LOGO VNBET
CHƯƠNG II
TĂNG TÀN

 
I. CỐ Ý TIẾT TINH (1)
A. DUYÊN KHỞI
1. Kết gới lần thứ nhất
Một  thời, đức Thế Tôn du hóa nơi  thành Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di (2) vì bị ám ảnh dục bừng bừng, (3) nên nhan sắc tiều tụy, thân thể yếu mòn. Trong thời gian khác, Ca-lưu-đà-di sống một mình  trong một phòng,  trang bị võng tốt, giường gỗ, nệm lớn, nệm nhỏ, chăn gối, dưới đất lại  trải phu cụ tốt, ngoài cửa để đồ đựng nước nóng rửa chân; ăn uống đầy đủ sung  túc; do vậy ám ảnh dục càng bừng bừng. Mỗi  khi dục  tâm  khởi  lên,  ông  bèn vọc  cho  xuất bất tịnh. Nhờ vậy, các căn tươi vui, nhan sắc sáng sủa. Các tỳ-kheo thân hữu thấy vậy hỏi:
“Trước đây nhan sắc của  thầy  tiều tụy,  thân hình gầy ốm, mà nay thì nhan sắc tươi vui sáng sủa. Ấy  là do đi đứng  thoải mái chăng? Không khốn khổ vì ăn uống phải không? Vì sao được như vậy?”
Ca-lưu-đà-di trả lời:
“Tôi đi đứng thoải mái, không khổ vì chuyện ăn uống.”
Các tỳ-kheo lại hỏi:  “Nhờ  phương  tiện  gì mà  đi  đứng  thoải mái, không khổ vì chuyện ăn uống?”
____________________
(1) Ngũ phần 2,  tr. 10b2; Tăng-kỳ 5,  tr. 262a20; Thập tụng 3,  tr. 13c27; Căn bản 11, tr. 680b25. Vin. iii. tr. 110.
(2) Ca-lưu-đà  di; Ngũ  phần 2:  trưởng  lão Ưu-đà-di 長老優陀夷; Tăng-kỳ 5: Tỳ-kheo  Thi-lị-da-bà 時有比丘名尸利耶婆. Pāli: Udāyin  hành  thủ  dâm, rồi bảo Seyyasaka  làm  theo. Sớ  giải  nói  Udāyin  này  là Lāḷudāyi,  Hoà  thượng của Seyyasaka. 
(3) Hán: dục ý xí thạnh 欲意熾盛. 

* Trang 73 *
device

Ca-lưu-đà-di đáp:
“Này Đại đức, trước đây tôi vì bị ám ảnh dục bừng bừng, nên nhan sắc  tiều tụy,  thân  thể yếu mòn.  Sau  đó,  tôi sống một mình  trong một phòng,  trang bị võng tốt, giường gỗ, nệm lớn, nệm nhỏ, chăn gối, dưới đất lại  trải phu cụ tốt, ngoài cửa để đồ đựng nước nóng rửa chân; ăn uống đầy đủ sung  túc. Mỗi khi dục  tâm khởi  lên,  tôi bèn vọc  cho  nó  xuất bất tịnh. Nhờ vậy mà  tôi  đi  đứng  thoải mái, các căn tươi vui, nhan sắc sáng sủa.” 
Các tỳ-kheo nói:
“Việc  thầy  làm  thì rất khổ, tại sao nói an lạc? Việc  làm không an mà lại nói an sao? Trong chánh pháp này nói về dục cốt để trừ dục, nói về mạn cốt để trừ mạn; diệt trừ khát ái, đoạn các kết sử, do diệt tận ái mà Niết-bàn. Tại sao thầy bị dục ám ảnh bừng bừng; mỗi khi dục tâm khởi lên, lại vọc cho xuất bất tịnh?”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đi đến chỗ đức Thế Tôn, [579b] đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo.
Ngài biết mà vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Có  phải  ngươi  do  ám  ảnh dục bừng bừng; rồi mỗi  khi dục  tâm khởi lên, bèn vọc cho xuất bất tịnh chăng?”
Ca-lưu-đà-di thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, thật vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:
“Việc ngươi  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  là  việc  không  nên  làm. Tại  sao nay  ngươi  đã  xuất  gia  trong  pháp  thanh tịnh của  Ta mà  làm  cái hạnh  ô uế, vọc  âm  cho  xuất  tinh? Ngươi, kẻ  ngu  si  này,  nay  đưa cánh tay ra để nhận thức ăn của tín thí, rồi lại bằng cánh tay đó mà vọc âm cho xuất tinh!”
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách, rồi bảo  các tỳ-kheo:

* Trang 74 *
device

“Kẻ ngu si này,  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại  lâu dài. Người muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
“Tỳ-kheo nào, cố ý vọc âm cho xuất  tinh, tăng-già bà-thi-sa.”
2. Kết giới lần thứ hai
Sau khi Thế Tôn kết giới như vậy cho các tỳ-kheo, bấy giờ có một tỳ-kheo khi ngủ ý  loạn, bị mộng tinh có ức niệm, khi tỉnh dậy, suy nghĩ: 
“Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới: ‘Vọc âm xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.’ Ta khi  ngủ  loạn  ý, bị mộng  tinh có ức niệm, há không phạm tăng-già-bà-thi-sa ư? Nay ta nên như thế nào?” Vị ấy liền đến tỳ-kheo đồng tâm ý kể lại đầy đủ: “Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới: ‘Vọc âm xuất  tinh, tăng-già-bà-thi-sa.’ Tôi khi ngủ  loạn ý, bị mộng  tinh mà còn nhớ, há không phạm tăng-già-bà-  thi-sa ư? Nay tôi nên như  thế nào? Đại đức vì  tôi đem nhân duyên này bạch với đức Phật. Nếu đức Phật dạy bảo thế nào, tôi sẽ phụng hành thế ấy.”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này liền tập hợp các tỳ-kheo bảo rằng:
“Khi ngủ mà ý  loạn có năm điều tai hại: 1. Ác mộng. 2. Chư thiên không hộ vệ.  3.  Tâm  không  nhập  pháp.(1) 4.  Không tư  duy  minh tướng.(2) 5. Trong mộng  xuất  tinh. Đó  là năm điều  tai hại. Khi  ngủ với ý  lành có năm công đức: 1. Không thấy ác mộng. 2. Chư thiên vệ hộ. 3. Tâm vào nơi pháp. 4. Cột ý nơi minh tướng. 5. Không bị
 ______________________                                       
(1) Ngũ phần 2. tr.10b22: không có tâm giác pháp 無覺法心.
(2) Minh tướng 明相; Ngũ phần: minh tưởng 明想. Đây chỉ tướng ánh sáng (quang minh tưởng).

* Trang 75 *
device

xuất  tinh  trong mộng.  Đó  là năm  điều  công  đức.  [579c]Trong mộng xuất tinh không phạm.” 
Từ nay về sau giới này sẽ được thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Nếu Tỳ-kheo nào, cố ý vọc âm cho xuất tinh, trừ chiêm bao, tăng-già-bà-thi-sa. 
C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Vọc: (1) thật cố tâm  làm cho xuất tinh. Tinh có bảy  loại: (2) xanh, vàng, đỏ,  trắng,  đen, màu sữa, (3) màu sữa tương. (4) Tinh màu  xanh  là  tinh của Chuyển  luân  thánh vương. Tinh màu vàng  là  tinh của Thái tử Chuyển  luân thánh vương. Tinh màu đỏ là tinh phạm nhiều đến nữ sắc. Tinh màu  trắng  là  tinh của  người  vác nặng. Tinh màu đen  là tinh của đệ nhất Đại thần Chuyển  luân thánh vương. Tinh màu sữa là gì? Là  tinh của Tu-đà-hoàn. Tinh màu sữa tương  là gì? Là  tinh của Tư-đà-hàm.
Lúc bấy giờ, có một bà-la-môn ở chỗ nhàn tịnh  trì tụng chú  thuật. Kinh của  ông  nói,  “Nếu  ai cố  ý  làm  xuất  tinh  thì mạng  chung sẽ sinh  thiên.” Người  kia muốn cầu  thiên  đạo,  thường vọc  âm  xuất tinh. Khi người bà-la-môn xuất gia hành đạo, nghe theo lời nói này, vì muốn sinh  thiên, nên vọc âm xuất tinh. Vị kia nghi, nói với các
_________________________                                        
(1) Hán: lộng 弄. Tứ phần: cố lộng âm xuất  tinh 故弄陰出精. Ngũ phần: cố xuất bất tịnh 故出不淨; Tăng kỳ, Thập tụng: cố xuất  tinh 故出精. Pāli: sañcetanikā sukkavisaṭṭhi, cố ý làm xuất tinh.
(2) Ngũ  phần:  10  loại.  Thập tụng:  5  loại. Pāli,  10  loại:  nīlaṃ pītakaṃ  lohitaaṃ oḍātaṃ  takkavaṇṇaṃ  dakavaṇṇaṃ  telavaṇṇaṃ  khīravaṇṇaṃ  dadhivaṇṇaṃ sappivaṇṇaṃ; không giải thích chi tiết.
(3) Lạc sắc 酪色, tức Pāli dadhivaṇṇamṃ, màu sữa đặc.
(4) Lạc tương sắc 酪漿色, tức Pāli sappivaṇṇaṃṃ, màu thục tô hay đề hồ, màu bơ trong.

* Trang 76 *
device

tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch  lên đức Phật. Phật nói, phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu vì khoái lạc, vì làm thuốc, vì tự thí nghiệm sự xuất tinh, vì cầu phước, vì tế trời, vì sinh thiên, vì để cho, vì nối giòng, vì tự phóng túng (lung  tánh), vì tự thử sức, vì nhan sắc đẹp, vì những việc như vậy mà lộng xuất tinh, (1) tất cả đều phạm tăng-già-bà-thi-sa. 
Nếu bằng ức  niệm mà vọc  cho  xuất  tinh, tăng-già-bà-thi-sa.(2) Nếu bằng  ức  niệm mà vọc, muốn  cho  xuất  tinh màu  xanh;  tinh  xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất  tinh màu  xanh  nhưng  tinh  xuất màu  vàng,  đỏ,  trắng,  đen, sữa, tương sữa, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu muốn  xuất  tinh màu  vàng lại  ra  tinh màu  đỏ,  trắng,  đen, sữa, sữa tương, màu  xanh, tăng-già-bà-thi-sa. Màu đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương cũng như vậy. 
Vì mục  đích  khoái lạc, bằng  ức  niệm mà vọc  cho  xuất bất tịnh,(3) tăng-già-bà-thi-sa. Vì mục  đích  khoái lạc, bằng  ức  niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Vì mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh lại thất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa và sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. Vì mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương và xanh cũng lại như vậy. 
Vì muốn  làm  thuốc, vì tự mình  thử, vì cầu phước, vì tế tự, vì sinh thiên,  [580a1] vì để cho, vì để lấy giống, vì phóng  túng, vì tự  thử sức, vì nhan sắc tươi vui, cũng như vậy. 
Hoặc đối với nội sắc, ngoại sắc, nội ngoại sắc, nước, gió, không.
__________________                                        
(1) Ngũ phần: 10 mục đích cố ý xuất tinh, đại để như Tứ phần. Căn bản Tì-nại-da, có 5 mục đích.
(2) Tăng kỳ 5: Mắt thấy, v.v…, sanh ý tưởng dâm dục; sau đó, bằng sự hồi tưởng (ức niệm), dục tâm phát sanh. Thập tụng 3: ba yếu tố thành phạm: phát tâm, thân động, xuất tinh.
(3) Hán:  thất bất tịnh 失不淨, “làm  thất  thoát cái bất tịnh,” tức xuất bất tịnh hay xuất tinh. Các bản: thất 失; bản Thánh: xuất 出.

* Trang 77 *
device

- Nội sắc: là sắc có chấp thọ. (1)
- Ngoại sắc: là sắc không chấp thọ. (2)
- Nội ngoại sắc: là sắc có chấp thọ và không chấp thọ. (3)
- Nước:  thuận giòng nước  hay  ngược dòng nước, dùng nước rưới
lên.
- Gió: là thuận chiều gió, nghịch chiều gió, hoặc dùng miệng thổi.
- Không: từ nơi hư không mà dao động thân. (4) 
Nếu ở nơi nội sắc mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu ở nơi nội sắc, bằng ức  niệm mà vọc, muốn cho  thất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, lại xuất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. 
Nếu vì khoái lạc nên ở nơi nội sắc mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu vì khoái lạc nên ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu  vì  khoái lạc  nên ở nơi nội sắc, bằng ức  niệm mà vọc, muốn
___________________                                        
(1) Nguyên Hán: thọ sắc 受色: sắc nào ở trong thân hữu tình làm sở y cho cảm thọ khởi lên, sắc ấy gọi là sắc có chấp thọ. Ngũ phần: nội sắc chỉ cho tự thân 己身. Thập tụng: nội thọ sắc 內受色 sắc có chấp thọ thuộc nội thân (xem Câu-xá 1, tr.2c), chỉ sự thủ dâm bằng cách dùng tay, chân, miệng, v.v… Cf. Tăng kỳ: thân, thân phần,  thân hiệp 身身分身合  thân: tất cả dao động của  thân  làm xuất  tinh; thân phần;  dùng  tay  hay  chân, hay một bộ  phận của  thân mình  làm  xuất  tinh; thân  hiệp:  dùng  các  phương  tiện  ngoài  như  đất, nước,  chăn, gối... Pāli, Vin.iii.112:  ajjhatarūpe  moceti,  xuất  trong nội sắc;  thích từ:  ajjhatarūpeti ajjhattaṃ upādinne rūpe, nội sắc, sắc được chấp thủ nội thân.
(2) Thập tụng: ngoại bất thọ sắc 外不受色. Ngũ phần, ngoại sắc: thân người khác 他身.
(3) Trong thân hữu  tình, những thứ như  lông, móng mà phần gốc còn  liên hệ căn có  thể  nhận cảm  thọ,  được gọi  là sắc  có  chấp  thọ;  phần bị  tách rời  khỏi căn, không có cảm giác là sắc không có chấp thọ.
(4) Pāli, id., ākāse kaṭiṃ kampento moceti, xuất trong khi làm dao động phần mông trong không gian.

* Trang 78 *
device

cho xuất bất tịnh màu xanh, lại xuất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu vì khoái lạc cho đến vì nhan sắc hòa duyệt cũng như vậy. Đối với ngoại sắc cũng như vậy. Đối với nội sắc cũng như vậy. Đối với nước, gió, hư không cũng như vậy.  Bằng ức niệm mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Không xuất,  thâu-lan-giá. Nếu tỳ-kheo phương  tiện vọc mà xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa; không xuất, thâu-lan-giá.
Nếu tỳ-kheo dạy tỳ-kheo  phương  tiện vọc  cho  xuất bất tịnh; nếu xuất,  thâu-lan-giá;  không  xuất  đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni dạy tỳ-kheo phương  tiện vọc xuất bất tịnh; nếu xuất,  thâu-lan-giá; không xuất, đột-kiết-la. Chỉ dạy cho người khác, ngoại trừ cho tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, vọc mà xuất hay không xuất đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm:  trong mộng bị xuất; tỉnh dậy, sợ bẩn  thân, bẩn y, giường, chăn, dùng vật xấu tệ,  lá cây hay vật gì đựng đem vất đi, hoặc dùng tay quẹt bỏ.
 Hoặc do dục tưởng mà xuất bất tịnh; hoặc thấy sắc đẹp, không xúc chạm mà xuất bất tịnh; hoặc khi đi, tự chạm hai bắp vế; hoặc chạm y, hoặc chạm niết-bàn-tăng (1) mà xuất bất tịnh; hoặc khi đại tiểu tiện xuất bất tịnh;  hoặc tắm rửa bằng nước  nóng, nước lạnh  xuất bất tịnh; hoặc trong nhà tắm dùng da cây mịn, bột, thuốc, bùn, đất xoa chà, xuất bất tịnh;  [580b] hoặc dùng  tay kỳ, xoa nơi  thân xuất bất tịnh; hoặc khi kêu la khóc lớn, hoặc khi dụng lực làm việc. 
Tất cả trường hợp không có ý tạo nên mà xuất bất tịnh, đều không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
___________________                                        
(1) Niết-bàn-tăng 涅槃僧; Skt.=Pāli: nivāsana, quần, hạ y 下衣, nội y 內衣.

* Trang 79 *
device

II. XÚC CHẠM NỮ NHÂN (1)
A. DUYÊN KHỞI
Phật  trú tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di nghe Phật chế giới cấm không được vọc âm cho xuất tinh, bèn cầm cây gài cửa, đứng ngoài cửa, chờ các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các  thiếu nữ đến, (2) nói rằng: “Này cô, cô có thể vào phòng mà xem.”
Khi họ  vào  trong  phòng,  Ca-lưu-đà-di nắm  tay, rờ rẫm,  hôn  hít. Người nào ưa  thích  thì vui cười với việc  làm đó. Người không ưa thích thì  liền nổi giận mắng chửi, bỏ ra khỏi phòng, nói với các tỳ-kheo:
“Đại  đức  nên  biết,  điều  không  lành,  phi  pháp,  không  thích hợp, không phải  thời! Tôi  thường nghĩ rằng đây  là nơi an ổn, không có các  hoạn nạn,  không  có  tai  biến,  không  có sợ  hãi. Nay  chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hãi. Xưa nay nói nước có khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại sinh ra lửa. Ca-lưu-đà-di đưa chúng tôi vào trong phòng rồi nắm tay, kéo, rờ mó, hôn hít chúng tôi. Phu chủ của  chúng  tôi,  khi ở  trong  phòng  kéo  níu  như vậy,  chúng  tôi còn không chấp nhận được, huống nay  là  sa-môn Thích tử mà lại làm như vậy!”
Bấy giờ, các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống với hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Ca-lưu-đà-di, rằng: “Đức Thế Tôn chế giới không được vọc âm xuất tinh. Nay tại sao thầy cầm cây gài cửa, đứng trước cửa chờ các phụ nữ, hoặc vợ của nhà cư sĩ, vào phòng xem rồi rờ mó, hôn hít ?”
________________                                        
(1) Ngũ phần 2, tr. 10c25; Tăng-kỳ 5, tr. 264a13; Thập tụng 3, tr. 14c22; Căn bản 11, tr. 681c19. Vin. iii. 119.
(2) Tăng kỳ 5: Phật tại Vương-xá, Ca-lan-đà Trúc viên. Sa-di-ni Chi-lê 支梨, đệ tử của tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la 優钵羅, được sai mang y đến cho Ưu-đà-di; bị Ưu-đà-di dẫn  vào  phòng  riêng rồi  ôm. Tiếp  theo, một  chuỗi sự kiện với nhiều người khác nhau.

* Trang 80 *
device

Quở trách như vậy rồi, các vị ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn, lạy dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên ấy bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo.
Ngài biết mà vẫn hỏi: 
“Ca-lưu-đà-di! Ngươi thật sự có làm như vậy không?”
Ca-lưu-đà-di thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, sự thật đúng như vậy.”
Khi ấy, đức Thế Tôn quở trách Ca-lưu-đà-di:
“Việc  làm của ngươi  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”
Đức  Thế  Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách rồi bảo  các tỳ-kheo:  “Kẻ  ngu  si  này,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, với ý dâm dục, cùng người nữ, thân xúc chạm nhau, hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc xúc chạm mỗi một thân phần, tăng-già-bà-thi-sa.
C. THÍCH NGHĨA

[580c]Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Ý dâm dục: tức là tâm bị nhiễm ô bởi ái. (1)
_____________________                                        
(1) Dâm dục ý 淫欲意; Ngũ phần 2 (tr.11a28): dục thạnh biến tâm 欲盛變心. Tăng kỳ 5  (tr.265c23): dâm dục  biến  tâm 淫欲變心;  thích từ:  tâm  quá  khứ diệt tận, biến dịch, nói  là biến. Nhưng biến dịch ở đây chỉ cho sự biến dịch đối với căn, lực, giác chi, đạo chủng. Pāli, Vin.iii.120: otiṇṇo vipariṇatena cittena, bị ức chế bởi dục, với  tâm biến đổi  (biến chất);  thích từ: otiṇṇo, chỉ  tâm  tham ái bị buộc chặt bởi sự khát vọng dục tình. 

* Trang 81 *
device

Người nữ: như trên đã nói. (1)
Thân: tức là từ tóc cho đến (bàn) chân.
Thân  xúc  chạm  nhau: (2) hoặc  xoa nắm,  hoặc  xoa  bóp  khắp, (3) hoặc kéo, hoặc đẩy, hoặc xoa ngược, hoặc xoa xuôi, hoặc nâng lên, hoặc để xuống, hoặc nắm, hoặc bóp, hoặc ấn mạnh: (4) 
- Xoa nắm: xoa chà phía trước hay phía sau trong thân.(5)
- Kéo: kéo ra phía trước.(6)
- Đẩy: đẩy nhau.
- Xoa ngược: từ dưới xoa lên.
- Xoa xuôi: từ trên xoa xuống.
- Nâng lên: ẵm mà nâng lên.
- Để xuống: đang đứng mà ẵm để ngồi xuống.
- Nắm: nắm phía trước, nắm phía sau, nắm vú, nắm đùi. 
________________________________
(1) Ngũ phần, nt.: người nữ, kể cả trẻ mới sinh. Pāli, ibid, người nữ, kể cả trẻ mới sinh, chỉ loài người chứ không phải dạ-xoa, quỷ, súc sinh. 
(2) Hán:  thân tương  xúc 身相觸; Ngũ  phần:  thân tương ma xúc 身相摩觸. Pāli, Vin.iii.119:  kāyasaṃsaggaṃ  samāpajjeyya,  tiến  đến  chỗ  giao hội của  thân  thể. Sớ giải: hatthaggahaṇādi kāyasampayogaṃ, sự kết hợp thân thể bằng sự nắm tay v.v…
(3) Hán: trùng ma 重摩, không có giải thích. Xem Phần II, Ni luật, ba-la-di 5. Căn bản: cực xúc 極觸. Pāli: parāmasanā. xoa bóp cùng khắp; Sớ giải: parāmasanā nāma itocito ca saṃpaṇā, xoa bóp cùng khắp, nghĩa là sờ mó chỗ này, chỗ kia.
(4) Căn bản 11, tr.683c, 9 động tác, tăng-già-bà-thi-sa: xúc 觸, cực xúc 極觸, bằng 慿,  tróc 捉, khiên 牽,  duệ 曳,  thướng 上, há 下,  biến  bão 遍抱. So  sánh Pāli, Vin.iii.121, các động  tác xúc chạm: āmasanā parāmasanā omasanā ummasanā olaṅghaṇā  ullaṅghaṇā  kaḍḍhanā  patikaḍḍhanā  abhiniggahaṇā  abhinippīḷaṇā gahaṇaṃ  chupaṇaṃ,  vuốt  ve,  vuốt  khắp,  vuốt  xuống,  vuốt  lên,  khom  xuống, ngửa lên, ôm chặt, áp sát, cầm nắm, sờ mó.
(5) Ma 摩. Ngũ phần: ma xúc 摩觸. Thập tụng: ma  tróc 摩捉. Căn bản: xúc 觸. Pāli:āmasanā, do động từ masati (Skt. mṛś): sờ mó, vuốt ve.
(6) Khiên 牽. Căn bản: khiên, từ xa kéo lại gần (mình).

* Trang 82 *
device

- Bóp: bóp phía trước, bóp phía sau, bóp vú, hoặc bóp đùi. (1) 
Thảy đều tăng-già-bà-thi-sa.
C. PHẠM TƯỚNG
Hoặc nữ tưởng  là nữ; nữ  nhân rờ mó  thân tỳ-kheo,  hai  thân  xúc chạm nhau, (tỳ-kheo) với ý dục nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc trong khi xúc chạm, tăng-già-bà-thi-sa.
Người nữ  khởi nữ tưởng. Người nữ  ấy  dùng  tay rờ mó, tỳ-kheo động thân, dục ý nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, tăng-già-bà-thi-sa. Cũng vậy,  cho  đến nắn,  bóp. Nếu  nghi  là nữ, thâu-lan-giá. 
Nếu  là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ; thân xúc chạm áo, đồ anh lạc của người nữ kia, với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó  là nữ;  thân xúc chạm áo, đồ anh lạc của người nữ kia, với dục  tâm  nhiễm  trước,  không  có cảm  giác  khoái lạc  khi  xúc chạm, thâu-lan-giá. 
Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ. Người nữ ấy dùng y, đồ anh lạc nơi  thân xúc chạm  trên  thân tỳ-kheo; (tỳ-kheo) với dục  tâm  nhiễm  trước,  có cảm  giác  khoái lạc  khi  xúc  chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ. Người nữ dùng y, đồ anh lạc, xúc chạm thân tỳ-kheo, (tỳ-kheo) với dục  tâm nhiễm  trước, không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ, dùng thân xúc chạm y, anh lạc của người nữ, (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm  trước,  động  thân,  nhưng  không  có cảm  giác  khoái lạc  khi xúc chạm,  thâu-lan-giá. Nếu  là người nữ,  (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ, (tỳ-kheo) dùng thân xúc chạm y, đồ anh lạc của người nữ, với dục  tâm nhiễm  trước, không động thân nhưng có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có
___________________
(1) Hán: nại 捺. Pāli: chupanaṃ nāma phuṭṭhamattaṃ, sờ mó, chỉ xúc chạm thôi.

* Trang 83 *
device

ý tưởng đó  là người nữ; người nữ này dùng y, đồ anh lạc nơi  thân xúc  chạm  thân tỳ-kheo,  (tỳ-kheo) với dục  tâm  nhiễm  trước,  động thân, nhưng không có cảm giác khoái lạc khi  xúc chạm,  thâu-lan-giá. Người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó  là người nữ; người nữ này dùng y, đồ anh lạc nơi thân xúc chạm, (tỳ-kheo) có dục tâm nhiễm trước, dù không động  thân,  thâu-lan-giá. Người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng  đó  là  người nữ,  thân  xúc  chạm  nhau, với dục  tâm  nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc xúc chạm, dù không động thân,  thâu-lan-giá. Cũng vậy, nắm, xoa cho đến nắn, bóp,  thảy đều  thâu-lan-giá. Nếu là nữ mà nghi, phạm đột-kiết-la.
Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi  thân, (1) [581a] với dục  tâm  nhiễm  trước,  có cảm  giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm  nhiễm  trước,  dù  không  có cảm  giác  khoái lạc  khi  xúc  chạm, phạm  đột-kiết-la. Nữ,  (tỳ-kheo)  có  ý tưởng  đó  là nữ,  dùng  y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, dù không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-  la. Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm, y đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, dù không có cảm giác khoái lạc khi  xúc chạm, động  thân phạm đột-kiết-la. Nữ,  (tỳ-kheo) có ý tưởng đó  là nữ, dùng y nơi  thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi  thân, với dục  tâm nhiễm  trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, dù không  động  thân,  đột-kiết-la. Nữ,  (tỳ-kheo)  có  ý tưởng  đó  là nữ, dùng  y nơi  thân  xúc  chạm  y,  đồ  anh lạc nơi  thân, với dục  tâm nhiễm  trước,  không  có cảm  giác  khoái lạc  khi  xúc  chạm,  không động  thân, đột-kiết-la. Nữ,  (tỳ-kheo) có ý tưởng  đó  là nữ, dùng  y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, có cảm  giác  khoái lạc  khi  xúc  chạm,  động  thân,  đột-kiết-la. Cho
____________________                                       
(1) Hán: thân y xúc thân y anh lạc cụ 身衣觸身衣瓔珞具. Tham chiếu, Vin.iii.122:...itthiyā kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṃ āmasati, bằng trang phục nơi thân (của tỳ-kheo) mà xúc chạm trang phục nơi thân của người nữ...

* Trang 84 *
device

đến nắn,  bóp, tất cả  đều  phạm  đột-kiết-la. Là  người nữ mà  nghi, phạm đột-kiết-la.
Nếu tỳ-kheo cùng người nữ hai  thân xúc chạm nhau, mỗi một lần xúc  chạm  là  phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy  theo sự  xúc  chạm nhiều  ít, với rồng cái, ngạ quỷ cái,  súc  sinh cái, có  thể biến  hình, hai thân xúc chạm nhau phạm đột-kiết-la. Nếu cùng người nam hai thân xúc chạm nhau, đột-kiết-la. Nếu cùng với người lại cái, (1) thân xúc chạm  nhau,  thâu-lan-giá. Nếu người nữ khi  làm lễ nắm chân, tỳ-kheo có cảm  thấy  thích  thú do sự xúc chạm, nhưng không động thân, đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo có dục  tâm, xúc chạm y, bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim, cọng cỏ rỗng, (2) cho đến tự mình xúc chạm thân, tất cả đều phạm đột-kiết-la. 
Nữ nhân tưởng  là nữ nhân, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ nhân, sinh nghi, thâu-lan-giá. Nữ  nhân, tưởng  chẳng  phải nữ  nhân,  thâu-lan-giá. Chẳng phải nữ nhân tưởng  là nữ nhân,  thâu-lan-giá. Chẳng phải  là
nữ  nhân,  sinh  nghi,  thâu-lan-giá. Tỳ-kheo-ni,  ba-la-di.  Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự không phạm: xúc chạm nhau khi nhận đồ vật gì; xúc chạm nhau chỉ vì đùa giỡn; xúc chạm nhau khi cởi mở (trói) thì không phạm. 
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống não bức bách. 
III. NÓI LỜI THÔ TỤC (3)
_________________
(1) Nhị  hình 二形;  Ngũ  phần, Tăng-kỳ,  Thập tụng:  hoàng  môn 黃門; Pāli: paṇḍaka.
(2) Thảo cốc 草 [卄/告]; Tống-Nguyên-Minh:  thảo  nghiết 草秸. Đây  chỉ  cây cỏ rỗng ruột có thể gợi dục. Các luật khác không nói các trường hợp đột-kiết-la này.
(3) Ngũ phần, quyển 2 (tr.11b23); Tăng-kỳ, quyển 5 (tr.267c19); Thập tụng, quyển 3 (tr.15c18); Căn bản, quyển 11 (tr.684a15); Tát-bà-đa, quyển 3 (tr.520b9); Pāli, Saṅghādisesa 3, mātugāmaṃ dutthullāhi vācāhi obhāseyya,Vin. iii. 127.

