LOGO VNBET
CHƯƠNG II
THUYẾT GIỚI (1)

 
I. PHÁP THỨC THUYẾT GIỚI
1. Bố-tát
[816c6] Phật ở tại thành La-duyệt. Bấy giờ trong thành, các phạm- chí ngoại đạo mỗi [nửa] tháng ba lần tập hội vào các ngày mồng 8, 14, 15. (2) Mọi người tụ tập đông đảo, lui tới giao hữu với nhau, cung cấp thức ăn thức uống, cúng dường suốt ngày, rất là thân thiết.
Khi ấy vua Bình-sa ở trên lầu cao, từ xa nhìn thấy quần chúng đến tụ hội chỗ phạm-chí, bèn hỏi các quan tả hữu:
“Hôm nay những người này muốn đi đâu mà đông thế?”
Các quan tâu với vua: “Đại Vương nên biết, trong thành này, các phạm-chí mỗi [nửa] tháng ba lần tập hội vào các ngày mồng 8, 14, 15. Mọi người tụ tập đông đảo, lui tới giao hữu với nhau, cung cấp thức ăn thức uống, cúng dường suốt ngày, rất là thân thiết. Vì vậy, mọi người đang đi đến chỗ các phạm-chí đang tập hội.”
Vua Bình-sa nghe xong, liền xuống lầu, đi đến chỗ đức Thế Tôn; đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
“Hiện nay trong thành La-duyệt, các phạm-chí mỗi [nửa] tháng ba lần tập hội vào các ngày mồng 8, 14, 15. Mọi người tụ tập đông đảo, lui tới giao hữu với nhau, cung cấp thức ăn thức uống, cúng dường suốt ngày, rất là thân thiết. Lành thay! Thế Tôn dạy cho các tỳ-kheo mỗi [nửa] tháng ba lần tập hội vào các ngày 8, 14 và 15, để mọi người các nơi tới lui, cùng giao hữu, cung cấp đồ ăn thức uống. Con và quần thần cũng sẽ đến tập hội.”
_________________
(1) Trong bản Hán, Chương VI của Phần II.
(2) Tính theo tháng 15 ngày. Nếu tính theo tháng 30 ngày, thì mỗi tháng có sáu lần hội, vào các này: 8, 14, 15, 23, 29, 30.

* Trang 1259 *
device

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Vua Bình-sa biết đức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng rồi, liền rời chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu ba vòng cáo lui.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo và bảo: “Hiện nay trong thành La-duyệt, các phạm-chí mỗi [nửa] tháng tập hợp ba ngày mồng 8, 14 và 15, mọi người ở khắp nơi tới lui đông đảo, giao hữu với nhau, cung cấp đồ ăn thức uống. Các ông cũng nên mỗi [nửa] tháng tập hội ba ngày mồng 8, 14 và 15, để mọi người ở các nơi tới lui cùng nhau giao hữu, cung cấp đồ ăn thức uống. Vua Bình-sa và quần thần cũng sẽ đến tập hội.”
Các tỳ-kheo thưa: “Chúng con sẽ phụng hành như vậy.”
Các tỳ-kheo phụng hành lời dạy của đức Thế Tôn rồi, mỗi [nửa] tháng tập hội ba lần, vào các ngày mồng 8, 14 [817a1] và 15. Mọi người các nơi tới lui, cùng nhau giao hữu, cung cấp đồ ăn thức uống. Vua Bình-sa cũng dẫn các quần thần đến tập hội. Các tỳ- kheo đến tập hội đều ngồi im lặng. Các trưởng giả thưa với các tỳ- kheo: “Chúng con muốn nghe nói pháp.”
Các tỳ-kheo không dám nói. Đem nhân duyên này bạch Phật. Phật dạy: “Cho phép các ông nói pháp.”
Đã được phép nói pháp rồi, các tỳ-kheo lại không biết nói pháp gì.
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép nói Khế kinh.”
Các tỳ-kheo muốn phân biệt thuyết nghĩa. (1) Trong khi thuyết nghĩa, không nói đủ văn cú. Các vị đều sanh nghi. Đức Phật dạy:
“Cho phép thuyết nghĩa, khỏi phải nói đủ văn cú (2) .”
2. Thuyết pháp
Có hai tỳ-kheo cùng một tòa cao nói pháp.
_______________________
(1) Thuyết nghĩa 說義, một loại thể tài văn học, Skt. upadeśa (ưu-ba-đề-xá), cũng dịch là luận nghị, giảng giải ý nghĩa kinh mà Phật đã nói tóm tắt.
(2) Không cần phải dẫn chánh văn.

* Trang 1260 *
device

Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Có hai tỳ-kheo có chung một tòa cao để thuyết pháp, nên tranh cãi nhau.
Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Các vị ấy cùng trải toà cao gần nhau để thuyết nghĩa, moi móc sở trường, sở đoản của nhau. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Các vị kia nhân việc thuyết nghĩa mà bức bách nhau. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Bấy giờ, hai tỳ-kheo đồng thanh ngâm nga. (1) Phật dạy: “Không được như vậy.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo muốn thuyết pháp với giọng ca vịnh. (2) Đức Phật nói: “Cho phép.”
Có một tỳ-kheo, ở cách đức Thế Tôn không xa, nói pháp bằng âm thanh ca vịnh thái quá. (3) Đức Phật nghe, liền bảo tỳ-kheo này rằng:
“Ngươi không được nói pháp với âm thanh như vậy. Ngươi nên nói pháp giống Như Lai, đừng như người phàm thế. Muốn nói pháp nên bình đẳng như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên mà nói pháp, đừng nói như người phàm tục.
“Này các tỳ-kheo, nếu nói pháp với giọng ca vịnh quá du dương, có năm điều lỗi: Nếu tỳ-kheo nói pháp với giọng ca vịnh thái quá, tự mình sẽ sanh tham đắm yêu thích âm thanh; đây là lõi thứ nhất. Nếu tỳ-
____________________
(1) Hiệp bối 合唄. Bối, hay phạn bối, phiên âm từ Skt. bhāṇaka. Cũng âm là bối nặc. Chỉ sự tụng đọc kinh điển (tiếng Phạn) với giọng ngâm vịnh. Cao tăng truyện 13 (T50, tr.415b19): " Theo phương tục Thiên trúc, phàm ca vịnh pháp ngôn đều gọi là bối . Đến như ở nước này, vịnh Kinh thì nói là chuyển độc, ca tán thì gọi là phạn bối."
(2) Như ca hát, một hình thức đọc tụng Veda. Căn bản Luật nhiếp 9 (T24, tr. 575b20):" Nếu bằng âm thanh ngâm vịnh mà truyền dạy Pháp, phạm ác tác."
(3) Nguyên Hán: cực quá sai 過差.. Không có giải thích rõ ràng trong các sớ giải luật. Có thể hiểu là ca vịnh quá mức, tức quá du dương hay cách điều như người đời ca hát.

* Trang 1261 *
device

kheo nói pháp với giọng ca vịnh thái quá, người nghe sẽ sanh tham đắm yêu thích âm thanh kia; đây là lỗi thứ hai. Nếu tỳ- kheo nói pháp với giọng ca vịnh thái quá sẽ khiến cho người nghe ham muốn học tập theo; đây là lỗi thứ ba. Nếu tỳ-kheo nói pháp với giọng ca vịnh thái quá, các trưởng giả nghe sẽ cơ hiềm rằng: ‘Chúng ta học tập ca vịnh, tỳ-kheo nói pháp cũng như vậy.’ Họ bèn sanh tâm khinh thường, không cung kính; đây là lỗi thứ tư. Nếu tỳ- kheo thuyết pháp với giọng ca vịnh thái quá, các vị tư duy nơi tịch tịnh sẽ duyên nơi âm thanh, loạn [817b] thiền định; đây là lỗi thứ năm.”
Bấy giờ có các tỳ-kheo muốn tập hội lại một chỗ vào ban đêm để nói pháp. Phật nói: “Cho phép.”
Các tỳ-kheo không biết tập hội vào ngày nào. Đức Phật nói: “Cho phép ngày rằm, mười bốn, mười ba, mồng mười, mồng chín, mồng tám, mồng năm, mồng ba và mồng hai; hoặc mỗi mỗi ngày nói cũng được. Nếu người thuyết pháp ít, thì theo thứ tự thỉnh để nói.”
Có vị không chịu nói. Đức Phật dạy: “Không được như vậy. Dù chỉ nói một bài kệ, cũng phải nói.” Một bài kệ là:
                                    Các điều ác chớ làm,
                                    Điều thiện phải phụng hành.
                                    Giữ tâm ý thanh tịnh,
                                    Là lời chư Phật dạy.

Nếu không chịu nói sẽ như pháp trị.
Các tỳ-kheo ban đêm tập hợp muốn nói pháp, chỗ ngồi thấp, (1) sanh nghi. Đức Phật dạy:
“Nếu ban đêm tập hợp nói pháp, chỗ ngồi cao hay thấp không ngại gì.”
Các tỳ-kheo ban đêm tập hợp, muốn ngồi thiền, Phật dạy: “Được phép ngồi.”
___________________
(1) Pháp chúng học, điều 89: Tỳ kheo không được thuyết pháp cho người ngồi chỗ cao hơn mình."

* Trang 1262 *
device

Các tỳ-kheo ngủ gật. Phật dạy: “Tỳ-kheo ngồi gần phải đánh thức họ. Hoặc bằng tay; nếu tay với không đến thì cầm cây gài cửa, hay cán cây phất trần để đánh thức. Nếu như họ đồng ý (1) thì có thể lấy guốc dép liệng đến họ. Nếu họ vẫn cứ ngủ, nên cầm cây thiền trượng để cảnh giác.”
Có vị bị cảnh giác bằng thiền trượng; khi tỉnh, bèn phản đối. Đức Phật dạy:  “Không được như vậy. Nếu không thuận, mà còn phản đối, thì như pháp trị.”
Có vị vẫn cứ ngủ, đức Phật nói: “Cho phép dùng nước rảy.”
Ai bị rảy nước, mà phản đối không chịu, thì cũng nên như pháp trị. Nếu vẫn cố ngủ trở lại. Đức Phật bảo:
“Nên dụi con mắt, hoặc dùng nước rửa mặt.”
Có vị vẫn cứ ngủ. Đức Phật nói:
“Nên tự véo tai hay mũi; hoặc chà sát nơi trán.”
Nếu lại cứ ngủ thì nên vén kéo uất-đa-la tăng rồi lấy tay xoa chà mình; hoặc nên đứng dậy đi ra ngoài cửa xem ngắm bốn phương, ngửa mặt nhìn tinh tú; hoặc đến chỗ kinh hành, thủ nhiếp các căn, khiến tâm không tán loạn.
3. Ba-la-đề-mộc-xoa
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở chỗ nhàn tịnh, tư duy rằng: “Ta vì các tỳ-kheo kết giới, thuyết ba-la-đề-mộc-xoa. Trong đó có tỳ-kheo có tín tâm, mới thọ giới, chưa được nghe, không biết làm sao để học giới. Nay Ta nên cho phép các tỳ-kheo tập trung lại một chỗ để thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa.”
Đức Thế Tôn ra khỏi chỗ tịch tịnh, do nhân duyên tập hợp các tỳ-kheo và bảo rằng:
 “Vừa rồi Như Lai từ chỗ yên tịnh tư duy, suy nghĩ rằng: ‘Ta vì các tỳ-kheo kết giới, thuyết ba-la-đề-mộc-xoa. Trong đó có tỳ-kheo có tín tâm, mới thọ giới, chưa [817c] được
__________________
(1) Đây chỉ với bạn đồng tâm chí.

* Trang 1263 *
device

nghe, không biết làm sao để học giới.’ Ta lại suy nghĩ tiếp: ‘Nay Ta nên cho phép các tỳ- kheo tập họp lại một chỗ để thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa.’ Vì vậy, các tỳ-kheo nên cùng nhau tập hợp lại một chỗ, thuyết giới ba-la- đề-mộc-xoa.
Thuyết giới như vầy:
Các Đại đức! Nay tôi muốn thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa. Các thầy lắng nghe, (1) khéo tâm niệm kỹ. Nếu tự mình biết có phạm, nên tự mình sám hối. (2) Không phạm thì im lặng. Do sự im lặng, tôi biết các Đại đức thanh tịnh. Cũng như được người khác hỏi, như sự thực mà trả lời. Cũng vậy, tỳ-kheo nào ở trong chúng cho đến ba lần hỏi, nhớ nghĩ có tội mà không sám hối, mắc tội cố ý vọng ngữ. Đức Phật dạy, cố ý vọng ngữ là pháp chướng đạo. Nếu tỳ-kheo kia nhớ nghĩ có tội, muốn cầu thanh tịnh, nên sám hối. Sám hối sẽ được an lạc.”
Ba-la-đề-mộc-xoa: là giới vậy. Đó là sự tự mình nhiếp trì oai nghi, trú xứ, hành vi; là gốc rễ, là mặt, là đầu, tập hợp các pháp lành, thành tựu tam-muội. (3)
Tôi sẽ nói: nghĩa là, sẽ kết, sẽ phát khởi, diễn giải, tỏ bày, phân biệt lập đi lập lại.
Thưa các đại đức, nay tôi sẽ thuyết giới, (các tỳ kheo) cùng tập hợp
____________
(1) Hán dịch ở đây có nhảy sót. Xem đoạn giải thích tiếp theo
(2) Sám hối 懺悔; tức phát lồ, hay thuyết tội. Vin.i. 103: So āvikareyya, giải thích: “phát lồ là, ở giữa Tăng, hoặc trước nhiều người, hoặc trước một người, mà cáo bạch, thuyết minh, giải bày, nêu rõ (điều đã vi phạm).”
(3)  Định  nghĩa  từ  Ba-la-đề-mộc-xoa.  Vin.  i.  103:  pātimokkhan’ti  ādimetam mukhametam pamukhametam kusalānam dhammānam. “Ba-la-đề-mộc-xoa, đây là khởi điểm (căn bản), là mặt, là đầu của hết thảy pháp thiện.” Xem Ngũ phần 18 (T22n1421 tr.122a15): “Nói là ba-la-đề-mộc-xoa, vì do giới này mà phòng hộ các căn, tăng trưởng thiện pháp. Đối với các thiện pháp, đây là cánh cửa đầu tiên vậy.”

* Trang 1264 *
device

lại một chỗ: (1) nghĩa là, đồng yết-ma tập hợp lại một chỗ. Cần dữ dục, thì người nhận đem dục đến. Người hiện diện đáng quở trách thì không quở trách. (2) Cho nên nói nên tập hợp lại một chỗ.
Lắng nghe, khéo suy niệm kỹ: gom ý chuyên tâm nghe pháp, cho nên gọi là lắng nghe khéo suy niệm kỹ.
Có phạm: có trái phạm mà chưa sám hối.
Không phạm: không trái phạm, hay phạm mà đã sám hối.
Cũng như được người khác hỏi, như sự thực mà trả lời: nghĩa là, giống như từng tỳ-kheo cùng hỏi và trả lời nhau.
Đức Phật nói, cố ý vọng ngữ là pháp chướng đạo: (3) tức là chướng ngại sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không, vô tướng, vô nguyện; chướng ngại quả Tu-đà-hoàn, cho đến quả A-la-hán.
Sám hối thì an lạc: được những gì là an lạc? Là đạt được sơ thiền, cho đến tứ thiền, không, vô tướng, vô nguyện; là đắc quả Tu-đà- hoàn, cho đến quả A-la-hán. Cho nên sám hối thì được an lạc.
Bấy giờ, các tỳ-kheo muốn thuyết giới với giọng ca vịnh. Đức Phật bảo: “Cho phép thuyết giới bằng giọng ca vịnh.”
Các tỳ-kheo ngày nào cũng thuyết giới, nên mỏi mệt. Phật dạy:
“Không được thuyết giới hằng ngày. Từ nay về sau, cho phép thuyết giới vào ngày Bố-tát.”
4. Lịch pháp
Có trưởng giả hỏi Tỳ-kheo: “Hôm nay là ngày mấy?”
Tỳ-kheo không biết nên hổ thẹn. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này
_____________________
(1) Giải thích các câu trong phần mở đầu thuyết giới nêu trên. Nhưng bản Hán thường không nhắc lại đúng nguyên văn như đã nêu.
(2) Nếu có tỳ-kheo phạm giới, đã phát lồ, cần tác yết-ma ha trách (cảnh cáo) thì hoãn lại để sau khi thuyết giới sẽ tác pháp riêng. Xem các đoạn sau, mục iii.4 “Sám hối”.
(3) Chướng đạo pháp 障道法. Pāli: antarayiko dhammo.

* Trang 1265 *
device

bạch Phật, Phật dạy: [818a1] “Từ nay về sau nên đếm số ngày.”
Đếm ngày mà phần nhiều quên. Phật dạy: “Nên ghi số đếm.” (1)
Các tỳ-kheo dùng vật báu để ghi số đếm. Phật dạy:
“Không được như vậy. Cho phép dùng xương, ngà, sừng, hoặc đồng, thiếc, chì, kẽm, bạch lạp, đá, viên đất sét để ghi.”
Các tỳ-kheo lo ngại số đếm được ghi bị lạc mất. Phật dạy: “Cho phép làm cái lỗ, dùng dây xâu lại, treo chỗ đại thực, tiểu thực của Tăng, hoặc chỗ ban đêm tập hợp để thuyết giới; hoặc móc trên cây trụ, trên móc ngà voi.”
Một hôm có các trưởng giả đến hỏi Tỳ-kheo:
“Nay là hắc nguyệt hay là bạch nguyệt?” (2)
Các tỳ-kheo không biết, nên ôm lòng hổ thẹn, đem việc này đến bạch đức Phật. Phật dạy: “Cho phép làm ba mươi con số đếm. Mười lăm con số thuộc hắc nguyệt, mười lăm con số thuộc bạch nguyệt.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo dùng số đếm lẫn lộn. Con số ghi hắc nguyệt rơi qua bên số ghi bạch nguyệt. Con số ghi bạch nguyệt rơi qua số ghi hắc nguyệt. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, con số ghi hắc nguyệt nhuộm màu đen. Con số ghi bạch nguyệt nhuộm màu trắng.”
Nếu lo ngại con số chạm nhau bị vỡ, Đức Phật dạy: “Cho phép khoảng chính giữa dùng vật cách ly.”
Các tỳ-kheo muốn thuyết giới vào ngày thứ mười bốn hoặc ngày thứ mười lăm. (3) Đức Phật dạy: “Nếu vua đổi ngày, thì theo ngày mà vua định.” (4)
__________________
(1) Tức làm lịch.
(2) Hắc nguyệt 黑月, bạch nguỵêt 白月. Một tháng chia làm hai phần: 15 ngày trăng tối (hắc nguyệt) và 15 ngày trăng sáng (bạch nguyệt).
(3)  Tức nghi ngờ về tháng thiếu hay tháng đủ.
(4) Nghĩa là, tháng thiếu hay đủ, y theo lịch riêng của mỗi nước.

