LOGO VNBET
CHƯƠNG III
AN CƯ
 
1. Kết giới an cư
[830b7] 1. Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo trong ba mùa xuân, hạ và đông đều du hành  trong nhân gian. Gặp  tháng mùa hạ,  trời mưa, nước lớn  trôi mất  y  bát, tọa cụ,  ống  đựng  kim,  đạp  chết cỏ  non. Các cư sĩ cơ hiềm:  “Sa-môn Thích tử không biết hổ  thẹn, đạp chết cỏ non. Bên ngoài tự nói tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì gọi là chánh pháp? Trong ba mùa  xuân, hạ  và  đông  du  hành  trong  nhân  gian. Mùa hạ  trời mưa nước lớn,  trôi mất  y  bát, tọa cụ, ống  đựng  kim,  đạp  chết cỏ non,  đoạn mạng sống của  các  loài  khác.  Pháp của  các  ngoại  đạo còn an cư ba tháng, mà các Thích tử này trong ba mùa xuân, hạ và đông  đều  du  hành  trong  nhân  gian,  trời mưa nước lớn  trôi mất  y bát, tọa cụ, ống  đựng  kim,  đạp  chết cỏ  non,  đoạn mạng sống của các loài khác. Cho đến như các loài chim, côn trùng, còn có hang tổ là trú xứ nghỉ ngơi của chúng. Sa-môn Thích tử ba mùa xuân, hạ và đông, du hành  trong nhân gian,  trời mưa nước lớn  trôi mất y  bát, tọa cụ, ống  đựng  kim,  đạp  chết cỏ  non,  đoạn mạng sống của  các loài khác.”
Các tỳ-kheo  nghe,  trong  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc,  biết hổ  thẹn, sống khổ hạnh, ưa học giới, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao các thầy du hành trong nhân gian suốt cả ba mùa xuân, hạ, đông? Mùa hạ,  trời mưa, nước lớn  trôi mất  y  bát, tọa cụ, ống  đựng  kim,  đạp chết cỏ non. Các cư sĩ tin tưởng cây cỏ có mạng sống (1), khiến họ cơ hiềm nên có mắc tội hay chăng?’”  (2)
_________________________                                        
(1) Pāli  (Vin.  i. 137), ekindriyaṃ jīvaṃ,  loài có sự sống với một căn; chỉ một căn duy nhất là mạng căn.
(2) Hán: linh cư sĩ cơ hiềm cố đắc tội da. Văn không ổn. Cf. Vin.i.137: bahū khuddake pāṇe sanghãtaṃ āpādentā, dẫn đến tình trạng sát hại nhiều côn trùng. Bản Hán hiểu Skt. Āpadyant: āpadyati ( Pāli, āpajjati) là phạm tội.

* Trang 1321 *
device

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ  sát chân Phật rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy  đủ. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Các ông làm đều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc  không  nên [830c]  làm. Nhóm  sáu tỳ-kheo,  sao  các  ông  du  hành  trong  nhân gian  suốt cả ba mùa  xuân, hạ, đông? Mùa hạ,  trời mưa, nước lớn trôi mất y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đạp chết cỏ non. Các cư sĩ tin tưởng cây cỏ có mạng sống, khiến họ cơ hiềm nên có mắc tội hay chăng?’”
Dùng vô số phương  tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, Phật bảo  các tỳ-kheo:  “Các  ông  không  được  du  hành  nhân  gian suốt cả  ba mùa  xuân, hạ,  đông. Từ  nay về  sau,  cho  phép  các tỳ-kheo an cư ba  tháng mùa hạ, bạch với người chỗ mình đang sốngrằng: ‘Tôi hạ an cư nơi  trú xứ này.’ Hoặc thưa: ‘Trưởng lão một lòng  nghĩ  đến  cho. Tôi tỳ-kheo  tên  là... nương tựa nơi tụ lạc... hay Tăng-già-lam... hoặc nơi phòng... an cư ba  tháng  trước của mùa hạ. Phòng xá bị hư hỏng cần phải sửa chữa.’ Lần  thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy. Pháp an cư ba tháng sau của mùa hạ cũng như vậy.” (1)
2. Các tỳ-kheo ở  trong một  trú xứ không có người để nương tựa, không  biết bạch với  ai. Các tỳ-kheo  nghi  không  biết  thành  an cư hay không, liền bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy: “Phát khởi ý vì an cư liền thành an cư. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo, nếu không có người để nương tựa thì tâm niệm an cư.” Tỳ-kheo ở trong trú xứ muốn an cư mà không có người để nương tựa, không bạch chỗ an cư, quên không  tâm  niệm an cư, nghi không biết  thành an
____________________
(1) Cf. Mahãvagga iii, Vin. i. 137: vemā vassūpanāyikā, purimikā pacchimikā, “ có hai hạn khởi đầu mùa mưa: hạn đầu và hạn sau.” Mùa hạ, theo lịch Ấn Độ, có bốn tháng. Tiền kỳ hạ bắt đầu từ sau ngày trăng tròn tháng Āsalhī ( tháng 6-7, DL). Hậu kỳ hạ, sau ngày trăng tròn một tháng sau đó. Cf. Ngũ phần 19, tr. 129b20.

* Trang 1322 *
device

cư hay không đến bạch Phật. Phật dạy: “Nếu vì an cư mà đến,  liền thành an cư.”
3. Các tỳ-kheo đến chỗ an cư, muốn an cư, vào  trong cương giới, tướng  bình minh  xuất  hiện, (1) nghi  không  biết  có  thành  an cư  hay không, liền đến bạch đức Thế Tôn. Phật dạy: “Nếu vì an cư mà đến liền thành an cư.”
Tỳ-kheo ở chỗ an cư, muốn an cư, vào trong vườn của Tăng, tướng bình minh xuất hiện, nghi không biết  thành an cư hay không,  liền đến bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn dạy: “Nếu vì an cư mà đến tức thành an cư.”
Tỳ-kheo  đến  chỗ  an cư, muốn  an cư, một  chân  vào  trong cương giới, một chân ngoài cương giới, tướng bình minh xuất hiện, nghi không biết thành an cư hay không, bèn bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy: “Nếu vì an cư mà đến liền thành an cư.”
Tỳ-kheo  đến  chỗ  an cư,  muốn  an cư, một  chân  vào  trong Tăng viên, một chân ngoài Tăng  viên, tướng bình minh xuất hiện, nghi không biết thành an cư hay không, liền bạch đức Thế Tôn. Đức Thế
Tôn dạy: “Nếu vì an cư mà đến liền thành an cư.”
[831a1] Nếu an cư xong rồi, khách tỳ-kheo đến dời chỗ của cựu tỳ-kheo. Đức Phật dạy: 
“Không được dời. Cũng không nên đi.”
2. Phân phòng xá
1. Tại một  trú xứ,  các tỳ-kheo  không  xem kỹ  phòng  xá  ngọa cụ, liền nhận phải phòng không tốt, ngọa cụ xấu, nên nổi sân, nói với cựu tỳ-kheo: “Tâm  thầy không bình đẳng. Người  nào  thầy ưa  thì  thầy  trao cho phòng tốt,  ngọa cụ tốt;  người  nào  thầy  không  ưa,  thầy  trao  cho phòng xấu, ngọa cụ xấu. Thầy không ưa  tôi, nên  thầy  trao cho  tôi phòng xấu, ngọa cụ xấu!”
_________________
(1) Bình minh của ngày 16, tháng tiền an cư.