* Trang 85 *
device

A. DUYÊN KHỞI
[581b7] Một  thời,  đức Phật ở nước Xá-vệ. (1) Bấy  giờ Ca-lưu-đà-di nghe đức Thế Tôn chế giới:  ‘Không được vọc âm cho xuất  tinh’; ‘Không  được  thân  xúc  chạm  người nữ’,  bèn cầm  cây  gài cửa  ra đứng bên ngoài, chờ các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến, nói rằng:  “Mời các cô vào phòng tôi xem.”
Khi dẫn họ vào trong phòng rồi, Ca-lưu-đà-di, do dục tâm, nói với họ  những lời  thô tục bỉ  ổi. Những  người nữ bằng  lòng  thì  vui vẻ trước những lời nói đó, còn những người không bằng  lòng  thì nổi sân mắng chửi, bỏ ra khỏi phòng, nói với các tỳ-kheo:
“Đại đức nên biết, nay tôi thấy điều sai quấy, điều không  lành, phi pháp, không  thích hợp, không phải  thời! Tôi  thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn, không có tai biến, không có sợ hãi. Nay lại chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hãi. Xưa nay nói nước có khả năng  làm tắt lửa; nay  trong nước lại  sinh  ra lửa. Tại sao tôi nói như vậy? Ca-lưu-đà-di mời chúng tôi vào phòng, với ý dâm dục, nói lời  thô bỉ xấu ác đối với chúng  tôi. Khi ở tại nhà, phu chủ  tôi nói lời  thô bỉ xấu ác như vậy,  tôi còn không  thể chấp nhận, huống chi nay  là người xuất gia, mà lại nói những lời tồi tệ như thế.”
Các tỳ-kheo nghe;  trong số đó có vị  thiểu dục, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Ca-lưu-đà-di... (nói đầy đủ như trên); rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì  nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ở giữa đại chúng, đức Thế Tôn biết mà cố hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Có thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?”
Ca-lưu-đà-di thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy.” 
Đức Thế Tôn quở trách: 
_________________________                                       
(1) Tăng kỳ: Phật tại Vương-xá.

* Trang 86 *
device

“Việc  làm của ngươi  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”
Đức  Thế  Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách rồi bảo  các tỳ-kheo:
“Kẻ  ngu  si  này,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  người  phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp trường tồn.” 
Muốn thuyết giới [581c] nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo  nào, với  ý  dâm dục,  nói lời  dâm dục  thô  ác với người nữ; tùy theo lời nói dâm dục thô ác,(1) tăng-già-bà-thi-sa. 
C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Ý dâm dục, (2) như trên.
 Người nữ: cũng như trên.
Thô ác: là chẳng phải phạm hạnh.
Lời nói dâm dục: là nói đến hai đường tốt xấu. (3)
  D. PHẠM TƯỚNG
Hoặc tự mình yêu cầu, hoặc nhờ người yêu cầu, hoặc hỏi, hoặc trả
_____________________                                       
(1) Tăng kỳ: “nói lời xấu xa, tuỳ thuận pháp dâm dục, như nam nữ thiếu niên.” Căn bản:  “nói lời  thô bỉ xấu  xa,  không  đứng  đắn,  liên hệ  pháp  dâm dục,  như vợ chồng.” Pāli, Vin.iii.128: duṭṭhullāhi vācāhi obhāseyya, yathā taṃ yuvā yuvatiṃ methunūpasaṃhitāhi, nói những lời thô tục giống như thiếu niên nam nữ.
(2) Căn bản, nhiễm triền tâm 染纏心.
(3) Pāli, Vin.iii.128: duṭṭhullā nāma vācā vaccamaggapassāmagga-methunadham-mappaṭisaṃyuttā vācā, những lời thô bỉ, là những lời liên hệ đến pháp dâm dục, liên hệ các đường đại, tiểu tiện.

* Trang 87 *
device

lời, hoặc giải thuyết, (1) hoặc chỉ dẫn, hoặc mắng. (2)
- Tự mình yêu cầu: (3) như nói, cùng  tôi nơi hai đường  làm việc như vậy, như vậy; hoặc dùng nhiều lời nói khác nhau nữa.
- Nhờ người yêu cầu: (4) như nói, ‘Cầu mong Trời, Phạm,  thủy  thần, Ma-hê-thủ-la thiên... hỗ trợ tôi cùng cô làm việc như vậy, như vậy.’
Hoặc nói những lời tương tự khác.
- Hỏi: như hỏi, ‘Đường đại  tiểu  tiện của cô  ra  sao? Cô với chồng cùng  làm  việc  thế  nào? Cô  cùng  người  ngoài tư  thông  thế  nào?’
Hoặc nói những lời tương tự khác.
Đáp: (5) ‘Đường đại  tiểu  tiện của cô như vậy. Cô cùng chồng, người ngoài tư thông như vậy.’ Hoặc nói những lời tương tự khác.
Giải bày: (6) nói năng cũng như vậy. Chỉ dẫn: như nói,  ‘Tôi chỉ cho cô chăm sóc hai đường như vậy, cô có thể khiến cho chồng, người ngoài kính ái.’ Hoặc nói những lời tương tự khác. 
Mắng: như nói, ‘Cô hư hoại, mục nát, teo tóp, đọa lạc. Cô cùng với con lừa làm chuyện như vậy.’ 
______________________
(1) Hoặc giải hoặc thuyết, Hán chép dư một chữ hoặc; xem đoạn giải thích.
(2) Thập tụng  (tr.16a16), 9  trường hợp phạm:  tán  (khen ngợi), hủy  (chê bai), khất (xin), nguyện  (yêu cầu), vấn  (hỏi), phản vấn  (hỏi ngược), biện  (biện giải), giáo (chỉ dẫn), mạ  (mắng  chửi) 讚毀乞願問反問辦教罵.  Căn bản  (tr.684b4),  9 trường hợp 九事: nói đẹp, nói xấu,  trực  tiếp yêu cầu, phương  tiện yêu cầu, hỏi thẳng, hỏi quanh co, dẫn sự, tán  thán, sân chửi 謂善說惡說直乞方便乞直問曲 問引事讚歎瞋罵. Pāli, liên hệ đến hai đường, có 9 sự, như hai Luật bộ trên.
(3) Pāli: yācati,  yêu cầu:  dehi me,  arahasi me dātṃ, hãy  cho  tôi; nên xứng  đáng cho tôi.
(4) Pāli:  āyācati:  nài nĩ,  Vin.  iii.  129.  kadā  te mātā  pasīdissati,  kadā  te  pitā pasīdissati,  kadā  te  devatāyo  pasīdissanti…  kadā  te  muthunaṃ  dhammaṃlabhissāmi, khi nào mẹ cô vui lòng? Khi nào cha cô vui lòng? Khi nào chư thiên của cô vui lòng? Khi nào tôi được pháp dâm dục của cô?
(5) Ngũ phần: phản vấn 反問. Pāli: paṭipucchati, phản vấn.
(6) Pāli: ācikkhati, giải thuyết, diễn giải; khi được hỏi, nói như vầy: Hãy cho như vậy; cho như vậy thì chồng cô sẽ yêu thương cô.

* Trang 88 *
device

Hoặc bằng những lời khác chửi mắng người.
Nếu tỳ-kheo cùng với người nữ một phen nói lời thô ác thì phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo lời nói thô ác nhiều hay ít, nói rõ ràng, thì mỗi mỗi đều phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Nói không rõ ràng thì phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, (1) thư, sai sứ giả, làm hiệu, khiến cho người nữ kia hiểu, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu, phạm thâu-lan-giá. Trừ đường đại tiểu tiện ra, nói đẹp hay nói xấu về những chỗ khác, phạm thâu-lan-giá. Đối với Thiên nữ, A-tu- la nữ, Dạ-xoa nữ, Long nữ, súc sinh cái có thể biến hình, huỳnh môn, có hai hình, mà nói lời thô ác khiến cho đối tượng hiểu, phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ giả, làm hiệu, khiến cho các hạng nữ kia hiểu, phạm thâu- lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la. Hướng đến súc sinh không thể biến hình nói lời thô ác phạm đột-kiết-la. Nếu hướng về đàn ông nói lời thô ác, phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo với ý dục nói lời thô ác, tưởng là nói lời thô ác, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nói lời thô ác, sinh nghi phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải lời thô ác, tưởng là lời thô ác, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải lời thô ác, mà nghi, phạm thâu-lan-giá.
Nữ loài người, có ý tưởng đó là nữ loài người, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ loài người, nghi thâu-lan-giá. [582a1] Nữ loài người, tưởng nữ loài phi nhơn, thâu-lan-giá. Nữ loài phi nhơn, tưởng là nữ loài người, thâu-lan-giá.
Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu vì người nữ mà giảng pháp bất tịnh quán, (2) như nói, "Này cô, nên biết, thân này có chín mụt ghẻ, chín lỗ, chín nơi rỉ chảy, chín dòng nước chảy. Chín lỗ là: hai mắt, hai tai, hai mũi, miệng, đại, tiểu tiện đạo." Khi nói điều bất tịnh này, người nữ kia
___________________
(1) Hán: chỉ ấn 指印, tức Pāli: aṅgulimuddikā, nhẫn dùng làm tín vật.
(2) Nguyên Hán: bất tịnh ố lộ  quán 不淨惡露觀,  xem Trường A-hàm  9, kinh  10 Thập thượng (T1, tr.52a7, 8); Pāli: asubha-bhāvanā.

* Trang 89 *
device

cho  là lời thô ác. Hoặc khi nói Tỳ-ni, theo thứ tự nói đến việc này, người kia gọi  là nói lời  thô ác. Hoặc cầu học kinh, hoặc hai người đồng  thọ;  hoặc  người  kia hỏi,  hoặc  đồng tụng,  hoặc  vui  giỡn  nói chơi, hoặc nói một mình, hoặc nói gấp gáp, hoặc nói  trong mộng, hoặc  muốn  nói  việc  này,  nhầm  nói  việc  kia. Tất cả  đều  không phạm. 
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
IV. YÊU SÁCH CÚNG DƯỜNG (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di nghe đức Thế Tôn  chế  giới:  “không  được vọc  âm  xuất  tinh”,  “không  được xúc chạm người nữ”, “không được nói với người nữ những lời  thô ác”, bèn cầm cây gài cửa đứng ngoài cửa, chờ các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến, nói rằng:  “Các cô có thể vào phòng tôi xem.”
Khi dẫn họ vào phòng rồi, Ca-lưu-đà-di tự tán thân mình, nói: “Các cô biết không, trong số người có học, tôi  là người hạng nhất. Tôi  là người phạm hạnh,  trì giới,  tu thiện pháp. Các cô có thể đem sự dâm dục cúng dường tôi.” 
Khi  ấy, những  người nữ bằng  lòng  thì  vui vẻ  trước những lời  nói đó, còn những người không bằng  lòng thì nổi sân mắng chửi, bỏ ra khỏi phòng, nói với các tỳ-kheo:
“Đại đức nên biết, nay tôi thấy điều sai quấy, điều không  lành, phi pháp, không  thích hợp, không phải  thời! Tôi  thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn, không có tai biến, không có sợ hãi. Nay lại chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hãi. Xưa nay
___________________________                                       
(1) Ngũ phần 2, tr. 11c25; Tăng-kỳ 5,  tr. 269c20; Thập tụng 3 tr. 16c18; Căn bản 11 tr. 685a25. Vin. iii. 131.

* Trang 90 *
device

nói nước có khả năng  làm tắt lửa; nay  trong nước lại  sinh  ra lửa. Khi ở tại  nhà,  chồng  tôi  nói lời  như vậy,  tôi  còn  không  thể  chấp nhận,  huống  chi  nay  là  người  xuất  gia, mà lại  nói  những lời  như thế.”
Các tỳ-kheo nghe;  trong số đó có vị  thiểu dục, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Ca-lưu-đà-di, “Thầy há không nghe  Thế  Tôn  chế  giới,  ‘không  được vọc  âm  xuất  tinh’,  ‘không được xúc chạm người nữ’, ‘không được nói với người nữ những lời thô ác’ (nói đầy đủ như  trên)...” Họ bèn đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên,  [582b]đem nhân duyên này bạch  lên  đức  Thế  Tôn một  cách  đầy  đủ.  Đức  Thế  Tôn  vì  nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ở giữa đại chúng, đức Thế Tôn biết mà cố hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Có thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?”
Ca-lưu-đà-di  thưa:  “Kính bạch  đức  Thế  Tôn, sự  việc  đúng  như vậy.” 
Đức Thế Tôn  quở  trách:  “Việc  làm của  ngươi  là  sai  quấy,  chẳng phải  oai  nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.” Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương tiện  quở  trách rồi bảo  các Tỳ-kheo:  “Kẻ  ngu  si  này,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.’’
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo  nào, với  ý  dâm dục,  đối  trước người nữ tự  khen thân mình, nói: ‘Này cô, tôi tu phạm hạnh, trì giới tinh tấn,tu tập pháp  lành; cô nên đem sự dâm dục cúng dường  tôi. Đó là sự cúng dường bậc nhất’; tăng-già-bà-thi-sa. 
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

* Trang 91 *
device

Ý dâm dục: như trên đã nói.
Người nữ: như trên đã nói.
Khen thân mình: (1) khen thân đoan chánh, nhan sắc đẹp; “Tôi là Sát-đế-lợi, trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn.”
Phạm hạnh: siêng tu lìa uế trược.
Trì giới: không khuyết, không thủng, không nhiễm ô.
Pháp lành: ưa ở nơi nhàn tịnh, (2) đến giờ khất thực, (3) mặc y phấn tảo; tác  pháp dư  thực (4) cũng  không  ăn;  ăn một lần  ngồi, (5) ăn một nắm; ngồi nơi bãi tha ma, nơi đất trống, dưới gốc cây, luôn luôn ngồi, chỉ ngồi; trì ba y; bối-nặc, (6) đa văn, hay thuyết pháp; trì tỳ-ni, tọa thiền. 
C. PHẠM TƯỚNG
Sau  khi tự  khen  ngợi mình  như vậy rồi,  nói rằng,  “Hãy  đến  đây cúng dường tôi”, trong đó không nói đến việc dâm dục, phạm thâu-lan-giá;  có  nói  việc  dâm dục  phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nếu  trước người nữ, một lần tự khen  thân mình  là một tội tăng-già-bà-thi-sa. Tùy  theo sự tự  khen  thân mình  nhiều  hay  ít,  và  nói một  cách  rõ ràng, mỗi mỗi  đều  phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nói  không  rõ,  phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay,  thư tín, sai sứ,  làm hiệu khiến cho người kia hiểu, tăng-già-bà-thi-sa. Họ không hiểu, thâu-lan-giá. 
_____________
(1) Tự thán thân 自歎身. Ngũ phần: tự tán cúng dường thân 自讚供養身. Tăng-kỳ: thán tự cúng dường  thân 歎自供養身. Thập tụng: tán  thán dĩ  thân cúng dường.Căn bản: tự thán thân 自歎身. Pāli: attakāmapāricariyāya vaṇṇaṃ bhāseyya, tán thán sự cúng dường dục cho mình.
(2) Đây chỉ tỳ-kheo a-lan-nhã, chỉ sống trong rừng, một trong 12 hạnh đầu-đà.
(3) Đây chỉ tỳ-kheo trì pháp khất thực, chỉ ăn bằng không thất, không thọ thỉnh của cư sĩ; một trong 12 hạnh đầu-đà.
(4) Dư  thực  pháp 餘食法, Tứ  phần  14  (tr.660a)  ba-dật-đề 35: Tỳ-kheo  ăn  xong, được mời ăn thêm; không tác dư thực pháp mà ăn thêm, ba-dật-đề. 
(5) Nhất tọa  thực 一坐食, mỗi ngày chỉ ăn một buổi  trong một lần ngồi. Tứ phần 14, tr.660a: ba-dật-đề 35.
(6) Bối nặc 唄匿; Pāli. bhāṇaka, (người) đọc tụng, ca vịnh.

* Trang 92 *
device

Trừ hai đường, đòi hỏi cung phụng nơi khác, thâu-lan-giá. 
Đối với thiên nữ, A-tu-la nữ,  long nữ, Dạ-xoa cái, ngạ quỷ cái, súc sinh cái có  thể biến hình, mà tự khen  thân mình, nếu các hạng nữ kia hiểu, phạm thâu-lan-giá; chúng không hiểu, đột-kiết-la. 
Nếu dùng dấu tay thư tín, sứ giả, ra dấu hiệu để tự khen thân mình mà người kia hiểu, phạm thâu-lan-giá. 
Khen nói mà họ không hiểu, phạm đột-kiết-la. 
Đối với súc sinh không thể biến hình mà [582c] tự khen thân mình, phạm đột-kiết-la. 
Nữ  nhân, tưởng  là nữ  nhân, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ  nhân,  nghi, phạm thâu-lan-giá. Nữ nhân, có ý tưởng  là nữ  loài phi nhơn, phạm thâu-lan-giá. Nữ phi nhân, nghi, phạm thâu-lan-giá. 
Tỳ-kheo-ni  phạm  thâu-lan-giá.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự  không  phạm: nếu tỳ-kheo  nói với  người nữ: “Đây  là  chỗ  diệu tôn tối  thắng. Tỳ-kheo  này  tinh tấn  trì  giới,  tu  thiện  pháp,  các  cô nên dùng  thân nghiệp từ, khẩu nghiệp từ, ý nghiệp từ cúng dường bằng sự từ hoà của  thân nghiệp, bằng sự từ hoà của khẩu nghiệp, bằng sự từ hoà của ý nghiệp.”
Ý của  các  người nữ  kia  cho rằng tỳ-kheo  vì  ta  nên tự  khen  thân mình; hoặc khi nói tỳ-ni, ngôn thuyết có vẻ tương tự, mà người kia nói  là tự  khen  ngợi  thân mình;  hoặc từ  việc  thọ  kinh, tụng  kinh; hoặc hai người cùng thọ tụng kinh;  hoặc hỏi đáp; hoặc đồng tụng; hoặc nói giỡn; hoặc nói nhanh vội, (1) nói trong mộng; hoặc muốn nói việc này nhầm việc khác, đều không phạm. 
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống khổ bức bách.
_________________                                       
(1) Tật tật ngữ 疾疾語. Xem ba-la-di 4.

* Trang 93 *
device

V. MAI MỐI  (1)
A. DUYÊN KHỞI 
Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ. (2) Bấy giờ,  trong  thành La-duyệt có một tỳ-kheo  tên  là Ca-la, (3) trước đây  là Đại  thần của Vua, biết  rành về pháp  thế tục. Vị ấy chuyên làm  việc mai mối  như vầy:  đến  người  nam  nói  chuyện  người nữ; đến người nữ nói chuyện người nam. Thời bấy giờ, các cư sĩ trong thành La-duyệt muốn có việc giá thú, tất cả đều đến nhờ Ca-la. Ca-la  trả lời: “Để  tôi  đến  nhà  đó  quan  sát  trước  đã.” Quan  sát  xong, Ca-la đến các nhà cư sĩ nói: “Nhà ngươi muốn cùng với gia đình đó làm sui gia thì cứ thực hiện theo ý muốn.” Khi ấy, các cư sĩ theo lời hướng dẫn mà làm việc hôn thú. Các nam nữ làm việc cưới hỏi rồi, được vừa ý thì vui vẻ cúng dường khen ngợi, nói rằng: “Mong cho Ca-la thường được hoan lạc như chúng ta ngày nay. Vì sao? Vì nhờ Ca-la mà ta được hoan lạc như thế này. Mong Ca-la và các tỳ-kheo khác cũng được cúng dường.” Nếu, đôi  nam nữ  kia,  sau khi cưới hỏi xong không được sự thích ý, họ bèn nói: “Mong cho Ca-la luôn luôn chịu khổ não như chúng ta ngày nay. Tại sao? Vì chính Ca-la khiến cho  tôi  làm việc cưới hỏi  nên nay  tôi mới  chịu khổ não  thế này. Mong cho Ca-la và các tỳ-kheo cũng chịu sự khổ não; không được ai cúng dường.” Khi ấy, các cư sĩ không tin Phật, Pháp, Tăng trong thành La-duyệt, đồn đãi nhau: “Các người [583a1] nếu muốn được làm sui gia với nhà giàu to, nhiều của cải lắm vật báu, thì nên đến  nhờ  sa-môn Thích tử  điều  đó;  tuỳ  thời  cúng dường  thân cận cung kính thì có thể được như ý. Tại sao vậy? Sa-môn Thích tử này
____________________
(1) Ngũ  phần,  tr.12a16; Tăng-kỳ 5,  tr.262a20; Thập tụng,  tr.  18a11; Căn bản 12, tr.685c14. Vin. iii. tr.135. 
(2) Ngũ phần, Tăng-kỳ, Thập tụng: Phật tại Xá-vệ. Căn bản: Thất-la-phiệt.
(3) Ca-la 迦羅; Ngũ phần:  trưởng giả Ca-lưu 長者名迦留; Thập  tụng: Ca-la, con của trưởng giả Lộc Tử 鹿子長者兒名曰迦羅; Căn bản: Trưởng giả Hắc Lộc Tử 長者黑鹿子. Pāli:  āyasmā  udāyī sāvatthiyaṃ  kulūpako  hoti,  trưởng  lão Udāyī thường xuyên lui tới một gia đình trong Sāvatthi.

* Trang 94 *
device

giỏi  việc mai mối;  biết  người  nam  này  có  thể lấy  người nữ  kia; người nữ kia có  thể cùng người  nam  này.” Rồi các Tỳ-kheo nghe lời  đồn  đãi  ấy;  trong số  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống với hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý quở trách Ca-la tỳ-kheo: “Sao lại đi  làm  mai mối  người  nam  cho  người nữ;  người nữ  cho  người nam?” Sau khi quở trách rồi, họ đến chỗ đức Thế Tôn; đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà cố hỏi Ca-la: “Có thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?” Ca-la thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, sự việc đúng như vậy.”  Đức Thế Tôn  quở  trách:  “Việc  làm của  ngươi  là  sai  quấy,  chẳng phải  oai  nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách rồi bảo  các Tỳ-kheo:  “Kẻ  ngu  si  này,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, tới  lui bên này, bên kia  làm mai mối; đem ý người nam nói với người nữ; đem ý người nữ nói với người nam; hoặc  để  thành vợ  chồng, hoặc  vì  việc tư  thông,  cho đến chỉ trong chốc lát, tăng-già-bà-thi-sa. (1)
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
_____________________                                       
(1) Ngũ phần, giới được kết hai lần: lần đầu, Ca-lưu mai mối  làm vợ chồng. Lần thứ hai, nhóm sáu tỳ-kheo môi giới tư thông. Pāli, học xứ này được kết hai lần. Lần đầu, do Udāyī mai nối làm vợ chồng. Lần thứ hai, do Udāyī mai mối cho tư thông.

* Trang 95 *
device

Tới lui: (1) khiến cho hai bên được hoà hợp.
Người nữ  có  hai mươi hạng: (2) mẹ  giám hộ,  cha  giám hộ, mẹ  cha giám hộ, anh giám hộ, chị giám hộ, anh chị giám hộ, tự mình giám hộ, pháp giám hộ, họ hàng giám hộ, tông  thân giám hộ, tự nguyện làm tỳ nữ, (3) làm tỳ nữ để kiếm áo, tỳ nữ để nhận  tiền của, tỳ nữ do hợp tác, tỳ nữ vì bị nước cuốn,  làm tỳ nữ vì không nộp thuế, tỳ nữ bị thải, (4) tỳ nữ cho khách, tỳ nữ do người khác giám hộ, tỳ nữ được từ biên phương.
- Mẹ giám hộ: được giám hộ bởi mẹ.
- Cha giám hộ: được giám hộ bởi cha.
- Cha mẹ  giám hộ,  anh  giám hộ,  chị  giám hộ,  anh  chị  giám hộ: cũng như vậy.
- Tự mình giám hộ: thân được tự tại.
- Pháp giám hộ: tu hành phạm hạnh. (5)
- Họ hàng giám hộ: không được quan hệ với dòng họ thấp hơn.
- Tông thân giám hộ: được canh chừng bởi tông thân.
___________________
(1) Vãng  lai, trong văn  luật: vãng  lai bỉ thử 往來彼此. Ngũ phần: hành môi pháp 行嫫法; Thập  tụng: hành môi giá pháp 行嫫嫁法; Tăng kỳ: hành hòa hợp nam nữ 行和合男女. Pāli: sañcarittaṃ samāpajjeyya, hành động làm môi giới.
(2) Ngũ phần: nữ có mười hạng; nam có mười hạng. Thập tụng, mười bốn hạng nữ có giám hộ. Căn bản: bảy hạng phụ nữ, mười trường hợp tư  thông. Thập  tụng: mười bốn hạng nữ có giám hộ. Pāli (Vin. iii. 139), 10 hạng nữ (không hay chưa chồng) và 10 loại vợ.
(3) Hán: tỳ 婢. Pāli: dāsī, giải thích: dāsī ceva hoti bhariyā ca, vừa là nô tỳ vừa là vợ.
(4) Phóng khứ tỳ 放去婢, xem cht. sau.
(5) Ngũ phần: pháp hộ 法護, xuất gia  theo chánh pháp,  tu hành phạm hạnh. Nên hiểu  là  người nữ  được bảo vệ bởi  luật  pháp. Căn bản: hữu  pháp hộ 有法護, người nữ goá  chồng,  thủ  tiết, không  ai  dám xâm  phạm. Pāli:  dhammarakkhitā nāma  sahadhammikā  rakkhanti  gopenti  issariyaṃ kārenti  vasaṃ  vattenti  (Vin. iii. 139), được giám hộ bởi pháp, tức là, những bạn đồng pháp (=đồng đạo) bảo vệ, canh chừng, làm chủ, kiểm soát.

* Trang 96 *
device

- Tự nguyện làm tỳ nữ:(1) vui lòng làm tỳ nữ cho người khác.
- Làm nô tỳ để kiếm áo: được trả giá bằng y phục. (2)
- Nô tỳ để nhận tiền của: được trả giá thậm chí chỉ một đồng.
- Nô tỳ do hợp tác: (3) cùng sinh hoạt nghề nghiệp chung nhưng chưa làm lễ để thành vợ chồng.
-[583b] Nô tỳ vì bị nước cuốn: được vớt lên khi bị nước cuốn. (4)
- Nô tỳ vì không nộp thuế: không lấy tiền thuế.
- Nô tỳ bị thải: được mua lại, hay sinh từ trong nhà chủ. (5)
- Nô tỳ khách: được tiền thuê để làm tôi tớ trong nhà.
- Nô tỳ do người khác giám hộ: nhận  tràng hoa của người để  làm vật giao ước.
- Nô tỳ được từ biên phương: do sự cướp đoạt mà được.(6)
_____________________
(1) Tự lạc 自樂; Ngũ phần: tự nhiệm 自任, người nữ sống theo sở thích. Tăng kỳ: tuỳ ý  trú 隨意住, người nữ giao ước sống với người nam theo ý muốn, khi nào không  còn muốn sẽ  tùy  ý bỏ  đi. Căn  bản: tự lạc  phụ 自樂婦, hạng  làm vợ  do thân hành đi đến chỗ người nam mình thích, nói, “Tôi vui lòng làm vợ của ông.” Pāli: chandavāsinī nāma piyo piyaṃ vāseti, hạng làm vợ được cầm giữ cho mục đích ham muốn, tức là người yêu cầm giữ người yêu.
(2) Pāli: paṭavāsinī nāma paṭaṃ datvā vāseti, hạng  làm vợ được cầm giữ  sau khi được cho áo.
(3) Đồng nghiệp 同業; Thập  tụng: hiệp sinh 合生, đề nghị người nam hiệp chung tài sản  để sống  chung; Căn  bản: cộng  hoạt 共活. Pāli:  kammakārī, vợ  như  là người chấp tác.
(4) Thập tụng: thủy đắc 水得, người nam rót nước lên tay người nữ để xác nhận là vợ. Pāli:  odapattakinī nāma  udakapattaṃ  āmasitvā vāseti,  người nữ bưng  bát nước, sau khi người nam trao cho bình nước, rồi nhận làm vợ.
(5) Phóng khứ tỳ 放去婢; Tăng kỳ 6  (tr.273b7): phóng 放, có hai. Hoặc bán:  theo pháp của nước Phả-lê, nếu không thích vợ nữa có thể đem bán. Hoặc ly dị: theo phép một số nước, nếu vợ chồng không yêu nhau nữa, đến quan nộp 3 tiền rưỡi và hai trương lụa thì có thể ly dị.
(6) Biên phương đắc 邊方得; Căn bản: vương kỳ phụ 王旗婦. Pāli: dhajāhaṭā, vợ cướp được do chinh phạt.

