LOGO VNBET
CHƯƠNG IV
BA-DẬT-ĐỀ
 
A - THÔNG GIỚI (1)
Một  thời,  đức  Bà-già-bà  ở  trong vườn  Ni-câu-luật,  Thích-súy-sấu, nước Ca-duy-la-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng  những  nhân duyên này (như Tăng) tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo:
“Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
ĐIỀU 1
Tỳ-kheo-ni nào, cố ý nói dối, ba-dật-đề.* (2)
ĐIỀU 2
Tỳ-kheo-ni nào, nói lời mạ nhục, ba-dật-đề.* (3)
ĐIỀU 3
Tỳ-kheo-ni nào, nói lời hai lưỡi (ly gián), ba-dật-đề.* (4)
______________________
(1) Tứ  phần:  178  điều,  có  69  thông  giới,  là  những  điều học  chung  cho cả  hai bộ. Duyên khởi, từ các tỳ-kheo. Xem Phần  I ch. vi.- Những điều  thuộc  thông giới có đánh dấu hoa thị (*). – Ngũ phần: 210 ba-dật-đề 波逸提. Tăng kỳ: 140 ba-dạ-đề 波夜提. Thập tụng: 178 ba-dạ-đề 波夜提. Căn bản ni: 180 ba-dật-để-ca 波逸底迦. Pāli, pācittiyā, 166 điều; trong đó, 70 điều thuộc thông giới không có giới văn.
(2) Xem Phần  I, Ch. v. Ba-dật-đề 1. Văn cú có vài điểm bất đồng về hình  thức; do hành văn của bản Hán.
(3) nt. ba-dật-đề 2.
(4) nt. ba-dật-đề 3

* Trang 863 *
device

ĐIỀU 4
Tỳ-kheo-ni  nào,  ngủ  đêm  chung  phòng với  người  nam,  ba-dật-đề.* (1)
ĐIỀU 5
Tỳ-kheo-ni  nào,  ngủ  đêm  chung  phòng với  người nữ  chưa thọ đại giới, quá ba đêm, ba-dật-đề.* (2)
ĐIỀU 6
Tỳ-kheo-ni nào, cùng tụng pháp với người chưa thọ giới, ba-dật-đề.* (3)
ĐIỀU 7
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết  người  khác  có tội  thô  ác,  đem  nói với người chưa thọ đại giới, ba-dật-đề, trừ tăng yết-ma.* (4) 
ĐIỀU 8
Tỳ-kheo-ni nào,  đối với người  chưa  thọ  đại  giới, mà tự nói rằng  chứng ngộ  pháp  thượng nhân rằng:  ‘Tôi biết  điều  ấy, tôi thấy điều ấy,’ dù là sự thật, ba-dật-đề.* (5)
ĐIỀU 9
Tỳ-kheo-ni nào, nói pháp cho người nam quá năm,  sáu lời, ba-dật-đề. Trừ có mặt người nữ có trí.* (6)
ĐIỀU 10
Tỳ-kheo-ni  nào, tự  tay  đào  đất  hay bảo  người  đào,  ba-dật-đề.* (7)
___________________
(1) nt. ba-dật-đề 4
(2) nt. ba-dật-đề 5
(3) nt. ba-dật-đề 6
(4) nt. ba-dật-đề 7
(5) nt. ba-dật-đề 8
(6) nt. ba-dật-đề 9
(7) nt. ba-dật-đề 10