* Trang 1323 *
device

Các tỳ-kheo  đem  nhân  duyên  này bạch  đầy  đủ  lên  đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: “Nếu tỳ-kheo muốn an cư nơi trú xứ nào thì tự mình nên đến trước xem coi phòng xá, ngọa cụ, sau đó mới nhận phòng. Từ nay về sau cho phép phân phòng xá, phân ngọa cụ. Nên sai người phân phòng xá, phân ngọa cụ bằng bạch nhị yết-ma.”
Người  có năm  pháp  sau  đây  không  nên  sai  phân  chia  phòng  xá, ngọa cụ: thiên vị, hay giận, nhát sợ, ngu si, không biết nên chia hay không nên chia. 
Người có năm pháp sau đây nên sai phân chia phòng xá, ngọa cụ: không  thiên vị, không hay giận, không sợ, không si, biết nên chia hay không nên chia. Tăng nên sai một vị có khả năng yết-ma, hoặc là bậc Thượng tọa hay  thứ tọa, tụng  (thuộc)  luật được  hay không tụng (thuộc) luật được, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp  thuận sai tỳ-kheo  tên... chia ngọa cụ, phòng xá. Đây là lời tác bạch.
“Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tăng  sai Tỳ-kheo...  chia phòng  xá, ngọa cụ. Các  trưởng  lão nào  chấp  thuận Tăng sai Tỳ-kheo...  chia  phòng  xá, ngọa cụ  thì  im lặng. Vị nào không đồng ý thì xin nói.
“Tăng đã chấp thuận sai Tỳ-kheo... chia phòng xá, ngọa cụ rồi. Tăng  chấp  thuận nên  im lặng. Việc  này  tôi  ghi nhận như vậy.”
2. Sai người phân chia phòng xá, ngọa cụ rồi, nên đếm số tỳ-kheo, đếm số phòng xá, số ngọa cụ. Vị kia nên hỏi bao nhiêu phòng có người ở, bao nhiêu phòng  trống, bao nhiêu phòng có ngọa cụ, bao nhiêu  phòng  không  có  ngọa cụ,  bao  nhiêu  phòng  có  chăn,  bao nhiêu  phòng  không  có  chăn,  bao  nhiêu  phòng  có lợi dưỡng,  bao nhiêu phòng không có lợi dưỡng, bao nhiêu phòng có đồ vật, bao nhiêu phòng không có vật dụng, bao nhiêu phòng có đàn-việt thí y, bao  nhiêu  phòng  không  có  đàn-việt  thí  y,  bao  nhiêu  phòng có

* Trang 1324 *
device

phước nhiêu, (1) bao nhiêu phòng không có phước nhiêu, ai  là người kinh dinh phòng chủ. (2) Nếu có người kinh dinh thì nên hỏi, “Trưởng lão muốn  trụ nơi phòng nào? Không  trụ  [831b] nơi phòng nào?”(3)
Vị  kia  biết  rõ số lượng  phòng  xá,  ngọa cụ rồi,  đến  trước Thượng tọa thưa:
“Đại đức Thượng tọa, phòng xá  như vậy, ngọa cụ như vậy,  tùy  ý Thượng tọa nhận lấy phòng xá nào?”
Trao phòng cho Thượng tọa rồi, kế đến vị Thượng tọa thứ hai, thứ ba,  thứ tự cho đến vị hạ tọa cuối cùng. Nếu có dư phòng hay ngọa cụ  thì nên từ Thượng tọa phân lại. Có dư nữa  thì cũng từ Thượng tọa phân lại. Nếu có dư nhiều  thì nên để dành phần cho khách tỳ-kheo đến. Có khách tỳ-kheo đến  thì nên phân. Ác tỳ-kheo đến  thì không nên phân. Thiện tỳ-kheo đến thì nên phân. Nếu có dư thì để dành. Trường hợp để dành phòng thì không được ngăn. Ai ngăn sẽ như pháp trị.
Bấy  giờ,  có tỳ-kheo  nhận  phải  phòng hư mục,  có  ý  nghĩ:  “Phòng này phải tu sửa, ta không nên nhận.” Các tỳ-kheo liền bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn dạy: “Nên nhận, rồi theo khả năng tu sửa lại.”
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo  phân  chia  nhà hội của Tăng, (4) hoặc  nhà tắm nóng, (5) hoặc hạ  đường, (6) hoặc  nhà  kinh  hành,  khách tỳ-kheo  đến
_________________
(1) Phước nhiêu 福饒. Không rõ vật gì. Xem cht. 1, tr.1811, Phần III, ch.XVIII, 1. Khách tỳ-kheo. Cf. Tùy cơ yết-ma sớ tế duyên ký 3 ( Vạn 41, tr. 277b19): “ Phước nhiêu, nghĩa là Tăng thọ dụng, đem phước mà nhiêu ích cho đàn-việt”. Giải thích này chưa đáng tin cậy.
(2) Chỉ tỳ-kheo giám sự, quản lý phòng ốc của tinh xá.
(3) Tỳ-kheo giám sự được ưu tiên tự chọn phòng. Xem Phần IV, Ch. i “Phòng xá”, mục 16 “Tỳ-kheo tri sự.”
(4) Tăng tập xứ 僧集處;  có lẽ tương  đương Pāli:  upaṭṭhānasālā,  phòng họp của Tăng, đồng thời là nhà của thị giả, hay cúng dường thất.
(5) Ôn thất 溫室; nhà tắm nóng. Cũng chỉ chung nhà tắm.
(6) Hạ đường 夏堂; nhà mùa mưa (?). Có lẽ tương đương Pāli: vaccakuṭi, nhà cầu, nhưng bản Hán đọc là vassa-kuṭi, nhà mùa Hạ.

* Trang 1325 *
device

không có phòng ở. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Phật.
Đức Phật dạy: “Không nên phân chia nhà hội của Tăng, hay nhàtắm nóng, hoặc hạ đường, hoặc nhà kinh hành. Hoặc gác dưới  là chỗ Tăng tập hợp thì gác trên nên chia cho Tăng ở. Nếu gác trên  là chỗ Tăng tập hợp thì nhà gác dưới nên chia cho Tăng ở.”
3. Các tỳ-kheo đi xem khắp phòng xá, thấy một cái hang nơi a-lan-nhã,  bèn  nghĩ:  “Ta sẽ  an cư nơi  hang  này.” Sau đó lại  có  các tỳ-kheo khác  thấy cái  hang a-lan-nhã  này, cũng lại  nghĩ: “Ta nên an cư nơi đây.” Trong vòng mười sáu ngày đầu đã có số đông tỳ-kheo cùng tập hợp ở nơi hang này, vì chật hẹp nên sanh nhiều tật bệnh. Các tỳ-kheo bạch đức Thế Tôn. Ngài dạy: “Nếu tỳ-kheo muốn an cư một chỗ như vậy, vị  nào đến đó  trước, phải  làm dấu,  hoặc  làm dấu bằng  tay,  hoặc vẽ  vòng  tròn,  hoặc tượng Ma-hê-đà-la,(1) hoặc hình lượn sóng, hoặc hình dây nho, hoặc làm cái hoa, hoặc vẽ năm sắc, hoặc viết  tên mình...  là muốn an cư nơi đây.”
Đức Phật cho phép ai  làm dấu báo hiệu như vậy trước thì người đó ở. Tỳ-kheo trụ nơi đây, khi đi không xóa tên, hay dấu hiệu; các tỳ-kheo khác thấy, đã có người chiếm trước rồi nên không dám ở. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không nên không xoá tên hay dấu hiệu mà bỏ đi.”
3. Phân ngọa cụ
[831c] 1  . Bấy giờ nhân dân vùng biên quốc  làm phản, vua Ba-tư-nặc đích thân cầm quân đến chinh phạt. Các tỳ-kheo đến vùng biên quốc, nơi đó phòng xá chật hẹp, không đủ dung chứa. Các tỳ-kheo nói như vầy: “Phải chi đức Phật dạy chúng  ta nên phân chia ngọa cụ.” Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép phân chia bằng giường nằm. Nếu không đủ thì chia đều giường dây. Nếu vẫn không đủ thì chia đều chỗ ngồi.”
 _____________________                                        
(1) Ma-hê-đà-la摩醯陀羅. Skt. Mahīdhara  (?):  trì  địa  (một  biệt hiệu của Viṣnu); hoặc hình một ngọn núi.