* Trang 97 *
device

Đó là hai mươi hạng. Nam tử cũng có hai mươi loại như vậy.
D. PHẠM TƯỚNG 
Người nam do mẹ giám hộ, và nữ do mẹ giám hộ, nhờ tỳ-kheo làm sứ giả nói với người kia, “Nàng hãy  làm vợ  tôi”, hoặc nói, “Nàng hãy tư thông với tôi, chốc lát hay trong một niệm.” Nếu tỳ-kheo tự nhận lời bên này, đến nói bên kia; rồi nhận ý kiến bên kia,  trở lại trả lời bên này, phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự đến bên kia nói, sai sứ mang tin trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ đến nói, tự mang  tin  trở lại  trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, cùng sai sứ đến nói, sai sứ mang tin trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự làm thư mang đến bên kia, tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự làm thư mang đến bên kia, sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Bằng dấu tay, bằng ra hiệu, cũng với bốn trường hợp như vậy.
Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, mang đến bên kia, tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, mang đến bên kia; rồi sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang đến bên kia; rồi tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận  thư,  sai sứ mang  thư đến  bên kia; rồi  sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

* Trang 98 *
device

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, tự mang dấu tay, đến bên kia; rồi tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận  thư, tự mang dấu  tay đến  bên kia; rồi  sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận  thư,  sai sứ mang dấu  tay đến bên kia; rồi tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận  thư, sai sứ mang dấu  tay đến bên kia; rồi sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Bốn trường hợp ra hiệu cũng như vậy. [583c] Bốn trường hợp nhận lời cũng như vậy. Mười sáu trường hợp của dấu tay cũng như vậy.
 Mười sáu trường hợp của ra hiệu cũng như vậy.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự  nhận lời, tự mang  thư  đến  bên  kia, tự mang dấu hiệu trở lại trả lời, cũng có bốn trường hợp như vậy.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang dấu tay đến bên kia; rồi tự mang trở lại trả lời, cũng có bốn trường hợp như vậy.
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, đến bên kia, trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa; tự nhận lời, đến bên kia, không trở lại trả lời, phạm thâu-lan-giá.
Nếu cùng nói mà không nhận, bèn đến bên kia nói,  trở lại  trả lời, thâu-lan-giá.
Nếu nhận lời, không đến bên kia nói, không trở lại trả lời, đột-kiết-la.
Nếu nghe nói, không đến bên kia nói, không trở lại trả lời, đột-kiết-la.
Nếu không nhận lời, đến nói, không trở lại trả lời, đột-kiết-la.

* Trang 99 *
device

Nếu nói đã lấy  người khác,  hoặc nói đã đi  chỗ khác,  hoặc nói đã chết, hoặc nói bị giặc bắt đi, hoặc nói không có, tất cả thâu-lan-giá.
Nếu có bệnh hủi, bệnh ung thư, bệnh bạch lại, can tiêu, điên cuồng, bệnh  trĩ, nơi đường (đại  tiểu  tiện) có nhọt mủ chảy mãi,  trở lại  trả lời như vậy, lời nói này tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo một lần  làm môi giới cho người nữ, phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy  theo  làm mai mối nhiều hay  ít, nói rõ ràng, mỗi mỗi phạm tăng-già-bà-thi-sa; nói không rõ ràng phạm thâu-lan-giá.
Nếu bằng  thư, bằng dấu  tay, hoặc  ra hiệu, tới  lui nói, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  ra  hiệu  mà  người  kia  hiểu, tăng-già-bà-thi-sa;  không  hiểu, thâu-lan-giá. Trừ hai đường, nói đến chi tiết nào trong thân phần để mai mối, phạm thâu-lan-giá.
Đối với  thiên nữ, A-tu-la nữ,  long nữ, Dạ-xoa nữ, ngã quỷ nữ, súc sinh cái có thể biến hình, huỳnh môn, hai căn, mà làm mai mối, nói rõ  ràng,  thâu-lan-giá;  không  rõ  ràng,  đột-kiết-la. Bằng  thư, bằng dấu tay, bằng ra hiệu khiến cho người kia hiểu, thâu-lan-giá; không hiểu, đột-kiết-la. [584a1] Đối với súc sinh không thể biến hình, làm mai mối, đột-kiết-la. Làm mai mối nam, đột-kiết-la. 
Nếu tỳ-kheo tới  lui  làm mai mối với  ý tưởng  làm mai mối, tăng-già-bà-thi-sa.  Làm  mai mối,  nhưng  nghi,  thâu-lan-giá.  Làm  mai mối với ý tưởng không phải mai mối, thâu-lan-giá. Không  làm mai mối mà  nghi  làm mai,  thâu-lan-giá. Người nữ mà  nghi,  thâu-lan-giá. Nữ loài người mà tưởng nữ loài phi nhơn, thâu-lan-giá. Nữ loài phi  nhơn,  mà tưởng  là nữ  loài  người,  thâu-lan-giá. Nữ  loài  phi nhơn, nghi, thâu-lan-giá.
Nếu tỳ-kheo mang thư của người đi nhưng không xem, đột-kiết-la.
Nếu  vì bạch  y  làm sứ  giả  các  việc  khác,  đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đây là các trường hợp phạm.
Sự  không  phạm: nếu  nam nữ  trước  đã  thông  nhau mà  sau  ly  biệt

* Trang 100 *
device

làm cho hòa hợp lại. Hoặc vì cha mẹ bệnh hoạn, hay bị giam hãm trong ngục, xem thư rồi mang đi. Hoặc vì ưu-bà-tắc tín tâm tinh tấn mà bị bệnh,  hoặc bị  giam  hãm  trong  ngục,  xem  thư rồi mang  đi. Hoặc vì Phật, Pháp, Tăng, tháp, hoặc vì tỳ-kheo bệnh, xem  thư rồi mang đi. Những trường hợp như trên không phạm. 
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống não bức bách. 
VI. LẬP THẤT NHỎ (1)
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở  trong núi Kỳ-xà-quật, tại  thành La-duyệt-kỳ. (2) Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo làm phòng xá riêng. Các tỳ-kheo người nước Khoáng dã, (3) nghe đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo  làm  phòng  xá  riêng, họ  liền  làm  phòng  xá lớn.  Vì họ  làm phòng xá lớn nên đòi hỏi nhiều công sức. Các tỳ-kheo ấy đi cầu xin khắp nơi, nói: “Cho  tôi công  thợ khéo; cung cấp cho  tôi xe cộ và người đánh xe; cung cấp cho tôi cây, gỗ, tre, tranh, giây cột, v.v...”
Vì các tỳ-kheo khất cầu quá phiền hà, nên các cư sĩ mỗi khi từ xa, thấy tỳ-kheo đều quay xe  tránh xa; hoặc  lánh vào trong các đường hẻm, hoặc vào trong chợ búa, hoặc tự vào trong nhà, hay cúi đầu đi thẳng, không cho tỳ-kheo  thấy mặt. Tại sao vậy? Vì sợ tỳ-kheo có sự khất cầu đòi hỏi.
Lại  có một tỳ-kheo  Khoáng  dã  muốn  xây cất  phòng  xá;  bèn tự mình  chặt lấy  cây  để  làm. Vị  thần nương  ở nơi  cây  đó  có  nhiều con
_______________
(1) Pāli, Vin. iii. 144, kuṭikāsikkhapadaṃ. Ngũ phần, tr. 13a12; Tăng-kỳ tr. 276b1; Thập tụng, tr. 20b7; Căn bản, tr. 688a19.
(2) Tăng kỳ: Phật tại tinh xá Khoáng dã 曠野精舍; Thập tụng: Phật tại A-la-tì quốc 阿羅毘國.
(3) Khoáng dã quốc 曠野國; Ngũ phần 3: A-trà-bệ ấp 阿荼髀邑; Thập tụng 3: A-la-tì tỳ-kheo 阿羅毘比丘. Pāli: āḷavakā bhikkhū, các Tỳ-kheo người Āḷavī, một thị trấn nằm giữa Sāvatthī (Xá-vệ) và Rājagaha (Vương-xá).

* Trang 101 *
device

cháu, khởi  lên  ý  nghĩ:  “Con  cháu của  ta  đông,  cây  này  là nơi che chở, nương tựa của  ta, mà tỳ-kheo này chặt phá. Ta phải đánh tỳ-kheo  này.” Rồi  thần  cây  nghĩ  trở lại:  “Nay  ta nếu  trước  không xét kỹ mà đánh tỳ kheo, sợ e  trái đạo  lý. Ta nên đến chỗ đức Thế Tôn,  [584b] đem vấn đề này  thưa  rõ với Ngài. Nếu đức Thế Tôn giáo sắc  thế nào,  ta sẽ phụng hành  thế ấy.” Nghĩ rồi, ông  liền đến chỗ  đức Thế Tôn, lạy dưới  chân Phật,  đứng  qua một  bên  và  đem vấn đề thưa rõ đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn khen ngợi:
“Lành  thay, ngươi đã không đánh vị tỳ-kheo trì giới. Nếu đánh  thì mắc tội vô lượng. Nay ngươi nên đến dòng sông Hằng, nơi đó có một  cây  đại  thọ  tên  là  sa-la. Vị  thần nương  ở  cây  đó vừa mạng chung. Ngươi có thể cư ngụ ở nơi đó.” Vị thần kia nghe xong, đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, nhiễu ba vòng, rồi biến mất.
Khi ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (1) từ nước Ma-kiệt, hướng dẫn chúng đại tỳ-kheo năm  trăm người, cùng đến nơi  thành Khoáng dã, nghỉ lại một đêm, sáng ngày đắp y, bưng bát vào thành khất thực, bước đi đoan nghiêm, mắt nhìn đứng đắn, cử chỉ dáng điệu cùng chúng có khác.
Khi ấy,  trong thành, các cư sĩ xa  thấy tỳ-kheo bèn  lánh vào đường
hẻm, hay vào trong chợ búa, hoặc tự vào lại trong nhà, hoặc cúi đầu đi thẳng không cho tỳ-kheo thấy mặt. Tôn giả Ca-diếp thấy sự việc như vậy, bèn hỏi một người: “Các cư sĩ nơi  đây tại  sao  thấy tỳ-kheo  tránh mặt,  không  cho tỳ-kheo thấy?” 
Người ấy nói với Tôn giả Ca-diếp rằng:
“Đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo  làm phòng xá  riêng. Các tỳ-kheo  khất cầu  phương  tiện  nhiều  nên  gây  phiền  hà. Do vậy, mọi người đều  tránhmặt.” Tôn giả Ca-diếp nghe như vậy rồi bùi ngùi không vui.
Lúc ấy, đức Thế Tôn từ thành La-duyệt dẫn 1.250 vị Tỳ-kheo đến
________________
(1) Tăng kỳ, nt: Tôn giả Xá-lợi-phất.

* Trang 102 *
device

nơi  thành Khoáng dã. Đến nơi, quý vị đều  trải  tòa an tọa. Tôn giả Ca-diếp đến chỗ đức Thế Tôn, lạy dưới chân Phật, đứng qua một bên, bày trống vai hữu, chấp tay, quỳ gối bạch Phật:
“Vừa vào thành khất thực, con thấy các cư sĩ, từ xa  trông thấy các tỳ-kheo, họ đều tránh mặt... (nói đầy đủ như trên).”
Tôn giả  thưa xong, lạy dưới chân Phật, nhiễu ba vòng, rồi  ra khỏi thành Khoáng dã. Tại sao vậy? Vì sợ các tỳ-kheo nơi thành Khoáng dã sinh tâm thù hận. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng: “Ta nhớ ngày trước, trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ này, có một vị thần đến nơi Ta, cúi đầu lạy dưới chân, rồi đứng qua một bên, thưa với Ta: ‘Đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo nơi Khoáng dã  làm phòng xá  riêng.’” Các ngươi  khất cầu nhiều... (nói đầy đủ như  trên). Nay Ta hỏi: “Có  thật các người  làm phòng xá riêng, khất cầu nhiều như vậy chăng?”
Các tỳ-kheo trả lời: “Sự thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo:
“Tại sao [584c] các ngươi lấy cớ Ta cho phép  làm phòng xá riêng mà lại  làm phòng xá lớn, để rồi đòi hỏi nhiều sự khất cầu phi pháp đối với vật khó kiếm?”
Đức Thế Tôn quở trách các tỳ-kheo kia rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Xưa  kia  bên  dòng  sông Hằng  này  có một  Phạm  chí bện  tóc, (1) thường ở bên dòng sông, nhan sắc  tiều tụy, hình  thể gầy còm. Bấy giờ Ta đến đó, chào hỏi xong, hỏi:  ‘Tại  sao hình  thể của ông gầy còm, nhan sắc tiều tụy như thế?’ Người kia trả lời Ta rằng: ‘Trong nước sông này có một Long vương tên  là Ma-ni-kiền-đại. (2) Mỗi lần ra khỏi cung, nó đến chỗ tôi. Thân nó quấn quanh mình tôi. Đầu nó che trên tôi. Khi ấy, tôi nghĩ: Tánh của  loài rồng rất bạo, sợ nó hại
_____________________
(1) Để bản: lãi kế 蠡髻; Tống-Nguyên-Minh: loa kế 螺髻. Pāli: dve bhātaro isayo, hai anh em Tiên nhân.
(2) Ma-ni-kiền-đại  摩尼 犍 大 . Pāli:  maṇikaṇṭho nāgarājā,  Long vương Maṇikaṇṭha.

* Trang 103 *
device

mạng  tôi. Vì sự  lo sợ này mà  thân  thể gầy còm, nhan sắc  tiều tụy thế này.’ 
Khi ấy Ta hỏi vị Phạm chí kia rằng: ‘Ông có muốn khiến con rồng đó ở luôn dưới nước, không đến chỗ ông hay không?’ 
Phạm chí kia nói: ‘Thật sự tôi muốn con rồng đó đừng đến chỗ tôi.’  Ta liền hỏi Phạm chí: ‘Con rồng kia có chuỗi anh lạc (1) hay không?’
Phạm chí đáp: ‘Dưới cổ nó có chuỗi ngọc châu anh lạc rất tốt.’ Đức  Phật  nói với  Phạm  chí rằng:  ‘Nếu  con rồng  kia,  khi  ra  khỏi nước, đến chỗ ông, ông nên đứng dậy tiếp đón và nói: Long vương, hãy chờ! Hãy mang chuỗi anh lạc dưới cổ cho tôi. Nói xong rồi thì đọc kệ:
Nay ta cần chuỗi ngọc,
Anh lạc dưới cổ ngươi.
Hãy tỏ tín tâm ưa,
Cho ta viên ngọc đó.’
Phạm  chí  ghi  nhớ lời của  Ta.  Sau  đó,  khi  Long vương từ  trong nước ra, đến chỗ Phạm chí. Từ xa, Phạm chí  trông thấy,  liền đứng dậy  nghinh đón và nói:  ‘Hãy chờ chút, này Long vương! Xin  vui lòng đưa cho tôi chuỗi ngọc dưới cổ.’
Phạm chí nói xong thuyết kệ:
Nay ta cần chuỗi ngọc,
Anh lạc dưới cổ ngươi.
Hãy tỏ tín tâm ưa,
Cho ta viên ngọc đó.
Long vương bèn trả lời Phạm chí bằng bài kệ:
Của báu tôi có được, 
Do từ viên ngọc này;
Ông lại muốn cầu xin,
Thôi không gặp nhau nữa.
________________________
(1) Anh lạc 瓔珞; Ngũ phần 2, hạt ngọc ma-ni 摩尼珠. Pāli: maṇi.

* Trang 104 *
device

Đoan chánh, đẹp, tinh sạch,
Xin ngọc khiến tôi sợ;
Thôi không gặp nhau nữa,
Cho ông ngọc làm gì? 
Long vương tức thời trở lại cung, không xuất hiện nữa.” 
[585a1] Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ:
Xin nhiều, người không ưa,
Xin quá thành thù ghét;
Phạm chí xin ngọc rồng,
Rồng không trở lại nữa!
“Tỳ-kheo, các ngươi nên biết, cho đến súc sinh còn không ưa người xin,  huống  là  đối với  loài  người,  xin  nhiều  không  nhàm  chán mà không  làm  cho  chán  ghét? Tỳ-kheo  Khoáng  dã  là  người  ngu  si, riêng  làm phòng xá lớn, có quá nhiều  yêu  sách...  (nói đầy đủ như trên)” 
Đức Thế Tôn lại bảo các tỳ-kheo: “Xưa kia, một thuở nọ, ta ở nơi vườn Cấp-cô-độc,  trong rừng  cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Khi  ấy,  có một tỳ-kheo (1) đến  chỗ  ta,  cúi  đầu lạy dưới  chân, rồi  ngồi  qua một bên,  Ta hỏi  thăm uỷ lạo rằng,  ‘Các  người sống  có  được  an  ổn không? Không khổ vì sự khất thực chăng?’
Tỳ-kheo ấy trả lời: ‘Chúng con sống được an ổn, không phải gặp sự khó khăn vì khất thực. Nhưng con ở trong rừng, có một điều lo ngại chính  là, vào nửa đêm bọn chim kêu  la bi  thảm,  làm rối  loạn định tâm của con. Con khốn đốn vì việc này.’
Đức Phật hỏi các tỳ-kheo: ‘Các ông có muốn bầy chim này không đến nơi rừng này nghỉ đêm nữa hay không?’
Tỳ-kheo  thưa với  đức Phật:  ‘Thật sự  chúng  con không muốn bầy chim ấy trở lại nghỉ đêm nơi rừng này nữa.’
_______________
(1) Tăng kỳ 6: Tỳ-kheo tên Bạt-cừ 跋懅.

* Trang 105 *
device

Đức Phật bảo các tỳ-kheo: ‘Các ông rình, khi nào bầy chim  trở lại nghỉ đêm, nói với chúng nó rằng, cho ta xin hai cái cánh, ta có việc cần dùng nó.’
“Lúc ấy, (1) các tỳ-kheo kia  sau khi ghi  nhớ lời dạy của Ta, bèn  rình khi bầy chim kia  trở lại nghỉ đêm nơi rừng; vào  lúc nửa đêm, đến chỗ bầy  chim  kia,  nói,  ‘Nay  ta cần  dùng  hai  cái  cánh của  ngươi, ngươi đem cho ta đi!’
Khi ấy, bầy chim  nghĩ  thầm,  ‘Tỳ-kheo này  xin  ta như vậy.’ Nghĩ xong, liền bay ra khỏi rừng, từ đó không trở lại nữa.”
Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các ông nên biết, cho đến loài cầm thú còn không  thích bị  người  xin, huống  là đối với  người cầu xin đòi hỏi nhiều, mà không sinh chán ghét sao?
Tỳ-kheo Khoáng  dã  là  người  ngu  si,  làm  phòng  xá lớn  riêng, có quá nhiều yêu sách... (nói đầy đủ như trên).” 
Rồi đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Xưa kia có con  trai nhà tộc  tánh, tên là Lại-tra-bà-la, (2) xuất gia hành đạo, tóm tắt cho đến, đối với nhà của cha mẹ mà cũng hoàn toàn không đến xin. Khi ấy, ông cha nói với Lại-tra-bà-la: “Con biết chăng, ta tự nghiệm xét, ít có người không đến nhà cha xin. Con là con của cha, tại sao không đến nhà cha để xin?
“Khi ấy, [585b] Lại-tra-bà-la nói kệ cho cha nghe:
Cầu nhiều, người không ưa.
Cầu không được, sinh oán. 
Cho nên con không xin,
Sợ sinh thêm bớt vậy.
“Tỳ-kheo  nên  biết, Lại-tra-bà-la,  đối với  nhà của  cha  mình  còn
______________________
(1) Để bản in thừa mấy chữ: Tỳ-kheo báo ngôn 比丘報言.
(2) Lại-tra-bà-la 賴吒婆羅, tức Lại-tra-hoà-la  trong  Trung  A-hàm  31  (T1n26, tr.623a), con nhà phú hộ ở Xá-vệ, điển hình cho tín tâm bất động của thanh niên con nhà giàu có, quyết tâm xuất gia. Cf. Pāli, Raṭṭhapāla-sutta, M.ii.54ff.

* Trang 106 *
device

không đến xin, huống là các tỳ-kheo, đối với nhà cư sĩ, lại đến khất cầu đòi hỏi nhiều, khiến cho họ không ưa.” Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách các tỳ-kheo khất cầu  phi  thời,  khất cầu  không  biết  chán,  khất cầu bất  chánh.
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện khen ngợi sự khất cầu đúng thời, khất cầu một cách vừa phải, khất cầu chơn chánh; rồi bảo các tỳ-kheo:  “Tỳ-kheo  Khoáng  dã  là  người  ngu  si,  là nơi  trồng  nhiều giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới  này  ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa,  cho  đến  câu,  để  chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, tự khất cầu để cất  thất, không có  thí chủ, tự làm cho mình, cần phải  làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng  là  dài mười hai  gang  tay Phật,  bên  trong rộng bảy gang tay Phật. Phải mời các tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn.
Các tỳ-kheo ấy cần chỉ định nơi chốn, là nơi không có nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm, nơi bị bít lối, tự khất cầu để cất  thất, không có  thí chủ, tự làm cho mình, không mời các tỳ-kheo đến để chỉ định nơi chốn, hoặc làm quá lượng định, tăng-già-bà-thi-sa. 
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tự khất cầu: vị kia khất cầu yêu sách chỗ này chỗ kia.
Thất (1): tức là phòng.
Không  có  chủ: (2) không  có một  người,  hai  người,  hay  nhiều  người đứng ra cất.
_____________
(1) Nguyên Hán: ốc 屋, nhà. Ngũ phần 2 (tr.14a20): phòng 房, mà bên trong có thể đi,  đứng, nằm, ngồi. Thập  tụng:  xá 舍, nhà  ấm, nhà mát, điện  đường, lầu gác, v.v... Pāli (Vin. iii. 149): kuṭi, túp lều, hay chòi tranh. 
(2)Ngũ phần 2: không có chủ, nghĩa là không có đàn-việt (thí chủ).

* Trang 107 *
device

Tự làm cho mình: (1) tự mình tìm cầu, tự mình làm lấy.
Đúng lượng: dài mười hai gang  tay Phật, bên  trong rộng bảy gang tay Phật. (2)
Chỗ nguy hiểm: (3) là chỗ có hổ  lang, sư tử, các thú dữ, cho đến  loài kiến.  Nếu tỳ-kheo không bị các  loài  trùng kiến hay các  loài  thú gây não hại,  thì nên dọn khu đất cho bằng phẳng; hoặc có gốc cây, đá, gai gốc, thì hãy sai người đào bỏ. Hoặc có hang, hầm, mương, rãnh, ao,ngòi,  thì hãy cho người lấp đi. Hoặc sợ nước ngập, hãy  làm đê để chắn. Hoặc chỗ đất có người nói  là của họ,  thì nên cùng xử đoán, chớ để người khác tranh cãi. Đó gọi là chỗ nguy hiểm.
Chỗ bị  bít lối: (4) nghĩa  là nơi  không  đủ  cho  chiếc  xe  chở cỏ (5) quay đầu để tới lui, như vậy gọi là chỗ bị bít lối.  Tỳ-kheo này xem coi, nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối rồi, đến  trong Tăng cởi bỏ  dép,  trống  vai  bên hữu,  quỳ gối  bên hữu chấm đất, [585c] chắp tay tác bạch: (6)
______________
(1) Tự vị kỷ 自為己. Ngũ phần 2: vị  thân 為身,  làm  cho mình,  không  phải  cho người khác, hay làm cho Tăng.
(2) Tăng kỳ  6  (tr.277c25):  trường 長  (dài), tức  chiều dọc;  quảng 廣  (rộng), tức chiều ngang. Tu-già-đà chích thủ 修伽跎搩手, gang  tay Phật  (Thiện Thệ), bằng 2  thước 4 tấc. Căn bản: gang tay Phật gấp ba người  thường. 12 gang  tay người thường có 18 khuỷu. Pāli: vidaṭṭhati = Skt. vitasti = 12 lóng tay, khoảng 9 inch.
(3) Nạn xứ 難處; Ngũ phần: chỗ ngã tư đường nhiều người tụ tập; chỗ dâm nữ, chợ búa… Pāli: sārambha, chỗ có nguy hiểm.
(4) Phương xứ 妨處;  Thập tụng  3  (tr.20c18):  đất  chung  quanh  túp lều  ấy  trong phạm vi một tầm mà là đất có tháp, đất của quan, của cư sĩ, ngoại đạo, trú xứ ni; có đá lớn, sông suối, hầm hố v.v… gọi  là phương xứ. Tăng kỳ 6  (tr.278b9): phi phương xứ, thất có bốn phía, mỗi bên đủ chỗ cho cái thang 12 nấc 十二桄梯 mà khoảng cách giữa 2 nấc là 1 khuỷu. Ngũ phần 2 (tr.14a29): hữu hành xứ 有行處, chỗ có lối đi. Căn bản 12: hữu tranh cạnh 有諍競, đất có tranh chấp, gần đó có quan sở, có nhà trưởng giả, nhà ngoại đạo, chùa ni… Pāli: aparikkammana, chỗ không có lối đi.
(5) Thảo xa 草車; Pāli: yuttena sakaṭena, xe tải có bò kéo.
(6) Tăng kỳ 2: trước làm pháp cầu thỉnh yết-ma, tức đề nghị Tăng họp để giải quyết đề nghị của tỳ-kheo hữu sự. Sau đó mới xin khất cầu yết-ma, nên đề nghị Tăng

* Trang 108 *
device

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo  tên  là..., tự khất cầu để cất thất, không có thí chủ, tự làm cho mình. Nay tôiđến  trong Tăng cầu  xin  biết  cho  đó  là  chỗ  không  nguy hiểm, không bị bít lối. 
Bạch như vậy ba lần.
Lúc bấy giờ, chúng Tăng nên quan  sát tỳ-kheo này có  thể  tin cậyđược không? Nếu có  thể  tin cậy  thì  nên cho phép cất. Nếu khôngthể  tin cậy  thì tất cả chúng Tăng nên đến nơi đó để xem xét. Nếu chúng Tăng không thể đi thì nên sai vị Tăng nào (1) có thể tin cậy đến đó để quan sát.
Nếu nơi đó có nguy hiểm, bị bít lối  thì không nên cho. Nếu khôngcó nguy  hiểm mà bị  bít lối  thì cũng không  nên cho. Nơi có nguyhiểm mà không bị bít lối cũng không cho. Chỗ không nguy hiểm, không bị  bít lối mới cho. Nơi chốn đã ổn định như vậy rồi,  trong chúng sai một người có khả năng tác yết-ma. Vị ấy có thể là thượng tọa, thứ tọa, hoặc tụng luật hay không tụng luật, nên tác bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên  là..., tự khất cầu  để cất  thất, tự cất  không  có  thí  chủ.  Nay  đến  trước chúng Tăng xin chỉ định nơi chốn là nơi không nguy hiểm, không bị bít lối. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp  thuận, chỉ định nơi chốn không nguy hiểm, không bị bít lối cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch. 
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên  là..., tự khất cầu để cất thất, tự cất cho mình, không có thí chủ. Nay, tỳ-kheo  này  đến  trước Tăng  xin  chỉ  định nơi  chốn (2) là nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối. Nay, Tăng chỉ định
______________________
giám sát việc cất thất hợp pháp.
(1) Tăng kỳ 2: yết-ma Tăng  sai, cử tỳ-kheo đại diện, tối đa 3 người. Tứ phần và Ngũ phần, không có văn yết-ma Tăng sai.
(2) Hán: dữ xử phân 與處分; Pāli: kuṭivatthudesana, chỉ định chỗ có thể cất thất.