* Trang 1266 *
device

Các tỳ-kheo không biết hôm nay thuyết giới hay sáng mai thuyết giới. Đến bạch Phật. Phật dạy: “Ngày bố-tát, vị Thượng tọa nên xướng rằng: ‘Hôm nay chúng
Tăng thuyết giới.’”
Các tỳ-kheo không biết nói vào lúc nào. Đức Phật dạy: Cho phép đo bóng để định giờ. Rồi báo hiệu bằng gõ thẻ tre, hay đập xuống đất, hoặc đốt khói, hoặc thổi tù và, hoặc đánh trống, hoặc đánh kiền chùy, hay rao bảo nhau: “Thưa các Đại đức, giờ bố- tát thuyết giới đã đến.”
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn cho phép thuyết giới, bèn ở trong vườn hay phòng riêng, cùng Hòa thượng A-xà-lê, đồng Hòa thượng, đồng A-xà-lê, tri thức thân hậu tương thuận, thuyết giới riêng bộ. (1)
Các tỳ-kheo nghe biết. Trong số có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quí, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Nghe đức Thế Tôn cho phép thuyết giới, sao lại tự tiện ở trong vườn hoặc phòng riêng, cùng Hòa thượng A-xà-lê, đồng Hòa thượng, đồng A-xà-lê, tri thức thân hậu thuyết giới riêng bộ?”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-tân-nậu (2) ở tại trú xứ Tiên nhân, bên núi  Hắc thạch, (3) chỗ yên tịnh tư duy với ý niệm: “Nay ta có đến hay không đến dự [818b] thuyết giới, Ta vẫn thường thanh tịnh bậc nhất.”
Đức Thế Tôn, biết trong tâm trưởng lão Đại Ca-tân-nậu nghĩ như thế. Trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, thoạt nhiên biến mất khỏi núi Kỳ-xà-quật, Thế Tôn hiện đến trú xứ Tiên nhân, bên núi Hắc thạch, trước mặt Đại Ca-tân-nậu, trải tòa ngồi. Đại Ca- tân-nậu kính lễ sát chân đức Thế Tôn, rồi ngồi qua một bên. Đức
_______________
(1) Biệt bộ thuyết giới 別部說戒, thuyết giới theo nhóm, không theo toàn thể Tăng trong trú xứ.
(2) Đại Ca-tân-nậu 大迦賓㝹, cũng phiên âm là Ma-ha Kiếp-tân-na. Pāli, Mahāvagga ii, Vin. i. 105, Mahā-Kappinna. Ngũ phần 18, tr.121c27: Kiếp-tân-na 劫賓那. Thập tụng 22, tr.158a18: Đại Kiếp-tân-na 大劫賓那.
(3)Tiên nhân trú xứ Hắc thạch sơn 仙人住處黑石山. Pāli: tại Maddakucchi, trong vườn Nai. Ngũ phần, ibid.: núi Ất-sư-la 乙師羅山

* Trang 1267 *
device

Thế Tôn biết vẫn cố hỏi: “Vừa rồi nơi chỗ nhàn tịnh, ông tư duy với ý nghĩ: ‘Nay ta có đến hay không đến dự thuyết giới, Ta vẫn thường thanh tịnh bậc nhất.’ Có phải như vậy không?”
Trưởng lão thưa: Vâng!
Đức Phật dạy: “Như vậy, đúng như vậy Ca-tân-nậu! Như lời ông nói, Ông có đến hay không đến dự thuyết giới, ông vẫn thường thanh tịnh bậc nhất. Song, này Ca-tân-nậu, pháp thuyết giới cần phải được cung kính, tôn trọng, thừa sự. Nếu ông không cung kính bố-tát, không tôn trọng thừa sự, thì ai cung kính, tôn trọng, thừa sự? Cho nên ông phải đến dự thuyết giới, không được không đi. Nhưng nên đi bộ, không nên dùng thần túc mà đi. Ta cũng sẽ đến.”
Ca-tân-nậu mặc nhiên vâng lời Phật dạy.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này dạy bảo Ca-tân-nậu rồi, trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi tay ra, liền biến khỏi trú xứ Tiên nhân, bên núi Hắc thạch, trở lại núi Kỳ-xà-quật, an tọa nơi chỗ ngồi.
II. KẾT GIỚI
1. Giới trường
Bấy giờ, có các tỳ-kheo đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật thuật lại đầy đủ sự việc trên và bảo các tỳ-kheo:
“Ta cho phép các tỳ-kheo tại một trú xứ hòa hợp thuyết giới. Tại sao các ông cùng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng Hòa thượng, đồng A- xà-lê, tri thức thân hậu thuyết giới riêng bộ? Nếu cùng một trú xứ mà không hòa hợp thuyết giới, mắc tội đột-kết-la. Từ nay về sau cho phép tập hợp lại một chỗ để thuyết giới.”
Các tỳ-kheo biết đức Thế Tôn cho phép thuyết giới một chỗ, nên cùng đợi nhau. Hoặc cùng đợi nhau tại núi Hắc thạch, Tiên nhân trú xứ. Hoặc đợi nhau tại hang Thất diệp trong núi Tỳ-ha-lặc. Hoặc cùng đợi nơi gò mả. Hoặc cùng đợi nhau bên suối nước; đợi nhau

* Trang 1268 *
device

tại khu Ca-lan-đà trong Trúc viên; đợi nhau tại núi Kỳ-xà-quật; hoặc cùng đợi nơi có nhà lớn, nhà ăn, nhà kinh hành, dưới bóng cây, nơi bãi cỏ. Khiến mỏi mệt. Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
“Từ nay về sau, tùy theo người ở nhiều hay ít tại một trú xứ, cùng tập họp lại một chỗ để thuyết giới.”
Các tỳ-kheo [818c] không biết nên thuyết giới chỗ nào. Đức Phật dạy: “Cho phép làm thuyết giới đường, bằng pháp bạch nhị yết-ma để làm. Tác bạch như vầy: nên xưng tên của địa điểm, như đại đường, trên nhà gác, nhà kinh hành, bên mé sông, dưới bóng cây, bên hòn đá, hoặc chỗ bãi cỏ.v.v... Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, làm thuyết giới đường tại chỗ...Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng tại chỗ... làm thuyết giới đường. Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng tại chỗ... làm thuyết giới đường thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Tăng đã chấp thuận tại chỗ... làm thuyết giới đường rồi. Tăng chấp thuận     nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ, trước đó đã lập thuyết giới đường trong núi Kỳ-xà-quật. Sau đó lại muốn lập thuyết giới đường tại Ca-lan-đà Trúc viên. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Từ nay về sau, cho phép giải thuyết giới đường trước, bằng bạch nhị yết-ma để giải. Sau đó kết lại thuyết giới đường. Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận giải thuyết giới đường tại địa điểm... Đây là lời tác bạch.

* Trang 1269 *
device

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay giải thuyết giới đường tại chỗ... Trưởng lão  nào chấp thuận Tăng giải thuyết giới đường tại chỗ... thì im lặng. Vị nào không  đồng ý xin nói. “Tăng đã chấp thuận giải thuyết giới đường tại chỗ...rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ, có trú xứ làm hai thuyết giới đường. Hai vị doanh sự cùng cạnh tranh nhau. Hai người đều nói chúng Tăng nên đến nơi thuyết giới đường của tôi trước. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép hai vị thay nhau, bắt đầu từ vị Thượng tọa.” (1)
Có trú xứ, đến ngày bố-tát, chúng tập hợp để thuyết giới đông mà nhà thuyết lại nhỏ, không đủ để chứa. Các tỳ-kheo nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã chế giới, nếu không kết thuyết giới đường, không được thuyết giới. Nay nên làm thế nào?” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này đến bạch lên đức Phật. Phật dạy:
“Tăng được tự tại. Kết hay không kết, đều được thuyết giới.” (2)
Có vị tỳ-kheo Thượng tọa đến nơi thuyết giới đường trước; lau quét, trải tọa cụ, múc bình tịnh thủy, bình rửa chân, đốt đèn, sắp thẻ xá-la, nên quá mỏi mệt. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau tỳ-kheo nhỏ tuổi nên làm các việc ấy.”
Đến ngày bố-tát [819a1] tỳ-kheo nhỏ tuổi nên đến thuyết giới đường lau quét, trải tọa cụ, múc bình tịnh thủy, bình rửa chân, đốt đèn, sắp thẻ xá-la. Nếu tỳ-kheo nhỏ tuổi không biết thì Thượng tọa nên dạy. Nếu Thượng tọa không dạy thì phạm đột-kết-
_____________________
(1) Pāli, Vin. i. 107: Phật quy định: trong một trú xứ không được có hai thuyết giới đường (uposathāgāra). Ai làm thế, phạm đột-kiết-la.
(2) Pāli, Vin.i. 108: nếu ngồi trên mặt đất mà nghe giới được, kết hay không kết, đều được  thuyết  giới.  Sớ  giải: ngồi  trong phạm  vi duỗi  tay  chạm nhau (hatthapāse nisinno).

* Trang 1270 *
device

la. Nếu tỳ- kheo nhỏ tuổi không nghe theo lời Thượng tọa dạy cũng phạm đột-kết-la.
Có khi Thượng tọa thuyết giới rồi, phải ở lại sau, tự mình dọn dẹp sàng tòa, bình tịnh thủy, bình rửa chân, tắt đèn lửa, xá-la, v.v... để mọi thứ lại chỗ cũ, nên quá mệt mỏi. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Phật dạy:
“Từ nay về sau, thuyết giới rồi, tỳ-kheo nhỏ tuổi phải dọn dẹp bình tịnh thủy, bình rửa chân, đèn lửa, xá-la, để lại chỗ cũ. Nếu tỳ-kheo nhỏ tuổi không biết thì Thượng tọa nên dạy. Thượng tọa không dạy phạm đột-kết-la.”
Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, nhóm sáu tỳ-kheo làm các việc như chào hỏi và nói chuyện với bạch y, tác yết-ma thuyết giới, thuyết pháp. (1) Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn dạy: “Đây là việc làm của vị Thượng tọa.”
Có một trú xứ, Si Hòa-tiên (2) là hàng Thượng tọa, nhưng không có khả năng làm các việc trong ngày thuyết giới như chào hỏi và nói chuyện với bạch y, tác yết-ma thuyết giới, thuyết pháp. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch đức Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép thỉnh vị có khả năng để tác pháp thay Thượng tọa. Nếu Thượng tọa không thỉnh người có khả năng, thì phạm đột-kết-la. Nếu vị có khả năng mà không nhận lời thỉnh của Thượng tọa cũng phạm đột-kết-la.”
Bấy giờ, các bạch y hỏi tỳ-kheo, khi thuyết giới có bao nhiêu vị. Các tỳ-kheo không biết số lượng nên hổ thẹn. Đến bạch đức Phật. Phật dạy: “Cho phép đếm số tỳ-kheo.”
Tuy đếm rồi vẫn quên. Đức Phật dạy: “Nên đếm xá-la.” (3)
________________
(1) Mahāvagga ii. Vin.i. 113ff, phận sự Thượng tọa trong ngày thuyết giới: thuyết pháp, vấn đáp luật giữa Tăng, và thuyết giới.
(2) Si Hòa-tiên (tiếng hoa), có lẽ để phân biệt với Hòa-tiên hành đầu-đà (Hòa-tiên Bạt- đàn-đà Tử, Pāli: Upasena Vangataputta; chương về Y, Tứ phần, bản Hán, tr.859c), nhưng không rõ tương đương Pāli.
(3) Xá-la 舍羅, thẻ hay thăm, hay phiếu. Pāli (Vin.i. 117): salāka.

* Trang 1271 *
device

Có vị dùng vật báu làm xá-la. Phật dạy: Không được dùng vật báu làm xá-la mà nên dùng xương, ngà, sừng, đồng, thiếc, bạch lạp, chì, kẽm, tre, trúc, cây để làm. Sợ lạc
mất. Phật dạy: “Nên dùng dây buộc lại.”
Tuy buộc, vẫn còn thất lạc. Phật dạy: “Nên làm cái hộp để đựng.”
Vị ấy lại dùng vật báu để làm. Đức Phật dạy: “Không được như vậy. Nên dùng xương, ngà, sừng, đồng, thiếc, bạch lạp, chì, kẽm, tre, trúc, cây để làm.”
Nếu đựng trong hộp bị đổ ra, Phật dạy: “Nên làm cái nắp để đậy lại.”
Vị ấy lại dùng vật báu để làm cái nắp. Đức Phật dạy: “Không được như vậy. Nên dùng xương, ngà, sừng, đồng, thiếc, bạch lạp, chì, kẽm, tre, trúc, cây để làm.”
Các vị không biết để cái hộp ấy vào chỗ nào. Phật dạy: “Nên để dưới giường dây hoặc giường cây, trên cây trụ, hoặc trên cây long nha, trên móc áo.”
2. Đại giới cộng trú
Các tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép các [819b] tỳ-kheo đến thành La-duyệt thuyết giới. Các nơi xa nghe, nhưng phải đến tập hợp để thuyết giới nên mỏi mệt. Bấy giờ, các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
Từ nay về sau, thuyết giới tùy theo từng trú xứ, trong phạm vi hoặc thôn hoặc ấp. Cho phép kết giới bằng pháp bạch nhị yết-ma, như sau: Xướng tiêu tướng cương giới của mỗi phương: hoặc khoảng không, hoặc cây, hoặc núi, hoặc hang đá, hoặc hang núi cao, hoặc đất trống, hoặc đụn cỏ, hoặc gần bên vườn, hoặc gò mả, hoặc mé nước, hoặc đống đá, hoặc nơi chòm cây, bên đống gai, nơi vực sâu, bên ngòi kênh, hoặc nơi đống phân, hoặc thôn, cương giới của thôn... làm tiêu tướng. Một vị xướng tướng bốn phương rồi, trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Như tiêu tướng cương giới

* Trang 1272 *
device

đã công bố, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận nơi đây kết giới cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Như tiêu tướng cương giới đã công bố, nay Tăng kết giới nơi đây cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng kết giới nơi đây cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Chúng Tăng đã chấp thuận kết giới nơi đây cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Đức Phật dạy tiếp: Từ nay về sau cho phép kết giới theo pháp thức như vầy: Nên trải tòa, đánh kiền chùy, tất cả đều tập trung lại một chỗ, không cho phép nhận dục. Trong chúng vị nào là tỳ-kheo cựu trú nên xướng tiêu tướng bốn phương của đại giới: phương đông có núi thì lấy núi làm tiêu tướng; hoặc thôn, hoặc thành, hoặc bờ, hoặc ruộng, hoặc vườn, hoặc rừng, hoặc ao, hoặc cây, hoặc đá, hoặc tường, hoặc miễu thần, hoặc nhà... Như tiêu tướng của phương đông, các phương kia cũng vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch vầy:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo trong trú xứ này đã xướng tiêu tướng bốn phương của đại giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng      chấp thuận, nay Tăng dựa vào nội tướng bốn phương này kết làm đại giới đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo nơi trú xứ này đã xướng tiêu tướng     bốn phương của đại giới. Nay Tăng dựa vào bên trong tiêu tướng bốn phương kết làm đại giới đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới. Các trưởng lão nào chấp thuận, nay Tăng dựa vào bên trong tiêu tướng bốn phương này kết làm đại giới đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.

* Trang 1273 *
device

“Chúng Tăng đã chấp thuận bên trong tiêu tướng bốn phương này kết làm đại giới cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới rồi.[819c] Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ có trường hợp các tỳ-kheo chỉ cần chúng bốn người để tác yết-ma;  hoặc chúng tỳ-kheo năm  người, chúng tỳ-kheo mười người, chúng tỳ-kheo hai mươi người, để tác yết-ma. Trong khi đó, tập hợp cả đại chúng rất mỏi mệt. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:Cho phép kết giới trường, bằng pháp bạch nhị yết-ma như vầy:
Xướng giới tướng bốn phương: hoặc đóng nọc để làm tiêu tướng, hoặc đá, hoặc bờ ruộng... qui định ngang với mức nào đó. Rồi trong chúng sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo trong trú xứ này xướng tướng bốn phương của tiểu giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, dựa vào bên trong tiêu tướng bốn phương của tiểu giới kết làm giới trường. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nơi trú xứ này xướng tướng bốn phương của tiểu giới. Nay Tăng dựa vào bên trong tiêu tướng bốn phương của tiểu giới kết làm giới trường. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng dựa vào bên trong tiêu tướng bốn phương này kết làm giới trường thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Chúng Tăng đã chấp thuận bên trong tiêu tướng bốn phương này kết làm giới trường rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ. Các tỳ-kheo có ý muốn mở rộng giới, hoặc thu hẹp giới lại. Đức Phật dạy: Từ nay về sau, nếu muốn thay đổi tiêu tướng của giới thì trước hết phải giải cương giới của giới cũ, sau đó mới nới rộng ra hay thu hẹp lại tùy ý. Giải cũng bằng pháp bạch nhị yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:

* Trang 1274 *
device

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay đây là trú xứ đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới của tỳ-kheo. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận giải giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới của tỳ-kheo. Nay giải giới. Các trưởng lão nào chấp thuận, đây là trú xứ đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới của tỳ-kheo, nay Tăng giải giới, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Chúng Tăng đã chấp thuận, đây là trú xứ đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới của tỳ-kheo, nay Tăng giải giới. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

3. Thất y giới
Bấy giờ, có một tỳ-kheo yểm ly, thấy nơi a-lan-nhã có một cái hang lý tưởng, tự nghĩ rằng: “Nếu ta được lìa y để ngủ đêm, (1) thì ta sẽ ở hang này.”
Các tỳ-kheo đem vấn đề này đến bạch lên đức Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, nên kết giới không mất y, bằng pháp bạch nhị yết- ma. Trong chúng nên sai một vị có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận kết [820a1] giới không mất y. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới, nay Tăng kết giới không mất y. Các trưởng lão nào chấp thuận, nơi đây đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới, Tăng kết giới không mất y, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
_____________________

(1) Xem Phần III, Ch. iv. ni-tát-kỳ 2.