* Trang 1326 *
device

Tỳ-kheo  kia  di  chuyển  giường cố  định,  chăn mền,  ngọa cụ nơi phòng  này  đến  các  phòng  khác. Các tỳ-kheo  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được di chuyển.”
Có  phòng  nhiều  ngọa cụ,  có  phòng  ít  ngọa cụ. Các tỳ-kheo  đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho  phép  các tỳ-kheo  nói với vị cựu  trú,  hoặc vị  chủ  phật-đồ, (1) hoặc  nhờ  người  tri sự.  Trường hợp  ba  tháng  an cư  nhận  được phòng  như vậy  thì  nên  nói với  các vị  trên, rồi  sau  đó mới  di chuyển.”
Các tỳ-kheo không hoàn ngọa cụ lại nơi phòng cũ, bỏ đi. Tỳ-kheo đến sau, tưởng là ngọa cụ của phòng này bèn xử dụng. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Không nên không hoàn ngọa cụ lại nơi phòng cũ mà bỏ đi. Phải hoàn lại  ngọa cụ  cho  phòng cũ  trước  khi  đi. Không vậy, sẽ  như pháp trị.”
Bấy giờ có phòng xá bị hư  hoại. Các tỳ-kheo e ngại, vì đức Phật không cho phép di chuyển ngọa cụ từ phòng này đến phòng khác. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đức Phật. Đức Phật dạy: “Nếu phòng xá bị hư hoại thì cho phép dời ngọa cụ phòng này qua các phòng khác.”
Ngọa cụ được dời mà không dùng nên bị sâu trùng phá hư nát. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nên xử dụng ngọa cụ ấy.”
Khi  đức  Phật  cho  phép xử dụng,  có vị lại  không  dùng rửa  chân, không dùng  lau chân, mà dùng  làm áo  lót  thân. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nên dùng rửa chân, lau chân và không nên làm áo lót.
Các tỳ-kheo  e  ngại  vì  đức  Phật dạy  không  được  làm  áo  lót  nên không  dám  xúc  phạm bằng  tay  chân.  Các tỳ-kheo  đem  việc  này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ đầu gối trở lên, từ nách trở xuống không được lót thân, chứ tay chân xúc chạm không sao.”
__________________
(1) Phật-đồ chủ 佛圖主. Tức tháp chủ. Cf. Trung A-hàm, kinh 130.

* Trang 1327 *
device

Bấy giờ các đàn-việt bố thí áo lót cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo cẩn thận  không  dám  nhận,  vì  đức  Phật  không  cho  phép  dùng  áo  lót thân. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Đàn-việt dâng cúng, cho phép tùy ý nhận.”
Có vị sửa chữa phòng xá rồi, không đem ngọa cụ của phòng này trả lại chỗ cũ. Các tỳ-kheo đem việc này [832a1] bạch Phật. Đức Phật dạy: “Sửa  chữa  phòng  xá rồi  nên  trả  ngọa cụ  trước  đó  di  chuyển  đến phòng khác trở về lại chỗ cũ. Không vậy, sẽ như pháp trị.” Có tỳ-kheo  di  chuyển  ngọa cụ nơi  chùa  này  đem  đến  các  chùa khác. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Không được di chuyển ngọa cụ chùa này đem đến các chùa khác.” Trường hợp vì sự khủng bố hoặc oan gia, hoặc nhân dân phản loạn, hoặc quốc ấp bị phá hoại, nhân dân bị phá tán, trú xứ cũng hư hoại; các tỳ-kheo e ngại vì đức Phật không cho phép dời ngọa cụ cố định nơi chùa này đến chùa khác. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu có sự khủng bố, oan gia, hoặc quốc ấp phản  loạn, nhân dân phá  tán,  trú xứ cũng hư hoại,  thì cho phép di chuyển ngoạ cụ đến nơi khác.”
Khi dời  ngọa cụ,  các tỳ-kheo  e  ngại  vì  đức  Phật dạy  không  cho phép dùng ngọa cụ của Tăng lót thân nên không cất giữ tốt. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Tùy nghi cất dấu và di chuyển. Nếu có các tỳ-kheo nào khác đến hỏi mượn thì không nên trao cho, trừ trường hợp có thể tin, sau này họ có thể trả lại thì nên đưa.”
Trường hợp  sau khi quốc ấp  trở lại  yên bình, nhân dân  trở về lại, nhà chùa phục hồi mà ngọa cụ không được trả lại. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu quốc ấp  trở lại yên bình, nhân dân  trở về lại, nhà chùa phục hồi, thì nên trả lại ngọa cụ cho chùa. Không trả, sẽ như pháp trị.”

* Trang 1328 *
device

Bấy giờ có  trú xứ chúng Tăng bốn phương (1) nhận được nhiều  loại ngọa cụ bất định, giường dây, giường cây,  loại tốt,  loại xấu, chăn mền, gối các loại dệt bằng lông, các thứ trải trên đất, bình nước rửa, gậy, quạt. Các tỳ-kheo không biết nên phân chia như  thế nào, đem thưa hỏi đức Phật. Phật dạy: “Cho phép trao cho các phòng không có ngọa cụ. Nếu còn dư thì từ Thượng tọa chia xuống.”
4. Tiền hậu an cư
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất với Mục-liên muốn cùng đức Thế Tôn an cư. Ngày mười lăm, từ  trú xứ đi, ngày mười bảy mới đến nơi. Không  biết  nên  thế  nào, (2) liền bạch  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo  đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép hậu an cư.”
Có hai cách an cư: tiền an cư và hậu an cư. (3) 
Nếu  tiền  an cư  thì  ở  vào  ba  tháng  trước, hậu  an cư  thì  ở  vào  ba tháng sau.
Các vị  tiền an cư tự tứ. Các vị hậu an cư không biết có được phép tự tứ  hay  không. Các tỳ-kheo  đem  việc  này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép thọ tự tứ nhưng phải ở cho đủ ngày.”
Người tiền an cư tự tứ rồi tính tuổi. Các vị hậu an cư không biết có được  tính  tuổi  hay  không.  Các tỳ-kheo  đem  việc  này bạch  Phật.
Đức Phật [832b] dạy: “Không nên chưa đủ ba tháng mà tính tuổi.”
Các vị  tiền  an cư tự tứ  xong  đuổi  các vị hậu  an cư. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Không được xua đuổi. Cũng không nên đi.”
Các vị tiền an cư tự tứ rồi phân chia các phẩm vật nhận được trong mùa hạ. Các vị hậu  an cư  e  ngại  không  dám  nhận  vì Phật  không
_______________________-
(1) Tứ phươngTăng 四方僧, hay chiêu-đề Tăng, phân biệt với Tăng thường trú.
(2) Vì trễ hạn nhập an cư một ngày.
(3) Xem cht. 1 tr. 1322.