* Trang 109 *
device

nơi  chốn  cho tỳ-kheo  tên  là..., nơi  không  có  nguy  hiểm, không bị bít lối. Các  trưởng  lão nào chấp  thuận, Tăng naychỉ định nơi chốn cho tỳ-kheo  tên  là..., nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối, thì im lặng. Ai không chấp nhận, xin nói. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn cho tỳ-kheo  tên  là..., nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối, vì  im lặng. Việc này  tôi ghinhận như vậy.
D. PHẠM TƯỚNG
Vị tỳ-kheo cất phòng nên biết, từ khi khởi công đặt đá, đắp đất, hay vắt  bùn,  cho  đến  khi  trét  bùn  sau  cùng,  hoàn  thành  toàn bộ, mà không  được Tăng  chỉ  định nơi  chốn,  làm  quá lượng, nơi  nguy hiểm, bị bít lối: phạm hai tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la. 
Tăng  không  chỉ  định nơi  chốn, cất  quá lượng, nơi  có  nguy  hiểm, nhưng không bị bít lối: hai tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la. 
Tăng không chỉ định nơi chốn, cất quá lượng,  tuy nơi không nguy hiểm, nhưng bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la. 
Tăng không chỉ định nơi chốn, tuy không cất quá lượng, nhưng cất nơi nguy hiểm, bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.
Tăng  không  chỉ  định nơi  chốn,  không cất  quá lượng, nơi  nguy hiểm, không bị  bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la. 
Tăng  không  chỉ  định nơi  chốn,  không cất  quá lượng, nơi  không nguy hiểm nhưng bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.
Tăng  đã  chỉ  định nơi  chốn,  nhưng cất  quá lượng,  [586a1] nơi  có nguy hiểm, bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la. 
Tăng  đã  chỉ  định nơi  chốn,  nhưng cất  quá lượng,  tuy cất nơi  có nguy hiểm nhưng không bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

* Trang 110 *
device

Tăng  đã  chỉ  định nơi  chốn,  nhưng cất  quá lượng,  [586a1] nơi  có nguy hiểm, bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la. 
Tăng  đã  chỉ  định nơi  chốn,  nhưng cất  quá lượng,  tuy cất nơi  có nguy hiểm nhưng không bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn, nhưng cất quá lượng; nơi không nguy hiểm, nhưng bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn, không cất quá lượng, nơi có nguy hiểm nhưng không bị bít lối: một đột-kiết-la. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn, không cất quá lượng, nơi không nguy hiểm, nhưng bị bít lối: một đột-kiết-la. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn, nhưng cất quá lượng, nơi không nguy hiểm, không bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa. 
Nếu Tăng tỳ-kheo không chỉ định nơi chốn, cất quá lượng, nơi có nguy hiểm, bị bít lối, tự cất thất, hoàn thành, phạm tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la; cất mà không  thành, phạm hai  thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la.
Nếu sai bảo người khác cất,  thành  thì phạm hai tăng-già-bà-thi-sa, hai  đột-kiết-la; (1) không  thành  thì  phạm  hai  thâu-lan-giá,  hai  đột-kiết-la. Nếu vì người khác cất thất, mà thành thì phạm hai thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la; không thành, phạm bốn đột-kiết-la. 
Nếu khi cất  thất mà dùng dây đo đất đúng lượng, nhưng người cất quá lượng, thì người cất phạm. Nếu tỳ-kheo sai người đặt dây mực để cất,  người  nhận lời  sai bảo  nói:  “Cất  như  pháp”, mà cất  quá lượng  thì người nhận lời ấy phạm. Nếu người ấy lại sai bảo người khác coi theo dây mực và được làm như pháp, không báo trở lại mà cất  thì  phạm. Nếu  sai  người  đặt  dây mực mà cất tức  là cất  như pháp; người sai bảo không hỏi có  làm như pháp không? Người sai bảo phạm. Nếu Tăng không chỉ định nơi chốn, có ý tưởng không chỉ  định nơi  chốn,  phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tăng  không  chỉ  định nơi  chốn,  nghi,  thâu-lan-giá. Tăng  không  chỉ  định nơi  chốn,  có  ý tưởng Tăng chỉ định nơi chốn,  thâu-lan-giá. Tăng đã chỉ định nơi chốn, có ý tưởng Tăng không chỉ định nơi chốn, thâu-lan-giá. Tăng
________________                                       
(1) Pāli, Vin.iii.153: Tỳ-kheo  sai bảo  người cất  thất,  chỗ  không  được Tăng  chỉ định, chỗ có nguy hiểm, không có lối đi, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

* Trang 111 *
device

đã chỉ định nơi chốn, có nghi, thâu-lan-giá. Cất quá lượng cũng như vậy. Nếu có nguy hiểm, tưởng có nguy hiểm, đột-kiết-la. Có nguy hiểm,  nghi,  đột-kiết-la.  Có  nguy  hiểm, tưởng  không  nguy  hiểm, đột-kiết-la.  Không  nguy  hiểm, tưởng  có  nguy  hiểm,  đột-kiết-la. Không  nguy  hiểm,  nghi,  đột-kiết-la. Nơi bị  bít lối cũng  như vậy. Tỳ-kheo-ni,  thâu-lan-giá.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni  thì  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: cất đúng lượng, cất giảm lượng, Tăng chỉ định nơi chốn, nơi  không  nguy  hiểm, nơi  không bị  bít lối,  đo  như  pháp. Hoặc vì Tăng mà cất, vì Phật mà cất, cất làm giảng đường, am bằng cỏ, am bằng  lá, hoặc cất  thất nhỏ [586b] đủ ở dung  thân, hoặc cất cho  nhiều  người  ở,  đó gọi  là  không  phạm.  Người  không  phạm: người phạm đầu  tiên khi  chưa chế giới;  người  si cuồng  loạn  tâm, thống não bức bách. 
VII. CẤT CHÙA LỚN (1) 
A. DUYÊN KHỞI
Lúc bấy  giờ,  đức Thế Tôn ở  trong vườn Cù-sư-la, (2) tại nước Câu-thiểm-di. (3)Khi ấy, vua Ưu-điền (4) nói cùng Tôn giả Xiển-đà, (5) là bạn tri thức thân hữu, rằng: “Tôi muốn  làm  cho  ngài một  cái  nhà. Ngài muốn  cái  nhà  đó  đẹp như  thế nào cũng được. Địa điểm nào tốt có thể xây cất phòng xá, cũng tùy ý ngài chọn.”
_________________                                        
(1) Ngũ  phần 3,  tr.14b28;  Tăng kỳ,  tr.297a18;  Thập tụng  4,  tr.21b12; Căn bản, tr.689a25. Pāli, Vin. iii. 155: vihārakāra, làm tinh xá.
(2) Cù-sư-la 瞿師羅. Pāli: Ghositārāma.
(3) Câu-thiểm-di 拘睒彌; Ngũ phần3: Câu-xá-di 拘舍彌. Căn bản 12: Kiêu-thiểm-tì 憍閃毘.
(4) Ưu-điền 優填. Tăng kỳ 6: Xiển-đà 闡陀 đến nhà thí chủ tên A-bạt-tra 阿跋吒. Thập tụng: trưởng lão Xiển-na 闡那, thân thiết với vua, quan. Pāli không đề cập tên vua. Theo các tài liệu Pāli, thời Phật, vua nước Kosambī là Parantapa; người kế vị là Udena.
(5) Xiển-đà 闡陀. Thập tụng: Xiển-na 闡那. Pāli: Channa. 

* Trang 112 *
device

Tôn giả trả lời:  “Tốt đẹp thay!”
Lúc bấy  giờ, gần  thành Câu-thiểm-di  có  cây  thần  là Ni-câu-luật. (1) Nhiều  người  qua lại, cũng  như  voi  ngựa  xe cộ  thường  nghỉ mát dưới gốc cây đó. Tôn giả Xiển-đà đến chặt cây kia để cất nhà lớn. Các cư sĩ thấy vậy, đều chê trách: “Sa-môn Thích tử không có tàm quý, đoạn mạng chúng sinh. Bên ngoài tự xưng rằng ta biết Chánh pháp. Như vậy làm gì có Chánh pháp. Cây đại thọ tốt đẹp như vậy, nhiều người tới  lui, voi, ngựa, xe cộ thường nghỉ mát dưới gốc cây đó, mà lại đến chặt để làm nhà lớn.”
Lúc  ấy,  trong số  các tỳ-kheo  nghe  được,  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh  đầu-đà, ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách Xiển-đà rằng: “Cây đại thọ tốt như vậy, nhiều người tới  lui, voi ngựa xe cộ thường  đến  nghỉ mát dưới gốc  cây,  sao lại  đến  chặt  để  làm  nhà lớn?”
Các tỳ-kheo quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này trình lên đức Phật, một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố ý hỏi Xiển-đà:
“Có thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?”
Xiển-đà thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, sự việc đúng như vậy.” 
Đức Thế Tôn  quở  trách:  “Việc  làm của  ngươi  là  sai  quấy,  chẳng phải  oai  nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”
Đức  Thế  Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách rồi bảo  các tỳ-kheo:  “Kẻ  ngu  si  này,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  người phạm giới này đầu  tiên. Từ nay về sau Ta vì các Tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
___________________
(1) Ni-câu-luật thần thọ 尼拘律神樹. Pāli: cetiya-rukkham, cây có miếu thần.

* Trang 113 *
device

B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, muốn cất chùa lớn, có thí chủ làm cho mình, cần phải mời các tỳ-kheo khác đến chỉ định nơi chốn. Các tỳ-kheo  ấy cần  chỉ  định nơi  chốn,  là nơi  không  có  nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu [586c] tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm, nơi bị bít lối, cất chùa lớn, có  thí chủ làm cho mình, không mời các tỳ-kheo đến để chỉ định nơi chốn, tăng-già-bà-thi-sa.
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Lớn: dùng nhiều tiền của và vật liệu. (1)
Có chủ: hoặc một, hai hoặc số đông người.
Làm cho mình: vì thân mình mà làm.
Chỗ nguy hiểm:  là chỗ có hổ  lang, sư tử, các  thú dữ, cho đến  loài kiến. Nếu tỳ-kheo không bị các loài trùng kiến hay các loài thú gây não hại,  thì nên dọn khu đất cho bằng phẳng; hoặc có gốc cây, đá, gai gốc, thì hãy sai người đào bỏ. Hoặc có hang, hầm, mương, rãnh, ao, ngòi,  thì hãy cho người lấp đi. Hoặc sợ nước ngập, hãy  làm đê để  chắn.  Hoặc  chỗ  đất  có  người  nói  là của họ,  thì  nên  cùng xử đoán,  chớ  để  người  khác  tranh  cãi. Đó gọi  là  chỗ  không bị  nguy hiểm.
Chỗ bị bít lối: nghĩa  là nơi không đủ cho chiếc xe chở cỏ quay đầu
để tới lui, như vậy gọi là chỗ bị bít lối. 
Tỳ-kheo này xem coi, nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối rồi, đến  trong Tăng cởi bỏ  dép,  trống  vai  bên hữu,  quỳ gối  bên hữu chấm đất, chắp tay tác bạch:
Đại  đức Tăng  xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo  tên  là..., muốn
_________________
(1) Pāli, Vin. iii. 156: mahallako nāma vihāro sassāmiko vuccati, tinh xá có thí chủ làm cho được xem là lớn.

* Trang 114 *
device

cất chùa lớn, có thí chủ làm cho mình, nay đến trước Tăng, xin chỉ định cho chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối.
Lần  thứ  hai, lần  thứ  ba cũng  thưa  như vậy.  Lúc bấy  giờ,  chúng Tăng nên quan  sát tỳ-kheo này có  thể  tin cậy được không? Có  trí tuệ  không? Nếu  có  thể  tin cậy,  có  trí  tuệ,  thì  nên  tác yết-ma  cho phép cất. Nếu không thể tin cậy, không có trí tuệ, thì nên cử một số tỳ-kheo,  hoặc  sai tỳ-kheo  có  trí  tuệ,  đáng  tin cậy,  đến nơi  đó  để xem  xét. Nếu nơi  đó  có  nguy  hiểm, bị  bít lối  thì  không  nên  cho. Nếu không có nguy hiểm mà bị bít lối thì cũng không nên cho. Nơi có nguy hiểm mà không bị bít lối cũng không cho. Chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối mới cho. Nơi chốn đã ổn định như vậy rồi, trong chúng sai một người có khả năng như đã nói tác yết-ma. Nên tác bạch:
Đại  đức Tăng  xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên  là..., muốn cất chùa lớn, có thí chủ làm cho mình, nay đến trước Tăng xin  chỉ  định nơi  không  nguy  hiểm,  không bị  bít lối. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận chỉ định cho tỳ-kheo tên là..., chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối. Đây là lời tác bạch:
Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  tên  là..., muốn cất chùa lớn, có  thí chủ  làm cho mình, nay đến Tăng xin chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo tên là..., yết-ma chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị  bít lối. Chư Đại  đức  nào  chấp  thuận Tăng  trao cho tỳ-kheo tên là..., yết-ma chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối  thì  im lặng; ai không đồng ý xin nói. Tăng
đã  thuận cho [587a1] tỳ-kheo  tên  là..., yết-ma chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối rồi, nên im lặng. Việc ấy ghi nhận như vậy.
D. PHẠM TƯỚNG
Vị tỳ-kheo cất phòng nên biết, từ khi khởi công đặt đá, đắp đất, hay

* Trang 115 *
device

vắt  bùn,  cho  đến  khi  trét  bùn  sau  cùng,  hoàn  thành  toàn bộ, mà không  được Tăng  chỉ  định nơi  chốn, nơi  nguy  hiểm, bị  bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.  Tăng không chỉ định nơi chốn, chỗ có nguy hiểm nhưng không bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.
Tăng không chỉ nơi chốn mà cất nơi không nguy hiểm nhưng bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la. 
Tăng  đã  chỉ  định nơi  chốn mà cất nơi  có  nguy  hiểm, bị  bít lối, phạm hai đột-kiết-la. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn mà cất nơi có nguy hiểm, nhưng không bị bít lối, phạm một đột-kiết-la. 
Tăng đã chỉ định nơi chốn, mà cất nơi không nguy hiểm nhưng bị bít lối, phạm một đột-kiết-la. 
Tăng  không  chỉ  định nơi  chốn,  nhưng cất nơi  không  nguy  hiểm, không bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo, Tăng không chỉ định nơi chốn, nơi có nguy hiểm, bị bít lối, cất phòng lớn, có thí chủ cất cho mình, cất xong, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la; cất không thành, phạm một thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la. 
Nếu sai bảo người cất thì phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la;  không  thành  phạm một  thâu-lan-giá,  hai  đột-kiết-la. Vì  người khác khởi công xây cất nhà mà hoàn  thành  thì phạm một thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la; cất mà không thành phạm ba đột-kiết-la.
Tăng không chỉ định nơi chốn, có ý tưởng không chỉ định nơi chốn, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tăng không chỉ định nơi chốn, sinh nghi, phạm thâu-lan-giá. Tăng không chỉ định nơi chốn, có ý tưởng là chỉ định nơi chốn, phạm thâu-lan-giá.
Tăng đã chỉ định nơi chốn, tưởng không chỉ định nơi chốn, phạm thâu-lan-giá. Tăng đã chỉ định nơi chốn, sinh nghi, phạm  thâu-lan-giá. Có nguy hiểm, tưởng có nguy hiểm; bị bít lối, tưởng có bị bít lối, đều cũng dùng năm câu như vậy.

* Trang 116 *
device

Tỳ-kheo-ni,  thâu-lan-giá.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni  phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Tăng chỉ định nơi chốn, cất nơi không nguy hiểm, không bị bít lối, vì Tăng, vì Phật đồ, giảng đường, am bằng  tranh, am bằng  lá, cái  thất nhỏ đủ dung  thân, vì nhiều người xây cất thất thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống não bức bách. 
VIII. VÔ CĂN BÁNG (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một  thời, đức Phật ở  trong núi Kỳ-xà-quật, tại  thành La-duyệt-kỳ.
Bấy giờ, có Tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử (2) đắc A-la-hán, đang thiền tọa tư duy tại chỗ thanh vắng,  tâm tự nghĩ rằng: “Thân này không bền chắc. Nay  ta nên dùng phương  tiện  nào để  tìm cầu sự bền chắc?” Tôn giả lại nghĩ: 
“Nay ta nên tận lực cúng dường bằng cách phân phối ngọa cụ trong Tăng và theo thứ lớp mời đi thọ thực (3) chăng?” Khi ấy, vào buổi xế chiều, Đạp-bà-ma-la Tử rời  khỏi  chỗ  thiền tịnh,  [587b] sửa lại  y phục, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua
_____________________                                         
(1) Ngũ  phần,  tr.15a3;  Tăng kỳ,  tr.280a19;  Thập tụng,  tr.22a8;  Căn bản  13, tr.691b12. Vin. iii. 158.
(2) Đạp-bà-ma-la Tử 沓婆摩羅子; Ngũ  phần 3, Đà-bà Lực Sỹ Tử 陀婆力士子; Tăng-kỳ, Đà-phiêu Ma-la Tử 陀驃摩羅子; Thập tụng 4, Đà-phiêu Lực Sỹ Tử 陀驃力士子; Căn bản 13, Thật Lực Tử 實力子. Pāli: Dabba Mallaputta.
(3) Sai  thứ  thỉnh  phạn  thực,  phân  phối tỳ-kheo  thứ tự  đi  thọ  trai  khi  được cư sĩ thỉnh. Ngũ phần: sai hội 差會. Tăng kỳ: điển tri 9 sự: điển thứ sai thỉnh hội (thứ mời thọ thực); điển thứ phân phòng xá (chia phòng xá); điển thứ phân y vật (chia y vải); điển thứ phân hoa hương; điển thứ phân quả lỏa (chia dưa trái ); điển thứ tri  noãn  thủy  nhân  (cung cấp nước  nóng);  điển  thứ  phân tạp  bính  thực  (chia bánh);  điển  thứ  tri  tùy  ý cử  kham sự  nhân  (cắt  đặt  người  công  tác). Pāli: bhattudesaka, người phân phối thức ăn cho các tỳ kheo.

* Trang 117 *
device

một bên, bạch đức Thế Tôn:
“Vừa rồi, khi đang thiền tọa tư duy tại chỗ thanh vắng, con tự nghĩ rằng: ‘Thân này không bền chắc. Nay ta nên dùng phương tiện nào để  tìm cầu sự bền chắc? Ta có nên tận lực cúng dường bằng cách phân  phối  ngọa cụ  trong Tăng  và  theo  thứ lớp mời  đi  thọ  thực chăng?’”
Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Nên sai Đạp-bà-ma-la Tử làm người phân phối ngọa cụ cho Tăng, và theo thứ tự mời Tăng đi thọ thực.”
Bạch  nhị yết-ma,  trong  chúng  nên  sai  người  có  khả năng  như  đã nói, tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và  theo  thứ tự mời đi  thọ  thực. Đây  là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và  theo  thứ tự mời đi  thọ thực. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và  theo  thứ tự mời đi thọ thực, thì im lặng; ai không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và  theo  thứ tự mời Tăng đi phó  trai rồi, nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Lúc ấy, Đạp-bà-ma-la Tử  liền vì Tăng phân phối ngọa cụ. Những vị cùng ý hướng thì thành cộng đồng (1): A-luyện-nhã cộng đồng với a-luyện-nhã, khất thực (2) cộng đồng với khất thực, nạp y cộng đồng
__________________                                        
(1) Đồng ý (tỳ-kheo) 同意者. Pāli (Vin. iii. 159): sabhāgānān bhikkhūnaṃ, những tỳ-kheo chung trong một nhóm.
(2) Tỳ-kheo chỉ hành khất thực, không nhận thí chủ mời: một hạnh đầu-đà.

* Trang 118 *
device

với nạp y, (1)  không làm pháp dư thực cộng đồng với không làm pháp dư  thực, (2) nhất tọa  thực cộng  đồng với  nhất tọa  thực,  ăn một vắt cộng đồng với ăn một vắt, ngồi nơi gò mả cộng đồng với ngồi nơi gò mả, ngồi nơi chỗ trống cộng đồng với ngồi nơi chỗ  trống, ngồi dưới  bóng  cây cộng  đồng với  ngồi dưới  bóng  cây,  thường  ngồi cộng  đồng với  thường  ngồi,  tùy tọa cộng  đồng với  tùy tọa,  ba  y cộng đồng với  ba  y, bối-nặc (3) cộng đồng với bối-nặc, đa văn cộng đồng với đa văn, pháp sư cộng đồng với pháp sư, trì luật cộng đồng với trì luật, tọa thiền cộng đồng với tọa thiền.
Bấy giờ, nơi La-duyệt-kỳ có tỳ-kheo khách đến, Đạp-bà-ma-la Tử liền theo thứ tự thích hợp phân phối ngọa cụ. Khi ấy có một trưởng lão tỳ-kheo, xẩm chiều,  lên núi Kỳ-xà-quật. Tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử từ nơi tay phát ra ánh sáng để phân phối ngọa cụ. Tôn giả nói:
“Đây  là phòng. Đây  là giường dây. Đây  là giường gỗ. Đây  là nệm lớn, nệm nhỏ. Đây  là gối nằm. Đây  là đồ trải đất. Đây  là ống nhổ. Đây  là đồ đựng nước tiểu. Đây  là nơi đại tiện. Đây  là tịnh địa. Đây là bất tịnh địa.”
Đức  Thế  Tôn  khen  ngợi rằng:  “Trong  hàng  đệ tử của  ta,  người phân phối ngọa cụ cho Tăng, Đạp-bà-ma-la Tử là đệ nhất.”
[587c] Khi ấy, có tỳ-kheo Từ Địa (4) đến thành La-duyệt. Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho tỳ-kheo khách, tùy theo thứ bậc thích hợp, kể từ hàng Thượng tọa. Tỳ-kheo Từ Địa kia  là bậc hạ tọa ở
_______________
(1) Chỉ tỳ-kheo trì y phấn tảo: một hạnh đầu-đà.
(2)  Nghĩa là, tỳ-kheo ăn xong rồi, không ăn thêm nữa, dù ăn chưa đủ no.
(3)  Bối nặc 唄匿; Pāli. bhāṇaka, (người) đọc tụng, ca vịnh.
(4) Từ Địa 慈地,  theo văn, hình như một người. Nhưng khi dùng các đại từ, văn Hán dịch nói  ngã  đẳng 我等 hay  nhữ  đẳng 汝等. Như vậy, Từ Địa không  chỉ một tỳ-kheo, mà chỉ một nhóm tỳ-kheo. Ngũ phần 3: Từ Địa huynh đệ 慈地兄弟, nghĩa là hai người. Tăng kỳ 7: nhóm sáu tỳ-kheo. Thâp tụng 4: Di-đa-la-phù-ma 彌多羅浮摩, một người. Căn bản 13: hai tỳ-kheo Thiện Hữu và Đại Địa 善友大地. Pāli: Mettiyabhummajakā  bhikkhū,  các tỳ-kheo  đồng bọn của Mettiya  và Bhummaka, trong nhóm sáu tỳ-kheo.

* Trang 119 *
device

trong chúng, nên nhận được phòng xấu, ngọa cụ xấu. Từ Địa bèn nổi  sân  nhuế, nói: “Đạp-bà-ma-la Tử  thiên vị, ưa  thích  người  nào thì phân phối phòng tốt, ngọa cụ tốt. Người nào không ưa thích thì trao phòng xấu, ngọa cụ xấu. Tại sao chúng Tăng lại sai người có sự thiên vị như vậy mà phân phối ngọa cụ của Tăng?” Sáng hôm sau, Đạp-bà-ma-la Tử, mời chư Tăng theo thứ tự đi phó trai. 
Khi ấy,  trong thành La-duyệt, có một đàn-việt thường mỗi năm lại thiết một bữa cơm ngon để cúng dường Tăng. Từ Địa tỳ-kheo hôm ấy đến phiên được mời đến đó. Nhà đàn-việt kia nghe Từ Địa tỳ-kheo sẽ đến  thọ  thực  theo  thứ tự. Họ bèn  trải phu cụ tệ xấu ngoài ngõ để đón, tọa cụ và thức ăn cũng tồi tệ dùng để thiết đãi. Tỳ-kheo Từ Địa nhận được thức ăn xấu như vậy lại càng sân nhuế, nói:
“Đạp-bà-ma-la Tử thiên vị, ưa thích người nào thì phân phối phòng tốt, ngọa cụ tốt. Người nào không ưa thích thì trao phòng xấu, ngọa cụ xấu. Ông không ưa chúng  tôi nên  trao cho  tôi phòng xấu, ngọa cụ xấu. Sáng hôm nay vì không  thích chúng  tôi nên lại mời chúng tôi đến thọ thức ăn tồi. Tại sao chúng Tăng lại sai tỳ-kheo có thiên vị như vậy  làm người vì Tăng phân phối ngọa cụ và mời Tăng đi phó trai?”
Bấy giờ, trong thành La-duyệt, có một tỳ-kheo-ni tên là Từ, (1) em gái của tỳ-kheo Từ Địa, nghe tỳ-kheo Từ Địa đến  thành La-duyệt, cô liền đến chỗ tỳ-kheo thăm hỏi:
“Thầy đi đường xa có mệt nhọc không? Có vất vả lắm không?” 
Với  những lời  thăm hỏi tốt đẹp như vậy, mà tỳ-kheo Từ Địa  làm thinh không trả lời. Cô Tỳ-kheo-ni hỏi:
“Thưa Đại đức, em có lỗi gì mà Đại đức không đáp?”
Tỳ-kheo Từ Địa nói: “Cần gì nói chuyện với cô? Tôi đang bị Đạp-bà-ma-la Tử quấy nhiễu, mà cô không thể trợ giúp tôi.”
________________
(1) Từ 慈. Pāli: Mettiyā.

* Trang 120 *
device

Cô tỳ-kheo-ni hỏi: “Muốn em  làm những phương  tiện gì để khiến
Đạp-bà-ma-la Tử không quấy nhiễu Đại đức?” 
Tỳ-kheo Từ Địa nói:  “Cô chờ khi  nào Phật và Tăng tỳ-kheo họp, đến  giữa  chúng  nói  như vầy:  ‘Thưa  chư  Đại  đức!  Thật  là  điều không thiện, không thích hợp, không tốt đẹp, không tùy thuận, điều không nên, không hợp thời! Tôi vốn nương vào nơi không có sự sợ sệt, sự ưu não, tại sao ngày nay lại sinh sợ sệt ưu não? Tại sao trong nước lại  sinh  ra lửa? Đạp-bà-ma-la Tử  này  [588a1]  đã  phạm  đến tôi.’ Chúng Tăng liền hòa hợp làm pháp diệt tẫn. Như vậy, y không còn đến quấy nhiễu anh nữa.”
Cô tỳ-kheo-ni nói: “Điều này có khó gì, em có thể làm được.”
Rồi thì, tỳ-kheo-ni Từ đến giữa Tăng,… được nói như trên.(1)
Lúc ấy, Đạp-bà-ma-la Tử ngồi cách đức Phật không xa. Đức Thế
Tôn biết mà vẫn hỏi: 
“Ông có nghe những gì tỳ-kheo-ni này nói hay chăng?” 
Tôn giả thưa: “Bạch Thế Tôn con có nghe. Thế Tôn biết điều đó.” 
Đức Thế Tôn bảo:
“Ông không thể trả lời như vậy. Thật thì nói  là thật. Không thật thì nói không thật.”
Đạp-bà-ma-la Tử nghe đức Thế Tôn dạy  như vậy rồi,  liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai bên hữu, quỳ gối phải xuống đất, chấp  tay bạch Phật:
“Con từ khi sinh đến nay chưa từng nhớ trong mộng hành bất tịnh, huống là đối với lúc tỉnh mà hành bất tịnh.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Lành thay, lành thay, Đạp-bà-ma-la Tử, ông nên nói như vậy.”
Khi ấy, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
________________                                
(1) Bản Hán, hết quyển 3.

* Trang 121 *
device

“Các  ông  nên  kiểm vấn tỳ-kheo Từ  Địa  này.  Chớ  để  có sự  vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ cho Tỳ-kheo Đạp-bà-ma-la Tử là người thanh tịnh này. Nếu vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ thì mắc trọng tội.”
Các tỳ-kheo thưa rằng:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Các tỳ-kheo  vâng lời  Phật dạy,  tìm  đến  chỗ tỳ-kheo Từ  Địa  để kiểm vấn gốc ngọn:
“Việc này thế nào? Có thật vậy không? Chớ vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ. Tỳ-kheo Đạp-bà-ma-la Tử này  là người thanh tịnh. Nếu vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ thì mắc trọng tội.”  
Khi tỳ-kheo Từ Địa bị các tỳ-kheo cật vấn, báo cáo rằng:
“Tôi biết Đạp-bà-ma-la Tử  là người phạm hạnh  thanh tịnh, không có  việc  làm  như vậy.  Nhưng  tôi  đến  thành  La-duyệt,  ông  ấy  vì Tăng phân phòng xá, [588b] ngọa cụ; đã trao cho chúng  tôi phòng xấu, ngọa cụ xấu. Tôi liền sinh tâm bất nhẫn, nói: Đạp-bà-ma-la Tử có  thiên vị. Thích  ai  thì  phân  cho  phòng tốt,  ngọa cụ tốt. Không thích ai  thì phân cho phòng xấu, ngọa cụ xấu. Do không  thích  tôi nên chia cho  tôi phòng xấu, ngọa cụ xấu. Rồi  theo  thứ tự mời  thọ thực  thì lại mời  tôi đến chỗ có  thức ăn dở. Do vậy,  tôi càng  thêm oán hận bội  phần,  nói rằng: Tại  sao Tăng lại  giao  cho  người  có thiên vị như vậy phân chia phòng, ngọa cụ và phân chia thứ tự mời đi  thọ  thực?  Nhưng  Đạp-bà-ma-la Tử  này lại  người  phạm hạnh thanh tịnh, không có việc làm như vậy.”
Trong các tỳ-kheo nghe, có vị  thiểu dục  tri  túc, hành hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý hiềm trách tỳ-kheo Từ Địa: “Tại sao ông vu khống Đạp-bà-ma-la Tử  là người phạm hạnh bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ?”
Rồi các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem  nhân duyên này bạch đầy đủ  lên đức Thế

* Trang 122 *
device

Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ Địa:
“Việc  làm của ngươi  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không  nên  làm. Tại  sao vu khống người phạm hạnh bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ?”
Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo:
“Có hai hạng người nhất định vào địa ngục. Hoặc chẳng phải phạm hạnh mà tự xưng  là phạm hạnh; hoặc vu khống người chơn phạm hạnh bằng tội  phi  phạm hạnh  không căn cứ. Hai hạng  người  này một mạch vào thẳng địa ngục.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ Địa rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo Từ Địa này là kẻ ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu  tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú  nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại  lâu dài.” Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, vì  thù hận ấp ủ, (1) đối với tỳ-kheo không phải ba-la-di, mà  vu  khống bằng  pháp  ba-la-di  không căn cứ, muốn hủy hoại đời sống thanh tịnh (2) của vị ấy. Về sau, dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, sự tình (3) ấy được biết là không căn cứ, tỳ-kheo này nói rằng: ‘Tôi vì thù hận nên nói như vậy.’ Tỳ-kheo nói như vậy, tăng-già-bà-thi-sa.
______________
(1) Hán: sân nhuế sở phú. Ngũ phần: ác sân 惡瞋. Tăng kỳ: sân hận bất hỷ 瞋恨不喜.  Thập tụng:  trụ  ác  sân 住惡瞋. Căn bản:  hoài  sân bất xả 懷瞋不捨. Pāli: duṭṭho doso appatīto, ác sân và bất mãn.
(2) Pàli: brahmacariyà càveyyaṃ, hủy hoại phạm hạnh, làm cho mất bản thể tỳ-kheo, tức bị tẫn xuất, không còn là tỳ kheo.
(3) Sự 事, sự việc hay sự  tình. Pāli: adhikaraṇa, sự, tức  tránh sự, có 4. Ngũ phần: sự (trong giới văn: sự việc ấy không căn cứ), 4 tránh sự: ngôn tránh sự, giáo giới tránh sự, phạm tội tránh sự, sự sự tránh sự. Thập tụng, sự có 4, như Ngũ phần.