* Trang 864 *
device

ĐIỀU 11
Tỳ-kheo-ni nào, phá hoại mầm sống cây cỏ, ba-dật-đề.* (1)
ĐIỀU 12
Tỳ-kheo-ni nào, cố ý nói quanh và gây phiền vị khác, ba-dật-đề.* (2)
ĐIỀU 13
Tỳ-kheo-ni nào, chê bai và nói xấu (3) (tri sự Tăng) ba-dật-đề.* (4)
ĐIỀU 14
Tỳ-kheo-ni nào, mang giường nằm, ghế ngồi, hoặc ngọa cụ, nệm  ngồi của Tăng  [735a]  bày  ra  giữa  đất  trống,  hoặc  sai người  bày;  khi bỏ  đi  không tự  mình dọn cất,  không bảo người dọn cất, ba-dật-đề.* (5)
ĐIỀU 15
Tỳ-kheo-ni  nào,  ở  trong Tăng  phòng, tự  mình  hoặc bảo người,  trải  ngọa cụ của Tăng  để  ngồi,  hoặc nằm;  khi  đi không tự mình dọn cất, ba-dật-đề.* (6)
ĐIỀU 16
Tỳ-kheo-ni nào, đã biết đó  là chỗ nghỉ của tỳ-kheo-ni khác, mình đến sau cố chen vào giữa trải ngọa cụ để ngủ nghỉ, với ý nghĩ rằng: ‘người kia nếu hiềm chật  thì sẽ tự tránh đi chỗ khác’;  hành  động  vì  nhân  duyên  ấy  chứ  không  gì  khác, chẳng phải oai nghi, ba-dật-đề.* (7)
____________________________
(1) nt. ba-dật-đề 11
(2) nt. ba-dật-đề 12
(3) Hiềm mạ ( tiếng hoa)
(4) nt. ba-dật-đề 13.
(5) nt. ba-dật-đề 14.
(6) nt. ba-dật-đề 15.
(7) nt. ba-dật-đề 16.

* Trang 865 *
device

ĐIỀU 17
Tỳ-kheo-ni  nào,  giận hờn,  không  ưa tỳ-kheo-ni  khác, tự mình lôi kéo họ ra khỏi Tăng phòng, hay bảo người khác lôi ra, ba-dật-đề.* (1)
ĐIỀU 18
Tỳ-kheo-ni nào, ở  trên tầng gác, nằm hay ngồi  trên giường, ghế bằng chân ráp bị sút ra, ba-dật-đề.* (2) 
ĐIỀU 19
Tỳ-kheo-ni nào,  biết nước  có  trùng, mà tự mình  dùng hoặc bảo người tưới lên bùn hoặc cỏ, ba-dật-đề.* (3)
ĐIỀU 20
Tỳ-kheo-ni nào,  làm phòng xá lớn, cánh cửa, khung cửa sổ, và các đồ trang trí khác, chỉ bảo người lợp tranh, ngang bằng hai, ba lớp. Nếu quá, ba-dật-đề.* (4)
ĐIỀU 21
Tỳ-kheo-ni nào, tại  trú xứ  chỉ  cúng một bữa  ăn, tỳ-kheo-ni không bệnh nên ăn một bữa, nếu thọ nhận quá, ba-dật-đề.* (5)
ĐIỀU 22 
Tỳ-kheo-ni  nào,  ăn  chúng  riêng,  ba-dật-đề. Trừ  các  trường hợp khác  là khi bệnh, thời gian may y,  thời gian  thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại hội, khi sa-môn thí thực. Đó là các trường hợp khác.* (6)
__________________
(1) nt. ba-dật-đề 17.
(2) nt. ba-dật-đề 18.
(3) nt. ba-dật-đề 19.
(4) nt. ba-dật-đề 20.
(5) nt. ba-dật-đề 31.
(6) nt. ba-dật-đề 33.

* Trang 866 *
device

ĐIỀU 23
Tỳ-kheo-ni nào, đến nhà đàn-việt, được ân cần cúng thức ăn, bánh, bột. Tỳ-kheo-ni cần thì nhận hai ba bát, mang về trong chùa,  nên  chia  cho  các tỳ-kheo-ni  khác  cùng  ăn. Nếu tỳ-kheo-ni  không bệnh,  nhận  quá  ba  bát  đem về  trong  chùa, không chia cho các tỳ-kheo-ni khác ăn, ba-dật-đề.*(1)
ĐIỀU 24
Tỳ-kheo-ni nào, ăn phi thời, ba-dật-đề.* (2)
ĐIỀU 25
Tỳ-kheo-ni nào, ăn thức ăn thừa cách đêm, ba-dật-đề.*(3)
ĐIỀU 26
Tỳ-kheo-ni nào,  thức ăn và  thuốc không được  (người khác) trao cho mà đưa vào miệng,  trừ nước và [735b] tăm, ba-dật-đề.*(4)
ĐIỀU 27
Tỳ-kheo-ni nào,  trước đã nhận lời mời rồi, nhưng  trước hay sau bữa ăn đi đến nhà người khác mà không dặn lại tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt là khi bệnh, thời gian may y, thời gian thí y. Đó là trường hợp đặc biệt.*(5)
ĐIỀU 28
Tỳ-kheo-ni nào, trong nhà có ăn, có vật quý mà cố ngồi nán, ba-dật-đề.*(6)
________________________-
(1) nt. ba-dật-đề 34.
(2) nt. ba-dật-đề 37.
(3) nt. ba-dật-đề 38.
(4) nt. ba-dật-đề 39.
(5) nt. ba-dật-đề 42.
(6) nt. ba-dật-đề 43.

