kheo-ni  ấy)  phạm thâu-lan-giá; không ha trách, phạm đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, dạy người khác bảo: “Đừng bỏ!” Tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi mới  nói  liền bỏ. Hoặc quở  trách phi pháp  biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, phi  pháp  hòa hợp  chúng,  pháp  biệt  chúng, tợ  pháp  biệt  chúng, tợ pháp hòa hiệp chúng, phi pháp, phi  luật, phi Phật dạy bảo. Hoặc tất cả không tác pháp quở trách thì không phạm.
Người  không  phạm:  người  phạm lần  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 825 *
device

* Trang 826 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)