* Trang 123 *
device

C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thù hận (1):  có mười  ác  pháp  làm  nhân  duyên  cho  nên  sân. Trong mười pháp, mỗi một pháp đều làm phát sinh sân. 
Căn cứ: có ba căn. Căn cứ do thấy, căn cứ do nghe, căn cứ do nghi.
- Căn cứ do  thấy:  thật  thấy phạm phạm hạnh;  thấy  trộm năm  tiền hay hơn năm  tiền;  thấy  [588c] đoạn mạng người. Nếu người khác thấy mà mình nghe từ họ thì gọi là căn cứ do thấy.
- Căn cứ  do  nghe: nếu  nghe  nói  phạm  phạm hạnh;  nghe  (tiếng) (2) trộm năm  tiền  hay hơn năm  tiền;  nghe  (tiếng)  đoạn mạng  người; nghe (tiếng) tự khen ngợi đắc pháp thượng nhân. Nếu người kia nói rằng nghe từ người khác thì gọi là căn cứ do nghe.
- Căn cứ do nghi: có hai  loại sinh  ra nghi, từ  thấy  sinh  ra nghi, từ nghe sinh ra nghi. Từ  thấy sinh nghi, như  thấy cùng người nữ vào trong rừng, hay từ rừng đi ra, không có y,  lõa hình, nam căn không trong sạch, thân bị nhớp; tay cầm dao có dính máu, cùng ác tri thức làm bạn. Đó gọi là từ thấy sinh ra nghi.  Từ nghe sinh nghi, hoặc trong chỗ tối nghe tiếng giường kêu, hoặc nghe  tiếng nệm cỏ chuyển động, hoặc nghe  tiếng  thân động, hoặc nghe  tiếng  thì  thầm  nói khẽ,  hoặc nghe  tiếng giao hội, hoặc nghe nói “Tôi phạm phạm hạnh”; nghe  tiếng nói  trộm năm  tiền hay hơn năm tiền, nghe tiếng nói “Tôi giết người”; hoặc nghe nói “Tôi được pháp thượng nhân.” Đó gọi là từ nghe sinh nghi. 
Trừ  ba căn  này  ra, nếu  dùng  pháp  khác  để  vu  khống,  thì gọi  là không căn cứ. 
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu người kia không  thanh tịnh, nhưng không  thấy phạm ba-la-di,
__________________
(1) Hán: sân nhuế.
(2) Văn: nghe âm thanh phát ra từ động tác của người đang phạm pháp.

* Trang 124 *
device

không nghe phạm ba-la-di, không nghi phạm ba-la-di lại nói: “Tôi thấy,  nghe,  nghi,  người  kia  phạm  ba-la-di.” Bằng  pháp  vô căn  để hủy báng, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không  thanh tịnh, nhưng không  thấy phạm ba-la-di, không  nghe  phạm  ba-la-di,  không  nghi  phạm  ba-la-di, lại  sinh  ý tưởng  thấy,  nghe,  nghi,  sau  đó  quên mất  ý tưởng  này,  nói:  “Tôi thấy,  nghe,  nghi,  người  kia  phạm  ba-la-di.” Bằng  pháp  vô căn  để vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  kia  không  thanh tịnh,  nhưng  không  thấy,  nghe,  nghi người kia phạm ba-la-di. Đối với người kia có nghi, sau đó lại nói,
“Tôi trong đây không nghi.” Nhưng lại nói, “Tôi thấy, nghe, nghi.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  kia  không  thanh tịnh,  nhưng  không  thấy,  nghe,  nghi người kia phạm ba-la-di, mà đối với người kia sinh nghi, sau đó lại quên mất nghi, bèn nói: 
“Tôi  thấy,  nghe,  nghi.” Bằng  pháp  không căn cứ  mà  vu  khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  kia  không  thanh tịnh,  nhưng  không  thấy,  nghe,  nghi người kia phạm ba-la-di, mà  trong đây không nghi. Nhưng lại nói,
“Tôi  trong đây có nghi  là tội phạm ba-la-di được  thấy, được nghe, được nghi.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  kia  không  thanh tịnh,  nhưng  không  thấy,  nghe,  nghi người kia phạm ba-la-di. Trong đây không nghi, sau đó quên  là đã không  nghi,  nhưng lại  nói:  “Tôi  thấy,  nghe,  nghi  người  kia  phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà [589a1] vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di, mà nói, “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Mà  trong đó tưởng  là  thấy,  sau đó quên ý tưởng này, lại nói, “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không

* Trang 125 *
device

căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây có nghi, lại nói: Trong đây không có nghi. “Tôi nghe  và  nghi  người  kia  phạm  ba-la-di.” Bằng  pháp  không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong  đây  có  nghi,  sau  quên, lại  nói:  “Tôi  nghe  và  nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây không nghi, lại nói: Tôi có nghi. “Tôi nghe và nghi  người  kia  phạm  ba-la-di.” Bằng  pháp  không căn cứ mà  vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây không  nghi,  sau đó quên điều không nghi, lại nói:  “Tôi  nghe,  nghi  người  kia  phạm  ba-la-di.” Bằng  pháp  không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa. (1)
Nghe,  nghi cũng  như vậy. (Trong đây có các câu, nhưng văn dài
dòng không chép ra.) (2)
Nếu tỳ-kheo bằng bốn sự (3) không căn cứ để vu khống tỳ-kheo, nói rõ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rõ ràng phạm thâu-lan-giá. Nếu  dùng dấu  tay,  thư,  sai sứ,  hoặc  làm dấu  hiệu mà  được  nhận
_____________________
(1) Căn bản  13  (tr.697c17), mười yếu tố  phạm:  1-3.  Không  thấy,  không  nghe, không nghi, mà nói dối thật có thấy, nghe, nghi. 4-5, Nghe, nghi, rồi quên, nhưng nói là không quên. 6-7. Nghe mà tin, nghe mà không tin, nhưng nói tôi thấy. 8-9. Nghe mà nghi, nghe mà không nghi, nhưng nói tôi thấy. 10. Chỉ tự nghi mà nói tôi  thấy. Thập tụng 4  (tr.23b03) mười một yếu tố đối với tỳ-kheo không  thanh tịnh: 1-3. Không  thấy, không nghe, không nghi. 4-6. Thấy, nghe, nghi rồi quên. 7-8. Nghe rồi  tin hoặc  không  tin. 9. Nghe mà nói  là nghi.  10. Nghi mà nói  là thấy. 11. Nghi mà nói là nghe.
(2) Lời chua trong bản Hán.
(3) Đây chỉ bốn ba-la-di.

* Trang 126 *
device

thức  rõ  ràng,  phạm tăng-già-bà-thi-sa;  không  rõ  ràng  phạm  thâu-lan-giá. 
Trừ bốn ba-la-di, dùng các pháp phi tỳ-kheo khác để vu khống, nói:
 “Ông phạm  biên tội, phạm tỳ-kheo-ni, với  tâm giặc  thọ giới, phá nội  ngoại  đạo,  huỳnh môn,  giết  cha,  giết mẹ,  giết A-la-hán,  phá Tăng,  ác  tâm  làm  thân  Phật  xuất  huyết,  phi  nhân,  súc  sinh,  hai căn.” (1)  Nói  rõ  ràng,  phạm tăng-già-bà-thi-sa;  không  rõ  ràng,  phạm  thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ, hoặc  làm dấu hiệu mà được nhận  thức  rõ  ràng,  phạm tăng-già-bà-thi-sa;  không  rõ  ràng  phạm thâu-lan-giá. 
Ngoại  trừ chẳng phải pháp tỳ-kheo này, lại dùng pháp không căn cứ khác để vu khống tỳ-kheo, theo trước mà (xác định) phạm.
Nếu dùng tám pháp ba-la-di không căn cứ để vu khống tỳ-kheo-ni, nói  rõ  ràng,  phạm tăng-già-bà-thi-sa;  không  rõ  ràng,  phạm  thâu-lan-giá. 
Nếu  dùng dấu  tay,  thư,  sai sứ,  hoặc  làm dấu  hiệu mà  được  nhận thức  rõ  ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa;  không  rõ  ràng  phạm  thâu-lan-giá.  
Trừ tám pháp[589b] ba-la-di này, mà dùng các pháp phi tỳ-kheo-ni không căn cứ khác, để hủy báng, rõ ràng, tăng-già-bà-thi-sa; không rõ ràng, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ, hoặc làm dấu  hiệu  mà  được  nhận  thức  rõ  ràng,  phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rõ ràng phạm thâu-lan-giá. 
Trừ  pháp  phi tỳ-kheo-ni, lại  dùng  pháp  không căn cứ  khác  vu khống tỳ-kheo-ni, theo trước mà (định) phạm. 
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni  ra nếu  dùng tội  không căn cứ  vu  khống người khác phạm đột-kiết-la. 
Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
_____________________
(1) Mười ba già nạn, có một trong các yếu tố này, không đắc giới tỳ-kheo

* Trang 127 *
device

Sự không phạm: dùng căn cứ  thấy, nghe, nghi mà nói sự  thật, nói giỡn chơi, nói nhanh vội, nói một mình, nói trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc khác thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
IX. GIẢ CĂN BÁNG (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một  thời,  đức Phật ở  trong  núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ. (2) Bấy giờ, các tỳ-kheo Từ Địa từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống, thấy con dê đực lớn cùng với con dê cái đang hành dâm. Thấy vậy, họ bèn nói với nhau rằng: “Con dê đực này  là Đạp-bà-ma-la Tử. Con dê cái là tỳ-kheo-ni Từ. Nay,  ta sẽ  nói với  các tỳ-kheo rằng:  ‘Trước  kia,  tôi  đã  vu  khống Đạp-bà-ma-la Tử bằng pháp được nghe không căn cứ. Nay chúng tôi tự mắt thấy Đạp-bà-ma-la Tử hành dâm với tỳ-kheo-ni Từ.’” 
Sau đó, họ đi đến chỗ các tỳ-kheo, nói: 
“Trước  kia,  tôi  đã  vu  khống  Đạp-bà-ma-la Tử bằng  pháp  được nghe  không căn cứ. Nay  chúng  tôi tự mắt  thấy Đạp-bà-ma-la Tử hành dâm với tỳ-kheo-ni Từ.”
Các Tỳ-kheo hỏi: 
“Việc này như  thế nào? Các ông chớ nên dùng pháp không căn cứ vu  khống,  Đạp-bà-ma-la Tử  là  người  tu  phạm hạnh.  Vu  khống người tu phạm hạnh bằng pháp không căn cứ mắc tội rất nặng.”
Lúc bấy  giờ, tỳ-kheo Từ Địa  sau  khi bị  các tỳ-kheo cật vấn,  liền nói: 
“Đạp-bà-ma-la Tử không có việc ấy. Đó  là người  thanh tịnh. Vừa rồi chúng tôi từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống, thấy con dê đực cùng với con dê cái hành dâm, nên chúng tôi liền tự bảo nhau rằng: ‘Con dê đực này  là Đạp-bà-ma-la Tử. Con dê cái  là tỳ-kheo-ni Từ.
_______________                                       
(1) Ngũ phần 3, tr.16b19; Tăng kỳ 7, tr.281a20; Thập tụng 4, tr.23b15; Căn bản 14,  tr.699b17. Vin. iii. 166.
(2) Vin.iii. 166: Rājagahe viharati Veḷuvane Kalandanivāpe.

* Trang 128 *
device

Hôm nay chính mắt chúng  ta  thấy việc ấy. Chúng  ta sẽ đến chỗ các tỳ-kheo để tố cáo: Trước đây, tôi bằng pháp được nghe không căn cứ mà vu khống Đạp-bà-ma-la Tử. Nay chính mắt  tôi tự  thấy Đạp-bà cùng tỳ-kheo-ni hành dâm.’ Song, Đạp-bà-ma-la Tử là người thanh tịnh. Thật không có việc ấy.”
Trong các tỳ-kheo nghe, có vị  thiểu dục  [589c]  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo Từ Địa:
“Tại  sao  các  ông lại  vu  khống Đạp-bà-ma-la Tử,  là  người  thanh tịnh, bằng ba-la-di không căn cứ của sự việc thuộc phần sự khác?” 
Các tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. 
Đức Thế Tôn vì  nhân duyên  này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ Địa: “Việc  làm của ngươi  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không  nên  làm. Đạp-bà-ma-la Tử  tu phạm hạnh. Tại  sao các ông lại vu khống Đạp-bà-ma-la Tử bằng ba-la-di không căn cứ của việc thuộc phần sự khác?”
Đức Thế Tôn quở trách tỳ-kheo Từ Địa, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo Từ Địa này là kẻ ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu  tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú  nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại  lâu dài.” 
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, vì thù hận, dựa vào tiểu tiết trong sự tình của phần khác, (1) đối với tỳ-kheo không phải  là ba-la-di, mà vu
_____________
(1) Dị phần sự 異分事 Ngũ phần: sự dị phần  trung  thủ phiến 事異分中取片; sự, chỉ 4 tránh sự. Tăng kỳ: dị phần trung tiểu tiểu sự 異分中小小事; giải thích: trừ 4 ba-la-di, còn lại 13 tăng-già-bà-thi-sa là dị phần. Các chúng học là tiểu tiểu sự.

* Trang 129 *
device

khống bằng pháp ba-la-di không có căn cứ, muốn hủy hoại đời sống  phạm hạnh của vị  ấy, về  sau,  dù bị cật vấn  hay không bị cật vấn, sự  tình  ấy  được  biết  là dựa lấy  tiểu  tiết trong sự tình của phần khác, Tỳ-kheo này tự nói rằng: ‘Tôi vì  thù hận  nên  nói  như vậy.’ Tỳ-kheo  nào  nói  như vậy, tăng-già-bà-thi-sa.
C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thù hận: như trên đã nói.
Phần  khác: tỳ-kheo  phạm  ba-la-di,  nói  là  thấy  phạm  ba-la-di,  vu khống bằng  pháp  không căn cứ  thuộc  phần sự  khác, tăng-già-bà-thi-sa.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu tỳ-kheo không phạm ba-la-di mà gọi  là phạm, tăng-già-bà-thi-sa. Bằng  pháp  ba-la-di  không căn cứ  thuộc  phần sự  khác mà  vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.  
Nếu tỳ-kheo không phạm ba-la-di, nhưng  thấy vị ấy phạm ba-dật-đề,  ba-la-đề-đề-xá-ni,  thâu-lan-giá,  đột-kiết-la,  ác  thuyết,  mà  vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ  thuộc phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo phạm tăng-già-bà-thi-sa, nhưng vị ấy nói phạm ba-la-di, mà  vu  khống bằng  pháp  ba-la-di  không căn cứ  thuộc  phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
______________
Thập tụng: dị  phần  trung  thủ  phiến 異分中取片;  giải  thích: dị  phần,  phạm  1 trong 4 ba-la-di, không còn là Sa-môn Thích tử nữa nên gọi là dị phần. Căn bản: dị  phi  phần sự 異非分事;  giải  thích, dị  chỉ Niết  bàn; bốn ba-la-di  là  pháp phi phần của Niết-bàn.  Pāli: aññabhāgiyassa adhikaraṇassa, đối với tránh sự thuộc phần sự khác; vấn đề  thuộc về  thiên tội khác, hay  tránh sự cơ sở khác: đối với ngôn tránh, 3 tránh sự còn lại là dị phần sự; đối với dâm dục, 3 ba-la-di còn lại là dị phần sự.

* Trang 130 *
device

Nếu tỳ-kheo phạm tăng-già-bà-thi-sa, nhưng vị ấy nói phạm ba-dật-đề,  ba-la-đề-đề-xá-ni,  thâu-lan-giá,  đột-kiết-la,  ác  thuyết,  mà  vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ  thuộc phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
Người không  thanh tịnh giống  người không  thanh tịnh, (1) hay  cùng tên, cùng họ, đồng tướng; lấy sự của việc người này vu khống cho người kia, bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  không  thanh tịnh  giống  người  thanh tịnh,  đồng  tên, đồng họ,  đồng tướng; lấy sự  việc của  người  này  vu  khống  cho người kia, bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  thanh tịnh  giống  người  không  thanh tịnh,  đồng  tên, đồng họ,  đồng tướng; lấy sự  việc của  người  này  vu  khống  cho người kia, bằng [590a1] pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu  người  thanh tịnh  giống  người  thanh tịnh,  đồng  tên,  đồng họ, đồng tướng; lấy sự  việc của  người  này  vu  khống  cho  người  kia, bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa. 
Hoặc  thấy  người  ấy  lúc còn tại gia mà phạm dâm,  trộm năm  tiền hoặc hơn năm  tiền, hoặc giết người, bèn nói với người rằng: “Tôi thấy tỳ-kheo  phạm  dâm,  trộm năm  tiền, hơn năm  tiền,  nghe  giết người.” Bằng pháp  ba-la-di không căn cứ  thuộc phần sự khác mà
__________________
(1) Đoạn này  và các đoạn kế  tiếp, giải  thích ý nghĩa  thủ phiến 取片 Phiến, được hiểu  là  chứng cớ  giả  để  vu  khống, Pāli:  lesa. Cf. Vin.iii.  168:  leso nāma  dasa lesā, có 10 chứng cớ giả: đồng  sinh  (huyết  thống), đồng danh, đồng  tính, đồng tướng,  đồng tội,  đồng  bát,  đồng  y,  đồng Hoà  thượng,  đồng A-xà-lê,  đồng tọa ngọa cụ. Ngũ phần (tr.16c21): Tỳ-kheo thấy tỳ-kheo khác phạm tăng-già-bà-thi-sa, biết rõ đó là tội tăng-già-bà-thi-sa, nhưng vì thù hận, lấy tiểu tiết hay tương tợ tiểu  tiết  (phiến và tợ phiến)  trong sự  tình khác  (thiên tội khác) mà vu khống  là ba-la-di.

* Trang 131 *
device

vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Hoặc  nghe  nói  người  ấy  lúc  còn tại  gia mà  phạm  dâm,  nghe  nói trộm năm tiền hoặc hơn năm tiền, nghe nói giết người, nghe nói tự xưng  được  pháp Thượng  nhân,  bèn  nói:  “Tôi  nghe  nói  người  kia phạm  dâm,  nghe  nói  trộm năm  tiền  hoặc hơn năm  tiền,  nghe  nói giết người, nghe nói tự xưng được pháp Thượng nhân.” Bằng pháp ba-la-di không căn cứ  thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nói nghe có tiếng vang rằng: “Tôi phạm dâm, nghe nói trộm năm tiền hoặc hơn năm tiền, nghe nói giết người, nghe nói tự xưng được pháp Thượng nhân.” Bằng pháp  ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo bằng bốn sự pháp (1) không căn cứ  thuộc phần sự khác để  vu  khống tỳ-kheo,  nói  rõ  ràng,  phạm tăng-già-bà-thi-sa;  nói không rõ ràng, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, hoặc viết thư, hoặc  sai sứ,  làm dấu  hiệu  cho  biết, dấu  được  nhận  biết  rõ  ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rõ ràng, phạm thâu-lan-giá. 
Trừ bốn ba-la-di, bằng pháp phi tỳ-kheo khác, không căn cứ, thuộc phần sự khác, mà hủy báng, nói: ‘Ông phạm biên tội, cho đến, hai hình, chi tiết như trên;’ nói mà hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư từ, sai người,  làm  hiệu cho biết, nếu hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được phạm thâu-lan-giá. 
Trừ  những sự  trên, nếu  dùng  các  pháp  khác  không căn cứ  thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo, tùy theo trước mà phạm.
Nếu tỳ-kheo dùng  tám pháp  ba-la-di không căn cứ  thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo-ni, nói mà hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa;  không  hiểu  được,  phạm  thâu-lan-giá.
________________
(1) Tứ sự pháp 四事法; tức bốn  tránh sự: ngôn  tránh, mích  tránh, phạm  tránh, sự tránh. Pāli, Vin, iii. 164: cattāri adhikaraṇāni.

* Trang 132 *
device

Nếu  dùng dấu  tay, [590b]  thư từ,  sai  người,  ra dấu  cho  biết, nếu  hiểu  được,  phạm
tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. 
Ngoài  tám ba-la-di, dùng các pháp phi tỳ-kheo-ni khác  thuộc phần sự khác để  vu khống,  nói mà  hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư từ, sai sứ, ra dấu cho biết, nếu hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. 
Trừ  pháp  phi tỳ-kheo-ni, nếu  dùng  các  pháp  khác  không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo-ni,  tùy  trường hợp phạm. Trừ  vu  khống tỳ-kheo  và tỳ-kheo-ni,  dùng  pháp  không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống người khác, phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. 
Thức-xoa-ma-na,  Sa-di,  da-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: căn cứ do thấy, do nghe, do nghi mà nói đúng sự thật,  nói  giỡn cợt,  nói  nhanh vội,  nói một mình,  nói  trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc khác thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu  tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
X. PHÁ TĂNG (1)
A. DUYÊN KHỞI
1. Các vương tử họ Thích
Một thời, đức Phật tại nước Di-ni-sưu, trong địa phận của A-nô-di. (2) Bấy  giờ,  các  hào tộc Thích tử với  đức  tin  kiên cố,  theo  đức Thế Tôn cầu xuất gia. Bấy giờ, có hai anh em họ Thích. Một người tên
__________________
(1) Ngũ  phần,  tr.16c21;  Tăng kỳ,  tr.281c12;  Thập tụng,  tr.24b22;  Căn bản tr.700b1. Vin. iii. 171.
(2) Di-ni-sưu  quốc A-nô-di  giới 彌尼搜國阿奴夷界. Ngũ  phần, Di-na  ấp A-nậu lâm 彌那邑阿㝹林. Pāli, Anupiyā, thị trấn thuộc xứ Malla, gần Kapilavatthu. 

* Trang 133 *
device

là A-na-luật. (1) Người kế tên là Ma-ha-nam. (2) A-na-luật được mẹ yêu mến,  không muốn rời  xa mắt. Bà  cho  xây cất  cung  điện  ba mùa xuân, hạ, đông, và cung cấp các thể nữ để cho mặc tình hưởng  thụ ngũ dục. 
Khi ấy, Ma-ha-nam nói với A-na-luật:
“Hiện nay con cháu hào tộc của giòng họ Thích do tín tâm kiên cố thảy đều theo Thế Tôn cầu xin xuất gia. Riêng nhà ta không có một người nào xuất gia. Anh hãy trông coi gia nghiệp, từ việc công đến việc tư,  em  xin  giao hết. Em muốn  xuất  gia. Nếu  anh  không  thể được thì em sẽ duy trì gia nghiệp để anh đi xuất gia.”
A-na-luật nói:
“Hiện tại, anh không thể xuất gia. Em có thể đi đi.” 
Ma-ha-nam nói như vậy ba lần. A-na-luật cũng trả lời như vầy: 
“Anh không thể xuất gia.”
Ma-ha-nam nói với A-na-luật:
“Nếu anh không thể xuất gia thì em cáo bạch để cho anh duy trì gia nghiệp. Anh  trông coi người  làm, sửa sang nhà cửa, phụng sự  tôn trưởng và các người  thân tộc; ra vào nơi vương sở, với oai nghi lễ tiết phải như vậy; cày ruộng, gieo trồng sao cho đúng thời vụ.”
A-na-luật bảo:
“Những  điều  em vừa  nói, hết sức  là  phiền  toái.  Anh  không  thể kham được. Tại sao em không nói, anh hãy mặc tình hưởng thụ ngũ dục,  [590c] còn việc nhà cửa em sẽ  lo  liệu? Anh muốn vì  tín  tâm theo Thế Tôn cầu xuất gia.”
Ma-ha-nam nói:
“Anh cần đến từ giã mẹ.”
_____________
(1) A-na-luật  阿那律. Pāli,  Anurudddha,  anh  em với  Mahānāma,  con  Vua Amitodana (Hộc Phạn Vương). Vin. ii 183 (Cūḷavagga 7. Saṅghabheda).
(2) Ma-ha-nam 摩訶男. Pāli, Mahānama.

* Trang 134 *
device

A-na-luật liền đến chỗ mẹ, thưa:
“Mẹ nghe con nói. Hiện nay các con cái dòng họ Thích tử đều có người  xuất  gia. Riêng  nhà mình  không  có  người  nào  đi  xuất  gia. Nay con muốn đến chỗ đức Thế Tôn cầu xin xuất gia. Nếu mẹ cho phép, con sẽ xuất gia tu hạnh thanh tịnh.”
Bà mẹ nói:
“Mẹ  chỉ  có  hai  đứa  con. Tình  yêu  thương rất  sâu  đậm. Một  chút cũng không muốn xa rời con mắt. Nay làm sao để cho con xuất gia được? Cho đến chết, còn không muốn rời, huống là còn sống mà lại cách biệt!”
A-na-luật  ba lần  như vậy  thưa mẹ  xin  xuất  gia. Bà mẹ cũng  như vậy ba lần từ chối: “Mẹ không để con đi!” 
A-na-luật ba lần cầu xin mẹ đi xuất gia. Bà liền suy nghĩ: “Nên làm cách nào để khiến con đừng đi xuất gia?” Rồi bà lại nghĩ: “Thích tử Bạt-đề (1) được mẹ rất  yêu mến, tất không cho xuất gia. Ta nên  nói với A-na-luật: ‘Nếu mẹ của Bạt-đề cho Bạt-đề xuất gia thì mẹ cũng sẽ cho con xuất gia.’” Nghĩ  như vậy rồi, bà nói với A-na-luật. A-na-luật nghe mẹ nói như vậy, liền đến chỗ Bạt-đề, nói:
“Anh  nay  biết  không? Các Thích tử  đều  xuất  gia. Song  chúng  ta chưa  có  người  xuất  gia. Hai  người  chúng  ta  có  thể  cùng  nhau  đi xuất gia.”
Bạt-đề bảo: 
“Tôi không kham xuất gia. Anh muốn xuất gia thì tùy ý.”
A-na-luật ba lần khuyên. Bạt-đề cũng ba lần trả lời:
“Tôi không xuất gia.”
A-na-luật bảo:
“Hôm nay, việc xuất gia của tôi một phần tùy thuộc nơi anh.”
Bạt-đề đáp lại:
_____________
(1) Bạt-đề 跋提. Pāli, Bhaddiya, Vin.ii. 181.

* Trang 135 *
device

“Tại sao việc xuất gia của anh một phần tùy thuộc tôi?”
A-na-luật đáp:
“Tôi xin phép mẹ xuất gia. Mẹ tôi nói với tôi: ‘Nếu con có thểkhiến Bạt-đề xuất gia thì mẹ sẽ cho con đi xuất gia.’ Lý do là vậy.”
Bạt-đề bảo:
“Được rồi. Anh chờ một chút, để tôi đi thưa với mẹ tôi.”
Bạt-đề tử liền đến chỗ mẹ, quỳ mọp thưa:
“Nay mẹ có biết không? Các con nhà họ Thích đều xuất gia. Duychỉ có một nhà mình là không. Nay con hâm mộ muốn theo ThếTôn cầu xuất gia. Mẹ cho con đi!”
Bà mẹ bảo:
“Mẹ không cho con xuất gia. Vì sao? Mẹ chỉ có một mình con. Mẹ rất thương yêu, không muốn xa con dù chỉ trong chốt lát. Cho đếnkhi chết mẹ cũng không muốn rời, huống là hiện sống mà phải cách biệt.”
[591a1] Bạt-đề thưa xin xuất gia như vậy ba lần. Bà mẹ cũng ba lần trả lời không thuận cho.
Bà mẹ thấy con lòng rất chí thiết, nên tự nghĩ: “Ta sẽ làm cách nào để khiến con ta đừng xuất gia?” Rồi bà suy nghĩ: “Mẹ của A-na luật rất yêu mến con của bà. Tất không cho con xuất gia. Nếu mẹ của A-na-luật cho con xuất gia thì ta cũng cho con ta đi xuất gia.”
Nghĩ như vậy rồi liền nói với Bạt-đề:
“Nếu mẹ của A-na-luật cho con của bà đi xuất gia thì mẹ cũng sẽ cho con đi xuất gia.”
Khi ấy, Bạt-đề Thích tử đến chỗ A-na-luật nói:
“Mẹ tôi đã cho tôi đi xuất gia. Chúng ta nay có thể hoãn thời gian bảy năm để ở tại nhà, hưởng thụ ngũ dục đến mức tối đa, sau đó sẽ xuất gia.”
A-na-luật bảo: “Bảy năm lâu quá, mạng người vô thường.”

* Trang 136 *
device

Bạt-đề lại nói:
“Không thể bảy năm thì có thể sáu năm, hoặc năm, bốn, hai, một năm ở tại nhà để thụ hưởng ngũ dục.”
A-na-luật lại nói:
“Một năm lâu quá. Tôi không thể chịu nổi, vì mạng người vô thường.”
Bạt-đề nói:
“Không thể một năm thì có thể bảy tháng, để thụ hưởng ngũ dục.”
A-na-luật nói: “Bảy tháng lâu quá. Tôi không thể chịu nổi, vì mạng người vô thường.”
Bạt-đề nói:
“Không chịu nổi bảy tháng thì sáu, năm, bốn, ba, hai, một tháng để chúng ta cùng nhau thụ hưởng ngũ dục.”
A-na-luật nói:
“Một tháng lâu quá. Tôi không thể chịu nổi, vì mạng người vô thường.”
Bạt-đề tử nói: “Nếu không thể một tháng thì có thể trong bảy ngày, để cùng nhau hưởng thụ dục lạc.”
A-na-luật nói:“Bảy ngày thì không xa. Nếu hết bảy ngày mà anh có thể xuất gia thì tốt, bằng không thì tôi sẽ xuất gia.”
Rồi trong bảy ngày đó các Thích tử cùng nhau thụ hưởng ngũ dục với mức tối đa theo ý mình. Khi hết bảy ngày, Thích tử A-na-luật, Thích tử Bạt-đề, Thích tử Nan-đề, Thích tử Kim-tỳ-la, Thích tử Nan-đà, Thích tử Bạt-nan-đà, Thích tử A-nan-đà, Thích tử Đề-bà đạt, ông thợ cạo Ưu-ba-ly là người thứ chín, đều tắm rửa sạch sẽ, dùng hương thoa nơi thân, chải tóc, mang châu anh lạc, cỡi voi ngựa lớn ra thành Ca-tỳ-la-vệ. Nhân dân trong nước thấy các Thích tử, cùng nhau bàn nói: “Các Thích tử này trước đây thường tắm rửa thân thể, mang đồ anh lạc, cỡi voi ngựa lớn vào trong vườn dạo chơi, hôm nay chắc cũng vậy.”