* Trang 867 *
device

ĐIỀU 29
Tỳ-kheo-ni  nào,  trong  nhà  có  ăn,  có vật  quý mà  ngồi  chỗ khuất, ba-dật-đề.*(1)
ĐIỀU 30
Tỳ-kheo-ni nào, một mình ngồi với người nam tại chỗ  trống, ba-dật-đề.* (2)
ĐIỀU 31
Tỳ-kheo-ni nào, nói với tỳ-kheo-ni khác như vầy: ‘Đại tỷ, hãy cùng tôi vào xóm, tôi sẽ cung cấp thức ăn cho cô.’ Tỳ-kheo-ni kia  cuối  cùng  không bảo  ai  cho tỳ-kheo-ni này  thức  ăn, lại nói  như vầy: ‘Đại tỷ  hãy  đi  chỗ  khác,  tôi  không  thích  nói chuyện hay ngồi cùng chỗ với cô. Tôi  thích ngồi một mình, nói  chuyện một mình.’  Chỉ với mục  đích  ấy  chứ  không  gì khác, là cố tình đuổi đi, ba-dật-đề.* (3)
ĐIỀU 32
Tỳ-kheo-ni nào,  được  thỉnh cầu  thọ nhận  thuốc bốn  tháng, tỳ-kheo-ni không bệnh nên  thọ. Nếu quá hạn mà nhận, ba-dật-đề. Trừ  trường hợp  thỉnh  thường  xuyên,  thỉnh  tiếp tục, thỉnh chia phần, thỉnh suốt đời.* (4)
ĐIỀU 33
Tỳ-kheo-ni  nào,  đi  xem  quân  trận,  ba-dật-đề. Trừ  có  nhân duyên hợp thời.* (5)
ĐIỀU 34
Tỳ-kheo-ni  nào,  có  nhân  duyên  được  phép  đến  trong  quân
____________________
(1) nt. ba-dật-đề 44
(2) nt. ba-dật-đề 45.
(3) nt. ba-dật-đề 46.
(4) nt. ba-dật-đề 47.
(5) nt. ba-dật-đề 48.

* Trang 868 *
device

trại, ngủ lại hai, ba đêm; nếu quá, ba-dật-đề.*(1) 
ĐIỀU 35
Tỳ-kheo-ni  nào, ngủ  trong  quân  trại hai,  ba  đêm,  hoặc  khi xem quân đội diễn tập, hoặc xem thế lực quân đội, quân voi, quân ngựa, ba-dật-đề.*(2)
ĐIỀU 36
Tỳ-kheo-ni nào, uống rượu, ba-dật-đề.*(3)
ĐIỀU 37
Tỳ-kheo-ni nào, đùa giỡn trong nước, ba-dật-đề.*(4)
ĐIỀU 38
Tỳ-kheo-ni nào, dùng ngón  tay  thọc  lét tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*(5)
ĐIỀU 39
Tỳ-kheo-ni nào, không nhận lời can gián, ba-dật-đề.*(6)
ĐIỀU 40
Tỳ-kheo-ni nào, dọa nạt tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*(7)
ĐIỀU 41
[735c]Tỳ-kheo-ni mỗi nửa  tháng tắm một lần, tỳ-kheo-ni không bệnh nên  thọ  trì. Nếu quá, ba-dật-đề. Trừ  trường hợp đặc biệt là thời gian nóng, khi bệnh, khi làm việc, khi gió lớn và mưa, khi đi xa về. Đó là trường hợp đặc biệt.* (8)
_____________________

(1) nt. ba-dật-đề 49.
(2) nt. ba-dật-đề 50.
(3) nt. ba-dật-đề 51.
(4) nt. ba-dật-đề 52.
(5) nt. ba-dật-đề 53.
(6) nt. ba-dật-đề 54.
(7) nt. ba-dật-đề 55.
(8) nt. ba-dật-đề 56.