* Trang 1329 *
device

cho phép họ chưa đủ ba tháng mà khất cầu và nhận phẩm vật. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Cho  phép tỳ-kheo  thọ. Nhưng số  ngày  còn  thiếu,  nên  ở lại  cho đủ.”
Các vị  tiền an cư tự tứ rồi phân chia ngọa cụ. Các vị hậu an cư e ngại không dám thọ vì ba tháng chưa đủ. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép thọ, xét theo chuẩn vị lai.”
5. Trú xứ an cư
Bấy giờ các tỳ-kheo an cư nơi chỗ đất trống, bị nắng gió suốt ngày, hình  thể đen đúa, da bị  tróc, nứt nẻ, đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên. Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi: “Tại sao hình thể các ông bị đen đúa, da bị tróc, nứt nẻ, như vậy?”
Các tỳ-kheo bạch Phật: “Vì an cư nơi đất trống cho nên như vậy.”
Đức Phật dạy: “Không nên an cư nơi đất  trống. Từ nay về  sau, cho phép các tỳ-kheo an cư chỗ có che bên trên.”
Các tỳ-kheo an cư trên cây. Từ trên cây đại tiểu tiện xuống. Vị thọ thần nổi  giận,  chê  trách  và  chờ tỳ-kheo sơ hở sẽ  đoạn mạng căn. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy:“Từ  nay về  sau,  không  cho  phép tỳ-kheo  an cư  trên  cây; cũng không  cho  leo  lên  cây  quá  đầu  người.  Không  được  đại  tiểu  tiệnxung quanh làm cho bẩn cây.”(1)
Bấy  giờ  các tỳ-kheo  ở nước Câu-tát-la  du  hành  trong  nhân  gian, trên  đường  đi gặp  phải  thú dữ. Các tỳ-kheo  leo  lên  cây  quá  đầu người,  e  ngại lại  leo  xuống,  vì  nghĩ rằng:  ‘Phật  không  cho  phépchúng ta leo lên cây cao quá đầu người,’ nên bị ác thú làm hại. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, trường hợp vì mạng nạn, tịnh hạnh nạn, được phép leo lên cây cao quá đầu người.”
____________________
(1) Xem Phần I, Ch. vii. Chúng học, điều 94.

* Trang 1330 *
device

Các tỳ-kheo muốn lấy củi khô trên cây. Đức Phật cho phép làm cái móc  móc lấy,  hay  làm  cái  thang  để lấy,  hoặc  dùng  dây cột  kéo xuống  để lấy.  Sau  đó  các tỳ-kheo  e  ngại  không  dám  leo  lên  cây khô. Đức Phật dạy: “Nếu cả thân cây đều khô hết thì cho phép leo.”
Các tỳ-kheo muốn an cư dưới gốc cây, bạch Phật, Phật dạy: “Từ nay về  sau cho phép an cư dưới gốc cây, nếu cây ấy cao quá đầu người và nhánh lá che đủ mát một [832c] chỗ ngồi.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo  dùng  sáp  ong (1) trét  lên  trên bức màn rồi  ngồi trong đó an cư, nghĩ rằng: “Ban đêm chúng  ta ngủ  trong đó. Sáng ngày đem dấu hết. Nếu có người  thấy, họ sẽ gọi chúng  ta  là người được  thần  thông.” Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau không cho phép dùng sáp ong trét lên trên màn rồi an cư  trong đó. Cũng không được dối  trá vì mình mà  thay đổi oai nghi thường.”
Bấy giờ, tỳ-kheo muốn an cư trong một cái nhà nhỏ, đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo an cư trong cái nhà nhỏ, miễn  là đứng dậy không đụng đầu và đủ một chỗ ngồi, đủ để che mưa.”
Các tỳ-kheo muốn an cư  trong hang núi, đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép an cư  trong hang núi, miễn nơi đó đứng dậy không đụng đầu, đủ dung một chỗ ngồi, đủ để che mưa.”
Các tỳ-kheo muốn  an cư  trong  hang  núi tự  nhiên,  đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo an cư trong hang núi tự nhiên, miễn là đứng dậy không đụng đầu, đủ một chỗ ngồi, đủ để mưa.”
Các tỳ-kheo muốn an cư trong hốc cây, đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo an cư trong hốc cây, miễn  là đứng dậy không đụng đầu, đủ một chỗ ngồi, đủ để che mưa.”
__________________
(1) Lạp mật 蠟蜜. Trét sáp ong để nước mưa không thấm ướt? Chi tiết không tìm thấy trong các bộ khác

* Trang 1331 *
device

Tỳ-kheo muốn y nơi người chăn bò (1) để an cư, đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép y nơi người chăn bò để an cư. Trong khi an cư tùy theo sự di chuyển của người chăn bò mà di chuyển theo.” 
Các tỳ-kheo muốn nương nơi  người  ép dầu (2) để  an cư,  đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép nương nơi người ép dầu để an cư. Trong khi an cư, tùy theo sự di chuyển của người ép dầu mà di chuyển.”
Các tỳ-kheo muốn an cư trên thuyền, đến bạch đức Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo an cư trên thuyền. Trong khi an cư, tùy theo sự di chuyển của thuyền mà di chuyển.”
Tỳ-kheo muốn nương nơi  người  thợ  đốn gỗ  để  an cư,  đến bạch Phật. Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo nương nơi người  thợ đốn gỗ để  an cư.  Trong  khi  an cư,  tùy  theo sự  di  chuyển của họ mà  di chuyển.”
Các tỳ-kheo muốn nương nơi  xóm  làng  để  an cư,  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về  sau, cho phép các tỳ-kheo nương nơi xóm  làng để an cư. Trong khi đang an cư, nếu xóm làng [833a1] chia làm hai phần, tùy  theo sự  cung cấp  những vật cần  dùng, nơi  nào  đầy  đủ  thì  di chuyển theo nơi đó để an cư.”
6. Xuất giới
Bấy giờ có đàn-việt thưa thỉnh tỳ-kheo: “Con muốn cúng dường vật thực  và  phòng  xá.” Tỳ-kheo  kia tự  nghĩ:  “Chỗ  đó  xa,  không  thể trong ngày trở về kịp. Đức Phật chưa cho phép nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
______________________
(1) Mục ngưu giả 牧牛者. Pāli: vaja, chuồng bò (hay nhà của người chăn bò). Ngũ phần,  ibid.:  các  trường hợp nương nơi người  chăn dê,  chăn  bò,  đóng  bè,  chèo thuyền. v.v.
(2) Áp du nhân 壓油人(?) Xem Vin. i. 152: sattha, thương đoàn. Phật cho phép y thương đoàn mà an cư; và di chuyển  theo  thương đoàn. Ngũ phần: y cổ khách (lái buôn) an cư.