* Trang 137 *
device

Khi các Thích tử cỡi voi lớn đến địa phận ranh giới, xuống voi, cỡi y phục, chuỗi anh lạc, và luôn cả voi, [591b] ngựa trao cho Ưu-baly nói rằng: “Nhà ngươi thường nương nhờ chúng tôi để sống. Nay, chúng tôi xuất gia. Cho nhà ngươi y phục quý báu và voi lớn này để nhà ngươi làm phương tiện nuôi sống.”
Khi các Thích tử tiến về phía trước, đến A-nậu-di,(1) nước Di-ni; ở phía sau, Ưu-ba-ly trong lòng suy nghĩ: “Ta vốn nhờ Thích tử này mà có được sự sống. Nay với tín tâm họ bỏ ta, theo Thế Tôn cầu xin xuất gia. Nay ta hãy theo họ xuất gia. Nếu họ có sở đắc thì ta cũng sẽ đắc.”
Ưu-ba-ly liền dùng tấm lụa trắng gói y phục quý báu và anh lạc lại, đem treo trên cây cao, với ý nghĩ: “Ai đến lấy thì cho.” Ưu-ba-ly tiến đến chỗ các Thích tử và thưa họ rằng:
“Sau khi quý vị đi, tôi liền khởi lên ý nghĩ: ‘Ta vốn nhờ Thích tử này mà có được sự sống. Nay với tín tâm họ bỏ ta, theo Thế Tôn cầu xin xuất gia. Nay ta hãy theo họ xuất gia. Nếu họ có sở đắc thì ta cũng sẽ đắc.”
Khi ấy, các Thích tử cùng Ưu-ba-ly dẫn nhau đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, lui đứng qua một bên, bạch với đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, chúng con đã được cha mẹ cho phép xuất gia. Cúi xin Đại đức cho chúng con được xuất gia. Cúi mong Thế Tôn, độ cho Ưu-ba-ly trước nhất. Vì sao? Vì chúng con có nhiều kiêu mạn và muốn trừ kiêu mạn ấy.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, trước hết độ cho Ưu-ba-ly, kế đến độ Thích tử A-na-luật, kế đến Thích tử Bạt-đề, kế đến Thích tử Nanđề, kế đến Thích tử Kim-tỳ-la, kế đến Thích tử Nan-đà. Ưu-ba-ly thọ đại giới là bậc Thượng tọa trên hết. Khi ấy, có vị đại Thượng tọa tên là Tỳ-la-trà,(2) độ riêng Thích tử A-nan-đà. Ngoài ra các thượng tọa khác độ Thích tử Bạt-nan-đà, và Thích tử Đề-bà-đạt.
___________________
 (1) A-nậu-di; ở trước âm là A-nô-di.
(2) Tỳ-la-trà 毘羅荼. Pāli, Vin.i. 202: Belaṭṭhasīsa. Vị này nguyên là một người bà-la-môn ở Sāvatthi, xuất gia với Uruvela-Kassapa trước khi Phật thành đạo. Khi Uruvela-Kassapa theo Phật, ông cũng theo.

* Trang 138 *
device

Khi đức Thế Tôn độ các Thích tử rồi, Ngài bảo họ đến nước
Chiêm-bà. Sau khi các Thích tử nhận sự giáo thọ của đức Thế Tôn và các Thượng tọa rồi, đến nước kia, mỗi người đều tự tư duy, chứng tăng thượng địa. Đề-bà-đạt-đa đạt được thần túc.
Khi ấy, Bạt-đề Thích tử ở một mình nơi a-lan-nhã, dưới gốc cây trong bãi tha ma, tu tập tư duy. Đến cuối đêm, ông lớn tiếng nói rằng: “Sung sướng thay! Sung sướng thay!” Các tỳ-kheo ở gần ở bên nghe và nghĩ: “Tỳ-kheo Bạt-đề này, vốn khi ở đời thường hưởng thụ ngũ dục. Nay xả bỏ vinh hoa kia mà xuất gia hành đạo, sống một mình nơi a-lan-nhã, dưới gốc cây trong bãi tha ma, đến cuối đêm, tự mình nói rằng: ‘Sung sướng thay! Sung sướng thay!’ Thích tử Bạt-đề này há không phải [591c] nhớ lại lúc còn ở nhà hưởng thụ ngũ dục nên tự nói: ‘Sung sướng thay! Sung sướng thay!’?”
Sáng hôm sau, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này trình bày rõ ràng với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo một tỳ-kheo:
“Ông đến gọi gấp Tỳ-kheo Bạt-đề đến đây.”
Tỳ-kheo vâng lời đức Phật, đến nói với tỳ-kheo Bạt-đề rằng:
“Đức Thế Tôn kêu người đến gấp.”
Tỳ-kheo Bạt-đề liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi Bạt-đề:
“Có thật ông một mình ở nơi a-lan-nhã, trong bãi tha ma, dưới gốc cây, rồi đến giữa đêm tự kêu lên: ‘Sung sướng thay! Sung sướng thay!’ ?”
Bạt-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, có thật như vậy.”
Phật hỏi Bạt-đề: “Ông quan sát ý nghĩa gì mà tự kêu lên: ‘Sung sướng thay! Sung sướng thay!’?”
Bạt-đề thưa: “Trước đây, khi con ở nhà, bên trong lẫn bên ngoài thường được tự hộ vệ bằng dao gậy. Với sự hộ vệ như vậy mà còn có sự sợ hãi. Sợ kẻ giặc bên ngoài đến xâm đoạt mạng sống của

* Trang 139 *
device

con. Nhưng, nay con ở một mình nơi a-lan-nhã, dưới gốc cây, trong bãi tha ma, cho đến giữa đêm mà không thấy có sự sợ hãi nào, long trong người không hề dựng đứng. Bạch Thế Tôn, con nghĩ đến cái lạc của sự xuất ly, cho nên tự nói: ‘Sung sướng thay! Sung sướng thay!’ như thế.”
Thế Tôn liền khen: “Lành thay, lành thay, thiện gia nam tử! Điều đó thích hợp để ông chí tín xuất gia, vui hạnh thanh tịnh.”
2. Nhân duyên A-xà-thế
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ.
Vua Bình-sa (1) không có con. Vua liền tập hợp các bà-la-môn giỏi về tướng số, khiến họ xem tướng các phu nhơn. Nhà vua nói: “Người xem tướng các phu nhân này, ai sẽ sinh được con.”
Bà-la-môn xem tướng xong, tâu:
“Phu nhân trẻ, khỏe mạnh này sẽ sinh con. Nhưng sẽ là kẻ thù của vua.” Vua nghe nói như vậy rồi, đêm đó cùng giao hợp với phu nhân này. Bà ấy liền có thai. Sau đó, sinh một nam tử, tướng mạo đoan chánh. Vì khi chưa được sinh, bà-la-môn đã đoán định nó sẽ là kẻ thù của Vua. Vì duyên cớ ấy cho nên đặt tên là Vị Sinh Oán. (2)
 Vương tử này theo thời gian trưởng thành. Đề-bà-đạt-đa dùng sức thần thông khiến Vương tử hâm mộ.
Đề-bà-đạt-đa suy nghĩ rằng: “Ta cần nuôi đồ chúng.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại nước Câu-thiểm-tỳ. (3)Trong nước đó có một người tên là Ca-hưu-câu-la Tử.(4) Mạng chung, không bao
___________________
(1) Bình-sa vương 瓶沙王. Pāli: Bimbisāra/ Seniya Bimbisāra, vua Ma-kiệt-đà.
(2) Vị Sanh Oán 未生怨, dịch nghĩa. Phiên âm thường biết là A-xà-thế. Phá tăng sự 10 (tr.147c6). Pāli: Ajātasattu/ Ajātasattu Vedehiputta, A-xà-thế Vi-đề-hy Tử.
(3) Câu-thiểm-tỳ quốc 拘睒毘國. Pāli: Kosambī.
(4) Ca-hưu-câu-la Tử 迦休拘羅子. Vin.ii. 185, Kakudha/ Kakudha Koliya; nguyên là thị giả của ngài Đại Mục-kiền-liên. Cf. A.iii. 122ff.

* Trang 140 *
device

lâu, ông này đã sinh hóa vào trong cõi trời Hoá tự tại (1) . Lúc ấy, Ca-hưu Thiên tử, vào giữa đêm, đến chỗ Đại Mục-kiền-liên, đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, bạch với Mục-liên rằng:
“Tâm của Đề-bà-đạt-đa muốn làm ác, nên sinh ý niệm: ‘Ta [592a1] muốn nuôi đồ chúng.’”
Ca-hưu Thiên tử nói như vậy rồi, đảnh lễ, nhiễu quanh, xong biến mất.
Khi đêm đã qua, Mục-liên đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn hỏi Mục-liên:
“Ý ông nghĩ thế nào, như lời Ca-hưu Thiên tử nói, đúng thật chứ không nhầm lẫn chăng?”
Mục-liên thưa: “Bạch Thế Tôn, đúng như vậy.”
Đức Thế Tôn bảo Mục-liên:
“Chớ nói như vậy. Ta không thấy có lời nói nào của Chư thiên, người đời các Ma, Phạm vương, sa-môn, bà-la-môn mà là như thật, không sai trái. Chỉ trừ có lời nói của Như Lai là không hư dối.” (2)
Đức Phật bảo Mục-liên:
“Ở đời có năm việc tối tôn (sẽ nói ở sau (3) ).”
Lúc bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa đến chỗ A-xà-thế, dùng sức thần thông bay lên hư không; hoặc hiện thân nói pháp, hoặc ẩn thân nói pháp, hoặc hiện nửa thân nói pháp, hoặc thân tuôn ra khói, hoặc thân tuôn ra lửa; hoặc biến thân làm hài nhi, thân mang anh lạc, (4) ngồi lên đùi thái tử, rồi xoay nghiêng qua, mút ngón tay thái tử. Thái tử A-xàthế thấy sự biến hóa này đâm ra hoảng sợ, lông trong người đều
___________________
(1) Hoá tự tại thiên 化自在天; Vin.ii. 185: adhunā kālakato aññatara  manomaya kāya upapanno, tái sinh với thân khác do ý sinh.
(2)  Cf. Vin. ibid., Phật cảnh giác Mục-liên: “Hãy giữ kín lời nói!”
(3)  Lời chua trong bản Hán.
(4)  Pāli: quấn quanh mình một chuỗi rắn.

* Trang 141 *
device

dựng ngược lên. Đề-bà-đạt-đa biết Thái tử hoảng sợ liền nói:
“Chớ sợ, chớ sợ!”
Thái tử hỏi: “Ông là ai?”
“Tôi là Đề-bà-đạt-đa.”
Thái tử nói: “Ông thật là Đề-bà-đạt-đa thì trở lại nguyên hình.”
Đề-bà-đạt-đa trở lại nguyên hình. Thái tử thấy rồi, liền tăng thêm lòng hâm mộ. Đã hâm mộ rồi, Thái tử lại tăng thêm sự cúng dường.
Bấy giờ, hằng ngày, A-xà-thế dùng năm trăm chiếc xe sáng chiều đến thăm hỏi và cung cấp năm trăm chõ đồ ăn thức uống.
Khi các Tỳ-kheo nghe A-xà-thế hằng ngày dùng năm trăm chiếc xe đến thăm hỏi Đề-bà-đạt-đa sáng chiều và cung cấp năm trăm chõ đồ ăn thức uống, họ liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các ông nên tự nhiếp tâm chớ sinh lòng tham đắm (1) những thứ lợi dưỡng của Đề-bà-đạt-đa. Vì sao? Chính vì A-xà-thế hằng ngày dùng năm trăm chiếc xe đến thăm hỏi sáng chiều, và cung cấp năm trăm chõ đồ ăn thức uống, nên làm cho Đề-bà-đạt-đa tăng thêm ác tâm. Ví như nam tử, đánh vào lỗ mũi con chó dữ, khiến cho chó kia càng thêm hung ác. Các Tỳ-kheo nên biết, ở đây cũng như vậy. Chính hằng ngày A-xà-thế dùng năm trăm chiếc xe đến thăm hỏi sáng chiều, và cung cấp năm trăm [592b] chõ đồ ăn thức uống, nên
khiến cho ác tâm của Đề-bà-đạt-đa tăng thêm vậy.”
Lúc ấy, vua Bình-sa nước Ma-kiệt nghe biết A-xà-thế hằng ngày dùng năm trăm chiếc xe đến thăm hỏi sáng chiều, và cung cấp năm trăm chõ đồ ăn thức uống cho Đề-bà-đạt-đa. Vua Bình-sa, hằng ngày cũng dùng bảy trăm chiếc xe đến thăm hỏi đức Thế Tôn, và
cung cấp bảy trăm chõ đồ ăn thức uống.
________________
(1)  Pāli, “Chớ ganh tị!”, Vin.ii. 188.

* Trang 142 *
device

Lúc bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa nghe vua Bình-sa dùng bảy trăm chiếc xe sáng chiều đến thăm hỏi đức Thế Tôn, và cung cấp bảy trăm chõ đồ ăn thức uống. Do vì lợi dưỡng nên sinh tâm tật đố, Đề-bà-đạt-đa liền mất thần thông, bèn khởi lên ý nghĩ như vầy: “Nay ta nên chờ khi nào Phật cùng đại chúng hội hợp sẽ đến trước đức Phật, tha thiết thưa rằng: ‘Thế Tôn tuổi đã già nua, thọ mạng hơn người, học đạo cũng lâu, nên yên sống nơi nhàn tịnh, mặc nhiên tự thủ. Đức Thế Tôn là chủ của các pháp, nên phú chúc Tăng cho con, con sẽ
chăm sóc.’”
Nghĩ như vậy rồi, Đề-bà-đạt-đa chờ đại chúng tập hợp, liền đem ý nghĩ đó trình bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo: “Đối với Xá-lợi-phất, Mục-liên, Ta còn không đem Tăng phú chúc cho, huống chi là đối với ông, người ngu si, là cái thân đầy mũi dãi,(1) đâu có thể đem Tăng phú chúc cho ông được!”
Khi ấy, Đề-bà-đạt-đa sinh ý niệm này: “Nay đức Thế Tôn giữa đại chúng lại nói ta là người ngu si, là cái thân đầy mũi dãi.” Do vậy, Đề-bà-đạt-đa liền sinh tâm bất nhẫn. Đây là lần đầu trong đời này, Đề-bà-đạt-đa sinh tâm bất nhẫn đối với Thế Tôn.
Khi ấy, Đề-bà-đạt-đa đến chỗ A-xà-thế, nói: “Đức vua dùng chánh pháp trị dân cho nên được trường thọ. Sau khi Phụ vương băng hà thì ngài mới được lên ngôi. Lúc ấy, tuổi ngài đã già nua, sẽ không hưởng thụ ngũ dục được lâu. Nay ông hãy giết cha. Tôi sẽ giết
Phật. Lúc bấy giờ, quốc giới Ma-kiệt có Vua mới, Phật mới trị nước giáo hóa, đâu há không vui sao?”
Vương tử bảo rằng: “Có thể vậy.”
Vương tử liền hỏi Đề-bà-đạt-đa: “Ngài cần những gì ?”
Đề-bà nói: “Tôi cần một số người.”
Vương tử liền cung cấp người.
Đề-bà-đạt-đa sai hai người đến hại Phật, dạy rằng:
_________________
(1) Hán: thế thóa chi thân 涕唾之身. Pāli, Vin.ii. 189: chavassa kheāsakassa, cái xác chết dính đàm dãi.

* Trang 143 *
device

“Ngươi đến giết Phật rồi, đi về bằng con đường khác.”
Sau khi sai hai người ấy đi rồi, Đề-bà-đạt-đa lại sai bốn người nữa đi với lời dặn: “Các ngươi đón đầu hai người kia. Gặp chúng thì giết. Rồi theo con đường khác mà về.”
Tiếp đó, lại sai tám người, cũng dặn:
“Các ngươi đón đầu bốn người kia. Gặp chúng giữa đường thì giết.
Rồi theo con đường khác mà về.”
Cứ như vậy Đề-bà-đạt-đa lần lượt sai gấp đôi người lên, cho đến sáu mươi bốn người. Như vậy, đầu mối bị cắt đứt, không thể phân biệt, không biết ai hại Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, [592c] đức Thế Tôn ngồi trong hang Trư khảm. (1) Từ trong hang này đi ra, Ngài kinh hành dưới sườn núi. Đức Phật tự nghĩ rằng: “Nhân duyên Ta làm xưa kia, ngày hôm nay là kỳ hẹn.”
Khi ấy, hai người nhận lệnh của Đề-bà-đạt-đa liền mặc áo giáp, cầm đao trượng đi đến đức Thế Tôn. Cả hai người đều tâm niệm: “Ta sẽ hại Phật.” Vừa sinh ý niệm này, tức thời không thể bước tới được. Họ liền nghĩ: “Thế Tôn có đại thần đức, oai lực vô lượng. Chính đệ tử của Ngài cũng có thần lực. Chúng ta đâu có thể hại được đức Thế Tôn.” Vừa sinh ý nghĩ này thì liền bước đến được. Từ xa, họ thấy tướng mạo đức Thế Tôn đoan chánh, các căn tịch tịnh, được sự điều phục tối thượng, tịch diệt đệ nhất, các căn kiên cố, như con long tượng đã được huấn luyện, ý không thác loạn, như nước lóng trong, trong ngoài đều thấu suốt. Họ thấy như vậy, liền phát tâm hoan hỷ, buông bỏ đao trượng, vất vào một chỗ, tiến đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn tuần tự vì hai người nói pháp vi diệu, khiến họ phát tâm hoan hỷ, khuyên họ tu thiện, nói bố thí, nói trì giới, nói tạo phước sinh thiên; quở trách dục là bất tịnh, khen ngợi sự xuất ly. Hai người ngay nơi chỗ ngồi, hết các trần cấu, đặng pháp nhãn tịnh, thấy pháp, đắc
_____________________
(1) Trư khảm 豬坎, hang “Lõm Lợn.” Pāli: Sūkarakhatalena, hang đá trên sườn Linh thứu (Gijjhakūa).

* Trang 144 *
device

pháp, liền bạch Phật rằng: “Từ nay trở đi, chúng con xin thọ ba tự quy: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, làm người ưu-bà-tắc. Từ nay cho đến trọn đời không sát sinh, cho đến không uống rượu.”
Khi ấy, đức Thế Tôn bảo hai người rằng: “Các ngươi muốn trở về, nên đi con đường kia, không nên đi con đường này.”
Hai người liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi cáo lui.
Khi về đến chỗ Đề-bà-đạt-đa, họ báo cáo: “Đức Thế Tôn có đại thần lực, oai lực vô lượng. Đệ tử của ngài cũng có thần lực. Chúng tôi đâu có thể hại Thế Tôn được.”
Đề-bà-đạt-đa đáp lại: “Các ngươi hãy cút đi, diệt đi! Cần gì các ngươi? Tại sao hai người mà không thể giết một người?”
Đề-bà-đạt-đa đang trong cơn thịnh nộ ấy, đích thân đến núi Kỳ-xà quật, tự tay cầm một tảng đá lớn, từ xa ném đức Thế Tôn. Khi ấy, có một vị trời liền đón viên đá đặt lên trên đỉnh núi. Từ bên mép tảng đá đó, có một mảnh nhỏ văng ra, nhằm vào ngón chân Phật,
làm chợt da chảy máu. Khi ấy, đức Thế Tôn như con đại long quay nhìn bên hữu và nói:
“Chuyện chưa từng có! Người họ Cù-đàm lại làm việc này.”
Khi ấy, đức Thế Tôn trở vào trong hang, tự lấy tăng-già-lê xếp thành bốn lớp làm gối, nằm nghiêng bên hữu như con sư tử, hai gót chân chồng lên nhau, nhất tâm nhẫn thọ sự đau nhức cực kỳ.
Lúc bấy giờ, [593a1] một số đông tỳ-kheo nghe việc Đề-bà-đạt-đa sai người hại Phật; mỗi người cầm gậy, đá, bảo vệ quanh hang, lớn tiếng kêu réo. Phật từ trong hang nói ra, bảo các tỳ-kheo, “Các ông làm gì mà cầm gậy, đá đi quanh hang la lối như bọn người đánh cá la lối khi bắt được cá vậy?”
Các tỳ-kheo bạch Phật rằng: “Vừa rồi, chúng con nghe Đề-bà-đạt-đa muốn đến hại Phật. Bởi vậy, chúng con cầm gậy, đá đến nơi hang. Sợ oan gia đến hại Thế Tôn.”
Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

* Trang 145 *
device

“Các ông hãy trở về chỗ nghỉ, chuyên tâm tu tập. Pháp thường của chư Phật không cần được che chở. Vì sao? Vì đã thắng các oán địch. Tỳ-kheo các ông nên biết, Chuyển luân thánh vương mà bị hại bởi kẻ thù từ bên ngoài, là điều không thể có. Như Lai cũng lại như vậy. Không có trường hợp các điều ác đến hại Như Lai.”
Rồi Phật bảo các tỳ-kheo:
“Trong đời có năm hạng Tôn sư: (1) Những gì là năm?
“Hoặc có Tôn sư giới không thanh tịnh, tự xưng rằng: ‘Ta giới thanh tịnh.’ Nhưng các đệ tử thân cận biết như thật điều đó nên nói: ‘Thầy của ta giới không thanh tịnh mà tự xưng là giới của ông thanh tịnh. Nếu ta đến nói với hàng bạch y, thầy của ta sẽ không vui. Thầy không vui thì không nên nói. Cứ để cho Thầy nhận sự cúng dường của thí chủ, sau đó sẽ tự biết.’ Như vậy, này các tỳ- kheo, pháp của vị tôn sư trong đời kia là đệ tử vì giới mà bảo vệ. Thầy mong cầu đệ tử bảo vệ.”
“Thứ hai, này các tỳ-kheo, hoặc có Tôn sư hoạt mạng không thanh tịnh (2) mà tự xưng, ‘Ta hoạt mạng thanh tịnh.’... nói như trên.”
“Thứ ba, này các tỳ-kheo, hoặc có người kiến huệ không thanh tịnh (3) mà tự xưng, ‘Ta kiến huệ thanh tịnh.’... nói như trên.”
“Thứ tư, hoặc có người ngôn thuyết không thanh tịnh, (4)  mà tự xưng, ‘Ta ngôn thuyết thanh tịnh.’... nói như trên.”
“Thứ năm, hoặc có người ở ngoài pháp luật, (5) mà tự xưng, ‘Ta thanh tịnh ở trong pháp luật.’... nói như trên.”
“Như vậy, này các tỳ-kheo, trong đời có năm loại được coi là pháp của Tôn sư.”
__________________
(1) Ngũ chủng tôn 五種尊. Pāli: pañca satthāro.
(2)  Pāli: aparisuddhājīvo, phương tiện sinh sống không thanh tịnh.
(3)  Pāli: aparisuddhaññāadassano, tri kiến không thanh tịnh.
(4)  Pāli: aparisuddhaveyyākaraa, sự giải thuyết (thọ ký) không thanh tịnh.
(5) Pāli: aparisuddhadhammadesana, sự thuyết pháp không thanh tịnh.

* Trang 146 *
device

“Này các tỳ-kheo! Nay, Ta trì giới thanh tịnh cũng tự nói là: ‘Ta trì giới thanh tịnh.’ Không cần phải đệ tử bảo vệ Ta. Ta cũng không cầu đệ tử bảo vệ.”
“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, Ta hoạt mạng thanh tịnh, và cũng tự nói là, ‘Ta mạng thanh tịnh.’... nói như trên.”
“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, Ta kiến huệ thanh tịnh, và xưng là,
‘Ta kiến huệ thanh tịnh.’... nói như trên.”
“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, Ta ngôn thuyết thanh tịnh, cũng tự nói là: ‘Ta ngôn thuyết thanh tịnh.’... nói như trên.”
“Cũng vậy, này các tỳ-kheo, Ta ở trong pháp luật, cũng tự xưng là ‘Ta ở trong pháp luật.’... nói như trên.”
Khi ấy, đức Thế Tôn bảo các [593b] tỳ-kheo: “Các ông hãy sai Xálợi-phất cáo tri cho đại chúng bạch y biết rằng, ‘Những gì Đề-bà đạt- đa làm đều không phải việc của Phật, Pháp, Tăng. Đó là Đề-bàđạt- đa tự ý làm.’ Nên bạch nhị yết-ma. Sai người biết làm yết-ma. Như sự việc trên mà tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay sai tỳ-kheo Xá-lợi-phất đến đại chúng bạch y cáo tri rằng, ‘Những gì Đề-bà-đạt-đa làm đều không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng. Nên biết, đó là điều do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm.’ Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng lắng nghe! Tăng nay sai tỳ-kheo Xá-lợiphất đến đại chúng bạch y cáo tri rằng, ‘Những gì Đề-bà đạt- đa làm đều không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng. Nên biết, đó là điều do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm.’ Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo Xá-lợi-phất đến đại chúng bạch y cáo tri rằng, ‘Những gì Đề-bà-đạt-đa làm đều không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng. Nên biết, đó là điều do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm’ thì im lặng. Ai không đồng ý, hãy nói.”
“Tăng đã chấp thuận, Tăng sai tỳ-kheo Xá-lợi-phất đến đạichúng bạch y cáo tri rằng, ‘Những gì Đề-bà-đạt-đa làm đều

* Trang 147 *
device

không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng. Nên biết, đó là điều do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm’ vì im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.”
Xá-lợi-phất nghe lời nói này rồi, tâm sinh nghi, liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, thưa:
“Bạch Thế Tôn, làm sao con có thể đến chúng bạch y nói việc xấu của ông ấy? Vì sao? Trước đây, con trước các bạch y đã khen ngợi điều hay của Đề-bà-đạt-đa rằng, ‘Xuất gia từ dòng họ lớn, thông minh, có đại thần lực, nhan mạo đoan chánh.’”
Phật bảo Xá-lợi-phất: “Trước đây ông khen ngợi Đề-bà-đạt-đa rằng, ‘Xuất gia từ dòng họ lớn, thông minh, có đại thần lực, nhan mạo đoan chánh.’ Sự thật có phải vậy không?”
Xá-lợi-phất thưa: “Bạch Đại đức, sự thật là như vậy.”
“Cho nên, này Xá-lợi-phất, nay ông nên đến trong đại chúng bạch y, nói: ‘Trước đây Đề-bà-đạt-đa là như vậy, ngày nay là như vậy.
Những gì Đề-bà-đạt-đa đã làm, không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng. Đó là do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm.’”
Tôn giả Xá-lợi-phất vâng lời đức Phật dạy rồi, đến trong đại chúng bạch y, nói, “Trước đây Đề-bà-đạt-đa là như vậy, ngày nay là như vậy. Những gì Đề-bà-đạt-đa đã làm, không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng. Đó là do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm.”
Khi ấy trong đại chúng có một số người chấp nhận Đề-bà-đạt-đa thì nói, “Sa-môn Thích tử vì sự cúng dường nên sinh tâm đố kỵ. Họ không vui khi Đề-bà-đạt-đa được sự cúng dường, cho nên nói giữa đại chúng rằng: ‘Những gì Đề-bà-đạt-đa làm không phải là việc của Phật, Pháp, Tăng mà là do Đề-bà-đạt-đa tự ý làm.’”
Trong đó những người hâm mộ Phật thì nói: [593c] “Hoặc có thể Đề-bà-đạt-đa đã làm, hoặc mới đương làm.”
Lúc bấy giờ, A-xà-thế bí mật dấu con dao bên trong chiếc áo, vội vàng lén vào trong cung để giết cha. Người giữ cửa phát giác, lục thấy trong người của A-xà-thế dấu một con dao, hỏi:

* Trang 148 *
device

“Thái tử dấu con dao này để làm gì?”
A-xà-thế trả lời: “Ta muốn vào cung để hại vua.”
Người giữ cửa hỏi: “Ai dạy ông sinh tâm như vậy?”
Vương tử nói: “Đề-bà-đạt-đa dạy ta.”
Khi ấy, người giữ cửa liền dẫn đến chỗ các Đại thần, và báo cáo: “A-xà-thế muốn hại vua.”
Các Đại thần hỏi: “Ai dạy ông điều đó?
Vương tử trả lời: “Đề-bà-đạt-đa dạy tôi.”
Trong số các Đại thần có vị nói:
“Sa-môn họ Thích đều làm việc này. Phải giết hết.” Có Đại thần lại nói: “Không phải tất cả sa-môn họ Thích đều làm việc ác. Đây chỉ là việc làm của Vương tử và Đề-bà-đạt-đa. Phải giết những người này.”
Có Đại thần lại nói: “Không phải tất cả sa-môn họ Thích đều làm việc ác. Đây chỉ là việc làm của Đề-bà-đạt-đa và A-xà-thế. Tuy là tội đáng chết, nhưng không nên giết. Vì sao vậy? Vua là vị vương trọng pháp, khi nghe ắt không vui.”
Khi ấy, người giữ cửa liền dẫn đến chỗ vua Bình-sa, tâu:
“A-xà-thế này muốn hại Vua.”
Vua hỏi: “Ai bảo ngươi làm điều đó?”
Vương tử thưa: “Đề-bà-đạt-đa.”
Trong số các Đại thần có vị nói:
“Sa-môn họ Thích tất cả đều làm việc này. Phải giết hết.”
Nhà vua nghe câu nói này lòng không vui. Trong các Đại thần có người nói:
“Sa-môn Thích tử không phải làm ác hết, không nên giết hết. Đây chỉ là việc làm của Đề-bà-đạt-đa và A-xà-thế, thì nên giết họ mà thôi.”
Nhà vua nghe lời nói này, lòng cũng không vui.
Trong số Đại thần, có vị nói:

* Trang 149 *
device

“Sa-môn Thích tử không làm ác hết, không nên giết hết. Đây là việc làm của Đề-bà-đạt-đa và A-xà-thế. Hai người tuy đáng chết nhưng không nên giết. Tại sao vậy? Nhà vua là vị pháp vương, khi nghe ắt người không vui.”
Vua Bình-sa hài lòng với ý kiến này, bảo các thần rằng:
“Tất cả sa-môn Thích tử này không hẳn đều là ác, bởi vậy không nên giết hết. Đây là việc làm của Đề-bà-đạt-đa và A-xà-thế, song cũng không nên giết. Tại sao vậy? Trước đây đức Phật đã khiến Xá-lợi-phất báo khắp giữa đám đông rằng: ‘Những gì Đề-bà-đạt-đa
đã làm, không phải việc của Phật, Pháp, Tăng mà là Đề-bà-đạt-đa tự ý làm.’ Cho nên, không nên giết.”
Sau khi phụ vương quở trách Thái tử A-xà-thế rồi, bảo các Đại thần:
“Có thể tha thứ cho Thái tử A-xà-thế.”
Sau đó liền thả cho đi.
Khi ấy, các Đại thần cùng nhau lớn tiếng nói:
“A-xà-thế làm việc tày trời, đáng chết, tại sao chỉ quở trách sơ [594a1] rồi thả?”
Lúc bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa đã sai người hại Phật, lại bảo A-xà-thế giết cha, tiếng ác lan tràn, lợi dưỡng bị đoạn tuyệt. Đề-bà-đạt-đa cùng đồng bọn gồm năm người đến từng nhà khất thực. Người thứ nhất tên là Tam-văn-đạt-đa; người thứ hai tên là Khiên-trà-đạt-ba;
người thứ ba tên là Cấu-bà-ly; người thứ tư tên Ca-lưu-la-đề-xá (1) và bản thân của Đề-bà-đạt-đa là người thứ năm.
Các tỳ-kheo nghe Đề-bà-đạt-đa sai người hại Phật, lại bảo A-xà-thế giết cha, tiếng ác lan tràn, lợi dưỡng đoạn tuyệt, cùng đồng bọn năm người đến từng nhà khất thực, liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch
__________________
(1) Đồng bọn của Đề-bà-đạt-đa: Tam-văn-đạt-đa 三聞達多, Khiên-trà-đạt-bà 騫荼 達婆, Câu-bà-ly 拘婆離, Ca-lưu-la-đề-xá 迦留羅提舍. Vin.ii. 196: Kokālika, Kaamoraka-tissa, Khaṇḍadeviyā-putta, Samuddadatta.