* Trang 869 *
device

ĐIỀU 42
Tỳ-kheo-ni nào, không bệnh mà cố ý nhóm lửa nơi đất trống để sưởi  ấm,  hoặc bảo  người  nhóm,  ba-dật-đề.  Trừ  trường hợp đặc biệt.*(1)
ĐIỀU 43
Tỳ-kheo-ni  nào,  giấu  y  bát, tọa cụ,  ống  đựng  kim của tỳ-kheo-ni khác; tự mình giấu, hoặc bảo người dấu, dù chỉ giỡn chơi, ba-dật-đề.* (2)/(3)
ĐIỀU 44
Tỳ-kheo-ni nào, đã tịnh  thí y cho tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,  thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, về  sau  không hỏi  chủ mà lấy lại dùng, ba-dật-đề.* (4)
ĐIỀU 45
Tỳ-kheo-ni  nào,  nhận  được  y mới  nên  dùng một  trong  ba màu xanh, đen, mộc lan để làm cho hoại sắc. Nếu tỳ-kheo-ni nhận được y mới không dùng ba màu hoặc xanh, hoặc đen, hoặc mộc lan để làm cho hoại sắc mà mặc nguyên y mới, ba-dật-đề.*(5)
ĐIỀU 46
Tỳ-kheo-ni  nào, cố  ý  giết  chết mạng sống  loài vật,  ba-dật-đề.*(6)
___________________
(1) nt. ba-dật-đề 57.
(2) nt. ba-dật-đề 58.
(3) Bản Hán, hết quyển 24.
(4) nt. ba-dật-đề 59.
(5) nt. ba-dật-đề 60.
(6) nt. ba-dật-đề 61.

* Trang 870 *
device

ĐIỀU 47
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết nước  có  trùng  mà vẫn uống,  ba-dật-đề.* (1)
ĐIỀU 48
Tỳ-kheo-ni  nào, cố  ý  quấy rầy tỳ-kheo-ni  khác,  khiến  cho không vui dù chỉ trong chốc lát, ba-dật-đề.*(2)
ĐIỀU 49
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết tỳ-kheo-ni  khác  phạm  thô tội mà  che giấu, ba-dật-đề.*(3)
ĐIỀU 50
Tỳ-kheo-ni nào, biết việc  tranh cãi đã như pháp sám hối rồi, sau đó lại khơi dậy, ba-dật-đề.*(4)
ĐIỀU 51
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết  là  giặc cướp mà  làm bạn  cùng  đi một đường, dù chỉ trong khoảng một xóm,[736a] ba-dật-đề.*(5)
ĐIỀU 52
Tỳ-kheo-ni  nào  nói  như vầy:  ‘Tôi  biết  theo  pháp mà  Phật dạy, sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo.’ Các tỳ-kheo-ni kia nên can gián tỳ-kheo-ni này rằng: ‘Đại tỷ, chớ nói như vậy, đừng xuyên tạc đức Thế Tôn, xuyên tạc đức Thế Tôn là không tốt, đức Thế Tôn không nói như vậy! Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  nói rằng  dâm dục  là  pháp chướng đạo, phạm dâm  là pháp chướng đạo.’ Khi được các tỳ-kheo-ni kia can gián, mà tỳ-kheo-ni này kiên trì không bỏ. Các tỳ-kheo-ni nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Nếu đến
_________________________
(1) nt. ba-dật-đề 62.
(2) nt. ba-dật-đề 63.
(3) nt. ba-dật-đề 64.
(4) nt. ba-dật-đề 66.
(5) nt. ba-dật-đề 67.