* Trang 1332 *
device

Đức Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép thọ pháp bảy ngày để ra đi. Nhưng không nên chỉ vì vấn đề ăn uống mà thọ pháp bảy ngày để ra đi, trừ khi có nhân  duyên  khác. Nếu  đi  vì  y  bát, tọa cụ, ống  đựng  kim  cho  đến thuốc men, mãn ngày thứ bảy nên trở về.”
Bấy  giờ  các tỳ-kheo  thưa  thỉnh  các  trưởng  lão tỳ-kheo  khác: “Chúng  tôi mắc tội Tăng  tàn,  xin  vì  chúng  tôi  trị  pháp  phú  tàng, bổn  nhật  trị,  ma-na-đỏa,  xuất tội.”  Các vị tự  nghĩ:  “Nơi  đó  xa không  thể về kịp  trong  ngày.  Đức  Phật  chưa  cho  phép  có  nhân duyên  như vậy  được  đi.” Các tỳ-kheo  đem  nhân  duyên  này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Khi có sự việc như vậy, cho phép thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni  thưa thỉnh các  trưởng  lão tỳ-kheo: “Chúng con mắc tội Tăng  tàn, xin  vì chúng con  tác pháp ma-na-đỏa, xuất tội.” Các vị tự nghĩ: “Nơi đó xa không  thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.”
Có  thức-xoa-ma-na  thỉnh tỳ-kheo  trưởng  lão,  thưa:  “Chúng  con phạm giới. Cho chúng con sám hối, hoặc  thọ giới lại. Hay  thọ đại giới.” Các vị tự nghĩ: “Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.”
Các sa-di mời  trưởng  lão tỳ-kheo đến để  thọ giới. Các vị tự nghĩ: “Nơi đó xa không  thể về kịp  trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.”
Có sa-di-ni mời các Đại đức tỳ-kheo đến để thọ sáu pháp. Các vị tự nghĩ: “Nơi đó xa không  thể về kịp  trong ngày. Đức Phật chưa cho

* Trang 1333 *
device

phép  có  nhân  duyên  như vậy  được  đi.”  Các tỳ-kheo  đem  nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày trở lại.”
Bấy  giờ  có vị  đại  thần  không  có  tín  tâm, mời  Đại  đức tỳ-kheo [833b] đến, “Tôi muốn gặp.” Tỳ-kheo nghĩ, “Nơi đó xa không  thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được  đi.” Các tỳ-kheo  đem  nhân  duyên  này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Nếu hữu ích, chứ không phải vô ích. Đủ bảy ngày trở lại.”
Có vị đại  thần có  tín  tâm, mời Đại đức tỳ-kheo, “Tôi muốn gặp.” Tỳ-kheo nghĩ, “Nơi đó xa không  thể về kịp  trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Vì người ưu-bà-tắc có tín tâm này hoặc bệnh hay có các việc  lo buồn, hoặc vì lợi dưỡng. Đủ bảy ngày nên trở về lại.”
Bấy giờ, có cha mẹ không có  tín  tâm mời Đại đức Tỳ-kheo, “Tôi muốn gặp.” Tỳ-kheo nghĩ, “Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Vì để giáo hoá khiến cho người không có  tín  tâm kia  sanh  tín tâm; có ác giới khiến cho trì giới; có xan tham khiến cho họ bố thí; vô trí khiến cho có trí. Đủ bảy ngày trở về lại.”
Có  trường hợp cha mẹ có  tín  tâm sai người đến  thỉnh Đại đức tỳ-kheo, “Tôi muốn gặp.” Tỳ-kheo nghĩ, “Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Nếu vì cha mẹ có tín tâm bị bệnh hoặc có các việc lo buồn, hoặc có việc lợi ích. Đủ bảy ngày trở lại.”
Trường hợp có bà mẹ thỉnh Đại đức tỳ-kheo, “Tôi muốn gặp.” Tỳ-

* Trang 1334 *
device

kheo nghĩ, “Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.”
Trường hợp có người cha thỉnh tỳ-kheo cũng như vậy; anh em, chị em các thân lý tri thức cũng như vậy.(1)
Trường hợp có tỳ-kheo tụng  sáu mươi  thứ kinh, (2) như kinh “Phạm động,”(3) vì  tìm cầu người đồng tụng nên muốn du hành  trong nhân gian. Tỳ-kheo nghĩ, “Nơi đó xa không  thể về kịp  trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.”
Bấy giờ, có tỳ-kheo  tri sự có  [833c] công việc cần vào  trong rừng Cây (4) một thời gian, tự nghĩ rằng: “Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật  chưa  cho  phép  có  nhân  duyên  như vậy  được  đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để rađi. Đủ bảy ngày nên trở lại.”
Bấy giờ nhân dân vùng biển quốc nổi  loạn, vua Ba-tư-nặc tự cầm quân  đến  để  chinh  phạt. Vua  cúng dường Phật  và  chúng Tăng  y, chăn mền,  thức ăn và vật dụng cần dùng. Vị đại  thần không có tín tâm bèn tước đoạt, không trao cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo muốn đến báo cho vua biết nhưng lại nghĩ:  “Nơi đó xa không  thể về kịp  trong ngày. Đức Phật chưa cho phép có nhân duyên như vậy được đi.”
_____________________
(1) Cf. Mahāvagga  iii  (Vin.i. 139): có bảy hạng người, khi có việc cần và họ yêu cầu, tỳ-kheo được đi trong vòng bảy ngày: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.
(2) Thập tụng 24 (tr.174b18) liệt kê 17 kinh.
(3) Trường A-hàm 1, kinh số 21; cf. Pāli, Dīgha-kāya 1. Brahmajāla.
(4) Cf. Vin. i. 148: Chùa bị hư. Có cư sĩ cung cấp cho Tăng một số vật liệu đã đốn ở trong rừng. Tỳ-kheo vào rừng để vận chuyển về.

* Trang 1335 *
device

Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.”
Bấy  giờ,  vua Ba-tư-nặc tự cầm  quân  chinh  phạt số  nhân  dân nổi loạn nơi biên giới, vị đại  thần không có  tín  tâm, với ác  tâm đố kị, muốn  đào một  con  kênh  thông  qua Kỳ-hoàn. (1) Tỳ-kheo muốn  đến báo cáo với vua nhưng lại nghĩ: “Nơi đó xa không thể về kịp trong ngày. Đức Phật  chưa  cho  phép  có  nhân  duyên  như vậy  được  đi.” Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, thọ pháp bảy ngày để ra đi. Đủ bảy ngày nên trở lại.”
Lúc bấy giờ có đàn-việt sai người đến thỉnh Đại đức tỳ-kheo đến để cúng dường  thức  ăn  và  phòng  xá, tỳ-kheo tự  nghĩ:  “Nơi  đó  xa không  thể về kịp  trong  ngày.  Đức  Phật  chưa  cho  phép  có  nhân duyên  như vậy  được  đi.” Các tỳ-kheo  đem  nhân  duyên  này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, cho phép, có việc như vậy, cho phép thọ pháp quá bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một tháng, bằng pháp bạch nhị yết-ma để đi.”
Chúng Tăng sai một vị có khả năng  tác yết-ma, hoặc Thượng tọa, thứ tọa, tụng  luật  được  hay  không tụng  luật  được mà  có  thể  tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận  cho tỳ-kheo  tên  là...  thọ  pháp quá bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một  tháng,  để  ra ngoài giới vì công việc như vậy, như vậy... Xong việc sẽ trở về trong giới để an cư. Đây là lời tác bạch.
“Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  tên  là...  thọ  pháp quá bảy  ngày,  hay mười lăm  ngày,  hoặc một  tháng,  ra ngoài giới vì công việc như vậy... Xong việc sẽ  trở về  trong giới để an cư. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng cho phép tỳ-
___________________
(1) Xem Phần I, Ch. v. ba-dật-đề, điều 49 (mục Duyên khởi).