* Trang 1275 *
device

“Tăng đã chấp thuận, nơi đây đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới, kết giới không mất y rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo thay y để nhà cư sĩ. Trong khi thay y, loã hình. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo kết giới không mất y trừ thôn và ranh giới ngoài của thôn, bằng pháp bạch nhị yết-ma. Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận kết giới không mất y, trừ thôn và cương giới ngoài của thôn ra. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng một trú xứ đồng một thuyết giới. Nay Tăng kết giới không mất y, trừ thôn và cương giới ngoài của thôn ra. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng ở trú xứ này đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới này, kết giới không mất y, trừ thôn và cương giới ngoài thôn ra, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Tăng đã chấp thuận nơi đây đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới, kết giới không mất y, trừ thôn và cương giới ngoài thôn ra rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ, các tỳ-kheo kết hai giới tiếp nhau. Đức Phật dạy: “Không được như vậy. Cần phải có tiêu tướng.”
Hai cương giới chồng lên nhau. Đức Phật dạy: “Không được như vậy. Cần phải có khoảng trống giữa hai giới.” Có các tỳ-kheo nọ giải đại giới trước rồi giải giới không mất y. Đức Phật dạy: “Không được như vậy. Trước phải giải giới không mất y, rồi mới giải đại giới.”
Trường hợp kết giới không mất y cách dòng nước chảy mạnh, khi

* Trang 1276 *
device

tỳ-kheo đến lấy y, bị nước cuốn trôi. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, không được kết giới không mất y cách bởi dòng nước chảy mạnh, trừ có cầu đi qua lại.”
4. Đại giới liên kết
Bấy giờ có hai trú xứ có lợi dưỡng riêng, thuyết giới riêng. Các tỳ- kheo muốn kết chung lại thành đồng nhất thuyết giới, đồng nhất lợi dưỡng. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: Từ nay về sau, cho phép giải giới; rồi sau đó mới kết, bằng pháp bạch nhị yết-ma.
Hai trú xứ đều tự giải giới, rồi tập họp hết lại một chỗ; không được nhận [820b] dục. Nên xướng tướng của cương giới bốn phương hoặc chỗ a-lan-nhã, nơi gốc cây, chỗ đất trống, hoặc núi, hoặc hang, hoặc hang núi, cỏ, vườn, rừng, gò, mả, bên sông, hoặc đá, gốc cây chặt trụi, hoặc chòm gai, hoặc hào, kênh, ao, đống phân, hoặc thôn, cương giới của thôn... xướng cương giới ngang bằng chỗ nào rồi, trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết- ma, dựa theo sự việc trên nên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Như giới tướng đã công bố, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nơi trú xứ này và trú xứ kia kết đồng nhất lợi dưỡng, đồng nhất thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Như giới tướng đã công bố, nay Tăng đối với trú xứ này và trú xứ kia kết đồng nhất thuyết giới, đồng nhất lợi dưỡng. Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đối với trú xứ này và trú xứ kia kết đồng nhất thuyết giới, đồng nhất lợi dưỡng, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Tăng đã chấp thuận nơi trú xứ này và trú xứ kia kết đồng nhất lợi dưỡng, đồng nhất thuyết giới rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ có hai trú xứ thuyết giới riêng, có lợi dưỡng riêng. Ý cácctỳ-kheo muốn kết thành đồng một thuyết giới nhưng lợi dưỡng riêng. Đức Phật dạy: Từ nay về sau, cho phép giải giới, sau đó kết

* Trang 1277 *
device

lại bằng bạch nhị yết- ma. Hai bên đều tự giải rồi, tập trung lại một chỗ, không được nhận dục. Nên xướng tướng ở cương giới hoặc a-lan-nhã, hoặc chỗ trống không... cho đến cương giới của thôn như trước. Xưng tên của hai trú xứ. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại  đức  Tăng,  xin  lắng  nghe!  Như  cương  giới  bốn phương đã công bố. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nơi đây kết đồng một thuyết giới, nhưng riêng lợi dưỡng. Đây là lời tác bạch.
“Đại  đức  Tăng,  xin  lắng  nghe!  Như  cương  giới  bốn phương đã công bố. Nay Tăng nơi trú xứ này kết đồng một thuyết giới, nhưng lợi dưỡng riêng. Các trưởng lão nào đồng ý, trong phạm vi cương giới bốn phương, Tăng kết đồng một thuyết giới, nhưng riêng lợi dưỡng, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Tăng đã đồng ý trong cương giới bốn phương nầy kết đồng một thuyết giới nhưng riêng lợi dưỡng rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ có hai trú xứ thuyết giới riêng, lợi dưỡng riêng. Các tỳ- kheo muốn thuyết giới riêng nhưng đồng một lợi dưỡng, lý do là để giữ gìn trú xứ. Đức Phật dạy: Cho phép tập Tăng giải giới, rồi bạch nhị yết-ma kết. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nơi [820c]trú xứ này kết thuyết giới riêng, nhưng đồng một lợi dưỡng vì để giữ gìn trú xứ vậy. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng nơi trú xứ này kết thuyết giới riêng, nhưng đồng một lợi dưỡng vì muốn giữ gìn trú xứ. Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đối với trú xứ này kết thuyết giới riêng, nhưng đồng một lợi dưỡng, vì để giữ gìn trú xứ, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.

* Trang 1278 *
device

Tăng đã đồng ý nơi trú xứ này kết thuyết giới riêng, nhưng đồng một lợi dưỡng, vì để giữ gìn trú xứ rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ có hai trú xứ đồng một thuyết giới, đồng một lợi dưỡng. Các tỳ-kheo muốn được thuyết giới riêng, lợi dưỡng riêng. Đức Phật dạy: Từ nay về sau cho phép tập họp một chỗ để giải giới, rồi tùy theo trú xứ kia, mỗi bên đều tự kết giới.
Bấy giờ có hai trú xứ cách xa nhau, đồng một thuyết giới, đồng một lợi dưỡng. Trú xứ kia nhận được một ít đồ ăn thức uống cúng dường đều đem đến trú xứ này, đến nơi thì giờ ăn đã qua. Trú xứ này nhận được một ít đồ ăn thức uống cúng dường đều mang đến
trú xứ kia, đến nơi thì giờ ăn đã qua. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được hai trú xứ cách xa nhau mà đồng một thuyết giới, đồng một lợi dưỡng. Từ nay về sau cho phép nói lời như vầy: nếu trú xứ này đặng một ít đồ ăn thức uống cúng dường thì chỉ cần phân chia nơi trú xứ này. Trú xứ kia được một ít đồ cúng dường thì chỉ cần phân chia nơi trú xứ kia mà thôi.”
5. Tiểu giới
Bấy giờ gặp ngày bố-tát, có số đông tỳ-kheo, trên đường kinh qua đồng trống, không thôn xóm, tâm tự nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn chế giới, phải tập hợp lại một chỗ hòa hợp để thuyết giới. Chúng ta nên làm sao đây?” Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch lên đức Phật. Phật dạy: “Các tỳ-kheo lắng nghe, nếu ngày bố-tát mà đang đi nơi đồng trống, không có thôn xóm, chúng Tăng nên hòa hợp, tập trung lại một chỗ để cùng nhau thuyết giới. Nếu Tăng hòa hợp không được thì tùy theo đồng Hòa thượng, đồng yết-ma, thiện hữu tri thức, cùng nhau dừng bên đường, tập hợp lại một chỗ, kết tiểu giới để thuyết giới, bằng pháp bạch nhị yết-ma, như vầy:
Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay chừng này tỳ-kheo

* Trang 1279 *
device

gồm... vị tập hợp. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận kết tiểu giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay có chừng này tỳ-kheo tập hợp kết tiểu giới. Các trưởng lão nào chấp thuận nay chừng này tỳ-kheo tập hợp kết tiểu giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Tăng đã chấp thuận, chừng này tỳ-kheo[821a1] tập hợp kết tiểu giới rồi. Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ, các tỳ-kheo kết giới rồi, nhưng không giải giới mà bỏ đi, mọi người cơ hiềm; đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Không được không giải giới mà bỏ đi. Nên bạch nhị yết-ma để giải như vầy: Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay số chừng này tỳ-kheo tập hợp. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận giải tiểu giới nơi đây. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay số chừng này tỳ-kheo tập hợp để giải tiểu giới này. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng giải tiểu giới nơi đây thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
“Tăng đã đồng ý giải tiểu giới này rồi. Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Bấy giờ, trời mưa nước sông lớn. Các tỳ-kheo lại kết giới cách một con sông mà đồng một trú xứ, đồng một thuyết giới. Ngày mười lăm, muốn qua bên kia sông thuyết giới mà không thể lội qua được, nên không thành tựu được việc thuyết giới. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật, Phật dạy: Không được cách hai bên dòng sông mà kết đồng một thuyết giới, trừ có thuyền, cầu qua lại.
Trường hợp có hai trú xứ cách xa nhau, kết đồng một thuyết giới. Đến ngày mười lăm, các tỳ-kheo muốn đến tụ hợp để thuyết giới

* Trang 1280 *
device

mà nội trong ngày không đến kịp nên không thành tựu việc kết giới. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: Không được hai trú xứ cách xa nhau mà kết chung một thuyết giới. Nếu trú xứ cách dòng sông quá xa mà đồng một trú xứ đồng một thuyết giới thì các tỳ-kheo ngày mười lăm thuyết giới, ngày mười bốn phải đến trước; ngày mười bốn thuyết giới, ngày mười ba phải đến trước. Không được nhận dục.
III. TẬP TĂNG
1. Bạch Tăng
1. Trường hợp có trú xứ nọ, đến ngày thuyết giới, có một tỳ-kheo vào phòng đóng cửa ngủ. Các tỳ-kheo thuyết giới rồi, vừa đứng dậy để giải tán, vị tỳ-kheo ngủ kia nghe tiếng khua động thức dậy, hỏi các tỳ-kheo: “Các Đại đức, muốn đi đâu, không thuyết giới sao?”
Các tỳ-kheo trả lời: “Chúng tôi đã thuyết giới rồi. Vậy nãy giờ thầy đi đâu?”
Vị kia nói: “Sáng giờ tôi ở nhà đóng cửa phòng ngủ chứ đi đâu.”
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: Ngày thuyết giới, không được đóng cửa phòng mà ngủ. Từ nay về sau, cho phép vị ngồi gần kiểm tra để biết người nào đến, người nào không đến.
Từ nay cho phép bạch trước, sau đó mới thuyết giới. Văn bạch như vầy:
   “Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay là ngày mười lăm, chúng Tăng thuyết [821b] giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hòa hợp thuyết giới. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi sau đó mới thuyết giới. (1)
2. Lúc bấy giờ, đến ngày thuyết giới, có tỳ-kheo ở một mình tại
___________________
(1) Bản Hán, hết quyển 35

* Trang 1281 *
device

một trú xứ, tự nghĩ rằng: “Đức Phật chế pháp, nên hòa hợp tập trung lại một chỗ để thuyết giới. Nay ta nên thế nào đây?” Vị ấy liền nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: Các ông nên lắng nghe kỹ: Nếu đến ngày thuyết giới, tỳ-kheo ở một mình, tỳ-kheo ấy nên đến nơi thuyết giới đường, lau quét sạch sẽ, trải tọa cụ, múc bình nước súc miệng và rửa chân, thắp đèn, sắp xá-la. Nếu có khách tỳ-kheo đến, bốn vị hay hơn bốn vị thì tác bạch rồi mới thuyết giới.
Nếu có ba vị thì mỗi vị hướng vào nhau nói: ‘Hôm nay là ngày mười lăm, Tăng thuyết giới, tôi tỳ-kheo... thanh tịnh.’(1) Nói như vậy ba lần. Nếu có hai vị cũng hướng vào nhau nói: ‘Hôm nay là ngày mười lăm, Tăng thuyết giới, tôi tên là... thanh tịnh.’ Nói như vậy ba lần. Nếu có một vị thì nên tâm nghĩ miệng nói: ‘Hôm nay là ngày mười lăm chúng Tăng thuyết giới, tôi tỳ-kheo tên là... thanh tịnh.’ Nói như vậy ba lần.
Nếu ba người thì không được nhận dục thanh tịnh của người thứ tư, và bạch thuyết giới. Hai người thì không được nhận dục thanh tịnh của người thứ ba, mà mỗi người nên nói ba lời. Một người thì không được nhận dục thanh tịnh của người thứ hai, nên tâm niệm
nói ba lần.
3. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo phi pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới. Các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Ngài dạy: Không được phi pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới, phi pháp hòa hợp chúng. Không được dùng pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới.
Thuyết giới có bốn cách:
Bấy giờ, các tỳ-kheo phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp [821c] chúng, như pháp biệt chúng, như pháp hòa hợp chúng yết-ma thuyết giới. Nếu tỳ-kheo kia phi pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới
_____________________
(1) Pāli, Vin.i. 124: trường hợp tác pháp chỉ có ba tỳ-kheo, được gọi là thanh tịnh bố-tát (pārisuddhi-uposatha).

* Trang 1282 *
device

thì vị kia không thành thuyết giới. Nếu phi pháp hòa hợp chúng, như pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới, thì không thành thuyết giới. Chỉ có như pháp hòa hợp chúng yết-ma thuyết giới, gọi là thuyết giới. Nên thuyết giới như vậy, đó là pháp của Ta.
2. Dữ dục
1. Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, Tăng tập hợp vì có Tăng sự. Đức Thế Tôn bảo:
"Nay có việc của Tăng, các tỳ-kheo tĩnh lặng." (1)
Có tỳ-kheo đến bạch Phật: "Bạch Đại Đức, có tỳ-kheo bệnh không đến được."
Đức Phật dạy:
"Từ nay về sau, cho phép dữ dục. (2) Người nhận dục nên đem dục đến." Vị kia nên gởi dục như vầy: Nên nói, 'Tôi gởi dục nơi Đại đức', hay nói, 'Tôi thuyết dục', hay nói, 'Nhớ thuyết dục dùm tôi', hoặc ra dấu để dữ dục; tất cả đều thành dữ dục. Hoặc nói đầy đủ để dữ dục thì thành dữ dục. Nếu không hiện thân tướng, miệng không thuyết dục thì không thành dữ dục, cần phải dữ dục trở lại.
Nếu tỳ-kheo nhận dục đến chỗ tỳ-kheo bệnh để nhận dục; nhận dục rồi qua đời, hoặc đi chỗ khác, hoặc thôi tu, hoặc vào trong ngoại đạo, hoặc vào nơi bộ chúng khác, hoặc đến trên giới trường, hoặc minh tướng xuất hiện, hoặc tự nói phạm biên tội, hoặc phạm tỳ-kheo-ni, hoặc tặc tâm làm sa-môn, hoặc phá nội ngoại đạo, hoặc huỳnh môn, hoặc sát phụ mẫu, sát A-la-hán, hoặc đấu loạn chúng Tăng, hoặc với ác tâm làm thân Phật ra máu, hoặc phi nhân, hoặc súc sanh, hoặc hai hình, hoặc bị cử, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng diệt
___________________
(1) Ngũ phần 18  (T22n1421,  tr.126a05): “Thế Tôn… ngày  thuyết giới… bảo các tỳ-kheo,  các  ngươi hãy tĩnh lặng. Nay sẽ bố-tát  thuyết  giới.” Liền  đó, tỳ-kheo báo: có tỳ-kheo bệnh. Phật dạy: cho gởi dục  thanh tịnh…” Cf. Pāli, Vin.i. 123: (…) santi saṃghassa karanīyaṃ, cho gởi dục và thuyết tịnh, vì có Tăng sự cần phải làm.
(2) Dữ dục 與欲. Pāli, Vin.  121,  chandaṃ dātum, gởi  cho sự  thuận  tình, tức gởi phiếu thuận (chấp thuận Tăng tác pháp).

* Trang 1283 *
device

tẫn, hoặc nương thần túc ở trên không, hoặc lìa chỗ thấy nghe; tất cả không thành dữ dục, phải gởi dục cho người khác. Trường hợp đến giữa đường hay đến trong Tăng cũng như vậy. Nếu người nhận dục ngủ, hoặc nhập định hay quên; không cố ý làm như vậy thì thành dữ dục. Nếu cố ý không nói thì phạm đột-kết-la. Nếu bệnh nhân có thể làm được như vậy thì tốt, bằng không thì dìu tỳ-kheo bệnh đến, hay để trên giường cây, giường dây khiêng đến trong Tăng. Nếu sợ khua động tỳ-kheo bệnh ảnh hưởng đến căn bệnh có thể bị chết, thì tất cả chúng Tăng nên đến xung quanh chỗ tỳ-kheo bệnh để tác yết-ma. Nếu số tỳ-kheo bệnh đông mà tập họp được lại một chỗ thì tốt, bằng không thì các tỳ-kheo phải ra ngoài giới tác yết-ma. Không có cách nào được phép biệt chúng tác yết-ma.
2. Bấy giờ, [822a1] đến ngày thuyết giới, chúng Tăng tập hợp lại một chỗ để thuyết giới, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: "Đã đến giờ thuyết giới, các ông nên tĩnh lặng."
Khi ấy có tỳ-kheo nọ bạch đức Thế Tôn rằng: "Hiện có tỳ-kheo bệnh không đến được."
Đức Phật dạy: Từ nay về sau cho phép gởi sự thanh tịnh, (1) cho phép tỳ-kheo đến nhận sự thanh tịnh. Tỳ-kheo kia nên gởi như sau: Nói "Tôi thanh tịnh" tức thành gởi sự thanh tịnh, cho đến, nói đầy đủ để gởi sự thanh tịnh như pháp dữ dục trên, thì thành gởi sự thanh tịnh. Nếu thân không hiện tướng, miệng không nói lên sự thanh tịnh thì không thành gởi sự thanh tịnh. Cũng như pháp gởi dục trên kia, pháp gởi sự thanh tịnh cũng vậy. Người nhận thanh tịnh đến chỗ tỳ-kheo bệnh nhận sự thanh tịnh; khi nhận sự thanh tịnh rồi thì mạng chung hay đi nơi khác, hoặc thôi tu, hoặc gia nhập chúng của ngoại đạo, hoặc vào bộ chúng khác, hoặc đến trên giới trường, hoặc tướng bình minh xuất hiện, hoặc tự nói phạm biên tội, hoặc phạm tỳ-kheo-ni, hoặc tặc tâm làm sa-môn, hoặc phá nội ngoại đạo, hoặc huỳnh môn, hoặc sát cha mẹ, sát A-la-hán, hoặc đấu loạn chúng
__________________
(1) Dữ  thanh tịnh 與清淨. Pāli  (Vin.i.  120):  pārisuddhiṃ dātuṃ. Gởi  thanh tịnh, trong trường hợp yết-ma thuyết giới.