* Trang 871 *
device

ba lần can gián, bỏ thì tốt, không bỏ, ba-dật-đề.*  (1)
ĐIỀU 53
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết  người  nói  như vậy mà  chưa  được  tác pháp  (giải), có  tà kiến như  thế mà không bỏ, lại nuôi chứa, cùng chung yết-ma, cùng chung chỗ ở, ba-dật-đề.*(2)
ĐIỀU 54
Tỳ-kheo-ni nào, biết sa-di-ni nói như vầy: ‘Tôi biết theo pháp Phật dạy, sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo.’ Các tỳ-kheo-ni  kia  can  gián  sa-di-ni  này rằng:  ‘Ngươi  chớ nói như vậy, đừng xuyên tạc đức Thế Tôn, xuyên tạc đức Thế Tôn là không tốt. Đức Thế Tôn không nói như vậy.’ Này sa-di-ni, đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện nói rằng:  ‘Dâm dục  là  pháp  chướng  đạo,  phạm  dâm dục  là  pháp  chướng đạo.’ Khi được các tỳ-kheo-ni kia can gián, sa-di-ni này kiên trì không bỏ, các tỳ-kheo-ni kia nên can gián ba lần cho bỏ việc này. Cho  đến  ba lần  can  gián, bỏ  thì tốt, không bỏ  thì các tỳ-kheo-ni kia nên nói với sa-di-ni này rằng: ‘Từ nay trở đi cô không phải  là đệ tử của Phật, không được đi  theo các tỳ-kheo-ni khác. Như các sa-di-ni khác, được phép cùng với tỳ-kheo-ni ngủ hai đêm, nhưng nay ngươi không có sự kiện ấy,  ngươi  hãy  đi  ra  khỏi  chỗ  này,  không  được sống  ở  đây nữa!’ Nếu tỳ-kheo-ni  biết  sa-di-ni  đã bị  đuổi  như vậy, mà đem về nuôi, cùng chung ngủ nghỉ, ba-dật-đề.* (3)
ĐIỀU 55
Tỳ-kheo-ni nào,  khi  được  can  gián như  pháp, lại nói rằng: ‘Nay  tôi  không học  điều  giới  này,  cho  đến  khi  nào  tôi nạn
___________________
(1) nt. ba-dật-đề 68.
(2) nt. ba-dật-đề 69.
(3) nt. ba-dật-đề 70.

* Trang 872 *
device

vấn người trì giới có trí tuệ, ba-dật-đề. Nếu vì sự hiểu biết thì nên nạn vấn.* (1)
ĐIỀU 56
Tỳ-kheo-ni  nào,  khi tụng  giới  nói  như vầy: ‘Đại tỷ, tụng những giới vụn vặt này có  ích lợi gì? Khi tụng các giới này chỉ  khiến  cho người  tu  phiền muộn, xấu hổ, hoài nghi.’ Vì khinh chê giới, ba-dật-đề.*(2)
ĐIỀU 57
[736b] Tỳ-kheo-ni nào, khi nghe tụng giới, nói như vầy: ‘Đại tỷ, nay  tôi mới biết giới này rút từ giới kinh, mỗi nửa  tháng tụng một lần.’  Các tỳ-kheo-ni  khác  biết tỳ-kheo-ni  này  đã từng ngồi dự tụng giới, hoặc hai, hoặc ba lần, huống nữa  là nhiều lần. Tỳ-kheo-ni  này  không  phải  do  vì  không  biết, không hiểu, mà hỏi tội. Nếu có phạm tội, nên như pháp xử trị, rồi cộng thêm tội không biết pháp, bảo rằng: ‘Đại tỷ, thật không lợi ích gì cho cô, không có sở đắc tốt đẹp nào cho cô, vì  trong khi tụng giới cô không dụng tâm, không nhất niệm, không lắng nghe pháp. Vị ấy, vì vô tri, ba-dật-đề.*(3)
ĐIỀU 58
Tỳ-kheo-ni nào, sau khi đã cùng chung yết-ma rồi, sau đó lại nói như vầy: ‘Các tỳ-kheo-ni theo chỗ quen biết riêng, lấy vật của chúng Tăng cho’, ba-dật-đề.*(4)
ĐIỀU 59
Tỳ-kheo-ni nào, khi Tăng đoán sự chưa xong, không gửi dục mà đứng dậy đi ra, ba-dật-đề.*(5)
______________________
(1) nt. ba-dật-đề 71.
(2) nt. ba-dật-đề 72.
(3) nt. ba-dật-đề 73.
(4) nt. ba-dật-đề 74.
(5) nt. ba-dật-đề 75.