* Trang 1336 *
device

kheo  tên  là...  thọ pháp quá bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một tháng, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. 
“Tăng  đã  đồng  ý  cho tỳ-kheo  tên  là...  thọ  pháp  quá bảy ngày, hoặc mười lăm ngày, hay một tháng, để ra ngoài giới làm  công  việc  như vậy.  Xong  việc sẽ  trở về  đây  an cư [834a1] rồi. Tăng  đồng  ý  nên  im lặng.  Việc  này  tôi  ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo khiến  tín sứ  thỉnh tỳ-kheo, thọ yết-ma quá bảy ngày cũng như vậy. Tỳ-kheo-ni thỉnh tỳ-kheo, thọ yết-ma cũng như vậy. Sa-di thỉnh tỳ-kheo,  thọ  giới cũng  như vậy.  Sa-di-ni  thỉnh tỳ-kheo,  thọ yết-ma quá bảy ngày cũng như vậy. Đại thần bất tín thỉnh tỳ-kheo, thọ pháp yết-ma quá bảy ngày cũng như vậy. Đại  thần có  tín  tâm, yết-ma cũng như vậy. Cha mẹ không  tín  tâm, cha mẹ  tín  tâm, anh em, chị em, các  thân  lý  tri  thức, tỳ-kheo tụng  sáu mươi  loại kinh, tỳ-kheo kinh dinh, đại thần không tín tâm đoạt vật cúng dường, đào kênh  xuyên  qua, (1) cũng  như vậy. Tất cả  pháp  thọ yết-ma  quá bảy ngày đều đồng như trên.
7. Phá hạ
Thế Tôn ở tại nước Câu-thiểm-di. Có đại thần dũng kiện, đánh giặc giỏi, đến chỗ đức Phật với  tín  tâm xuất gia  làm đạo. Bấy giờ, vua Ưu-điền bảo rằng: “Tại sao ông không bỏ đạo, để cùng vợ ông tạo ra nhà cửa, ruộng vườn, của cải, vật báu?” 
Tỳ-kheo tự  nghĩ:  “An cư tại  đây  có  thể  nguy  hiểm  cho tịnh hạnh của ta.” 
Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Bấy giờ, có tỳ-kheo đang an cư tại một  trú xứ nọ, có đàn bà chưa chồng đến cám dỗ tỳ-kheo, nói rằng: “Sao thầy không  thôi  tu? Tôi
__________________
(1) Như các nhân duyên thọ pháp bảy ngày kể trên.

* Trang 1337 *
device

sẽ làm vợ thầy.” Tỳ-kheo tự nghĩ: “An cư tại đây có thể nguy hiểm cho tịnh hạnh của ta.” 
Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Tỳ-kheo an cư tại một  trú xứ nọ, có dâm nữ đến cám dỗ tỳ-kheo, nói rằng: “Sao thầy không thôi tu? Tôi sẽ  làm vợ  thầy. Hoặc tôi gả con gái cho thầy.” 
Tỳ-kheo tự  nghĩ:  “An cư tại  đây  có  thể  nguy  hiểm  cho tịnh hạnh của ta.” 
Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Bấy giờ, có tỳ-kheo đang an cư tại trú xứ, có huỳnh môn vì tham ái tỳ-kheo  nên  đến  kêu gọi tỳ-kheo  cùng  làm  chuyên bất tịnh hạnh. Tỳ-kheo tự  nghĩ:  “An cư tại  đây  có  thể  nguy  hiểm  cho tịnh hạnh của ta.” Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Có tỳ-kheo đang an cư tại  trú xứ, quỷ  thần nói với tỳ-kheo: “Nơi đây có kho tàng chôn dấu.” Tỳ-kheo tự nghĩ: “An cư tại đây [834b] có  thể nguy  hiểm cho  tính mạng của  ta.” Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Bấy  giờ,  có tỳ-kheo  đang  an cư nơi  trú xứ,  quỷ  thần muốn  đoạn mạng sống tỳ-kheo nên rình chờ sơ hở. Tỳ-kheo tự nghĩ: “An cư tại đây  có  thể  nguy  hiểm  cho  tính mạng của  ta.” Tỳ-kheo  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Có tỳ-kheo  đang  an cư nơi  trú xứ,  có bọn  giặc muốn  đoạn mạng sống tỳ-kheo nên rình, chờ cơ hội thuận tiện. Tỳ-kheo tự nghĩ: “An cư tại  đây  có  thể  nguy  hiểm  cho  tính mạng của  ta.” Tỳ-kheo  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Có tỳ-kheo  an cư nơi  trú xứ, rắn  độc  hung dữ,  rình cơ hội  thuận tiện sẽ  đoạn mạng sống. Tỳ-kheo tự  nghĩ:  “An cư tại  đây  có  thể nguy  hiểm  cho  tính mạng của  ta.” Tỳ-kheo  đến bạch  Phật.  Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”

* Trang 1338 *
device

Có tỳ-kheo an cư nơi trú, các thú dữ hung dữ, rình cơ hội thuận tiện để  đoạn mạng căn. Tỳ-kheo tự  nghĩ:  “An cư tại  đây  có  thể  nguy hiểm cho tính mạng của ta.” Tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có nạn sự như vậy thì nên bỏ đi. “
Có tỳ-kheo an cư nơi  trú xứ không được như ý đối với vấn đề ăn uống, thuốc men không đủ, người giúp việc không như ý. Vị kia tự nghĩ:  “Ta  nên  làm  thế  nào  đây?” Tỳ-kheo  liền bạch  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu tỳ-kheo an cư chỗ mà ăn uống không được như ý, thuốc men không có dùng, người giúp việc không theo ý muốn, thì nên bỏ đi.”
Tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, chỗ đi kinh hành có nhiều loại trùng độc. Tỳ-kheo  kia  có tập  quán  kinh  hành;  vì  kinh  hành  thì cơ  thể  khỏe mạnh,  không  kinh  hành  thì  không  bình  an. Tỳ-kheo  kia tự  nghĩ: ‘Sống ở  đây sẽ  tai hại  cho mạng căn.’ Nghĩ  xong  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có việc nạn sự như vậy thì nên bỏ đi.”
Bấy  giờ  có tỳ-kheo  an cư nơi  trú xứ,  thấy  có tỳ-kheo  đang tạo phương tiện phá Tăng vị kia nghĩ: “Phá Tăng là việc làm rất xấu ác. Ta không  nên dự  vào việc  này. Ta nên  làm  thế  nào đây  ?” Vị ấy liền bạch  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo  đem  việc  này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu tỳ-kheo  an cư nơi  trú xứ,  thấy  có tỳ-kheo  đang vận  động phương  tiện  phá Tăng; vị  ấy  [834c]  nghĩ:  ‘Tăng vỡ  là  việc rất nghiêm trọng, rất xấu ác. Ta không nên dự vào việc phá Tăng.’ Tỳ-kheo kia nên vì việc này mà bỏ đi.”
Có tỳ-kheo  an cư nơi  trú xứ,  thấy  có tỳ-kheo-ni  đang vận  động phương  tiện phá Tăng, vị kia nghĩ:  ‘Phá Tăng  là  việc  làm rất xấu ác. Ta không nên dự vào việc này.’ Vị kia  liền vì việc này mà bỏ đi. 
Có tỳ-kheo đã an cư nơi trú xứ rồi, nghe có tỳ-kheo đang vận động phương  tiện  phá Tăng. Vị  kia  nghĩ:  ‘Tăng vỡ  là  việc rất  nghiêm trọng, rất xấu ác. Ta chớ nên dự vào việc này.’ Vị kia  liền vì việc này mà bỏ đi.