* Trang 150 *
device

lên đức Thế Tôn, một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này liền tập hợp đại chúng. Ngài biết mà vẫn hỏi Đề-bà-đạt-đa:
“Có thật ông dẫn bốn người đến từng nhà khất thực hay không?”
Đề-bà-đạt-đa thưa:
“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Đề-bà-đạt-đa:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm
việc không nên làm. Tại sao ông riêng rẽ dẫn bốn người đến từng
nhà khất thực. Ta đã dùng vô số phương tiện nói, ‘Các ngươi hãy
thương tưởng nhà bạch y.’ Nay sao ông riêng rẽ dẫn bốn người đến từng nhà khất thực?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Đề-bà-đạt-đa rồi, liền bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay về sau không được ăn riêng chúng, được phép cho đến ba người cùng ăn. (1) Có hai điều lợi nên phải như vậy. Một là vì nhiếp phục người khó điều phục. Hai là vì từ mẫn đối với nhà bạch y. Tại sao vậy? Vì sợ hạng người khó điều phục kia tự cấu kết tạo chúng riêng để gây phiền não chúng Tăng.”
Đề-bà-đạt-đa liền sinh ý niệm này: “Điều chưa từng có! Sa-môn Cù-đàm lại đi cắt miếng ăn của kẻ khác. Ta hãy phá Tăng luân (2) của ông ta. Sau khi ta qua đời có thể để lại tiếng là, ‘Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực, trí tuệ vô ngại, mà bị Đề-bà-đạt-đa phá Tăng luân của ông ta.’”
3. Phá Tăng luân
Rồi thì, Đề-bà-đạt-đa liền đến các tỳ-kheo đồng bạn nói rằng:
“Nay chúng ta có thể cùng nhau phá Tăng luân của Cù-đàm. Sau
___________________
(1) Xem Ba-dật-đề, điều 33, cấm biệt chúng thực.
(2)  Phá Tăng luân; Pāli: saghabhedam, cakkabhedam: phá Tăng và phá luân.

* Trang 151 *
device

khi chúng ta chết có thể để lại tiếng là, ‘Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực, trí tuệ vô ngại, mà bị Đề-bà-đạt-đa phá Tăng luân của ông ta.’”
Khi ấy, một đồng bạn của Đề-bà-đạt-đa là Tam-văn-đạt-đa, trí tuệ tài cao, phát biểu:
“Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực. Cho đến đồ chúng đệ tử cũng lại như vậy. Làm sao chúng ta có thể phá được Tăng luân của người?”
Đề-bà-đạt-đa nói:
“Như Lai thường khen nói hạnh đầu-đà, thiểu dục, tri túc, ưa xuất ly. Nay, ta [594b] có năm pháp cũng là thắng pháp của đầu-đà, thiểu dục, tri túc, ưa xuất ly: trọn đời khất thực, trọn đời mặc y phấn tảo, trọn đời ngồi nơi đất trống, trọn đời không ăn muối, (1) trọn
đời không ăn cá thịt. (2)  Nay, ta trì năm pháp này giáo hóa các tỳ- kheo đủ khiến cho họ tin ưa. Ta sẽ nói với các tỳ-kheo: ‘Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện khen ngợi người tu hạnh đầu-đà, thiểu dục tri túc, ưa xuất ly. Nay, chúng ta có năm pháp cũng là thắng pháp đầu-đà: trọn đời khất thực,… cho đến không ăn thịt cá. Hãy cùng nhau thực hành điều đó.’ Tỳ-kheo tuổi nhỏ chắc sẽ thọ giáo. Tỳ-kheo thượng tọa sẽ ngại không tín thọ. Do phương tiện này có thể phá được Tăng luân kia.”
Bấy giờ, Tam-văn-đạt-đa nói với Đề-bà-đạt-đa rằng: “Nếu làm như vậy, đủ để phá Tăng luân kia.”
Khi ấy, Đề-bà-đạt-đa liền dùng năm pháp trên, dạy các tỳ-kheo:
________________________
(1)  Nguyên Hán: tô diêm 酥鹽.
(2)  Ngũ phần 25 (tr.164a): 1. không ăn muối. 2, không ăn sữa đặc. 3. không ăn cá thịt. 4. Chỉ xin ăn, không nhận mời. 5. Xuân, Hạ, 8 tháng ngồi giữa chỗ trống; Đông 4 tháng sống trong am cỏ. Thập tụng 36 (tr.295a): 1. Mặc nạp y. 2. Chỉ khất thực. 3. Chỉ một lần ăn. 4. Ngồi giữa trời trống. 5. Không ăn thịt. Phá Tăng sự (tr.149b8): không dùng sữa; không ăn cá thịt; không ăn muối; không bứt bỏ sợi chỉ dài khi may y (?); chỉ sống trong thôn xá. Pāli, Vin. ii. 197 , Vin. iii. 171: 1. Sống trong rừng. 2. Chỉ khất thực. 3. Mặc phấn tảo. 4. Sống dưới bóng cây. 5. Không ăn cá.

* Trang 152 *
device

“Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện khen ngợi người tu hạnh đầu-đà, thiểu dục, tri túc, ưa xuất ly. Nay, chúng ta có năm thắng pháp, cũng là hạnh đầu-đà, thiểu dục, tri túc, ưa xuất ly: chúng ta trọn đời khất thực, trọn đời mặc y phấn tảo, trọn đời ngồi nơi đất
trống, trọn đời không ăn muối, cá và thịt.”
Lúc bấy giờ, số đông tỳ-kheo nghe Đề-bà-đạt-đa dùng năm pháp như vậy dạy các tỳ kheo, khiến họ tin ưa... chi tiết như trên.
Các tỳ-kheo nghe rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Nay Đề-bà-đạt-đa muốn đoạn bốn Thánh chủng. (1)  Những gì là bốn? Ta thường dùng vô số phương tiện nói, y phục cốt nhắm đến tri túc. Ta cũng khen nói, y phục cốt nhắm đến tri túc. Ta cũng dùng vô số phương tiện nói, thức ăn, giường nằm và ngọa cụ, thuốc
thang để chữa bệnh cần nhắm đến tri túc. Các tỳ-kheo nên biết, nay Đề-bà-đạt muốn đoạn bốn Thánh chủng.”
Rồi đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Đề-bà-đạt-đa:
“Có thật ông dùng năm pháp dạy các tỳ-kheo hay chăng?” … chi tiết như trên.
Trả lời:
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn.” (2)
[594c7]Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Đề-bà-đạt-đa:
“Tại sao ông dùng năm pháp dạy các tỳ-kheo... (như trên). Này Đề- bà-đạt-đa, ông chớ nên đoạn bốn Thánh chủng, (4 Thánh chủng như trên đã nói). Này Đề-bà-đạt-đa, nay ông chớ nên phương tiện phá hòa hiệp Tăng, chớ chấp chặt phương tiện phá hòa hiệp Tăng,
_____________________
(1) Tứ Thánh chủng 四聖種. Cf. Trường A-hàm 8 (tr.50c28) tứ hiền thánh tộc 四賢聖族. Pāli, cattāro ariyava; cf. D.iii. 224.
(2)  Bản Hán, hết quyển 4.

* Trang 153 *
device

kiên trì không bỏ. Ông nên cùng Tăng hòa hiệp, không tranh chấp, cùng một thầy học như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có ích, sống an lạc. Bởi vậy cho nên, này Đề-bà-đạt-đa, ông nên biết, phá hòa hiệp Tăng là điều ác, gian nan, mắc đại trọng tội. Phá hòa hiệp Tăng đọa trong Nê-lê một kiếp, thọ tội không thể cứu vớt.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện khiến cho tâm phá Tăng của Đề-bà-đạt-đa tạm chấm dứt. Ngài dùng vô số phương tiện quở trách Đề-bà-đạt-đa rồi bảo các tỳ-kheo: “Cho phép Tăng trao cho Đề-bà-đạt-đa pháp ha gián, (1) can gián để bỏ sự việc này bằng cách bạch tứ yết-ma.”
Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, như trên đây mà tác bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đề-bà-đạt-đa này muốn phương tiện phá hòa hiệp Tăng, kiên trì không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho pháp ha gián để bỏ việc này, nói rằng, ‘Đề-bà-đạt-đa, ông chớ phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Đề-bà-đạt-đa, ông nên cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, đồng nhất như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới sống an lạc.’ Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đề-bà-đạt-đa này muốn thọ pháp phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Nay Tăng trao cho pháp ha gián để bỏ sự việc này. ‘Đề-bà-đạt-đa, ông chớ phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Đề-bà-đạt-đa, ông nên cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, đồng nhất như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới sống an lạc.’ Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho Đề-bà đạt-đa pháp ha gián để bỏ việc này thì im lặng. Vị nàokhông chấp thuận xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. “(lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
_________________
(1)  Ha gián. Pāli: samanubhāsanā.

* Trang 154 *
device

“Tăng đã chấp thuận trao cho Đề-bà-đạt-đa pháp ha gián để bỏ [595a1] việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.”
Nên làm pháp ha gián như vậy, Tăng vì Đề-bà-đạt-đa làm pháp bạch tứ yết-ma ha gián như vậy rồi, các tỳ-kheo đem việc này bạch lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn bảo:
“Nếu có tỳ-kheo nào khác phương tiện muốn phá hòa hợp Tăng, cũng dùng pháp bạch tứ yết-ma ha gián này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, muốn phá hoại hòa hợp Tăng, tiến hành phá hoại hòa hợp Tăng, chấp chặt pháp phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Các Tỳ-kheo nên can gián tỳ-kheo này
rằng: ‘Đại đức chớ phá hòa hợp Tăng, chớ tiến hành phá hoại hòa hợp Tăng, chớ chấp chặt phá hoại hòa hợp Tăng kiên trì không bỏ. Đại đức nên cùng Tăng hòa hợp, vì cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ không tranh chấp, đồng một thầy học, hòa hợp như nước với sữa, thì ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích, sống an lạc.’ Tỳ-kheo ấy được can gián như vậy ba lần cho bỏ việc ấy, cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; nếu không bỏ, tăng-già-bà-thi-sa.
C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Hòa hiệp: đồng một yết-ma, đồng một thuyết giới.(1)
_________________________
(1)  Pāli: samānasavāsako samānasīmaya, đồng nhất trú xứ trong cùng một cương giới.

* Trang 155 *
device

Tăng: có bốn tỳ-kheo, có năm tỳ-kheo, hoặc mười tỳ-kheo, cho đến vô số.
Phá: (1) phá có mười tám việc: pháp, phi pháp, luật, phi luật, phạm, không phạm, hoặc nhẹ, hoặc nặng, có dư tàn, không dư tàn, thô ác, chẳng phải thô ác, thường sở hành, phi thường sở hành, chế, phi chế, thuyết, phi thuyết. Đó là mười tám việc.
Trụ pháp phá Tăng: (2) tức là trụ nơi mười tám việc này.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu tỳ-kheo tiến hành muốn phá hòa hợp Tăng, (3) chấp chặt pháp phá Tăng (4) kiên trì không bỏ tỳ-kheo kia nên can gián  (5)  tỳ-kheo này rằng, ‘Đại đức chớ tiến hành muốn phá hòa hợp Tăng, chớ chấp chặt pháp phá Tăng kiên trì không bỏ. Đại đức nên cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ không tranh chấp như nước với sữa, thì ở trong Phật pháp có sự tăng ích, sống an lạc. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để
______________________
(1)  Nói đủ là phá (hòa hiệp) Tăng pháp, tức luận điểm hay sự kiện dẫn đến phá hòa hiệp Tăng. Pāli: bhedanasavattanika vā adhikaraa, tránh sự dẫn đến phá Tăng; giải thích, gồm 18 luận điểm dẫn đến phá Tăng (aṭṭhārasabhedakaravatthūni), tức 18 phá Tăng sự. Trong trường hợp Đề-bà-đạt-đa, 5 pháp mới được đề xuất để phá bốn Thánh chủng của Phật.
(2)  Trụ phá Tăng pháp 住破僧法; nhóm từ được giải thích không có trong giới văn. Trong giới văn, nhóm từ này Hán dịch là phương tiện thọ hoại hòa hợp
Tăng pháp kiên trì bất xả 方便受壞和合僧法堅持不捨. Vin. iii.172: bhedanasavattanika vā adhikaraa samādāya paggayha tiṭṭheyya, sau khi gây ra một nguyên nhân tranh chấp (tránh sự) dẫn đến sự phá Tăng, rồi chấp chặt không bỏ.
(3)  Hán: phương tiện dục phá hoà hợp Tăng 方便欲破和合僧; Pāli: samaggassa saghassa bhedāya parakkameyya, hoạt động nhắm đến sự tan vỡ của hoà hiệp Tăng.
(4)  Hán: thọ phá Tăng pháp 受破僧法; Pāli: bhedanasavattani-ka adhikaraa samādāya, tiếp nhận, hay duy trì, tránh sự (điểm tranh chấp) dẫn đến sự phá Tăng.
(5)  Pāli: vattabbo, cần được nói; tức thuyết phục cá nhân. Tỳ-kheo không nghe thuyết phục này, phạm đột-kiết-la (dukkaṭa). Căn bản: biệt gián pháp 別諫法.

* Trang 156 *
device

Tăng tác pháp ha gián mà phạm trọng tội.”
Nếu vị ấy nghe lời thì tốt; bằng không nghe lời thì lại nên khiến tỳ- kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hoặc Đại thần của Vua, các sa-môn khác đạo, bà-la-môn đến nói. Nếu tỳ-kheo ở nơi khác mà nghe biết vị này tin dùng lời nói của họ thì nên đến nhờ nói. Nếu vị này nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời thì nên tác bạch. (1) Tác bạch rồi lại thuyết phục: [595b] “Đại đức, tôi đã tác bạch xong, còn các pháp yết-ma nữa. Nay ngài nên bỏ việc này, đừng để Tăng tác yết-ma mà phạm trọng tội.” Nếu vị ấy nghe lời thì tốt; bằng không nghe lời nên tác yết-ma thứ nhất, rồi lại thuyết phục: “Đại đức, tôi đã tác sơ yết-ma rồi, còn hai yết-ma nữa. Ngài nên bỏ việc này, đừng để Tăng vì ngài tác yết-ma mà phạm trọng tội.” Nếu vị ấy nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời thì nên tác yết-ma lần thứ hai, rồi lại thuyết phục: “Đại đức, tôi đã tác yết-ma lần thứ hai rồi, còn một yết-ma nữa. Ngài nên bỏ việc này, đừng để Tăng vì ngài tác yết-ma mà phạm trọng tội.” Nếu vị ấy bỏ thì tốt, bằng không bỏ thì tác pháp yết-ma lần thứ ba. Trao xong, vị ấy phạm tăng-già-bà thi- sa.
Yết-ma lần thứ hai xong mà bỏ, phạm ba thâu-lan-giá. Yết-ma lần thứ nhất xong mà bỏ, phạm hai thâu-lan-giá. Tác bạch xong mà bỏ, phạm một thâu-lan-giá. Bắt đầu tác bạch chưa xong mà bỏ, phạm một đột-kiết-la. Nếu tất cả chưa tác bạch, khi tiến hành muốn phá hòa hợp Tăng, chấp chặt phá hòa hợp Tăng kiên trì không bỏ, tất cả phạm đột-kiết-la. Nếu khi Tăng đang tác yết-ma ha gián cho người phá Tăng mà có tỳ-kheo khuyến khích “Đừng bỏ.” Tỳ-kheo ấy phạm thâu-lan-giá. Nếu không phải là ha gián, tỳ-kheo ấy phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ- kheo-ni xúi: “Đừng bỏ.” Cô ni này phạm thâu-lan-giá. Chưa tác pháp ha gián, cô ni xúi: “Đừng bỏ.” Cô ni ấy phạm đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác xúi “Đừng bỏ.” Những người ấy phạm đột-kiết-la.
__________________
(1) Sau ba lần thuyết phục, vẫn cố chấp, Tăng tiến hành yết-ma ha gián; Pāli: samanubhāsitabbo.

* Trang 157 *
device

Tỳ-kheo-ni, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-dini phạm đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự không phạm: bắt đầu can gián liền bỏ. Nếu phi pháp biệt chúng tác pháp ha gián; phi pháp hòa hợp chúng tác pháp ha gián; pháp biệt chúng, pháp tương tợ biệt chúng, pháp tương tợ hòa hợp, phi pháp, phi luật, phi giáo giới của Phật. Hoặc hoàn toàn chưa tác pháp ha gián. Hoặc vì phá ác hữu, ác tri thức; hoặc vì phá phương tiện muốn phá Tăng, can ngăn khiến không phá; hoặc phá phương tiện trợ việc phá Tăng; hai, ba người yết-ma; hoặc muốn tác yết-ma phi pháp, phi tỳ-ni; hoặc vì Tăng, vì tháp, vì hai Hòa thượng, đồng Hòa thượng, vì A-xà-lê, đồng A-xà-lê, vì tri thức, làm tổn giảm, làm không có trú xứ. Vì những mục đích này mà phá, thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế [595c] giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XI. TÙY THUẬN PHÁ TĂNG (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ. Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa cố chấp chặt năm pháp này, và lại đi khuyên bảo các tỳ-kheo rằng:
“Thế Tôn dùng vô số phương tiện thường khen nói người tu hạnh đầu-đà, thiểu dục, tri túc, ưa xuất ly; thế thì trọn đời khất thực, mặc y phấn tảo, ngồi nơi đất trống, không ăn muối, không ăn thịt và cá.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo nói với Đề-bà-đạt-đa rằng: “Ông chớ nên phá hoại hòa hợp Tăng, chớ nên chấp chặt pháp phá Tăng kiên trì không bỏ. Tại sao vậy? Cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích an lạc.”
___________________
(1)  Ngũ phần, tr.21a2; Tăng kỳ, tr.283b15; Thập tụng, tr.25c16; Căn bản, tr.704b28. Vin. iii. 174.

* Trang 158 *
device

Bấy giờ, bè đảng của Đề-bà-đạt-đa tiến hành trợ giúp phá hoại hòa hợp Tăng, các tỳ-kheo ấy nói với các tỳ-kheo rằng: nói như pháp, là tỳ-kheo như luật. Những điều Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp nhận.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, hành đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa:
“Sao các Thầy lại nói Đề-bà-đạt-đa là tỳ-kheo nói đúng pháp, tỳ- kheo nói đúng luật; những gì Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp nhận?”
Các tỳ-kheo hiềm trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Vì sao các ông nói với các tỳ-kheo là: ‘Đừng chỉ trích những điều Đề-bà-đạt-đa nói. Đề-bà-đạt-đa là tỳ-kheo nói đúng pháp, tỳ-kheo nói đúng luật; những gì Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp nhận.’?”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ- kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa rồi bảo các tỳ-kheo: “Cho phép Tăng trao cho các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa pháp ha gián để bỏ việc này, bằng pháp bạch tứ yết-ma.” Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa này, thuận theo Đề-bà-đạt-đa, mà nói như vầy, ‘Tỳ-kheo các ngài chớ quở trách Đề-bà-đạt-đa. Tại sao vậy? Vì Đề-bà-đạt-đa là tỳ-kheo pháp ngữ, là tỳ-kheo luật ngữ. Những điều Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp nhận.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho các tỳ-kheo [596a1] bè đảng của

* Trang 159 *
device

Đề-bà đạt-đa pháp ha gián để bỏ việc này. Rằng, ‘Các ngài chớ nên nói ‘Đề-bà-đạt-đa là tỳ-kheo pháp ngữ, là tỳ-kheo luật ngữ. Những điều Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp thuận.’ Song Đề-bà-đạt-đa chẳng phải là tỳ-kheo pháp ngữ, tỳ-kheo luật ngữ. Các ngài chớ nên phá hoại hòa hợp Tăng, mà nên trợ giúp hòa hợp Tăng. Đại đức cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ không tranh chấp, như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích an lạc.’ Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Các tỳ-kheo bè đảng với Đề-bà-đạt-đa này, thuận theo Đề-bà-đạt-đa, mà nói như vầy, ‘Tỳ-kheo các ngài chớ quở trách Đề-bà-đạt-đa. Tại sao vậy? Vì Đề-bà-đạt-đa là tỳ-kheo pháp ngữ, là tỳ-kheo luật ngữ. Những điều Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp nhận.’ Nay Tăng vì các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa tác pháp ha gián để bỏ việc kia, rằng: ‘Đại đức chớ nên nói ‘Đề-bà đạt-đa tỳ-kheo pháp ngữ, là tỳ-kheo luật ngữ. Những điều Đề-bà-đạt-đa nói chúng tôi chấp thuận.’ Song Đề-bà-đạt-đa chẳng phải là tỳ-kheo pháp ngữ, tỳ-kheo luật ngữ. Các ngài chớ nên phá hoại hòa hợp Tăng, mà nên trợ giúp hòa hợp Tăng. Đại đức cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ không tranh chấp, như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích an lạc.’ Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng ha gián các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa, khiến cho bỏ việc kia, thì im lặng. Ai không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.” (lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
“Tăng đã chấp thuận tác pháp ha gián các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa để bỏ việc kia rồi. Tăng chấp nhận cho nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nên tác pháp quở trách can ngăn các tỳ-kheo bè đảng của Đề-bàđạt- đa bằng bạch tứ yết-ma như vậy. Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật bảo các tỳ-kheo:

* Trang 160 *
device

“Từ nay trở đi, nếu có bè đảng cùng trợ giúp việc phá hoại hòa hợp Tăng như vậy, cũng nên tác pháp bạch tứ yết-ma ha gián như vậy.  Từ nay trở đi, Ta vì các Tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, có bè đảng từ một, hoặc hai, hoặc ba, cho đến vô số. Các tỳ-kheo bè đảng ấy nói với các tỳ-kheo rằng: ‘Đại đức, chớ can gián tỳ-kheo ấy. Tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói như pháp, tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói như luật. Những điều tỳ-kheo ấy nói, chúng tôi ưa thích. Những điều tỳ-kheo ấy nói, chúng tôi chấp nhận.’ Chúng tỳ-kheo ấy nói: ‘Đại đức chớ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói như pháp. Tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói như luật.[596b] Những điều tỳ-kheo ấy nói chúng tôi ưa thích. Những điều tỳ-kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận.’ Nhưng tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói phi pháp, là tỳ-kheo nói phi luật. Đại đức, chớ phá hoại hòa hợp Tăng. Các ngài nên hoan hỷ hòa hợp Tăng. Đại đức cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, đồng học một thầy, hòa hợp như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có tăng ích an lạc.’ Các tỳ-kheo bè đảng được can gián như vậy mà kiên trì không bỏ. Chúng tỳ-kheo kia nên can gián ba lần cho bỏ việc này. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt. Nếu không bỏ, tăng-già-bà-thi-sa.
C. THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thuận theo: (1) có hai thứ: thuận vì pháp và thuận theo vì y thực.
___________________
(1)  Hán: thuận tùng 順從; từ được thích nghĩa, nhưng trong Giới văn không có. Pāli: anuvattaka, (người) đi theo, thuận tùng; được giải thích: người kia có quan điểm gì, xu hướng gì, sở thích gì, thì người này cũng đồng quan điểm, xu hướng, sở thích như vậy.

* Trang 161 *
device

- Thuận theo vì Pháp: dùng pháp mà giáo thọ tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng huệ, phúng tụng thọ trì.
- Thuận theo vì y thực: cung cấp y phục, ẩm thực, giường, ngọa cụ, thuốc thang chữa bệnh.
Bè đảng: (1) từ bốn người, hoặc hơn bốn người.
Lời nói tán trợ bè đảng: (2)  từ một, hoặc hai, hoặc ba, cho đến số đông.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu bè đảng của tỳ-kheo nói phi pháp, nói với các tỳ-kheo rằng: “Đại đức, chớ can gián tỳ-kheo ấy. Tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói như pháp, tỳ-kheo nói như luật. Những điều tỳ-kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận…” (…) (3) Ngài chớ nói như vầy: “Tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo
nói như pháp, tỳ-kheo nói như luật. Những điều tỳ-kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận.” Nhưng tỳ-kheo ấy là tỳ-kheo nói phi pháp, là tỳ-kheo nói phi luật. Các ngài chớ nên phá hoại hòa hợp Tăng, mà nên trợ giúp cho Tăng hòa hiệp. Đại đức cùng Tăng hòa hiệp, hoan hỷ, không tranh chấp, như nước với sữa, ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích an lạc. Các ngài nên bỏ việc này, đừng để cho Tăng quở trách mà phạm trọng tội.” Nói mà nghe lời thì tốt. Bằng không nghe lời thì nên tác bạch. Tác bạch rồi nên nói với người kia: “Tôi đã bạch xong, còn mấy lần yết-ma nữa. Ngài nên bỏ việc này, đừng để cho Tăng quở trách mà phạm trọng tội.” Nếu nghe lời thì tốt. Bằng không nghe lời thì nên yết-ma lần thứ nhất. Yết-ma lần thứ nhất xong, nên nói với người kia rằng: “Tôi đã bạch và làm yết-ma lần đầu rồi, còn hai yết-ma nữa. Ngài nên bỏ việc này, đừng để cho Tăng quở trách mà phạm trọng tội.” Nếu nghe lời thì tốt.
___________________
(1)  Bạn đảng 伴黨. Ngũ phần: trợ phá 助破. Tăng kỳ, Thập tụng: đồng ý tương trợ 同意相助. Căn bản: cộng vi bạn đảng 共為伴黨 Pāli: vaggavādaka.
(2)  Hán: trợ bạn đảng ngữ 助伴黨語; từ được giải thích mà không có trong Giới văn. Pāli: vaggavādaka, kẻ tán trợ, đồng đảng, từ một, hai hay ba người.
(3)  Bản Hán dịch nhảy một đoạn, nên văn thiếu mạch lạc.

* Trang 162 *
device

Bằng không nghe lời, thì nên tác yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai xong, nên nói với người kia: “Tôi đã bạch và làm hai pháp yết ma rồi. Còn một yết-ma nữa. Ngài nên bỏ việc kia, đừng để Tăng [596c] quở trách mà phạm trọng tội.” Nếu nghe lời thì tốt. Bằng không nghe lời, thì yết-ma lần thứ ba. Khi yết-ma lần thứ ba xong, phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Bạch xong hai yết-ma mà bỏ, phạm ba thâu-lan-giá. Bạch xong một yết-ma mà bỏ, phạm hai thâu-lan-giá. Bạch xong mà bỏ phạm một thâu-lan-giá. Tác bạch chưa xong mà bỏ phạm đột-kiết-la. Nếu khi chưa bạch, tất cả đều tùy thuộc vào việc phá Tăng của bè đảng, đều phạm đột-kiết-la. Nếu khi tỳ-kheo can gián các tỳ-kheo bè đảng, lại có tỳ-kheo khác nói đừng bỏ. Tỳ-kheo (xúi giục) này phạm thâu lan-giá. Nếu chưa quở trách can gián, thì phạm đột-kiết-la. Nếu khi tỳ-kheo can gián các tỳ-kheo bè đảng, tỳ-kheo-ni nói: “kiên trì đừng bỏ”, cô ni này phạm thâu-lan-giá. Nếu chưa tác pháp can gián cô ni nói: “đừng bỏ” thì phạm đột-kiết-la.
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác nói: “đừng bỏ” đều phạm đột kiết-la. Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sadi-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi mới nói liền bỏ. Yết-ma phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, pháp tương tợ biệt chúng, pháp tương tợ hòa hợp chúng, phi pháp, phi luật, phi Phật dạy. Hoặc tất cả chưa tác pháp can gián thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XII. Ô THA GIA (1)
______________________
(1) Ngũ phần (tr.21c11), Tăng kỳ (tr.286c16): tăng-già-bà-thi-sa 13; Pāli, Saṅghādisesa 13. Thập tụng (tr.26b9), Căn bản (tr.705a10): tăng-già-bà-thi-sa 12.