* Trang 1284 *
device

Tăng, hoặc với ác  tâm  làm  thân Phật  ra máu, hoặc phi nhân, hoặc súc  sanh, hoặc hai  hình,  hoặc bị cử, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng diệt tẫn, hoặc nương thần túc ở trên không, hoặc lìa chỗ thấy nghe; thảy đều không thành gởi sự thanh tịnh, cần gởi cho người khác. 
Trường hợp đến giữa đường hoặc đến  trong chúng cũng như vậy. Người nhận sự thanh tịnh hoặc ngủ, hoặc nhập định hoặc quên, mà không cố ý làm như vậy thì thành gởi sự thanh tịnh. Nếu vị ấy cố ý không  nói  thì  phạm  đột-kết-la. Nếu tỳ-kheo bệnh  có  thể  làm  như vậy  được  càng  hay, bằng  không  thể  làm  được  thì  nên  dìu  người bệnh  đến  hay  để  trên  giường  dây,  giường  cây  khiêng  đến  trong Tăng. 
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo  nghĩ rằng: Nếu  khiêng tỳ-kheo bệnh  đến sợ bệnh  tình tăng  thêm,  hoặc  đưa  đến mạng  chung,  chúng Tăng  nên đến đó tác yết-ma thuyết giới. Nếu có số đông tỳ-kheo bệnh thì tập hợp lại một chỗ được  thì càng hay, nếu không  thì các tỳ-kheo nên ra ngoài giới để tác yết-ma thuyết giới. Nếu không ra ngoài giới thì không được biệt chúng  tác yết-ma  thuyết giới, không có cách nào cho phép biệt chúng yết-ma thuyết giới.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo gởi dục mà không gởi  thanh tịnh, trong Tăng có sự việc khởi lên, không thuyết giới được. Bấy giờ, tỳ-kheo mang dục đến nói: “Tôi đem dục đến chứ không đem được sự  thanh tịnh.” Việc yết-ma  thuyết giới được đình lại, khiến các tỳ-kheo mỏi mệt, nên đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Từ nay [822b] về sau, khi gởi dục nên gởi thanh tịnh. Nên nói như sau: “Tôi gởi dục và thanh tịnh cho thầy.”
Nhóm sáu tỳ-kheo dựa theo sự việc, nói: “Tôi gởi dục và thanh tịnh cho thầy theo sự việc này.”
Trong Tăng có nhiều sự việc khác khởi  lên, bấy  giờ tỳ-kheo đem dục đến nói: “Tôi đem dục và thanh tịnh cho sự việc này chứ không đem dục và thanh tịnh  cho  việc  khác.” Do vậy,  công  việc bị  đình lại. Các tỳ-kheo đều bị mỏi mệt, đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được theo từng sự việc mà gởi dục và thanh tịnh. Cho phép

* Trang 1285 *
device

gởi dục và thanh tịnh cho Tăng sự như pháp.” 
Trường hợp tỳ-kheo nhận dục thanh tịnh hoặc qua đời, hoặc thôi tu, hoặc vào trong chúng của ngoại đạo, hoặc vào bộ chúng khác, hoặc đến  trên  giới  trường,  hoặc dấu  hiệu  bình minh  xuất  hiện. Các tỳ-kheo nghĩ, “Gởi dục và thanh tịnh như vậy bị mất hay không?”
Đức Phật dạy: “Bị mất.”
Trường hợp tỳ-kheo nhận dục và  thanh tịnh  trên đường đi bị cách trở, (1) hay nạn  giặc, nạn  thú dữ,  hoặc nước lụt,  không  thể  đến nơi được, bèn từ ngoài cương giới (2) mà đến trong Tăng-già-lam gởi dục thanh tịnh. Các tỳ-kheo nghĩ, có bị mất dục và thanh tịnh chăng ? 
Đức Phật dạy: “Không mất.”
Từ  nay về  sau  cho  phép tỳ-kheo gởi dục  và  thanh tịnh gặp mạng nạn,  phạm hạnh nạn,  hoặc  trong  giới  mà  không  đến  được  trong Tăng, cho phép từ ngoài cương giới mà đến trong Tăng gởi dục và thanh tịnh, như vậy không bị mất dục. Gởi dục thanh tịnh như vậy là đúng lời Ta dạy.
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo  nhận dữ dục  thanh tịnh một  người rồi,  nghi không dám nhận dục thanh tịnh người thứ hai. Đức Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Vị kia nhận dục thanh tịnh hai người rồi, lại nghi không dám nhận dục thanh tịnh người thứ ba. Đức Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Vị kia nhận dục  thanh tịnh ba người rồi, lại nghi không dám nhận dục thanh tịnh người thứ tư. Đức Phật dạy: “Cho phép nhận.” 
Đức Phật dạy  tiếp: “Nếu có  thể nhớ  tên bao nhiêu  thì  tùy  theo đó nhận nhiều hay ít. Nếu không thể nhớ tên thì nói họ, không thể nhớ họ  thì  nói tướng mạo. Không  nhớ tướng mạo  thì  nói số  đông tỳ-kheo như pháp Tăng sự dữ dục thanh tịnh.”
___________________
(1) Đường đi trong phạm vi trú xứ.
(2) Đi vòng ra khỏi phạm vi trú xứ.

* Trang 1286 *
device

3. Thuyết giới
1. Bấy  giờ,  có một nơi,  đến  ngày  thuyết  giới,  đại  chúng tập hợp thuyết giới, nhưng âm thanh nhỏ, đại chúng không nghe được. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Từ  nay về  sau,  cho  phép  đứng  giữa  chúng  để  thuyết  giới. Nếu đứng nói mà vẫn không nghe  thì nên lập  tòa rất cao giữa chúng để ngồi  nói. Nếu vẫn  không  nghe  thì  nên  làm  toà  cao  chuyển  luân (1) đứng thẳng người ngang tầm tay với, từ nơi đó thuyết giới. 
“Khi tụng bị  quên  hay lộn  thì tỳ-kheo  [822c]  ngồi gần  nên  nhắc. Nếu vẫn quên  thì vị tỳ-kheo  thứ hai  nên  thay  thế để nói. Nên  nói tiếp theo chứ không được nói trở lại.”
2. Trường hợp có việc xảy ra cho tỳ-kheo đem dục thanh tịnh, như việc Tăng,  việc  Phật,  việc  Pháp,  việc tỳ-kheo bệnh.  Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: Từ  nay về  sau,  cho  phép  chuyển  trao dục  thanh tịnh  cho  các tỳ-kheo khác. Nên nói như sau: ‘Tôi nhận dục thanh tịnh cho số đông tỳ-kheo. Vị kia  và bản  thân  tôi, Tăng sự như pháp, gởi dục  thanh tịnh.’
3. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nói đến tên Hòa thượng, A-xà-lê. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:“Không được gọi tên Hòa thượng, A-xà-lê.”
Các tỳ-kheo hỏi với nhau, Hòa thượng, A-xà-lê của thầy  tên  là gì? Vị kia không dám trả lời.
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu  có người hỏi  thì cho phép xưng  tên của Hòa  thượng, A-xà-lê.” 
__________________________
(1) Chuyển luân cao tòa 轉輪高座; không hiểu làm như thế nào. Có lẽ là một kiểu bục giảng, hay pháp tòa. Ngũ phần 18 ( tr.121c4): Khi thuyết giáp, chúng hội không thể nghe hết, Phật dạy, nên dọn tòa cao, ở trên đó mà thuyết pháp. Tứ phần hành sự sao giản chánh ký 5: Chuyển luân cao tòa, Cổ sư giải: dưới tòa có chân bằng bánh xe, khiến người đấy đến, khiến cho đại chúng đều nghe được một cách tự tại … Suy diễn này không có cơ sở. Nam sơn giải: gọi là tòa chuyển luân, vì ngồi trên này mà chuyển pháp luân…

* Trang 1287 *
device

Trường hợp tỳ-kheo hành ba-lợi-bà-sa, bổn nhật  trị, ma-na-đỏa, a-phù-ha-na, hoặc khi yết-ma, hoặc khi lập chế, (1) hoặc khi thọ giới, hoặc khi sai người, hoặc khi giải  (yết-ma)  thì nên xưng  tên Hòa  thượng, A-xà-lê. 
Khi tỳ-kheo có nhân duyên nên xưng  tên Hòa  thượng, A-xà-lê mà không dám xưng. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nhân duyên thì cho phép xưng danh tự Hòa thượng, A-xà-lê.”  Nếu tỳ-kheo bận việc nên dữ dục thanh tịnh, dữ dục rồi, công việc xong, sanh nghi không dám đến chỗ  thuyết giới. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu công việc xong nên đến, không đến nên như pháp trị.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo có ý nghĩ không đến chỗ  thuyết giới do sợ tỳ-kheo khác vì mình  tác yết-ma ngăn không cho thuyết giới. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Vị  kia lại  nghĩ  không  đến  chỗ  thuyết  giới sợ  vì  thân hữu  tri  thức của ta tác yết-ma hoặc ngăn việc thuyết giới. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Vị kia lại nghĩ,  ta đến chỗ  thuyết giới nhưng sẽ không ngồi, (2) sợ các tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma, hoặc ngăn thuyết giới. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.” 
Nếu vì  thân hậu  tri  thức mà đến chỗ  thuyết giới không ngồi, cũng như vậy.
4. Bấy  giờ,  có  trú xứ,  đến  ngày  thuyết  giới,  chúng Tăng tập hợp đông. Khi sắp thuyết giới, nghe có giặc đến, thảy đếu sợ hãi nên rờichỗ ngồi bỏ đi,  [823a1] không  thành  thuyết giới. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, khi tám nạn sự khởi, hoặc có các duyên, cho phép thuyết giới lược. Tám nạn sự  là: vua,
______________________-
(1) Xem cht. 1, tr. 1203 ( Ch. I. Thọ giới, Y chỉ và dứt y chỉ).
(2) Khi tập họp tại một chỗ, các tỳ kheo đồng ngồi mà ó tỳ kheo đứng, không ngồi, Tăng không hòa hiệp.

* Trang 1288 *
device

giặc cướp, lửa, nước, bệnh, nhân,  phi  nhân,  ác  trùng.  Các  duyên  khác  là:  đại  chúng tập hợp đông mà chỗ ngồi  ít, hoặc phần đông  trong chúng bị bệnh,  thì cho phép thuyết giới lược.” 
“Trường hợp đại chúng tập hợp đông mà  trên chỗ ngồi che không hết, hoặc trời mưa thì cho thuyết giới lược. Hoặc bố-tát nhiều, (1) đêm đã khuya, hoặc có tranh cãi, hoặc luận biện A-tỳ-đàm, Tỳ-ny, hoặc nói  pháp  quá  khuya. Từ  nay về  sau,  cho  phép tất cả  chúng  chưa đứng dậy,  khi dấu  hiệu  bình minh  chưa  xuất  hiện  nên  tác yết-ma thuyết  giới,  chứ  không  có  cách  nào  có  thể  được  phép  thọ dục  và thanh tịnh cách đêm (2) yết-ma thuyết giới.”
Tỳ-kheo nọ có ý nghĩ, vì nạn duyên cho phép thuyết giới lược, nạn duyên chưa đến gấp, chúng  ta có  thể  thuyết giới  đầy đủ. Tỳ-kheo kia nên  thuyết giới đầy đủ; không  thuyết giới đầy đủ, sẽ như pháp trị.
Tỳ-kheo nọ  có  ý  nghĩ,  vì nạn  duyên  này  đã  đến gần,  chúng  ta không  thể thuyết giới đầy đủ, chỉ có thể nói đến chín mươi sự. (3) Vị tỳ-kheo nọ nên nói chín mươi sự; không nói sẽ như pháp trị. 
Các tỳ-kheo có ý  nghĩ,  vì nạn sự đã đến gần, chúng  ta không  thể thuyết giới đầy đủ đến chín mươi sự, mà chỉ có thể nói đến ba mươi sự (4) thì nên nói đầy đủ ba mươi sự; không nói sẽ như pháp trị.
Các tỳ-kheo nghĩ, vì nạn sự này gần, chúng  ta nói đầy đủ ba mươi sự không được, chỉ có  thể nói đến hai pháp bất định. Tỳ-kheo nên nói đến hai pháp bất định; không nói sẽ như pháp trị.
Bấy giờ, các tỳ-kheo khởi nghĩ, vì nạn sự gần quá, chúng ta không
_________________
(1) Có lẽ muốn nói là quá đông người.
(2) Theo cách tính của Luật, khi ánh sáng ban mai xuất hiện mới tính là sang ngày khác, chứ không kể bắt đầu từ giữa khuya. Thọ dục và  thanh tịnh trước khi ánh sáng  ban mai  xuất  hiện,  nhưng lại  thuyết  giới  sau  khi  nó  đã  xuất  hiện, gọi  là thuyết giới với thọ dục và thanh tịnh cách đêm.
(3) Tức 90 pháp ba-dật-đề.
(4) Tức 30 ni-tát-kỳ.

* Trang 1289 *
device

thể nói đầy đủ đến hai pháp bất định, có thể nói đến mười ba sự. Vị kia phải nói đến mười ba sự, không nói sẽ như pháp trị.
Các tỳ-kheo kia nghĩ, nạn sự này gần, không  thể nói đến mười ba việc, có thể nói đến bốn việc. Tỳ-kheo kia nên nói bốn việc; không nói sẽ như pháp trị. 
Tỳ-kheo kia nghĩ, vì nạn sự này, chúng ta nói bốn việc không được, chỉ có thể nói bài tựa của giới. Vị kia phải nói đến bài tựa của giới; không nói sẽ như pháp trị.
Bấy giờ, các tỳ-kheo nghĩ, nạn sự này đến rồi, chúng ta nói bài tựa của giới không được. Do nhân duyên của nạn sự này, các tỳ-kheo phải rời chỗ ngồi đứng dậy đi liền.
Năm cách [823b] thuyết giới: Nói bài tựa rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng  thường  nghe.’ Nói  bài tựa  và bốn  việc rồi,  còn lại  nên  nói ‘Như Tăng  thường  nghe.’ Nói  bài tựa, bốn sự  và mười  ba sự rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng thường nghe.’ Nói bài tựa, bốn sự, mười ba sự, và hai việc rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng thường nghe.’ Nói đầy đủ là thứ năm. Như vậy gọi là năm cách thuyết giới.
Lại  có năm  cách  nói: Nói  bài tựa  và bốn sự rồi,  còn lại  nên  nói ‘Như Tăng  thường  nghe.’ Nói  bài tựa, bốn sự  và mười  ba sự rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng thường nghe.’ Nói bài tựa, bốn sự, mười ba sự và hai sự rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng  thường nghe.’ Nói bài tựa, mười ba sự, hai sự và ba mươi sự rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng thường nghe.’ Nói đầy đủ là thứ năm.
Lại có năm cách nói: Nói bài tựa, bốn sự, và mười ba sự rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng thường nghe.’ Nói bài tựa, bốn sự, mười ba sự, và hai sự rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng thường nghe.’ Nói bài tựa, bốn việc, mười ba việc, hai việc, và ba mươi việc rồi, còn lại nên nói ‘Như Tăng  thường nghe.’ Nói bài tựa, bốn việc, mười ba việc,hai  việc,  ba mươi  việc,  chín mươi  việc rồi,  còn lại  nên  nói  ‘Như Tăng  thường  nghe.’ Nói  đầy  đủ  là  cách  thứ năm. Như vậy gọi  là năm cách thuyết giới.
5. Thế Tôn ở tại thành La-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ có

* Trang 1290 *
device

một tỳ-kheo  tên  là Na-na-do (1) tâm  loạn  cuồng  si,  có  khi  nhớ  ngày thuyết giới, có khi không nhớ, có khi đến có khi không đến. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: 
Từ  nay về  sau,  trao  cho tỳ-kheo Na-na-do  pháp bạch  nhị yết-ma tâm  loạn cuồng si, theo phương thức như sau:
Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo Na-na-do nầy  tâm loạn  cuồng  si,  có  khi  nhớ  ngày  thuyết  giới,  có  khi  không nhớ; có khi đến, có khi không đến. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận,  trao  cho tỳ-kheo này yết-ma  tâm  loạn  cuồng  si,  hoặc  nhớ,  hoặc  không  nhớ,  hoặc đến,  hoặc  không  đến  đối với  việc Tăng  tác yết-ma  thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo Na-na-do nầy  tâm loạn cuồng si, hoặc nhớ ngày thuyết giới, hoặc không nhớ, hoặc đến, hoặc không đến. Nay Tăng  trao cho tỳ-kheo Na-na-do yết-ma  tâm  loạn  cuồng  si,  hoặc  nhớ,  hoặc  không nhớ, hoặc đến, hoặc không đến đối với việc yết-ma  thuyết giới. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng trao cho Na-na-do này pháp [823c] cuồng si tâm loạn, nhớ không nhớ, đến không  đến  đối với  việc yết-ma  thuyết  giới  thì  im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. 
“Tăng  đã  chấp  thuận,  trao  cho tỳ-kheo  Na-na-do yết-ma cuồng  si  tâm  loạn,  nhớ  không  nhớ,  đến  không  đến rồi. Tăng chấp  thuận nên  im lặng. Việc này  tôi ghi nhận như vậy.”