* Trang 1339 *
device

Có tỳ-kheo  đã  an cư nơi  trú xứ rồi,  nghe  có tỳ-kheo-ni  đang vận động  phương  tiện  phá Tăng. Vị  kia  nghĩ:  ‘Tăng vỡ  là  việc rất nghiêm  trọng, rất xấu  ác. Ta  không  nên dự  vào việc  này.’ Vị  kia liền vì việc này bỏ đi. 
Bấy  giờ,  có tỳ-kheo  an cư nơi  trú xứ,  nghe tỳ-kheo  kia  muốn phương  tiện  phá Tăng. Vị  kia  nghĩ:  ‘Nếu  ta  đến can  gián,  la rầy, chắc họ sẽ nghe lời  ta mà đình chỉ việc phá Tăng.’ Vị kia lại nghĩ:
‘Nếu  ta tự  đến,  có  thể họ  không  nghe lời  ta  chấm dứt  việc  phá Tăng. Ta có  thân hữu có  thể chấm dứt việc phá Tăng kia. Nếu  ta nói, chắc họ sẽ vì lời  nói của  ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia. Vậy  ta nên như  thế nào đây?’ Vị ấy  liền nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:   “Nếu tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, nghe có tỳ-kheo muốn phương tiện phá Tăng, tỳ-kheo  nghĩ:  ‘Nếu  ta  đến  can  gián,  la rầy,  chắc họ sẽ nghe lời  ta mà đình chỉ việc phá Tăng.’ Vị kia lại nghĩ: ‘Nếu  ta tự đến,  có  thể họ  không  nghe lời  ta  chấm dứt  việc  phá Tăng. Ta  có thân hữu có thể chấm dứt việc phá Tăng kia. Nếu ta nói, chắc họ sẽ vì lời nói của ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia.’ Ngay  lúc đó, tỳ-kheo ấy nên vì sự việc này mà đi. 
Có tỳ-kheo an cư nơi trú xứ, nghe kia có tỳ-kheo-ni đang vận động phương  tiện phá Tăng, tỳ-kheo nghĩ:  ‘Nếu  ta đến can gián,  la rầy, chắc họ sẽ nghe lời  ta mà đình chỉ việc phá Tăng.’ Vị kia lại nghĩ:
‘Nếu  ta tự  đến,  có  thể họ  không  nghe lời  ta  chấm dứt  việc  phá Tăng. Ta có  thân hữu có  thể chấm dứt việc phá Tăng kia. Nếu  ta nói, chắc họ sẽ vì lời nói của  ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia.’ Tỳ-kheo ấy nên vì sự việc này mà đi. 
Có tỳ-kheo  trong khi an cư nghe Tăng kia bị vỡ  liền nghĩ: ‘Nếu  ta đến can gián,  la rầy, chắc họ sẽ  nghe lời  ta mà  đình chỉ  việc phá Tăng.’ Vị kia lại nghĩ: ‘Nếu  ta tự đến, có thể họ không nghe lời  ta chấm dứt việc phá Tăng. Ta có thân hữu có thể chấm dứt việc phá Tăng kia. [835a1] Nếu ta nói, chắc họ sẽ vì lời nói của ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia.’ Tỳ-kheo ấy nên vì việc này mà đi.

* Trang 1340 *
device

Có tỳ-kheo  trong khi an cư nghe tỳ-kheo-ni Tăng kia bị vỡ, nghĩ: ‘Nếu ta đến can gián, la rầy, chắc họ sẽ nghe lời ta mà đình chỉ việc phá Tăng.’Vị kia lại nghĩ: ‘Nếu ta tự đến, có thể họ không nghe lời ta chấm dứt việc phá Tăng. Ta có  thân hữu có  thể chấm dứt việc phá Tăng kia. Nếu ta nói, chắc họ sẽ vì lời nói của ta mà chấm dứt việc phá Tăng kia.’ Vị kia nên vì việc này mà đi.” 
Bấy giờ có tỳ-kheo  thọ pháp bảy ngày  ra ngoài cương giới, bị mẹ giữ lại, mặc dù với ý muốn về mà vẫn không kịp. Vị ấy nghĩ: “Như vầy  ta có bị mất hạ hay không?” Vị ấy  liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không mất tuổi hạ.”
Đối với  cha mẹ, (1) anh  em,  chị  em, vợ cũ,  hoặc  người  trước  kia tư thông, hoặc nạn do dạ xoa quỷ thần cũng như vậy. 
Có tỳ-kheo  thọ  pháp bảy  ngày  ra  ngoài cương  giới bị  đường bộ, đường nước  không  thông,  hoặc bị nạn  giặc cướp, hổ  lang, sư tử, bèn  nghĩ:  “Ta có bị mất  tuổi hạ  hay không?” Vị  ấy  liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không mất tuổi hạ.”
8. Ước định an cư
1. Phật ở vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-thiểm-di. Bấy giờ vua Ưu-đà-diên (2) là bạn thân quen của Bạt-nan-đà Thích tử, mời Bạt-nan-đà hạ an cư. Bạt-nan-đà đã kết an cư nơi nước Câu-thiểm-di. Nghe trú xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng, nhiều y vật, liền đến nơi trú xứ đó một  thời  gian  ngắn rồi  trở lại  Câu-thiểm-di.  Vua Ưu-đà-diên nghe rồi cơ hiềm nói: “Bạt-nan-đà Thích tử  đã  nhận lời mời  an cư của  tôi nơi  đây. Sao nghe  trú xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng, nhiều y vật,  liền đến nơi trú xứ kia ở; rồi lại trở về nơi đây?”
___________________                                        
(1) Cf. Vin.  i. 148: Xuất giới 7 ngày vì người đời dù họ  tin Phật hay không: mẹ, cha, anh em, chị em, thân tộc (nātāka) và bạn cũ (bhikkhugatika).
(2) Vương Ưu-đà-diên 王憂陀延 Pāli: Udena, quốc vương Kosambī. Ngũ phần 19, tr.129b28:  trưởng giả Ưu-đà-diên 長者名憂陀延.