* Trang 163 *
device

A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, ở Kỳ-liên (1) có hai tỳ-kheo. Một tên là A-thấp-bà, (2)  người thứ hai tên là Phú-na-bà-sa. (3) Cả hai ở tại Kỳ-liên có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Hành vi xấu mọi người đều thấy, mọi người đều nghe. Sự làm hoen ố nhà người, mọi người đều thấy, mọi người đều nghe. Họ làm những điều phi pháp như: tự mình trồng cây hoa, sai bảo người trồng cây hoa; tự mình tưới nước, sai bảo người tưới nước; tự mình hái hoa, sai bảo người hái hoa; tự mình làm tràng hoa, sai bảo người làm tràng hoa; tự mình xâu chỉ cột, sai bảo người xâu chỉ cột; tự mình cầm hoa, sai bảo người cầm hoa; tự mình đem tràng hoa cho người, sai bảo người đem tràng hoa cho người. Hoặc ở trong thôn xóm kia có người phụ nữ, đồng nữ, cùng họ ngồi một giường, một ghế, cùng ăn uống một mâm, nói năng cười cợt; hoặc tự ca múa xướng hát, hoặc người khác làm, mình hòa theo; hoặc diễn kịch, hoặc đánh trống, thổi ống tiêu, ống sáo; làm tiếng chim sẻ, làm tiếng các loài chim khác kêu; hoặc chạy, hoặc giả kiễng chân mà đi, hoặc huýt gió, [597a1] tự làm lộng thân, (4) hoặc giúp vui cho kẻ khác... (5)
________________________
(1) Kỳ-liên 羈連. Ngũ phần: Kiết-la ấp 吉羅邑. Tăng kỳ: Ca-thi Hắc sơn tụ lạc 迦 尸黑山聚落. Thập tụng: Hắc sơn thổ địa 黑山土地, thuộc nước Xá-vệ. Căn bản: Chỉ-tra sơn 抧吒山. Pāli: Kiāgiri.
(2)  A-thấp-bà 阿濕婆. Ngũ phần: An-bễ 頞髀. Thập tụng: Mã Tú 馬宿. Căn bản: A-thấp-phược-ca 阿濕薄迦. Pāli: Assaji. Đây là tỳ-kheo trong nhóm Lục quần (chabbagiyā); không phải Assaji Thera trong năm tỳ-kheo đầu tiên (pañcavaggiya).
(3)  Phú-na-bà-sa 富那婆娑. Ngũ phần: Phân-na-bà 分那婆. Thập tụng: Mãn Tú 滿
宿. Căn bản: Bổ-nại-phạt-tố 補捺伐素. Và thêm một người thứ ba nữa: Bán đậu-lô-hê-đắc-ca 半豆盧呬得迦. Pāli: Punabbasu.
(4)  Hán: tự tác lộng thân 自作弄身; nghĩa đen: đem thân mình ra làm trò đùa. Nhưng cụ thể không hiểu là làm trò gì.
(5) Hán: thọ cổ hý tiếu : nhận thuê làm trò đùa.

* Trang 164 *
device

Khi ấy, có số đông tỳ-kheo từ nước Ca-thi (1) tuần tự du hành đến Kỳ-liên, nghỉ đêm tại đó. Sáng ngày, đắp y, bưng bát vào thôn khất thực. Pháp phục tề chỉnh. Bước đi thong thả. Mắt nhìn trước bước đi, không xoay ngó hai bên. Theo thứ tự khất thực. Khi ấy, các cư sĩ thấy vậy, cùng nhau bàn nói: “Đây là người gì cúi đầu mà đi, không ngó hai bên, cũng không nói cười, không bặt thiệp, không khéo léo trong lời chào hỏi. Chúng ta không nên cho thức ăn cho họ. A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa của chúng ta, hai vị ấy không cúi đầu đi. Họ ngó hai bên. Họ bặt thiệp với mọi người, khéo léo trong lời chào hỏi. Chúng ta nên cúng dường thức ăn cho họ.”
Lúc ấy, số đông tỳ-kheo kia khất thực tại Kỳ-liên, khó khăn lắm mới nhận được thức ăn. Do vậy, họ tự nghĩ: “Có tỳ-kheo xấu hiện đang trú tại trú xứ này, làm ác hạnh như vậy… cho đến, giúp vui cho kẻ khác.”
Các tỳ-kheo liền từ Kỳ-liên đến thành Vương-xá, và đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn như thường lệ hỏi thăm và an ủi các tỳ-kheo khách:
“Các ông đi đứng có được an lạc chăng? Chúng Tăng có hòa hợp không? Có gặp khó khăn vì ăn uống không?”
Các tỳ-kheo bạch đức Thế Tôn:
“Bạch Đại đức, chúng con đi đứng được an lạc. Chúng Tăng hòa hợp. Chúng con du hành từ nước Ca-thi đến Kỳ-liên…” Rồi đem nhân duyên trên trình bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện từ xa quở trách hai tỳ-kheo A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa rằng: “Việc làm của các người ấy là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao A-thấp-bà, Phú-na-bà-sa ở nơi Kỳ-liên mà làm
________________________
(1) Ca-thi quốc 迦尸國. Pāli: Kāsī, 1 trong 16 nước lớn thời Phật. Thủ phủ là Bārāṇasī.

* Trang 165 *
device

hoen ố nhà người, có hành vi xấu? Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng  nghe, (…) cho đến giúp vui cho kẻ khác.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo hai ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên:
“Này, hai ông nên đến Kỳ-liên trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp yết-ma tẫn xuất.(1 )Tại sao vậy? Vì họ là đệ tử của hai ông.”
Bạch tứ yết-ma như sau:
Tăng nhóm họp xong, tiến hành cử tội (2)  hai ông ấy. Cử tội xong tác pháp ức niệm. (3)  Tác ức niệm xong nên trao tội (4) cho họ. Rồi sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc đã xảy ra tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa này ở nơi Kỳ-liên làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. [597b] Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận; nay Tăng vì A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa tác pháp yết-ma tẫn xuất, rằng: ‘Các ông đã làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy ai cũng nghe. Các ông đã có những hành vi xấu như vậy thì nên đi khỏi đây, không nên ở nơi này.’ Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà, Phú-na-bà-sa này, ở nơi Kỳ-liên đã làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe.
_______________________
(1) Tẫn yết-ma 擯羯磨. Thập tụng: khu xuất yết-ma 驅出羯磨. Pāli: pabbājaniyakamma; đuổi Tỳ-kheo ra khỏi địa phương nơi mà họ đang mang tiếng xấu.
(2) Hán: tác cử 作舉; tiến hành luận tội và buộc tội. Pāli: codetabba.
(3) Tác ức niệm 作憶念, khiến cho nhớ lại tội; khiến nhận tội. Pāli: sāretabba.
(4) Dữ tội 與罪, xác định tội. Pāli: āpatti ropetabba.

* Trang 166 *
device

Việc có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Nay Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp yết-ma tẫn xuất, rằng: ‘Các ông đã làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy ai cũng nghe. Các ông đã có những hành vi xấu như vậy thì nên đi khỏi đây, không nên ở nơi này.’ Vị trưởng lão nào đồng ý Tăng vì hai người này tác yết-ma tẫn xuất thì im lặng. Vị nào không đồng ý thì xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.” (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy).
“Tăng đã chấp thuận trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp yết-ma tẫn xuất rồi. Tăng đã chấp thuận vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên vâng lời Phật dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu ba vòng rồi đi.
Ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên khoác y, bưng bát, cùng với số đông năm trăm vị đại tỳ-kheo, từ nước Ca-thi du hành đến Kỳ-liên.
Khi ấy, A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa nghe Xá-lợi-phất và Mục-liên dẫn năm trăm vị đại tỳ-kheo, từ Ca-thi du hành đến Kỳ-liên, bèn nghĩ: “Chắc chắn vì chúng ta làm yết-ma tẫn xuất.” Hai người kia liền đến chỗ các cư sĩ, nói rằng:
“Nay có hai tỳ-kheo đến. Một, tên là Xá-lợi-phất, và hai, tên là Mục-liên. Một vị giỏi về huyễn thuật, bay đi trên hư không. Tỳ-kheo thứ hai, thì hành ác hạnh, tự mình có khả năng thuyết pháp. Quý vị nên khéo tự quán sát, đừng để bị mê hoặc.”
Khi ấy, Xá-lợi-phất và Mục-liên từ nước Ca-thi tuần tự du hành đến Kỳ-liên, nghỉ đêm nơi đó. Sáng ngày, khoác y, bưng bát, vào thôn khất thực. Đại Mục-liên hiện thần túc, phóng thân lên khôngtrung; Xá-lợi-phất đích thân nói pháp.
Bấy giờ, các cư sĩ thấy vậy rồi, cùng nhau bàn tán: “Hai tỳ-kheo này, một vị giỏi nghề huyễn thuật, bay đi trong không trung. Tỳ-kheo thứ hai hành ác hạnh, nhưng tự nói pháp được.” Lúc này, Xá-

* Trang 167 *
device

lợi-phất và Mục-liên liền vì các cư sĩ tại Kỳ-liên mà [597c] nói pháp, khiến họ được tin phục.
Khi Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên ăn xong, rửa bát, trở về lại trú xứ, vì nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo. Tăng nhóm họp, rồi họ vì A-thấp-bà, Phú-na-bà-sa mà cử tội. Cử tội xong tác ức niệm. Tác ức niệm xong trao tội. Tôn giả Xá-lợi-phất ở giữa chúng liền tác yết-ma như trên. Khi ấy, A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa bị Tăng tác yết-ma rồi, liền nói:
“Chúng Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng chỉ riêng đuổi tôi.”
Khi ấy, Xá-lợi-phất và Mục-liên ở tại Kỳ-liên vì A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa tác yết-ma rồi, trở về vườn Cấp-cô-độc rừng cây Kỳ-đà nước Xá-vệ, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
“Chúng con đã đến Kỳ-liên trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa yết-ma tẫn xuất rồi. Khi chúng Tăng tác yết-ma tẫn xuất, A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa lại nói: ‘Chúng Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’”
Lúc ấy, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện từ xa quở trách A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao khi chúng Tăng trao cho pháp yết-ma tẫn xuất lại nói: ‘Chúng Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi’?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay trở đi, cho phép Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián, bằng bạch tứ yết-ma.”

* Trang 168 *
device

Trong chúng nên sai một người có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc đã xảy ra, tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa này ở tại Kỳ-liên, khi Tăng trao cho pháp yết-ma, lại nói: ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián để bỏ việc ấy, rằng: ‘Các ông chớ nói Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà [598a1] có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng các tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù nghịch, không có sợ hãi, không có bất minh. Các ông làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu, ai cũng thấy, ai cũng nghe. Các ông đã làm hoen ố nhà người, đã có hành vi xấu.’ Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa này ở tại Kỳ-liên khi Tăng trao cho pháp yết-ma bèn nói: ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh vì có Tỳ-kheo đồng tội mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Nay Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián cho bỏ việc này, rằng: ‘Các ông chớ nói Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng các tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù nghịch, không có sợ hãi, không có bất minh. Các ông làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Các ông đã làm hoen ố nhà người, đã có hành vi xấu.’ Các trưởng lão nào chấp nhận Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián, cho bỏ việc này, thì im lặng. Ai không đồng ý thì xin nói. Đây là yết-ma

* Trang 169 *
device

lần thứ nhất. (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
“Tăng đã chấp thuận, trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián cho bỏ việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp bạch tứ yết-ma ha gián như vậy rồi, các tỳ-kheo mới đến bạch đức Thế Tôn. Đức Phật bảo:
“Có tỳ-kheo nào, Tăng tẫn xuất rồi, hoặc đang tẫn xuất, hoặc chưa tẫn xuất mà nói: ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh,’ cũng cần trao cho họ pháp bạch tứ yết-ma ha gián như vậy.
“Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới sẽ nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, sống nương tựa xóm làng, hay thành ấp, mà làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Các tỳ-kheo nên nói với tỳ-kheo ấy rằng: ‘Đại đức là người làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Đại đức, ngài làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, nay nên xa lánh xóm làng này, không nên sống ở đây nữa.’ Tỳ-kheo ấy nói với các tỳ-kheo rằng: ‘Chư Đại đức, các tỳ-kheo có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. [598b] Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Các tỳ-kheo nên trả lời tỳ-kheo đó rằng: ‘Đại đức chớ nói ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hãi, có bất minh. Vì có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Nhưng các tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù nghịch, không có sợ hãi, không có bất minh. Đại đức làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi

* Trang 170 *
device

xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe.’ Tỳ-kheo ấy được can gián như vậy mà kiên trì không bỏ; các tỳ-kheo nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt. Nếu không bỏ, tăng-già bà thi sa.
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thôn: có bốn loại, như trên đã nói.
Xóm làng thành ấp: thuộc về của nhà vua.
Nhà: có nam có nữ. (1)
Làm hoen ố nhà người: (2)  có bốn sự. Nương tựa (3) nhà làm hoen ố nhà, nương lợi dưỡng làm hoen ố nhà, nương tựa thân hữu làm hoen ố nhà, nương tựa Tăng-già-lam làm hoen ố nhà.
- Thế nào là nương tựa nhà làm hoen ố nhà? Từ một nhà (này) nhận được vật, đem cho một nhà (khác). Nhà mình nhận được vật nghe nói thì không vui. Còn nhà mình đem vật cho, lại nghĩ chuyện trả ơn, bèn nói: “Nếu có cho ta, thì ta sẽ đáp lại. Nếu không cho ta, ta lấy cớ gì cho lại?” Đó gọi là nương tựa nhà làm hoen ố nhà người.
- Thế nào gọi là nương lợi dưỡng làm hoen ố nhà? Tỳ-kheo được lợi dưỡng như pháp, cho đến thức ăn còn thừa nơi bát, đem cho một cư sĩ (này) mà không cho một cư sĩ (kia). Người cư sĩ nhận được liền sinh ý niệm trả ơn, nói: “Có cho ta, ta sẽ trả ơn. Nếu
______________________
(1)  Gia 家; được hiểu là gia đình, hay gia tộc. Pāli: kula; được giải thích có bốn: khattiya-kula, brāhma-kulavessakula. sudda-kula, tức gồm bốn giai cấp.
(2)  Ô tha gia 污他家. Tăng kỳ: tha gia, hoặc sát-lợi gia, hoặc bà-la-môn gia, tỳ-xá gia, thủ-đà-la gia. Người trong tụ lạc đã có tín tâm nơi Phật pháp, mà làm cho họ mất tín tâm, gọi là ô tha gia. Pāli: kuladusāko, giải thích: gây tai tiếng cho một gia đình bằng những biếu xén như là hình thức hối lộ.
(3) Nương tựa nơi đó mà sống. Pāli: upanissāya viharati, giải thích: nhờ nơi đó mà có được bốn nhu yếu là ẩm thực, y phục, ngọa cụ và y dược.

* Trang 171 *
device

không cho ta, làm sao ta cho lại?” Đó gọi là nương lợi dưỡng làm hoen ố nhà người.
- Thế nào gọi là nương tựa thân hữu làm hoen ố nhà người? Tỳ-kheo nương tựa nhà vua, hoặc Đại thần, rồi vì (giúp) một cư sĩ (này), không vì một cư sĩ (kia). Người cư sĩ được (giúp) liền nghĩ việc trả ơn, nói: “Có vì ta, ta sẽ cúng dường. Nếu không vì ta, ta không cúng dường.” Đó gọi là nương tựa thân hữu làm hoen ố nhà người.
- Thế nào gọi là nương tựa Tăng-già-lam làm hoen ố nhà người? Tỳ-kheo lấy bông trái của Tăng cho một cư sĩ (này), không cho một cư sĩ (kia). Cư sĩ được cho liền nghĩ việc trả ơn, nói: “Nếu có cho ta, ta sẽ cúng dường. Nếu không cho ta, ta không cúng dường.” Đó gọi là nương tựa Tăng-già-lam làm hoen ố nhà người. Vì bốn sự này mà làm cho nhà người bị hoen ố, (1)  cho nên gọi là làm hoen ố nhà người.
Có hành vi xấu  (2) : tự mình trồng cây hoa, hay sai người trồng cây hoa, cho đến, giúp vui cho người, như trên đã nói.
D. PHẠM TƯỚNG
Tỳ-kheo nương tựa nơi tụ lạc, làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, [598c] ai cũng nghe; có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Tỳ-kheo kia can gián tỳ-kheo này rằng: “Đại đức làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Đại đức làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, nên bỏ việc này, đừng để Tăng-già quở trách, lại phạm trọng tội.”
Nếu vị ấy nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời, nên tác bạch. Tác bạch rồi, nên thuyết phục, nói: “Đại đức, Tăng đã tác bạch rồi. Còn có ba yết-ma nữa, nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách, lại phạm trọng tội.”
__________________
(1) Tức làm cho mang tiếng xấu.
(2) Hành ác hạnh 行惡行. Pāli: pāpasamācāro, giải thích: trồng hoa hay sai người trồng hoa; tưới cây hay sai người tưới cây…

* Trang 172 *
device

Nếu vị ấy bỏ thì tốt, bằng không bỏ nên tác yết-ma lần đầu. Tác yết-ma lần đầu rồi, lại thuyết phục, nói: “Đại đức, Tăng đã tác bạch và tác pháp yết-ma lần đầu rồi, còn có hai yết-ma nữa. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng quở trách lại phạm trọng tội.”
Nếu vị ấy nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai rồi, nên lại thuyết phục, nói: “Đại đức, Tăng đã tác pháp yết-ma lần thứ hai rồi, còn có một yết ma nữa. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách lại phạm trọng tội.”
Nếu vị ấy nghe theo thì tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết ma lần thứ ba. Tác yết-ma lần thứ ba rồi, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tác pháp yết-ma lần thứ hai xong mà bỏ thì phạm ba thâu-lan-giá. Nếu tác pháp yết-ma lần thứ nhất xong mà bỏ thì phạm hai thâu-lan-giá. Nếu bạch xong mà bỏ thì phạm một thâu-lan-giá. Nếu bạch chưa xong mà bỏ thì phạm đột-kiết-la. Nếu trước khi chưa
bạch, nói Tăng có thiên vị, có thù hận, có sợ hãi, có bất minh, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Khi Tăng tác pháp quở trách can gián lại có Tỳ-kheo khác bảo: “đừng bỏ.” Tỳ-kheo này phạm thâu-lan-giá. Nếu chưa tác pháp quở trách can gián thì phạm đột-kiết-la. Nếu khi Tăng tác pháp can ngăn quở trách có tỳ-kheo-ni bảo: “đừng bỏ.” Cô ni này phạm thâu-lan-giá. Nếu trước khi chưa tác pháp quở trách can gián thì cô ni phạm đột-kiết-la.
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác bảo: “đừng bỏ”; quở trách, không quở trách đều phạm đột-kiết-la. Nếu không xem thư mà mang đi, phạm đột-kiết-la. Nếu vì bạch y làm người đưa tin sứ giả, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi mới nói liền bỏ. Hoặc yết-ma phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp tương tợ biệt chúng, pháp tương tợ hòa hiệp chúng, phi pháp, phi luật, phi Phật giáo. Nếu tất

* Trang 173 *
device

cả trước khi chưa tác pháp quở trách can ngăn thì không phạm. Nếu cho cha [599a1] mẹ, cho người bệnh, cho tiểu nhi, cho phụ nữ có thai, cho người bị nhốt trong ngục, cho người làm thuê trong nhà chùa thì không phạm. Trồng cây hoa, sai bảo người trồng cây hoa, để cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự mình tạo tràng hoa, sai bảo người tạo tràng hoa để cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự mình dùng chỉ xâu hoa, sai bảo người dùng chỉ xâu hoa để cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự mình cầm hoa, sai bảo người cầm hoa cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự mình dùng chỉ xâu tràng hoa, sai bảo người dùng chỉ xâu tràng hoa để cúng dường Phật, Pháp, Tăng, đều không phạm. Nếu bị người đưa tay muốn đánh, (1)  hoặc bị giặc, hoặc bị voi,báo, sư tử, hổ lang, hoặc nơi có hoạn nạn, hoặc chạy tránh vì người gánh gai nhọn thì không phạm. Nếu lội qua sông, rãnh, mương, hầm phải nhón gót nhảy thì không phạm.
Nếu đồng bạn đi sau, quay lại ngó không thấy, huýt gió kêu thì không phạm. Nếu vì cha mẹ bệnh, hoặc vì người bị nhốt trong ngục, hoặc vì người ưu-bà-tắc có tín tâm sâu đậm bệnh hay bị giam cầm, xem thư rồi đem đi, hoặc vì tháp, vì Tăng, vì tỳ-kheo bệnh mang thư tới lui, tất cả đều không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XIII. ÁC TÁNH BẤT THỌ NHÂN NGỮ (2)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-thiểm-di. (3)
___________________
(1) Giải thích những hành vi, cử chỉ tương tự với đùa giỡn. Những điều này, một số liên hệ các ba-dật-đề, một số liên hệ các pháp chúng học.
(2)  Ngũ phần 3 (tr. 21b5), Tăng kỳ 7 (tr. 284c22): tăng-già-bà-thi-sa 12. Pāli, Saghādisesa 12. Thập tụng 4 (tr.27c6), Căn bản 16 (tr. 707a25): tăng-già-bàthi-sa 13.
(3) Pāli: Kosambiya Ghositārāme.

* Trang 174 *
device

Bấy giờ, Tôn giả tỳ-kheo Xiển-đà (1)  vì tánh ngoan cố nên không nhận lời khuyên của người khác, lại nói các tỳ-kheo rằng: “Các ngài chớ nên nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức, thôi đi,
đừng nên nói gì nữa! Các Đại đức sao lại dạy tôi? Tôi đáng dạy Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác. Ví như nước lớn từ đầu cuốn trôi các cây cỏ dồn lại một chỗ. Các Đại đức cũng lại như vậy, đủ mọi dòng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập họp lại một chỗ. Cũng như gió lớn thổi các cây cỏ gom lại một chỗ. Các Đại đức cũng như vậy, đủ mọi dòng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập hợp lại một chỗ. Bởi vậy, các Đại đức không đáng dạy tôi. Tôi đáng dạy các Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác.”
Khi ấy, trong các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý hiềm trách tỳ-kheo Xiển-đà: “Sao lại ngoan cố không nhận lời khuyên của người khác? Lại nói với các tỳ-kheo rằng: ‘Các ngài chớ nên nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không [599b] nói với các Đại đức điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, đừng nên nói gì nữa! Các Đại đức sao lại dạy tôi? Tôi đáng dạy Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác. Ví như nước lớn từ đầu cuốn trôi các cây cỏ dồn lại một chỗ. Các Đại đức cũng lại như vậy, đủ mọi dòng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập họp lại một chỗ. Cũng như gió lớn thổi các cây cỏ gom lại một chỗ. Các Đại đức cũng như vậy, đủ mọi dòng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập hợp lại một chỗ. Bởi vậy, các Đại đức không đáng dạy tôi. Tôi đáng dạy các Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi
chứng đắc Chánh giác.’”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
______________________
(1) Xiển-đà 闡陀, thường gọi là Xa-nặc, quân hầu ngựa của Thái tử. Pāli: Channa.

* Trang 175 *
device

qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách  đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Xiển-đà:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này Xiển-đà, sao lại ngoan cố không nhận lời khuyên bảo của người khác,… như trên cho đến, Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác.’”
Đức Thế Tôn quở trách Xiển-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Cho phép Tăng trao cho Xiển-đà tỳ-kheo pháp bạch tứ yết-ma ha gián. Pháp quở trách can gián như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này vì tánh ngoan cố nên không nhận lời khuyên của người khác. Các tỳ-kheo đã khuyên can như pháp những điều học giới, nhưng tự mình trở thành người không thể nói chuyện, bảo các tỳ-kheo rằng: ‘Các Đại đức, chớ nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, khỏi cần phải dạy tôi.’ Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp ha gián cho bỏ việc này, rằng: ‘Này Xiển-đà, chớ tự mình trở thành người không thể nói chuyện. Hãy tự mình trở thành người có thể nói chuyện. Xiển-đà, ngài nên như pháp can gián các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo cũng nên như pháp can gián ngài. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hố (1)  với nhau.’ Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này do tánh ngoan cố nên không nhận lời khuyên của người khác.
____________________
(1) Sám hối: nên hiểu là phát lồ.

* Trang 176 *
device

Các tỳ-kheo đã khuyên can như pháp những điều tronggiới học, nhưng tự mình trở thành người không thể nói chuyện, bảo các tỳ-kheo rằng: ‘Các Đại đức, chớ nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, khỏi cần phải dạy tôi.’ Nay Tăng vì tỳ-kheo Xiển-đà tác pháp[599c] ha gián cho bỏ việc này, rằng: ‘Này Xiển-đà, chớ tự mình trở thành người không thể nói chuyện. Hãy tự mình trở thành người có thể nói chuyện. Xiển-đà, ngài nên như pháp can gián các tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng nên như pháp can gián ngài. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối với nhau.’ Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng vì tỳ-kheo Xiển-đà tác pháp ha gián cho bỏ việc này thì im lặng. Vị nào không chấp thuận xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.” (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
“Tăng đã trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp ha gián cho bỏ việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nên can gián như vậy rồi Tăng trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp bạch tứ yết-ma can gián khiến cho bỏ việc này rồi, các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu có các Tỳ-kheo khác do tánh ngoan cố không nhận lời khuyên bảo của người khác, thì Tăng cũng trao cho pháp bạch tứ yết-ma can gián như vậy. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, có tánh ngoan cố không nhận lời khuyên của người khác. Khi được các tỳ-kheo khuyên can như pháp những điều trong học giới, tự thân không nhận lời can
gián, lại nói: ‘Các Đại đức, chớ nói với tôi điều gì hoặc tốt

* Trang 177 *
device

hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, đừng can gián tôi.’ Các tỳ-kheo can gián tỳ-kheo ấy rằng: ‘Đại đức, chớ tự thân không nhận lời can gián. Đại đức hãy tự thân nhận lời can gián. Đại đức như pháp can gián các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo cũng như pháp can gián Đại đức. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối với nhau.’ Tỳ-kheo này được can gián như vậy, kiên trì không bỏ. Các tỳ-kheo nên ba lần can gián cho bỏ sự ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt. Nếu không bỏ, tăng-già-bà-thi-sa.
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tánh ngoan cố không nhận lời của người: (1)  không nhẫn chịu, không thọ nhận lời người khác dạy bảo.
Lấy giới luật như pháp dạy bảo: có bảy tụ vi phạm: ba-la-di, tăng già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết.
Như pháp: đúng pháp, đúng luật, đúng lời Phật dạy. Nếu tỳ-kheo với tánh ngoan cố, không chấp nhận lời của người, các tỳ-kheo lấy giới luật như pháp để giáo thọ.
Tự thân trở thành không thể nói chuyện với: “Đại đức [600a1] chớ nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không nói với Đại đức điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Đại đức thôi đi, chớ can gián tôi.”
D. PHẠM TƯỚNG
Tỳ-kheo kia can gián tỳ-kheo này rằng: “Đại đức, chớ tự mình trở
____________________
(1) Hán: ác tánh bất thọ nhân ngữ 惡性不受人语. Ngũ phần: ác tánh nan cộng ngữ 惡性難共語. Tăng kỳ: tự dụng lệ ngữ 自用戾語. Thập tụng: ác tánh lệ ngữ 惡性 戾語. Pāli: dubbacajātiko, bản tính khó nói; khó nói chuyện; không nhận lời khuyên can.

* Trang 178 *
device

thành người không thể nói chuyện. Hãy tự mình trở thành người có thể nói chuyện. Đại đức, ngài nên như pháp can gián các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo cũng nên như pháp can gián ngài. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối với nhau. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng quở trách mà phạm trọng tội.”
Nếu vị ấy nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai rồi, nên lại phải thuyết phục nói:
“Đại đức, Tăng đã tác pháp yết-ma lần thứ hai rồi, còn có một yết ma nữa. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách lại phạm trọng tội.”
Nếu vị ấy nghe theo thì tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết ma lần thứ ba. Tác yết-ma lần thứ ba rồi, tăng-già-bà-thi-sa.
Bạch và yết-ma lần thứ hai xong mà bỏ thì phạm ba thâu-lan-giá.
Bạch và yết-ma lần thứ nhất xong mà bỏ thì phạm hai thâu-lan-giá.
Nếu bạch xong mà bỏ thì phạm một thâu-lan-giá. Nếu bạch chưa xong mà bỏ thì phạm đột-kiết-la. Nếu trước khi chưa bạch, ngoan cố không nhận lời khuyên bảo của người khác, thảy đều đột-kiết-la.
Khi Tăng tác pháp quở trách can gián lại có tỳ-kheo khác bảo: “đừng bỏ!” Tỳ-kheo này phạm thâu-lan-giá. Nếu chưa tác pháp quở trách can gián thì phạm đột-kiết-la. Nếu khi Tăng tác pháp can ngăn quở trách có tỳ-kheo-ni bảo: “đừng bỏ!” Cô ni này phạm thâu-lan-giá. Nếu trước khi chưa tác pháp quở trách can gián thì cô ni phạm đột-kiết-la.
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác bảo: “đừng bỏ!” Quở trách, không quở trách đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi mới nói liền bỏ. Yết-ma phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, pháp tương tợ biệtchúng, pháp tương tợ hòa hợp chúng, [600b] phi pháp, phi luật, phi lời

* Trang 179 *
device

Phật dạy. Tất cả trước khi chưa can gián thì không phạm. Nếu bị người vô trí quở trách can gián, mà nói với người ấy rằng: “Việc làm của Hòa thượng, A-xà-lê của ông cũng như vậy. Ông hãy nên học hỏi, tụng kinh thêm.” Hoặc việc kia là như vậy. Hoặc nói giỡn chơi, hoặc nói gấp gáp, hoặc nói một mình, hoặc nói trong mộng, hay muốn nói việc này nhầm nói việc kia thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 180 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)