Có  ba  loại  cuồng  si: Một  là  khi  thuyết  giới,  nhớ  hoặc không  nhớ,
____________________
(1) Ngũ  phần  18 (T22n1421, tr.125c10): Già-già 伽伽; Tăng-kỳ 13, hai tỳ kheo đệ tử của Kiếp-tân-na, tên là Nam-đề và Bát-giá-nan-đề ; Thập tụng 22 (T23n1435, tr.161a29): Thi-việt 施越. Pāli, Vin. i. 123, Gagga.

* Trang 1291 *
device

đến hoặc không đến. (1) Hai  là  loại cuồng si nhớ  thuyết giới mà không đến. Ba là  loại  cuồng  si  không  nhớ  thuyết  giới,  không  đến. Trong  ba  loại cuồng si này, loại có nhớ thuyết giới, không nhớ thuyết giới, có đến không đến, tỳ-kheo như vậy chúng Tăng nên trao cho yết-ma cuồng si. Vị  kia  nhớ  thuyết  giới mà  không  đến,  chúng Tăng  không  nên trao yết-ma  cuồng  si. Vị  cuồng  si  không  nhớ  thuyết  giới cũng không đến, không được trao yết-ma cuồng si. 
Tỳ-kheo kia, Tăng trao yết-ma rồi, sau đó bệnh cuồng si chấm dứt, khởi  lên ý nghĩ, “Nay ta nên  làm thế nào?” Vị ấy  liền thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: 
Nếu người cuồng si được trao yết-ma rồi, sau đó bệnh cuồng si hết, nên bạch nhị yết-ma để giải,  theo pháp  thức như sau: Tỳ-kheo Na-na-do nên đến giữa chúng Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
“Đại  đức Tăng,  xin lắng  nghe!  Tôi  là tỳ-kheo  Na-na-do, trước  đây mắc bệnh  cuồng  si.  Khi  thuyết  giới,  hoặc  nhớ hoặc không nhớ, hoặc đến, hoặc không đến, Tăng đã cho tôi yết-ma bệnh cuồng si. Nay  tôi  trở lại được chánh niệm, cầu giải yết-ma cuồng si.” 
Cầu xin như vậy  ba lần. Trong chúng nên  sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại  đức Tăng,  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  Na-na-do nầy, trước  đây mắc bệnh  cuồng  si.  Khi  thuyết  giới,  hoặc  nhớ hoặc không nhớ, hoặc đến hoặc không đến, chúng Tăng đã trao cho yết-ma cuồng si. Sau đó bệnh cuồng si hết, nay tỳ-kheo này cần cầu giải yết-ma bệnh cuồng si. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho phép giải yết-ma bệnh cuồng si. Đây là lời tác bạch.
_____________________
(1) Bịch phát tác bất thường, nên khi nhớ thì đến, mà khi không nhớ thì hông đến.

* Trang 1292 *
device

“Đại  đức Tăng,  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  Na-na-do nầy, trước  kia mắc bệnh  cuồng  si.  Khi  thuyết  giới  hoặc  nhớ hoặc không nhớ, hoặc đến hoặc không đến, Tăng đã  trao cho  pháp yết-ma bệnh  cuồng  si.  Sau  khi  trao yết-ma rồi, bệnh  cuồng  si  chấp dứt,  nay tỳ-kheo  này cần cầu  chúng Tăng giải yết-ma cuồng si. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng giải yết-ma  cuồng  si  cho tỳ-kheo  Na-na-do[824a1]  thì  im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. 
“Tăng đã chấp thuận giải yết-ma bệnh cuồng si cho tỳ-kheo Na-na-do rồi. Tăng  đồng  ý  nên  im lặng. Việc này  tôi  ghi nhận như vậy.”
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo  đều  nghĩ,  người  được  trao cho  pháp yết-ma cuồng  si rồi,  sau  đó bệnh  lành,  được  giải yết-ma bệnh  cuồng  si; thời gian sau, bệnh cuồng si lại trở lại, có được trao pháp yết-ma lại hay không?
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, tùy theo bệnh cuồng si phát khởi thì trao pháp yết-ma, khi bệnh cuồng si hết thì giải.”
6. Bấy  giờ  đức Thế Tôn ở nước Chiêm-bà, (1) bên bờ  sông Già-già. Vào  ngày  thứ mười lăm  thuyết  giới, Thế Tôn  ngồi nơi  đất  trống, chúng Tăng ngồi vây xung quanh. Phần đầu của đêm đã qua, bước sang  phần  giữa của  đêm,  Tôn  giả  A-nan rời  chỗ  ngồi  đứng dậy, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa với  đức  Phật rằng: “Đầu  đêm  đã  qua,  cúi  xin  đức Thế Tôn thuyết giới.”
Đức Thế Tôn  im lặng. Tôn giả A-nan  thấy đức Phật  im lặng,  liền trở về chỗ ngồi. Đầu đêm, giữa đêm đã qua, Tôn giả A-nan lại rời chỗ ngồi đứng dậy, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật: “Đầu đêm, giữa đêm đã qua, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới.”
_________________
(1) Tham chiếu, Trung A-hàm, kinh 37 “ Chiêm-ba”. Pāli, A.viii.20: Uposatha.

* Trang 1293 *
device

Đức Thế Tôn vẫn  im lặng. Tôn giả thấy đức Thế Tôn im lặng,  liền trở về chỗ ngồi. Đầu đêm giữa đêm cuối đêm đều đã qua, dấu hiệu bình minh đã xuất hiện, các loài chim bắt đầu kêu. Tôn giả  liền rờichỗ ngồi đứng dậy, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật: “Đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm đều đã qua, dấu hiệu bình minh đã xuất hiện, các loài chim đã bắt đầu kêu, chúng Tăng ngồi đã lâu, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới. Đức Phật bảo A-nan: “Trong chúng có người bất tịnh. Nếu trong chúng có người bất tịnh mà muốn cho Như Lai  thuyết giới với một chúng như vậy, không có lý đó.”
Bấy giờ, Tôn giả A-nan  im lặng về lại chỗ ngồi. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghĩ, trong chúng này có ai bất tịnh nên đức Như Lai mới nói,  ‘Nếu  trong  chúng  có  người bất tịnh mà muốn  cho Như  Lai thuyết giới với một chúng như vậy, không có  lý  đó.’ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền quán sát nhân tâm của chúng, thấy có một vị bất tịnh, ngồi cách đức Như Lai không xa, chẳng phải sa-môn mà xưng là sa-môn, chẳng phải phạm hạnh mà nói là phạm hạnh, phạm giới, phạm ác pháp, bất tịnh ô uế, tà kiến, che giấu ác nghiệp, bên trong ôm ấp sự hủ mục, giống như bộng cây không khác. Thấy như vậy rồi, Tôn giả  liền nghĩ chính do người này mà đức Phật nói với Tôn giả A-nan,  ‘Nếu  trong chúng có người bất tịnh mà muốn cho Như Lai  thuyết giới với một chúng  như vậy, không có  lý đó.’ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đến chỗ người kia nói: “Ngươi đứng dậy! Đức Như Lai đã  thấy ngươi rồi, đã  [824b] biết ngươi rồi. Ngươi phải mau mau đứng dậy, ra khỏi chỗ này, không được ở nơi đây.”
Tôn giả Mục-liên nắm  tay vị ấy kéo ra ngoài cửa, rồi  trở vào, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân và bạch Phật: “Trong chúng đã thanh tịnh, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới.”
Đức Phật nói với Tôn giả Mục-liên: “Hiện tại,  ông  không  được  làm  như vậy,  và  sau  này cũng  không được  làm  như vậy. Này Mục-liên, từ  nay về  sau  cho  phép  tác tự ngôn trị. Nếu không tự ngôn thì không được trị. Từ nay về sau, các ông tự tác yết-ma thuyết giới.”
Đức Phật bảo Tôn giả Mục-liên: “Đây là lần thuyết giới cuối cùng

* Trang 1294 *
device

của Như Lai. Tại sao vậy? Người có phạm không được dự  thuyết giới. Người có phạm không được nghe giới. Không được hướng đến người phạm giải tội. Người có tội không được giải tội cho người khác.”
Đức Phật bảo Tôn giả Mục-liên: “Nước biển cả có tám điều hy hữu, cho nên A-tu-la  thích sống nơi đó. (1) Tám điều ấy là:
“Tất cả các dòng sông đều chảy dồn về nơi đó. Đó  là một kỳ đặc, A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, nầy Mục-liên, nước biển thường còn, không mất quy luật sóng biển của nó. Đó  là kỳ đặc  thứ hai của nước biển mà A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, Mục-liên, năm dòng sông lớn như sông Hằng-hà, Diêm-ma, Na-tát-la, A-di-la-bà-đề, Ma-hà, (2) khi đã chảy nhập vào biển thì cái tên cũ của nó đều mất. Đó là đặc kỳ thứ ba của biển mà A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, nầy Mục-liên, nước năm dòng sông lớn nầy và nước mưa đều chảy về biển mà nước biển không tăng giảm. Đây là kỳ đặc thứ tư mà A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, toàn bộ nước biển đều cùng một vị  là mặn. Đó là kỳ đặc thứ năm của biển mà A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, nầy Mục-liên, nước biển không chấp nhận thây chết. Dầu có thây chết thì gió biển cũng đưa nó vào bờ. Đây là kỳ đặc thứ sáu của biển mà A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, này Mục-liên, nước biển sản xuất nhiều trân bảo đặc biệt mà nơi lục địa không có. Các  loại  trân bảo ấy như vàng bạc, chân
__________________
(1) Xem Trung a-hàm 8 (kinh 35, tr. 476a). Pāli, A. viii. 19.
(2) Ngũ đại hà: Hằng-hà, Diêm-ma, Na-tát-la, A-di-la-bà-đề, Ma-hà恒河閻摩那薩 羅阿夷羅婆提摩河. Trung,  ibid.: Hằng-già 恆  伽, Diêu-vưu-na 搖尤那, Xa-lao-phù 舍牢浮,  A-di-la-bà-đề 阿夷羅婆提, Ma-xí 摩企. Pāli,  theo  thứ tự:  Gaṅgā, Yamunā, Sarabhū, Aciravatī, Mahī.

* Trang 1295 *
device

châu, lưu  ly, san hô, xa cừ, mã não. Đó là kỳ đặc  thứ bảy của biển mà A-tu-la thích vui sống.
“Lại nữa, nầy Mục-liên, nơi đại hải,  loài sinh vật có thân hình lớn cư trú nơi đó. Loài sinh vật có thân hình lớn tì dài đến cả một trăm do-tuần,  hai  trăm  do-tuần,  ba  trăm  do-tuần  cho  đến bảy  trăm  do-tuần. Đây là kỳ đặc thứ tám của biển mà A-tu-la thích vui sống. 
“Do tám đặc tánh này của biển cả mà A-tu-la [824c] thích vui sống nơi đó. Cũng như vậy, nầy Mục-liên,  trong giáo pháp của Ta cũng có  tám đặc  tánh, khiến cho các đệ tử sau khi  thấy rồi đều tự mình thích vui sống trong đó.
Tám đặc tánh ấy là:
“Như nước  biển lớn  đều  do tất cả mọi  dòng  sông  chảy về, cũng vậy, Mục-liên, các đệ tử của Ta lần lượt học giới cũng đều  trở về giáo  pháp của  Ta,  ở  trong  đó học  các  pháp  lành.  Như vậy,  này Mục-liên, đây  là một kỳ đặc khiến các đệ tử thấy rồi tự mình thích vui sống.
“Này Mục-liên, cũng  như nước  biển  thường  còn,  không mất  quy luật sóng biển của nó; các đệ tử của Ta trụ ở trong giới cho đến trọn đời không phạm. Đó  là kỳ đặc  thứ hai khiến các đệ tử  thấy rồi tự mình thích vui sống.
“Này Mục-liên, như nước năm dòng sông lớn khi chảy về biển cả thì tên cũ của nó đều mất, chỉ còn gọi  là biển; cũng như vậy, Mục-liên, trong giáo pháp của Ta bốn chủng tánh sát-lợi, bà-la-môn, tỳ-xá,  thủ-đà, với đức  tin kiên cố từ bỏ gia đình xuất gia học đạo  thì cái tên cũ không còn được gọi mà chỉ xưng là Sa-môn Thích tử. Đó là  đặc  tánh  thứ  ba của  giáo  pháp Ta,  khiến  các  đệ tử  thấy rồi tự mình thích vui sống.
“Này Mục-liên, cũng  như nước năm  dòng  sông lớn  và nước mưa đều  chảy về  biển mà nước  biển  không tăng  giảm; cũng  như vậy, Mục-liên, trong giáo pháp của Ta các tộc tánh, với  lòng tin kiên cố từ bỏ gia đình xuất gia học đạo vào cảnh giới  vô dư Niết-bàn màcảnh giới  vô dư Niết-bàn không tăng không giảm. Đó  là đặc  tính

* Trang 1296 *
device

thứ tư  trong  giáo  pháp của Ta,  khiến  các  đệ tử  thấy rồi tự mình thích vui sống.
“Mục-liên, cũng  như nước  trong  biển cả  đồng một vị mặn;  giáo pháp của Ta đồng một vị giải thoát. Này Mục-liên, đây  là đặc tánh thứ năm  trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ tử  thấy rồi tự mình thích vui sống.
“Mục-liên, cũng  như  biển cả  không  chấp  nhận  thây  chết. Dầu  có thây  chết  thì  gió  biển cũng  đưa  vào bờ.  Trong  giáo  pháp của  ta cũng như vậy, không chấp nhận thây chết. Thây chết là chẳng phải sa-môn mà tự xưng  là sa-môn, chẳng phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, phạm giới, ác pháp, bất tịnh ô uế,  tà kiến, che giấu nghiệp bất thiện, bên trong ôm ấp sự hư mục giống như cây bị thúi trong  ruột,  tuy  ngồi ở  trong chúng mà  thường  xa  lìa chúng Tăng, chúng Tăng cũng không gần họ. Mục-liên, đây  là đặc tánh  thứ sáu trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ tử thấy rồi tự mình  thích vui sống.
“Mục-liên, cũng như [825a1] nước biển cả sản xuất nhiều trân bảo khác lạ, nơi lục địa không thể có như vàng, bạc, chân châu, lưu  ly, san hô, xa cừ, mã não. Trong giáo pháp của Ta cũng sản xuất nhiều trân bảo, như tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý  túc, tứ thiền, ngũ căn, ngũ lực, thất giác ý, bát hiền Thánh đạo. 
Như vậy, này Mục-liên, đó  là kỳ đặc  thứ bảy  trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ tử thấy rồi tự mình thích vui sống.
“Này Mục-liên, cũng  như nước  trong  biển cả  là nơi cư  trú của nhiều  loài vật  có  thân  hình lớn hằng  trăm  do-tuần,  cho  đến bảy trăm do-tuần. Cũng như vậy, này Mục-liên, trong giáo pháp của Ta cũng  dung  chứa  các  đại  hình,  như  trong  chúng Tăng  những vị hướng  đến  Tu-đà-hoàn,  đắc  quả Tư-đà-hàm,  cho  đến  những vị hướng  đến A-la-hán,  đắc  quả A-la-hán. Này Mục-liên,  đây  là kỳ đặc  thứ  tám ở  trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ tử  thấy rồi tự mình thích vui sống.”
7. Bấy  giờ, một  trú xứ  đến  ngày  thuyết  giới,  có số  đông tỳ-kheo

* Trang 1297 *
device

ngu  si tập  trung lại một  chỗ, mời vị  Thượng tọa  thuyết  giới. Vị Thượng tọa nói: “Trước đây tôi không tụng giới.”
Kế đó, mời Trung tọa, Hạ tọa thuyết giới. Các vị cũng đều trả lời: “Không tụng.”
Do vậy  không  thành  thuyết  giới.  Các tỳ-kheo  đem  việc  này  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Số  đông tỳ-kheo  ngu  si  không  nên tập  trung  ở một  chỗ,  để rồi không biết giới, lại không biết thuyết giới, không biết bố-tát, không biết yết-ma bố-tát. Từ nay về sau chế định, tỳ-kheo năm  tuổi phải yết-ma tụng giới. Nếu không yết-ma tụng giới thì sẽ như pháp trị.”
Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo ngu si, tập  trung ở một chỗ, mời các Thượng tọa thuyết giới. Các Thượng tọa nói: “Trước đây chúng tôi có tụng, nhưng nay quên rồi.”
Kế đó, mời Trung tọa, Hạ tọa thuyết giới. Các vị cũng đều trả lời: “Trước đây có tụng, nhưng nay quên hết rồi.” 
Do đó không thành thuyết giới. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Số  đông tỳ-kheo  ngu  si  không  được tập  trung ở một  chỗ,  để rồi không biết giới, lại không biết thuyết giới, không biết bố-tát, không biết yết-ma bố-tát. Từ nay về sau chế định, tỳ-kheo năm  tuổi phải tụng  giới, tụng yết-ma  cho  thông  suốt. Nếu  không  thuộc sẽ  như pháp  trị. Từ nay về  sau cho phép nương nơi tỳ-kheo có khả năng tụng giới để hạ an cư.”
Bấy  giờ,  có tỳ-kheo nương nơi vị tụng  giới hạ  an cư. Trong  thời gian  an cư vị tụng  giới mạng  chung. Các tỳ-kheo  nghĩ,  chúng  ta làm thế nào đây? Các tỳ-kheo liền đến bạch lên đức Phật. Đức Phật dạy:  “Các  ông lắng  nghe, nếu  có tỳ-kheo  [825b] nương  theo tỳ-kheo tụng giới hạ an cư; trong khi an cư, vị tụng giới mạng chung, hoặc đi xa hoặc  thôi  tu, hoặc gia nhập chúng ngoại đạo, hoặc đến trong bộ  chúng  khác,  hoặc  phạm  biên tội,  hoặc  phạm tỳ-kheo-ni,hoặc làm sa-môn với tâm giặc, hoặc phá nội ngoại đạo, hoặc huỳnh môn, hoặc  sát phụ mẫu,  sát A-la-hán, hoặc đấu  loạn chúng Tăng, hoặc với  ác  tâm  làm  thân  Phật  ra máu,

* Trang 1298 *
device

hoặc với  ác  tâm  làm  thân  Phật  ra máu,  hoặc  phi  nhân,  hoặc  súc sanh, hoặc hai  hình. Nếu chưa đến  thời kỳ hậu an cư  thì  nên đến nơi  trú xứ gần đó kết hậu an cư. Nếu không được thì nên mời vị ở gần, có khả năng tụng luật đến để an cư. Nếu đã hậu an cư rồi, các tỳ-kheo nên đến nơi  trú xứ gần học tụng. Có vị học được bài tựa, hay tụng bốn việc, hoặc tụng mười ba việc, hoặc hai bất định, hoặc ba mươi việc, chín mươi việc, hoặc tụng pháp dư  tàn. Vị kia tụng được  bao  nhiêu  thì  trở về lại  trú xứ dạy lại  cho một  người tụng. Nếu một người không  thể tụng hết  thì  tùy  theo người  trước người sau nối tiếp nhau tụng, chứ không được tụng trở lại. Nếu được như vậy  thì tốt, bằng không  thì chỉ nên  thuyết pháp, tụng kinh rồi giải tán.”
Bấy giờ, Nan-đà có người đệ tử thông minh, có khả năng  liệu việc.
Bạt-nan-đà nói với người ấy rằng: “Ông cùng tôi du hành trong nhân gian.”
Người kia nói: “Chờ tôi một chút để tôi về xin phép Hòa thượng tôi đã.”
Người  kia  đến  chỗ Nan-đà  thưa:  “Xin Hòa  thượng  cho  phép  con cùng Bạt-nan-đà du hành trong nhân gian.”
Nan-đà trả lời: “Tùy ý ông.”
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo  nghe,  trong  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống khổ hạnh, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách Nan-đà: “Tại sao thầy lại cho đệ tử của mình theo Bạt-nan-đà du hành trong nhân  gian?  Trong  khi Bạt-nan-đà  là  người  si,  không  biết  giới, không  biết  thuyết  giới,  không  biết bố-tát,  không  biết yết-ma bố-tát.”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên, đem sự việc này bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà Ngài vẫn cố hỏi Nan-đà rằng:“Ông  có  thật  cho  đệ tử  cùng với Bạt-nan-đà  du  hành  trong  nhân gian hay không? Trong khi Bạt-nan-đà là người si, không biết giới, không  biết  thuyết  giới,  không  biết bố-tát,  không  biết yết-ma bố-tát.”
Nan-đà thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, đúng như vậy.”