* Trang 1341 *
device

Các tỳ-kheo nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống khổ hạnh, biết hổ thẹn, ưa học giới, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử: “Sao thầy hạ an cư nơi kia, nghe  trú xứ khác  nhận được  nhiều lợi dưỡng,  y vật, lại đến đó ở một thời gian ngắn; rồi trở về nơi đây?” Vị ấy đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Phật đầy đủ.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương  tiện quở  trách Bạt-nan-đà: “Ông  là người không biết gì, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên  làm. Này Bạt-nan-đà, sao ông [835b] hạ an cư nơi Câu-thiểm-di; nghe trú xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng, nhiều y vật, đến đó ở; rồi lại trở về Câu-thiểm-di?” 
Quở  trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo: “Nếu tỳ-kheo nào  thọ  tiền an cư nơi trú xứ này, nghe nơi trú xứ khác nhận được nhiều lợi dưỡng, liền đến nơi kia; tỳ-kheo đó không được nhận  tuổi hạ của  tiền an cư. Vì trái với điều bạch trước kia, mắc tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời mời của người tiền an cư nơi đây, đến ngoài giới bố-tát xong (1) rồi đi đến chỗ khác, (2) tỳ-kheo này phá  tiền an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc tội. 
___________________
(1) Ngày 15 bố tát, hôm sau ngày 16 thọ pháp an cư.
(2) Tham chiếu Pāli  (Vin.  i. 154): tỳ-kheo ấy đang đi đến trú xứ  (tiền an cư) này, bèn bố-tát ngoài giới  (trú xứ  tiền an cư), rồi ngày  hôm  sau  đi  đến  trú xứ  khác (cũng để nhận tiền an cư tại đây). Tại trú xứ này, tỳ-kheo nhận phòng xá, v.v. rồi đi  trong ngày, hay ở lại đó vài ngày, hay  sau đó đi cho công việc  thời hạn bảy ngày xuất giới nhưng đi quá: tất cả đều phá  tiền an cư. Nếu đi không quá bảy ngày, không phá tiền an cư. Xem thêm Ngũ phần 19 (tr.130b): Thọ thỉnh tiền an cư. (Ngày 15) Bố-tát xong (ngày 16) liền đến, nhưng giữa đường qua trú xứ khác mà an cư. Phá tiền an cư, cũng không có hậu an cư, đột-kiết-la. Hứa nhận tiền an cư, sau bố tát (ngày 16) mà không đến đó; ngày 17, minh tướng hiện, mất cả tiền và hậu an cư. Hứa đến  thọ tiền an cư, bố  tát xong  liền đến; xuất giới mà không thọ pháp 7 ngày, trong vòng 7 ngày không trở về, tỳ-kheo này không có tiền an cư, mà có hậu an cư.  Xem thêm Thập tụng 24 (tr.177c): tại trú xứ thỉnh

* Trang 1342 *
device

2. Tỳ-kheo  nào  nhận  người  thỉnh  tiền  an cư,  ở  ngoài  giới bố-tát xong, đến chỗ thỉnh; (1) trong ngày  liền bỏ đi, tỳ-kheo đó phá tiền an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời mời  tiền an cư của người, bố-tát ngoài giới xong, đến chỗ thỉnh, nhận phòng xá, ngọa cụ; không có duyên sự gì lại bỏ đi, (2) vị đó phá tiền an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời tiền an cư của người, bố-tát ngoài giới xong, đến trú xứ (an cư), thọ pháp bảy ngày ra ngoài giới với ý muốn trở lại; quá bảy ngày, tỳ-kheo đó phá tiền an cư, trái với điều  tác bạch trước, mắc tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời mời tiền an cư của người, bố-tát ở ngoài giới, bố-tát rồi xong đến trú xứ, thọ pháp bảy ngày ra ngoài giới, đủ bảy ngày  trở về, tỳ-kheo  đó  thành  tiền  an cư,  không  trái với lời bạch trước, không tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời mời tiền an cư của người, bố-tát ở ngoài giới, bố-tát xong đến  trú xứ, hạn sau cùng, (3) thọ pháp bảy ngày ra ngoài giới, tỳ-kheo kia trở lại hay không trở lại trú xứ cũng thành tiền an cư, không trái với lời bạch trước, không tội.
3. Tỳ-kheo nào nhận lời mời  tiền an cư của người, đến  trong giới bố-tát xong rồi đến trú xứ (tiền an cư), trong ngày lại bỏ đi, tỳ-kheo kia phá tiền an cư, trái với lời bạch trước, mắc tội.  Tỳ-kheo nào nhận lời mời tiền an cư của người, đến trong giới bố-tát, bố-tát xong rồi đến trú xứ nhận phòng xá, ngọa cụ, không có lí
________________
tiền an cư mà tỳ-kheo chưa qua bố-tát  (ngày 15 bố  tát, ngày 16  tho an cư), chưa nhận phân phòng xá, nếu xuất giới, chỗ đó không thành tiền an cư.
(1) Thành tiền an cư tại trú xứ đó.
(2) Cf. Pāli, ibid., … bố-tát ngoài giới rồi, đến trú xứ khác, (tại đó) nhận…, không có sự việc gì mà bỏ đi, qua hai hoặc ba ngày: phá tiền an cư.
(3) Mạt hậu 末後, hạn của  mùa  an cư,  còn  không  quá bảy  ngày. Pāli,  ibid., pavāranāya sakaraṇīyo, trước ngày tự tứ, có công việc.

* Trang 1343 *
device

do gì mà bỏ đi, tỳ-kheo kia phá  tiền an cư,  trái với lời bạch  trước, mắc tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời mời tiền an cư của người, đến trong giới bố-tát, bố-tát xong rồi đến  trú xứ, nhận pháp bảy  ngày  ra ngoài giới, với ý muốn trở lại nhưng không kịp bảy ngày, tỳ-kheo này phá tiền an cư, trái với lời bạch trước, mắc tội. 
Tỳ-kheo  nào  nhận lời mời  tiền  an cư của  người,  đến bố-tát  trong giới  xong rồi đến  trú xứ,  thọ pháp bảy  ngày  ra  ngoài giới,  [835c] bảy  ngày  trở về kịp, tỳ-kheo kia không phá  tiền an cư, không  trái với lời bạch trước, không tội. 
Tỳ-kheo nào nhận lời mời  tiền an cư của người, bố-tát  trong giới xong rồi  đến  trú xứ; hạn  cuối  cùng,  thọ  pháp bảy  ngày  ra  ngoài giới,  trở lại  hay không  trở lại  trú xứ vẫn không  phá an cư, không trái với lời bạch trước, không tội.”
Hậu an cư cũng vậy.
4. Bấy  giờ  có tỳ-kheo  nhận lời mời  tiền  an cư của  người,  sau  đó thấy có mạng nạn hoặc tịnh hạnh nạn, vị kia  ý nghĩ,  “Ta nên  làm thế nào đây?” Vị ấy liền báo cáo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu tỳ-kheo ở nơi  trú xứ hoặc  thọ  tiền an cư, hậu an cư mà  thấy có mạng nạn, tịnh hạnh nạn, tỳ-kheo kia tự đến hoặc sai người  tin cậy đến  tin cho đàn-việt biết, yêu cầu dời chỗ. Nếu họ đồng ý  thì tốt. Bằng không, vẫn cứ phải bỏ đi.”

* Trang 1344 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)