* Trang 1299 *
device

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Nan-đà: “Ông  làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm.  [825c] Nan-đà,  sao ông lại khiến đệ tử cùng Bạt-nan-đà  du  hành  trong  nhân  gian;  trong  khi  ông  ấy  là  người  si, không  biết  giới,  không  biết  thuyết  giới,  không  biết bố-tát,  không biết yết-ma bố-tát?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Nan-đà rồi bảo các tỳ-kheo: “Các ông lắng nghe, nếu có đệ tử xin phép Hòa thượng để đi xa thì Hòa thượng nên hỏi đệ tử, ông đi vì mục đích gì? Ai là bạn đồng đi với ông? Ông đến chỗ nào? Nếu việc kinh dinh (1) là sai quấy, hoặc bạn đồng hành sai quấy, nhân vật ở chỗ sẽ đến  là sai quấy  thì nên ngăn đừng cho đi. Nếu việc kinh dinh là sai quấy, nhân vật ở chỗ sẽ đến cũng sai quấy, mà bạn đồng hành  tuy có tốt thì cũng nên ngăn đừng cho đi. Nếu việc kinh dinh  là sai quấy, chỗ sẽ đến  là tốt, bạn đồng hành bất thiện, thì cũng nên ngăn đừng cho đi. Nếu việc kinh dinh là sai quấy, chỗ sẽ đến thì tốt, bạn đồng hành là kẻ thiện, cũng nên ngăn đừng cho đi. Nếu việc kinh dinh  là tốt, chỗ sẽ đến không tốt, bạn đồng hành cũng không tốt, nên  ngăn khiến đừng đi. Việc kinh dinh  là tốt, chỗ sẽ đến tốt, bạn đồng hành không tốt, cũng nên ngăn đừng cho đi. Việc kinh dinh  là tốt, chỗ sẽ đến tốt, bạn đồng hành cũng tốt, thì nên cho phép đi.” 
8. Có trú xứ nọ, nhiều tỳ-kheo ngu si tập trung ở với nhau. Bấy giờ, Tôn giả Ưu-ba-ly là tỳ-kheo khách đến trú xứ này. Các tỳ-kheo ngu si ở trong chúng nầy đều không nghinh tiếp, đón rước, thừa sự. Do không có sự nghinh tiếp thừa sự đúng lễ nên trong ngày ấy Ưu-ba-ly  lìa  khỏi  trú xứ  này. Các tỳ-kheo  đem  việc  này  đến bạch  Phật.
Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, trú xứ nào có nhiều tỳ-kheo ngu si tập trung ở một  chỗ, mà  có  khách tỳ-kheo  có  khả năng  nói
________________________
(1) Doanh sự 營事, thường chỉ sự xây dựng tinh xá, tu bổ phòng ốc, hay liệu lý sự việc trong tinh xá cho Tăng. Pāli, Cf. Vin.ii.119, 159; iii.81: navakamma.

* Trang 1300 *
device

pháp,  trì  luật,  trì Ma-di, (1) có  thể nói nghĩa khế kinh đến; các tỳ-kheo ở đó khi nghe, phải  ra  ngoài  trú xứ nửa  do-tuần  đón rước,  thừa sự  nghinh  tiếp, cung cấp nước tắm rửa, các  thứ cần dùng,  thức ăn  thức uống. Nếu không vậy sẽ như pháp trị.”
4. Sám hối
1. Trường hợp  trú xứ chỉ có một tỳ-kheo ở, ngay ngày  thuyết giới phạm tội, tự tâm suy nghĩ, “Đức Thế Tôn chế giới, người phạm tội không được thuyết giới, không được nghe giới, không được hướng tới  người  phạm tội  sám hối,  người  phạm tội  không  được  nhận người khác sám hối, nay ta nên làm thế nào?” Vị ấy liền nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, nếu ngày thuyết giới có tỳ-kheo phạm tội, suy nghĩ rằng,  đức  Thế  Tôn  chế  giới,  người  phạm tội  không  được thuyết giới, không được nghe giới,  [826a1] không được hướng tới người phạm tội sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người khác.
Tỳ-kheo kia nên đến chỗ tỳ-kheo thanh tịnh, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay. Vị tỳ-kheo  thanh tịnh  kia  là bậc  Thượng tọa  thì  nên  kính lễ  sát chân, tự xưng tên tội đã phạm, tác bạch:
“Đại đức nhớ cho,  tôi tỳ-kheo  tên  là... phạm tội... nay đến trước Đại đức sám hối, không dám che giấu. Sám hối thì an vui,  không  sám hối  không  an  vui. Tôi  nhớ  nghĩ  có  phạm tội,  phát lồ,  biết mà  không  che  giấu.  Nguyện  trưởng  lão nhớ  cho,  tôi  thanh tịnh,  giới  thân  đầy  đủ  thanh tịnh bố-tát.” 
___________________________
(1) Ma-di 摩夷; cũng phiên âm là Ma-đắc-lặc-già 摩得勒伽; dịch nghĩa: Luận mẫu 論母, Trí mẫu 智母 hay Bản mẫu 本母. Luận tạng và Luật tạng đều có thêm bộ phận này  để  tóm tắt  tinh nghĩa. Trong Luật tạng,  phần này  được dịch nghĩa  là Tỳ-ni mẫu: cương yếu, hay tinh nghĩa của Luật. Pāli: Mātikā (Skt. Mātṛkā).

* Trang 1301 *
device

Thưa như vậy ba lần. Vị kia nên nói: 
“Ngươi nên sanh tâm yểm ly.” 
Tỳ-kheo trả lời: “Vâng.” 
Tác pháp như vậy rồi mới được phép nghe thuyết giới.”
Bấy giờ, đến ngày thuyết giới có một tỳ-kheo đối với vấn đề phạm tội  có sự  nghi  ngờ, tự  nghĩ rằng, “Đức Thế Tôn  chế  giới,  người phạm tội  không  được  thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không được hướng  đến  người  phạm tội  sám hối,  người  phạm tội  không được nhận sự sám hối của người khác. Nay ta nên làm thế nào?” Vị ấy liền thưa với các tỳ-kheo. 
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, ngày  thuyết giới, có tỳ-kheo đối với tội phạm sanh  nghi, tự  nghĩ,  đức Thế Tôn  chế  giới,  người  phạm tội  không được  thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không  được hướng  đến người phạm sám hối, người phạm không được nhận sự sám hối của người khác. 
Tỳ-kheo  kia  nên  đến  trước tỳ-kheo  thanh tịnh,  để  trống  vai  bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp  tay. Nếu vị ấy  là bậc Thượng tọa  thì nên kính lễ sát chân, tự xưng  tên tội đã phạm, tác bạch như sau:
“Tôi  tên  là...  đối với  việc  phạm tội  sanh nghi, nay hướng đến Đại đức tự nói lên điều đó. Sau này, khi không còn sự nghi ngờ nữa, tôi sẽ sám hối như pháp.” 
Thưa như vậy rồi mới được phép nghe giới.”
Bấy  giờ,  đến  ngày  thuyết  giới,  chúng Tăng tập hợp lại một  chỗ, muốn thuyết giới. Ngay khi sắp thuyết giới, có tỳ-kheo phạm tội tự nghĩ, “Đức Thế Tôn chế giới,  người phạm tội không được  thuyết giới, không được nghe giới, không được hướng đến người phạm tội sám hối,  người  phạm tội  không  được  nhận sự  sám hối của  người khác. Nay  ta nên  làm  thế nào?” Vị ấy nói với vị  thuyết giới rằng: “Ngưng một chút! khoan  thuyết giới! Tôi phạm tội. Tôi muốn đến trưởng lão để sám hối.”

* Trang 1302 *
device

Trong khi vị ấy nói như vậy, cả chúng ồn ào. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Các ông hãy lắng nghe, nếu ở  trú xứ nào đó chúng Tăng tập hợp lại một  chỗ, muốn  thuyết  giới. Ngay  khi  thuyết  giới,  có tỳ-kheo phạm tội. Tỳ-kheo  [826b] ấy bị  người cử tội  hay không, hoặc  tác ức niệm, hoặc không tác ức niệm, tự nhớ tội mà phát lồ, tự biết có tội như vậy, nên nói với người một bên rằng: ‘Tôi phạm tội... nay hướng đến  trưởng  lão sám hối.’ Vị ấy nghĩ, dầu chỉ nói với người bên cạnh cũng sợ ồn ào, chúng Tăng không  thành  thuyết giới, Tỳ-kheo  kia  nên  tâm  niệm  đợi  khi  giải  tán rồi sẽ  như  pháp  sám hối. Với tâm niệm như vậy rồi, mới được phép nghe thuyết giới.”
Bấy giờ, chúng Tăng tập hợp lại một chỗ muốn  thuyết giới. Ngay khi sắp  thuyết  giới,  có tỳ-kheo  đối với tội  sanh  nghi,  bèn  nghĩ, ‘Đức Thế Tôn  chế  giới,  người  phạm tội  không  được  thuyết  giới, không  được  nghe  giới,  không  được hướng  đến  người  phạm  sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người khác. Nay ta nên làm thế nào?” Vị ấy liền nói với người thuyết giới rằng:
“Thầy  ngưng một chút. Tôi nghi  có phạm tội.... muốn đến  trưởng lão nói lên điều đó.” 
Trong khi vị ấy nói như vậy, cả chúng ồn ào. Các tỳ-kheo đem việc này  đến bạch  Phật. Đức  Phật dạy:  “Các  ông  hãy lắng  nghe, nếu chúng Tăng tập hợp tại một chỗ muốn thuyết giới, ngay khi thuyết giới có tỳ-kheo đối với tội sanh nghi. Tỳ-kheo kia có bị cử tội hay không, có  tác ức niệm  hay không, vị kia  nhớ lấy điều tội lỗi, nên nói với vị ngồi gần rằng: ‘Tôi đối với tội có sanh nghi, nay hướng đến trưởng lão nóilên điều đó, đợi giải tán rồi, lúc không còn nghi nữa, sẽ như pháp sám hối.’ 
“Vị ấy lại nghĩ, ta hướng đến vị ngồi gần nói như vậy, sợ ồn ào trở ngại việc thuyết giới chúng Tăng, thì vị kia nên tâm niệm: đợi giải tán rồi,  khi  không  còn  nghi nữa, sẽ  như  pháp  sám hối. Với  tâm niệm như vậy rồi, được phép nghe thuyết giới.”

* Trang 1303 *
device

Bấy giờ, đến ngày  thuyết giới, có  trú xứ nọ tất cả Tăng đều phạm tội, nên cùng nghĩ, “Đức Thế Tôn chế giới, người phạm tội không được  thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không  được  đến  người phạm tội sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người  khác. Chúng  ta  nên  làm  thế  nào?” Những tỳ-kheo  này  liền thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Các ông lắng  nghe, nếu có  trú xứ nào mà tất cả Tăng đều phạm tội, do đó nghĩ rằng, đức Thế Tôn chế giới, người phạm tội không được  thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không  được  đến  người phạm tội sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người khác. Trường hợp như vậy, nếu có khách tỳ-kheo thanh tịnh không phạm tội đến thì nên tới chỗ vị ấy, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay, nếu là bậc Thượng tọa thì nên kính lễ sát chân [826c] rồi tự xưng tội phạm của mình, bằng văn bạch như sau:
“Tôi tên là... phạm tội.... nay hướng đến Đại đức để nói lên điều đó.” 
Vị nhận sám nên nói: 
“Ngươi nên sanh tâm nhàm chán.” 
Tỳ-kheo thưa: 
“Xin vâng.” 
Nếu  không  có  khách tỳ-kheo  đến  thì  nên  sai  hai,  ba vị  đến nơi chúng tỳ-kheo  thanh tịnh ở gần, để  trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối  bên hữu chấm đất, chấp  tay, tự xưng tội phạm của mình, bằng lời tác bạch như sau: 
“Tôi phạm tội... nay hướng đến các Đại đức để nói lên điều đó.” 
Vị nhận sám nên nói: 
“Ngươi nên sanh tâm nhàm chán.” 
Đáp rằng:  “Xin vâng.” 

* Trang 1304 *
device

Tỳ-kheo này nên trở về lại trú xứ. Tỳ-kheo nơi trú xứ đó nên hướng đến vị tỳ-kheo này để nói lên tội phạm của mình rồi sẽ thuyết giới.” Bấy giờ, có trú xứ nọ, tất cả Tăng đều nghi mình có tội và đều nghĩ, “Đức Thế Tôn  chế  giới,  người  phạm tội  không  được  thuyết  giới, không  được  nghe  giới,  không  được  đến  người  phạm tội  sám hối, người  phạm tội  không  được  nhận sự  sám hối của  người  khác. Chúng  ta nên  làm  thế nào?” Các vị  liền  thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Các  ông  hãy lắng  nghe, nếu  trú xứ  nào  đó mà tất cả  đối với tội sanh nghi, do đó nghĩ, đức Thế Tôn chế giới, người phạm tội không được  thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không  được  đến  người phạm tội sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người  khác.  Trường hợp  này, nếu  có  khách tỳ-kheo  thanh tịnh không phạm đến, thì nên tới chỗ vị ấy, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, nếu là bậc Thượng tọa thì nên kính lễ sát chân rồi, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay tự xưng tội phạm của mình, bằng văn bạch như sau:
“Tôi đối với tội  sanh nghi, nay hướng đến Đại đức để nói lên điều đó, đợi  sau này, khi không còn nghi nữa, sẽ như pháp sám hối.”
Nếu không có khách tỳ-kheo đến thì nên sai hai, ba vị tỳ-kheo đến nơi chúng tỳ-kheo  thanh tịnh ở gần, để  trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay. Nếu là bậc Thượng tọa thì nên kính lễ  sát chân rồi, tự xưng tội phạm của mình, bằng lời  tác bạch:
“Tôi đối với tội  sanh nghi, nay hướng đến Đại đức để nói lên điều đó, đợi sau này không còn nghi, sẽ như pháp sám hối.”
Tỳ-kheo kia  trở về  trú xứ cũ. Các tỳ-kheo nên hướng đến tỳ-kheo này nói lên tội phạm của mình rồi, sau đó mới thuyết giới.
Bấy giờ, chúng Tăng tập hợp lại một chỗ muốn  thuyết giới. Ngay khi  thuyết  giới, tất cả  chúng Tăng  đều  phạm tội,  nên  nghĩ, “Đức Thế Tôn chế giới, người phạm tội không được  thuyết giới, không

* Trang 1305 *
device

được  nghe  giới,  không  [827a1]  được hướng  đến  người  phạm tội sám hối,  người  phạm tội  không  được  nhận sự  sám hối của  người khác. Chúng  ta  nên  làm  thế  nào?” Họ  liền  thưa với  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Các  ông  hãy lắng  nghe, Chúng Tăng tập hợp lại một  chỗ muốn thuyết giới. Ngay khi  thuyết giới, tất cả chúng Tăng đều phạm tội, nên mọi  người tự  nghĩ, ‘Đức  Thế  Tôn  chế  giới,  người  phạm tội không được thuyết giới, không được nghe giới, không được hướng đến người phạm tội sám hối, người phạm giới không được nhận sự sám hối của người khác.’ Các tỳ-kheo kia tác bạch rồi mới sám hối, bằng lời văn như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tất cả Chúng Tăng nầy đều phạm tội. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tất cả Tăng xin sám hối. Đây là lời tác bạch.” 
Bạch như vậy rồi sau đó mới thuyết giới.” (1)
Bấy giờ, chúng Tăng tập hợp lại một chỗ muốn  thuyết giới. Ngay khi thuyết giới, tất cả chúng Tăng đối với tội có điều nghi, nên mọi người tự nghĩ, “Đức Thế Tôn chế giới, người phạm tội không được thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không  được hướng  đến  người phạm tội sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người khác. Chúng ta nên làm thế nào?”
Họ liền thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. 
Đức Phật dạy: “Các  ông lắng  nghe, nếu  chúng Tăng tập hợp lại một  chỗ muốn thuyết giới; ngay khi  thuyết giới tất cả Tăng đối với tội sanh nghi, nên  nghĩ, ‘Đức  Thế  Tôn  chế  giới,  người  phạm tội  không  được thuyết  giới,  không  được  nghe  giới,  không  được hướng  đến  người phạm tội sám hối, người phạm tội không được nhận sự sám hối của người  khác.’ Tất cả Tăng  đó  nên  tác bạch rồi, mới  nói tội  phạm, bằng lời văn như sau:
__________________________
(1) Pháp diệt tránh bằng như thảo phu địa.

* Trang 1306 *
device

“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tất cả Tăng ở đây đối với tội  có  điều  nghi. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận,  chúng Tăng  ở  đây tự  nói  lên tội của mình. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới thuyết giới.”
Bấy  giờ,  đến  ngày  thuyết  giới, tất cả Tăng  đều  phạm tội,  song không biết  tên tội đã phạm, không biết tướng của tội. Các tỳ-kheo tự nghĩ, “Chúng ta nên làm thế nào?” Họ liền thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, ngày thuyết giới, tất cả Tăng đều phạm tội mà không  biết  tên tội,  không  biết tội tướng. Trường hợp  này, nếu  có khách tỳ-kheo trì Pháp, trì Luật, trì Ma-di đến, nên tới chỗ vị đó, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa: 
“Bạch Đại đức! Có tỳ-kheo  làm như vậy, như vậy,  thì  thuộc về tội phạm gì?” Vị trì luật kia trả lời, làm như vậy thuộc về tội v.v… 
Khách tỳ-kheo [827b] biết tỳ-kheo kia dễ dàng nhận sự dạy bảo thì dẫn đến chỗ vắng. Khiến các tỳ-kheo đứng chỗ mắt thấy  tai không nghe, sai vị ấy sám hối như pháp. Sám hối rồi, vị ấy trở về chỗ các tỳ-kheo kia. Các tỳ-kheo nói như vầy: “Tỳ-kheo này phạm tội, nay đã sám hối.” 
Các tỳ-kheo khác còn lại  tin tỳ-kheo ấy đã sám hối như vậy  là tốt, bằng  không  tin sự  sám hối của vị  ấy  thì  các tỳ-kheo  còn lại  ấy không được cưỡng bức khiến sám hối.”
5. Hạn kỳ
1. Bấy giờ, đến ngày  thuyết giới, có khách tỳ-kheo tới. Khách tỳ-kheo  thuyết giới ngày mười bốn, cựu  trú tỳ-kheo  thuyết giới ngày mười lăm. Các tỳ-kheo không biết nên như  thế nào,  liền  thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:  “Các ông lắng nghe, nếu có  trú xứ, vào ngày  thuyết giới có khách tỳ-kheo tới với số  ít. Khách  thuyết  giới  ngày mười

* Trang 1307 *
device

bốn, cựu tỳ-kheo ngày mười lăm. Khách tỳ-kheo ít nên theo cựu Tỳ-kheo. Nếu không như vậy sẽ như pháp trị.”
Bấy giờ, có  trú xứ, ngày  thuyết giới đến, có khách tỳ-kheo tới, số lượng bằng với cựu Tỳ-kheo. Khách tỳ-kheo thuyết giới ngày mười bốn, cựu tỳ-kheo  thuyết giới ngày mười lăm. Khách tỳ-kheo bằng với cựu tỳ-kheo  thì nên  theo cựu Tỳ-kheo. Nếu không  theo sẽ như pháp  trị. Nếu  ngày  thuyết  giới  đến,  có  khách tỳ-kheo tới với số đông.  Khách tỳ-kheo  thuyết  giới  ngày mười bốn, cựu tỳ-kheo thuyết giới ngày mười lăm. Cựu tỳ-kheo  ít nên  theo khách tỳ-kheo để cần sự hòa hợp. Nếu hòa hợp được thì tốt. Bằng không, cựu tỳ-kheo nên ra ngoài giới để thuyết giới. 
Ngày  thuyết  giới  đến,  có  trú xứ nọ,  khách tỳ-kheo tới với số  ít. Khách tỳ-kheo thuyết giới ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo thuyết giới ngày mười bốn. Khách tỳ-kheo  ít nên  theo cựu tỳ-kheo để cầu sự hòa hợp. Nếu  cùng  hòa hợp  được  thì tốt. Bằng  không,  khách tỳ-kheo nên ra ngoài giới thuyết giới. 
Ngày thuyết giới đến, có khách tỳ-kheo trú xứ khác tới bằng với số lượng cựu Tỳ-kheo. Khách tỳ-kheo thuyết giới ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo  thuyết giới ngày mười bốn. Khách tỳ-kheo bằng, nên  theo cựu tỳ-kheo  để cầu sự  hòa hợp. Nếu  hòa hợp  được  thì tốt. Bằng không, khách tỳ-kheo nên ra ngoài giới để thuyết giới. 
Ngày thuyết giới đến, có khách tỳ-kheo trú xứ khác tới với số đông. Khách tỳ-kheo thuyết giới ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo thuyết giới ngày mười bốn. Cựu tỳ-kheo  ít, nên  theo khách tỳ-kheo để cầu sự
hòa hợp. Nếu theo được thì tốt. Bằng không, sẽ như pháp trị. 
Ngay ngày thuyết giới khách tỳ-kheo đến với số lượng ít. Khách tỳ-kheo  thuyết  giới  ngày mười  sáu, (1) cựu tỳ-kheo  thuyết  giới  ngày mười lăm cũng như vậy. 
2. Ngày thuyết giới, tại trú xứ kia cựu [827c] tỳ-kheo tập hợp muốn
____________________-
(1) Hoặc ngày mồng 1, nếu tính tháng 30 ngày.

* Trang 1308 *
device

thuyết giới. Khi đang  thuyết giới, khách tỳ-kheo đến với số  ít. Các vị ấy nghĩ, “Chúng  ta nên  làm  thế nào?” Họ  liền  thưa các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu ngày  thuyết giới, có  trú xứ  mà cựu tỳ-kheo tập hợp  muốn  thuyết  giới;  khi  đang thuyết giới, khách tỳ-kheo đến với số lượng  ít. Cựu tỳ-kheo nếu đã thuyết tựa giới xong thì khách tỳ-kheo nên bạch thanh tịnh, rồi tiếp tục nghe. Nếu  thuyết giới xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo  ít, nên báo thanh tịnh. Không báo thanh tịnh, sẽ như pháp trị.” 
Ngày  thuyết  giới cựu tỳ-kheo sắp sửa  thuyết  giới. Khách tỳ-kheo đến với số lượng bằng. Cựu tỳ-kheo nên cùng  thuyết giới. Không thuyết, sẽ  như  pháp  trị. Nếu  thuyết  giới  đã  xong rồi,  nhưng cả chúng chưa đứng dậy, hoặc phần đông chưa đứng dậy; hoặc đều đã đứng dậy; khách tỳ-kheo đến với số lượng bằng, cựu tỳ-kheo nên cùng thuyết giới trở lại. Không vậy, sẽ như pháp trị.
Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, có trú xứ, cựu tỳ-kheo tập hợp muốn thuyết giới. Lúc ấy, có khách tỳ-kheo đến với số lượng đông, cựu tỳ-kheo  nên  cùng  thuyết  giới,  không vậy sẽ  như  pháp  trị. Nếu thuyết giới rồi cả chúng chưa đứng dậy, hoặc phần đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với số đông, cựu tỳ-kheo nên cùng thuyết giới trở lại. (1) Không vậy sẽ trị như pháp.
3. Bấy giờ, có trú xứ, đến ngày thuyết giới, khách tỳ-kheo đã ngồi, sắp sửa thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến với số lượng ít. Nếu khách tỳ-kheo  đã  nói  xong  bài tựa của  giới  thì cựu tỳ-kheo  nên  cáo bạch thanh tịnh, rồi  tiếp tục  nghe. Nếu  thuyết  giới rồi cả  chúng  chưa đứng dậy, hoặc phần đông chưa đứng dậy; hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-
__________________________
(1) Ưng cánh dữ thuyết giới 應更與說戒. Cf. Mahāvagga ii, Vin. i. 130: Tăng vừa thuyết giới xong (chưa giải tán); có tỳ-kheo chỗ khác đến với số lượng đông hơn. Phải  thuyết giới  trở lại cho các tỳ-kheo này (tehi bhikkhūhi puna pātimokkhaṃ uddisitabbaṃ). Nếu đã  thuyết  giới  xong, tất cả  đã  đứng dậy; tỳ-kheo  khách số lượng  đông  này  phải  thuyết tịnh.  Không  thuyết  giới  trở lại (uddiṭṭhaṃ  su-uddiṭṭhaṃ, tesaṃ santike pārisuddhi ārocetabbā).

* Trang 1309 *
device

kheo đến với số lượng  ít  thì nên cáo bạch  thanh tịnh, bằng không sẽ như pháp trị.
Bấy  giờ,  có  trú xứ,  đến  ngày  thuyết  giới,  khách tỳ-kheo  đã  ngồi, muốn  thuyết  giới, cựu tỳ-kheo  đến với số lượng bằng. Khách tỳ-kheo nên cùng  thuyết giới, không vậy, sẽ như pháp trị. Nếu thuyết giới  đã  xong rồi, cả  chúng  chưa  đứng dậy,  hoặc  phần  đông  chưa đứng dậy;  hoặc  đều  đã  đứng dậy. Cựu tỳ-kheo  đến với số lượng bằng,  khách tỳ-kheo  nên  cùng  thuyết  giới  trở lại. Không vậy, sẽ như pháp trị.
Bấy  giờ,  có  trú xứ  đến  ngày  thuyết  giới,  khách tỳ-kheo  đã  ngồi muốn thuyết giới. Cựu tỳ-kheo đến với số đông, khách tỳ-kheo nên cùng thuyết giới, không vậy sẽ như pháp trị. Nếu thuyết giới rồi cả chúng chưa đứng dậy, hoặc phần đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo  đến với số  đông,  khách tỳ-kheo  nên  cùng thuyết giới trở lại. Không vậy sẽ như pháp trị. 
Cựu tỳ-kheo thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến cũng như vậy. Khách tỳ-kheo thuyết giới, khách tỳ-kheo đến [828a1] cũng như vậy.
4. Bấy  giờ,  có  trú xứ nọ,  đến  ngày  thuyết  giới,  có  khách tỳ-kheo đến,  biết cựu tỳ-kheo  chưa  đến,  bèn  nói:  “Nếu  chúng  ta  có bốn người, hoặc hơn bốn người, có thể tác yết-ma thuyết giới.” Họ bèn tác yết-ma thuyết giới. Khi tác yết-ma thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến, khách tỳ-kheo nghĩ, “Chúng ta nên giải quyết thế nào?”
Họ  liền báo cáo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, nếu ngày  thuyết giới,  trú xứ kia có khách tỳ-kheo đến, biết cựu tỳ-kheo chưa đến, nên nói,  ‘Chúng  ta có bốn người, hoặc hơn bốn người, có  thể  tác yết-ma  thuyết giới.’ Họ  liền  tác yết-ma  thuyết giới. Khi  tác yết-ma  thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến với số lượng  ít hơn. Nếu đã nói xong bài tựa của giới thì nên  báo  thanh tịnh, rồi  tiếp tục  nghe. Nếu  thuyết  giới  xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc phần đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số lượng  ít hơn  thì  nên  báo  thanh tịnh. Không vậy, sẽ như pháp trị.

* Trang 1310 *
device

Bấy giờ, có trú xứ, đến ngày thuyết giới, có khách tỳ-kheo đến, biết cựu tỳ-kheo chưa đến, họ nói chúng ta có bốn người, hoặc hơn bốn người, có thể tác yết-ma thuyết giới. Họ liền tác yết-ma thuyết giới. Khi  tác yết-ma  thuyết  giới, cựu tỳ-kheo  đến với số lượng  ngang bằng, khách tỳ-kheo nên thuyết giới lại, nếu không sẽ như pháp trị. Nếu  thuyết giới rồi, cả chúng chưa đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số lượng ngang bằng, khách tỳ-kheo nên thuyết giới lại, không vậy sẽ như pháp  trị. Có  trú xứ đến ngày  thuyết giới, khách tỳ-kheo tới biết cựu tỳ-kheo chưa đến, họ nói chúng ta có bốn người, hoặc hơn bốn người, có thể tác yết-ma thuyết giới. Họ liền tác yết-ma thuyết giới. Khi tác yết-ma thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến với số lượng đông hơn, khách tỳ-kheo nên thuyết giới lại. Không vậy, sẽ như pháp trị. Nếu thuyết giới rồi, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc phần đông chưa đứng dậy,  hoặc  đều  đã  đứng dậy, cựu tỳ-kheo  đến với số lượng đông, khách tỳ-kheo nên thuyết giới lại, không vậy sẽ như pháp trị. 
6. Phá yết-ma
Có  trú xứ,  đến  ngày  thuyết  giới cựu tỳ-kheo  đến,  biết  khách tỳ-kheo chưa đến, hoặc  ít, hoặc bằng hay nhiều hơn cũng vậy. Khách tỳ-kheo thuyết giới, khách tỳ-kheo đến cũng như vậy. Cựu tỳ-kheo thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến cũng như vậy. 
1.  Hoặc  nói,  nên  thuyết  giới.  Hoặc  nói,  không  nên  thuyết  giới. Hoặc  người  không  đến, (1) bèn  nói  “Hãy  biến mất  đi! Hãy  diệt mất đi!” Muốn  làm mọi cách để phá  hoại  người khác, bèn  tác yết-ma [828b] thuyết giới. Kia tác yết-ma thuyết giới không thành, mắc tội
thâu-lan-giá. (2)
_____________________-
(1) Biết có tỳ-kheo  (khách) đến  trong  trú xứ, không chịu  tìm và gọi, mà vẫn  tiến hành yết-ma thuyết giới. Tham chiếu Pāli, Vin.i. 133: nghi bèn tìm nhưng không thấy; bèn yết-ma thuyết giới: vô tội. Tìm thấy, cùng hoà hiệp bố-tát: vô tội. Tìm thấy, nhưng biệt hành bố-tát: phạm đột-kiết-la.
(2) Vì tội gần mức  phá  hoà  hiệp Tăng.  Hay  có  ý  phá  nhưng  không  thành.  Cf. Mahāvagga  ii,  Vin.i.  133:  passitvā  -  nassantete,  vinassantete,  ko  tehi  atthi -

* Trang 1311 *
device

Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, có khách tỳ-kheo tới, thấy phòng xá trú xứ cựu tỳ-kheo có dấu hiệu trải giường dây, giường cây, tọa cụ, chăn, mền, gối, đá rửa chân, tịnh thủy, bình tịnh thủy; thấy dấu hiệu như vậy mà  không  tìm  kiếm,  bèn  tác yết-ma  thuyết  giới. Khi  tác yết-ma  thuyết  giới  thì cựu tỳ-kheo  đến. Khách tỳ-kheo  liền  nghĩ, “Chúng  ta nên  làm  thế nào?” Họ  liền báo cáo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:  “Các  ông  nên lắng  nghe, nếu  trú xứ  nào mà  ngày  thuyết  giới,  có khách tỳ-kheo  đến  thấy cựu  trú tỳ-kheo  có dấu  hiệu  trải  giường dây, giường cây, tọa cụ, chăn, mền, gối, hòn đá rửa chân, tịnh thủy, bình tịnh  thủy;  thấy dấu hiệu như vậy mà không  tìm kiếm, bèn  tác yết-ma  thuyết  giới,  thì  không  thành yết-ma  thuyết  giới mà lại  có tội. (1) Thấy dấu  hiệu rồi  liền  tìm  kiếm. Tìm  kiếm mà  không  được, liền  kêu. Nếu  không  kêu,  liền  tác yết-ma  thuyết  giới,  thì  không thành yết-ma thuyết giới mà lại mắc tội.” 
Thấy dấu  hiệu rồi  liền  tìm  kiếm,  tìm  kiếm  mà  không  được,  nói “Hãy  biến mất đi! Hãy diệt mất đi!” Làm mọi phương  tiện muốn cho người kia bị phá hoại,  liền tác yết-ma thuyết giới. Các tỳ-kheo kia yết-ma không thành, lại phạm tội thâu-lan-giá. (2)
Thấy dấu  hiệu rồi  liền  tìm  kiếm. Tìm  kiếm mà  không  được,  bèn gọi. Gọi rồi  tác yết-ma  thuyết giới. Các tỳ-kheo kia yết-ma không thành nhưng không phạm. 
Thấy dấu hiệu rồi  liền  tìm kiếm. Tìm kiếm được, hòa hợp  tác yết-ma thuyết giới, thành yết-ma thuyết giới, không phạm.
Thấy và nghi cũng như vậy.
2. Bấy giờ, tại  trú xứ kia cựu tỳ-kheo đến  thấy dấu hiệu của khách
____________________________________
bhedapurekkhārā  uposathaṃ  karonti,  āpatti  thullaccayassa,  “sau  khi  tìm  thấy, bèn nói: Các ngươi hãy diệt đi! Các ngươi hãy hoại đi! Các ngươi có ích lợi gì? Rồi bố-tát với mục đích phá hoại (hoà hiệp Tăng), phạm thâu-lan-giá.”
(1) Pāli, Vin.i. 133, phạm đột-kiết-la.
(2) Xem đoạn trên & cht. 2 trước, tr.1310.

* Trang 1312 *
device

Tỳ-kheo, như y bát, ống đựng kim, ni-sư-đàn, chỗ rửa chân. Thấy rồi  không  tìm  kiếm,  liền  tác yết-ma  thuyết  giới. Tỳ-kheo  kia  tác yết-ma thuyết giới không thành, lại có tội. 
Nếu  thấy dấu hiệu  liền  tìm kiếm. Tìm kiếm không được, nên gọi. Nếu không gọi mà  tác yết-ma  thuyết giới,  thì không  thành yết-ma thuyết giới lại có tội.  Thấy dấu hiệu liền tìm kiếm. Tìm kiếm không được, liền nói, “Hãy biến mất  đi!  Hãy  diệt mất  đi!”  Dùng  nhiều  phương  tiện  muốn người kia bị phá hoại, bèn tác yết-ma thuyết giới. Tỳ-kheo kia yết-ma thuyết giới không thành, lại phạm thâu-lan-giá. 
Thấy dấu  hiệu rồi  liền  tìm  kiếm. Tìm  kiếm  không  được,  bèn gọi. Gọi rồi, tác yết-ma thuyết giới. Tỳ-kheo kia yết-ma thuyết giới tuy không thành nhưng không phạm.  Thấy dấu  hiệu rồi  liền  tìm  kiếm.  Tìm  được,  hòa hợp  tác yết-ma thuyết  giới. Tỳ-kheo  kia yết-ma  thuyết  giới  thành tựu  và  không phạm.
Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
3. Bấy giờ,  [828c] vào ngày  thuyết giới, tại một  trú xứ nọ, khách tỳ-kheo  đến  nghe  tiếng cựu tỳ-kheo  kinh  hành,  tiếng tằng hắng, tiếng tụng kinh,  tiếng nói pháp; nghe rồi không  tìm kiếm,  liền  tác yết-ma thuyết giới. Khi tác yết-ma thuyết giới thì cựu tỳ-kheo đến. Họ không biết  làm  thế nào,  liền báo cáo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, nếu ngày thuyết giới,  trú xứ  có  khách tỳ-kheo  đến  nghe  tiếng cựu tỳ-kheo  kinh hành,  tiếng tằng hắng,  tiếng tụng  kinh,  tiếng  nói  pháp,  nghe rồi không tìm kiếm,  liền tác yết-ma thuyết giới, thì tỳ-kheo kia yết-ma thuyết giới không thành tựu mà lại mắc tội.”  
Nếu  nghe rồi  tìm  kiếm. Tìm  không  được,  không gọi. Tác yết-ma thuyết giới. Các tỳ-kheo kia yết-ma thuyết giới không thành tựu lại mắc tội.  Nếu nghe rồi tìm kiếm. Tìm không được mà lại không gọi, bèn nói “Hãy  biến mất đi! Hãy diệt mất đi!” Làm mọi phương  tiện muốn cho  người  kia  phá  hoại,  liền  tác yết-ma  thuyết  giới. Tỳ-kheo  kia yết-ma không thành, lại phạm tội thâu-lan-giá.

* Trang 1313 *
device

Nếu nghe rồi  tìm kiếm. Kiếm không được, bèn gọi, rồi  tác yết-ma thuyết giới. Tuy yết-ma của tỳ-kheo kia không thành, nhưng không tội. Nghe rồi tìm kiếm. Tìm được, hòa hợp cùng tác yết-ma thuyết giới, thì yết-ma thuyết giới tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy.
5. Bấy giờ, tại một  trú xứ, vào ngày  thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến, nghe  tiếng của khách tỳ-kheo đi kinh  hành,  tiếng tằng hắng, tụng kinh, nói pháp, đập, dũ y. Nghe rồi không  tìm kiếm lại  tác yết-ma thuyết giới,  thì sự yết-ma  thuyết giới của tỳ-kheo kia không  thành, lại có tội. 
Nghe rồi,  tìm kiếm. Tìm không được, mà không gọi, bèn  tác yết-ma  thuyết  giới,  thì sự yết-ma  thuyết  giới của tỳ-kheo  kia  không thành, lại có tội. 
Nghe rồi,  tìm kiếm. Tìm không được, mà không gọi, lại nói “Hãy biến mất  đi! Hãy  diệt mất  đi!”  Làm mọi  phương  tiện muốn  cho người kia bị phá hoại,  liền tác yết-ma thuyết giới. Tỳ-kheo kia yết-ma không thành, lại phạm tội thâu-lan-giá.
Nghe rồi  tìm. Tìm không được, bèn gọi. Gọi rồi  tác yết-ma  thuyết giới. Tuy sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia không thành, nhưng không tội. 
Nghe rồi  tìm. Tìm được, hòa hợp cùng  tác yết-ma  thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia thành, và không tội. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy.
6. Bấy giờ, tại  trú xứ nọ, vào ngày  thuyết giới, khách tỳ-kheo đến thấy [829a1] cựu tỳ-kheo ở  trên giới  trường. (1) Thấy mà không  tìm, bèn  tác yết-ma  thuyết  giới. Các tỳ-kheo  nghĩ,  “Chúng  ta  nên  làm thế nào?” Họ  liền báo cáo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch
__________________
(1) Để bản: giới  trường 界場, chỉ trong phạm vi  trú xứ. Tống-Nguyên-Minh: giới trường 戒場, chỉ trong phạm vi nhà thuyết giới. Phần sau, đoạn 9, nêu các trường hợp thấy, và nghe, “ tỳ kheo tại giới nội . Như vậy, ở đây nên viết là

* Trang 1314 *
device

Phật. Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, tại một trú xứ, vào ngày thuyết giới, khách tỳ-kheo đến  thấy cựu tỳ-kheo ở  trên giới  trường,  thấy mà không  tìm, liền  tác yết-ma  thuyết  giới,  thì sự yết-ma  thuyết  giới của tỳ-kheo kia thành tựu, nhưng có tội.”
Nếu  thấy rồi  liền  tìm. Tìm mà không được, nhưng không gọi,  tác yết-ma  thuyết giới,  thì sự yết-ma  thuyết giới của tỳ-kheo kia  thành tựu, nhưng có tội. 
Thấy rồi tìm, tìm rồi gọi. Gọi rồi tác yết-ma thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia thành tựu, không tội. 
Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
7. Bấy giờ, tại một  trú xứ, vào ngày  thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến thấy khách tỳ-kheo ở trên giới trường. Thấy mà không tìm,  liền tác yết-ma  thuyết giới,  thì sự yết-ma  thuyết giới của tỳ-kheo kia  thành tựu, nhưng có tội. 
Nếu  thấy rồi  liền  tìm,  tìm không được mà không gọi, bèn  tác yết-ma thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia thành tựu, nhưng có tội. 
Thấy rồi tìm, tìm rồi gọi. Gọi rồi tác yết-ma thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội. Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
8. Bấy giờ, tại  trú xứ nọ, vào ngày  thuyết giới, khách tỳ-kheo đến nghe cựu tỳ-kheo ở  trên giới  trường. Nghe rồi không  tìm,  liền  tác yết-ma  thuyết giới,  thì sự yết-ma  thuyết giới của tỳ-kheo kia  thànhtựu, nhưng có tội. Nghe rồi tìm. Tìm rồi không kêu, mà tác yết-ma thuyết  giới,  thì sự yết-ma  thuyết  giới của tỳ-kheo  kia  thành tựu, nhưng có tội. 
Nghe rồi tìm, tìm rồi gọi. Gọi rồi tác yết-ma thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy. 
Cựu tỳ-kheo đến, nghe khách tỳ-kheo ở  trên giới  trường cũng như vậy. Nghe nhưng nghi cũng như vậy.

* Trang 1315 *
device

9. Bấy giờ, tại  trú xứ nọ, vào ngày  thuyết giới, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu tỳ-kheo ở trong giới. (1) Thấy mà không  tìm,  liền  tác yết-ma thuyết giới. Khi  tác yết-ma  thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến, họ nghĩ, “Chúng ta nên làm thế nào?” Họ liền báo cáo với các tỳ-kheo. 
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Các ông lắng nghe, nếu tại một  trú xứ  kia,  vào  ngày  thuyết  giới,  khách tỳ-kheo  đến,  thấy cựu tỳ-kheo ở trong giới; thấy mà không tìm, liền tác yết-ma thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới của tỳ-kheo kia không thành tựu, mà có tội.” 
Thấy mà  tìm. [829b] Tìm nhưng không gọi, bèn  tác yết-ma  thuyết giới, thì sự yết-ma thuyết giới không thành tựu, lại có tội.  Thấy dấu  hiệu  liền  tìm,  tìm rồi gọi, gọi rồi  hòa hợp  tác yết-ma thuyết  giới,  thì sự yết-ma  thuyết  giới của tỳ-kheo  kia  thành tựu, không tội. Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
10. Có  trú xứ, đến ngày  thuyết giới, cựu tỳ-kheo đến,  thấy khách tỳ-kheo ở trong giới cũng như vậy. Thấy nhưng nghi cũng như vậy.  Khách tỳ-kheo nghe cựu tỳ-kheo ở trong giới cũng như vậy. Nghe-nghi cũng  như vậy. Cựu tỳ-kheo nghe khách tỳ-kheo ở  trong giới cũng vậy. Nghe nhưng nghi cũng như vậy.
7. Chuyển trú xứ
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghĩ rằng, “Chúng  ta hãy đi từ nơi có trú xứ, có tỳ-kheo, đến chỗ có  trú xứ mà không tỳ-kheo, (2) để  tránh các tỳ-kheo khác  tác yết-ma chống lại chúng  ta, hoặc ngăn  thuyết giới.” Các tỳ-kheo đến bạch Phật. 
Đức Phật dạy: “Không nên có ý nghĩ, đi từ nơi có  trú xứ, có tỳ-kheo, đến chỗ có trú xứ không tỳ-kheo. Vì sợ các tỳ-kheo khác tác
______________________
(1) Giới nội, xem cht. 1, tr.1313.
(2) Cf. Vin.  i. 134:  vào ngày bố-tát, tỳ-kheo  không  được  đi từ  trú xứ  có tỳ-kheo đến  trú xứ không có tỳ-kheo,  trừ phi (đi với  túc số để tại đó) có Tăng; hoặc trừ phi có nạn sự (phải bỏ đi).

* Trang 1316 *
device

yết-ma nhắm đến mình, hoặc ngăn thuyết giới.”
Tỳ-kheo  kia  có  ý  nghĩ,  đi từ nơi  có  trú xứ,  có tỳ-kheo  đến  chỗ không trú xứ, không Tỳ-kheo. Vì sợ các tỳ-kheo khác vì họ tác yết-ma hoặc ngăn thuyết giới.
Đức Phật dạy: “Không  nên  có  ý  nghĩ,  đi từ nơi  có  trú xứ,  có tỳ-kheo  đến  chỗ không  trú xứ,  không tỳ-kheo,  vì sợ  các tỳ-kheo  khác  vì mình  tác yết-ma, hoặc ngăn thuyết giới.”
Tỳ-kheo  kia  nghĩ,  ta  hãy  đi từ nơi  có  trú xứ  có tỳ-kheo  đến  chỗ không tỳ-kheo, có trú xứ, không trú xứ, hoặc đến tỳ-kheo trên giới trường. Vì sợ các tỳ-kheo khác vì họ  tác yết-ma hoặc ngăn  thuyết giới. 
Đức Phật dạy: “Không  nên  có  ý  nghĩ,  đi từ nơi  có tỳ-kheo  có  trú xứ  đến  chỗ không tỳ-kheo, có trú xứ, không trú xứ, hoặc đến tỳ-kheo trên giới trường,  vì sợ  các tỳ-kheo  khác  vì  mình  tác yết-ma,  hoặc  ngăn thuyết giới.  “Nếu không có Tăng cùng đi, hoặc không có nạn sự mà đi, (1) phạm đột-kết-la.” 
Từ nơi có tỳ-kheo không  trú xứ đến chỗ không tỳ-kheo có  trú xứ cũng như vậy. Từ chỗ có tỳ-kheo không  trú xứ đến nơi không tỳ-kheo không  trú xứ cũng vậy. Từ chỗ có tỳ-kheo không  trú xứ đến chỗ không tỳ-kheo có  trú xứ, không  trú xứ cũng như vậy. Từ chỗ có tỳ-kheo có trú xứ, không trú xứ đến chỗ không tỳ-kheo có trú xứ cũng như vậy. Từ chỗ có tỳ-kheo có  trú xứ, không  trú xứ đến chỗ không tỳ-kheo không  trú xứ cũng như vậy. Từ chỗ có tỳ-kheo có trú xứ [829c] không trú xứ đến chỗ không tỳ-kheo có trú xứ không trú xứ cũng như vậy. Hoặc vì thân hậu tri thức cũng như vậy.
8. Hòa hiệp thuyết giới
1. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  có  ý  nghĩ  nên  đến  trong  chùa (Tăng)  ngăn  các tỳ-kheo  khác rằng,  “Chớ  tác yết-ma  ngăn 
______________________
(1) Xem cht. 2 trước.

* Trang 1317 *
device

thuyết giới  đối với  nhóm  sáu tỳ-kheo.”  Các tỳ-kheo  đem  việc  này  đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy: “Tỳ-kheo-ni  không  được  có  ý  nghĩ  đến  trong  chùa  ngăn  các tỳ-kheo rằng,  ‘Chớ  tác yết-ma ngăn  thuyết giới đối với nhóm sáu tỳ-kheo.’ Cũng không được trước tỳ-kheo-ni mà tác yết-ma hoặc ngăn thuyết giới.”(1)
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo-ni  sai  thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di  ni  đến trong  chùa,  ngăn  các tỳ-kheo  khác:  “Chớ  tác yết-ma  ngăn  thuyết giới  đối với  nhóm  sáu tỳ-kheo.” Các tỳ-kheo  đến bạch Phật. Đức Phật dạy:  “Tỳ-kheo-ni  không  được  có  ý  nghĩ  sai  thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đến  trong chùa ngăn các tỳ-kheo khác  ‘Chớ  tác yết-ma ngăn  thuyết giới đối với nhóm sáu tỳ-kheo.’ Cũng không được trước  thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di  ni,  mà  tác yết-ma  hoặc  ngăn thuyết giới.”
Các tỳ-kheo-ni kia, lại có ý nghĩ sai bạch y tri thức đến trong chùa ngăn các tỳ-kheo khác đừng  tác yết-ma hoặc ngăn  thuyết giới đối với nhóm sáu tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:“Tỳ-kheo-ni  không  được  có  ý  nghĩ  sai bạch  y  tri  thức  đến  trong chùa  ngăn các tỳ-kheo đừng  tác yết-ma hoặc ngăn  thuyết giới đối với  nhóm  sáu tỳ-kheo. Không  được  đối  trước bạch  y  tác yết-ma hoặc ngăn thuyết giới.”
2. Bấy giờ, vua Bình-sa nước Ma-kiệt vì đức Phật và chúng Tăng nên sai các vị tướng đến bảo vệ Tăng-già-lam. Các tỳ-kheo nói với các vị tướng rằng: “Quý vị nên ra ngoài, chúng tôi muốn tác yết-ma thuyết giới.”
Các vị tướng trả lời: “Vua Bình-sa sai chúng tôi đến đây để bảo vệ đức  Phật  và  chúng Tăng.  Ý của  vua,  chúng  tôi  không  dám  sai phạm. Chúng tôi không thể ra ngoài.”
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch với Phật. Đức Phật dạy: “Nên hòa nhã khéo léo nói để cho họ ra ngoài được càng tốt. Bằng
_________________________
(1) Cf. Vin.  i.  135:  không  được  thuyết  ba-la-đề-mộc-xoa  trước tỳ-kheo-ni,  thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,…

* Trang 1318 *
device

không,  các  ông  nên tự bảo  nhau  ra  ngoài,  đến  chỗ  không  thấy không  nghe,  tác yết-ma  cùng  thuyết  giới.  Không  được  ở  trước người chưa thọ đại giới tác yết-ma thuyết giới.”
3. Bấy giờ, có thiên long quỷ thần đến nghe thuyết giới. Tỳ-kheo có thiên  nhãn  thấy, với  tâm sợ  hãi,  nghĩ rằng, “Đức  Thế  Tôn  chế [830a1] giới không cho chúng  ta đối diện với  người chưa  thọ đại giới tác yết-ma thuyết giới.”
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch đức Phật. Đức Phật dạy:
“Từ nay về sau cho phép trừ ở trước (loài) người chưa thọ đại giới,
ngoài ra được phép tác yết-ma thuyết giới.”
4. Bấy giờ, chúng Tăng ở Câu-thiểm-di bị phá  làm hai bộ. Các tỳ-kheo muốn đến Xá-vệ để hòa hợp. Đức Phật dạy:
“Từ nay về sau cho phép bạch rồi, sau đó mới hòa hợp.” Văn bạch như sau:
“Đại  đức Tăng,  xin lắng  nghe!  Vì  do  tranh sự  đã  khiến Tăng  đấu  tranh, hai  bên  không hòa hợp. Người  phạm tội kia  đã  được cử tội,  trở lại  giải tội,  trần cấu của Tăng  đã chấm dứt. Nếu thờigian  thích hợp đối với Tăng, Tăng hòa hợp. Đây là lời tác bạch.”
Nên tác bạch như vậy, rồi tác pháp hòa hợp.
Bấy  giờ, Tôn  giả Ưu-ba-ly rời  chỗ  ngồi  đứng dậy,  trống  vai  bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, nhân tránh sự mà chúng Tăng đấu tranh, không  hòa hợp,  chúng Tăng bị  phá vỡ,  khiến Tăng bị  trần cấu, Tăng chia rẽ phân  làm hai bộ. Nhưng sự việc này chưa quyết đoán trừ diệt, chúng Tăng có thành hòa hợp như pháp hay không?”
Đức Phật bảo Tôn giả Ưu-ba-ly: “Nếu  nhân bởi  tránh sự  chúng Tăng  đấu  tranh,  không  hòa hợp, chúng Tăng bị phá vỡ, Tăng bị  trần cấu, khiến Tăng chia rẽ, phân làm hai bộ. Nếu trong đó có thể cải hối không nêu tội lẫn nhau, thì đây được gọi là chúng Tăng y theo pháp hòa hợp.”

* Trang 1319 *
device

Từ nay về sau, cho phép bạch trước như vậy, rồi sau đó thuyết giới:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Chúng Tăng do vì tránh sự nên Tăng  đấu  tranh,  không  hòa hợp,  chúng Tăng bị  phá vỡ, khiến Tăng bị cáu bẩn, Tăng chia rẻ phân  làm hai bộ. Người kia tự biết phạm tội, nay đã cải hối trừ diệt trần cấu của Tăng. Nếu  thời gian  thích hợp đối với Tăng, Tăng hòa hợp thuyết giới. Đây là lời tác bạch” 
Bạch như vậy rồi, sau đó hòa hợp thuyết giới.(1)
 
 
    
 ____________________________                                        
(1) Bản Hán, hết quyển 36.

* Trang 1320 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)