* Trang 873 *
device

ĐIỀU 60
Tỳ-kheo-ni nào, đã gửi dục rồi, sau đó tỏ sự bất bình, ba-dật-đề.*(1)
ĐIỀU 61
Tỳ-kheo-ni nào, sau khi nghe những lời tranh cãi của các tỳ-kheo-ni, nghe ở đây rồi đem nói cho người kia, ba-dật-đề.*(2)
ĐIỀU 62
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận hờn không hoan hỷ, đánh tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*(3)
ĐIỀU 63
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận hờn không hoan hỷ, dùng  tay  (nhá) đánh tỳ-kheo ni khác, ba-dật-đề.*(4)
ĐIỀU 64
Tỳ-kheo-ni nào,  vì  giận hờn  không  hoan hỷ,  vu  khống  (tỳ-kheo-ni  khác) bằng  pháp tăng-già-bà-thi-sa  không căn cứ, ba-dật-đề.*(5) 
ĐIỀU 65
Tỳ-kheo-ni nào, khi nhà vua sát-lợi quán đảnh chưa ra khỏi cung, vật báu chưa thu cất, mà vào cung vua, bước qua khỏi ngạch cửa, ba-dật-đề.*(6)
ĐIỀU 66
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình cầm lấy vật  báu, hay đồ  trang sức bằng vật báu, hoặc bảo người khác cằm nắm, ba-dật-đề. Trừ
______________________________                                     
(1) nt. ba-dật-đề 76.
(2) nt. ba-dật-đề 77.
(3) nt. ba-dật-đề 78.
(4) nt. ba-dật-đề 79.
(5) nt. ba-dật-đề 80.
(6) nt. ba-dật-đề 81.

* Trang 874 *
device

trong Tăng-già-lam, hay nơi ký  túc (nghỉ đêm). Nếu ở  trong Tăng-già-lam  hoặc nơi  ký  túc  (nghỉ  đêm) mà tự mình cầm nắm hay bảo người cầm vật báu, hay đồ  trang sức bằng vật báu, nên nghĩ như vầy: ‘Nếu người chủ nhận ra sẽ hoàn lại’; vì nhân duyên như vậy chứ không chi khác.*(1)
ĐIỀU 67
Tỳ-kheo-ni nào, vào xóm làng phi thời mà không báo cho tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề.*(2)
ĐIỀU 68
Tỳ-kheo-ni  nào,  làm  giường  dây,  giường gỗ,  chân  chỉ  nên cao bằng  tám ngón  tay của Như  lai,  [736c]  trừ lỗ mộng  để ráp trở lên. Nếu quá, phải hớt bỏ, ba-dật-đề.*(3)
ĐIỀU 69
Tỳ-kheo-ni nào, dùng bông đâu-la miên độn làm giường dây, giường cây, ngọa cụ, tọa cụ, ba-dật-đề.*(4)
B - BẤT CỘNG GIỚI
ĐIỀU 70. ĂN TỎI (5)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức Ba-già-bà  ở  trên  giảng  đường Cao  các,  bên  sông Di hầu, tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, tại một vùng đất nọ có khu vườn trồng tỏi.
Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  đi  ngang  qua  cách vườn tỏi  không  xa.
Người chủ vườn hỏi: “A-di, cần tỏi không?”
Cô nói: “Cần.”
_____________________
(1) nt. ba-dật-đề 82.
(2) nt. ba-dật-đề 83.
(3) nt. ba-dật-đề 84.
(4) nt. ba-dật-đề 85.
(5) Pāli, Pāc. 1, Vin.  iv. 258. Ngũ phần: điều 69; Tăng kỳ: điều 80; Thập tụng: điều72; Căn bản ni: điều 73.
 

* Trang 875 *
device

Người chủ vườn  liền đem tỏi cho cô. Tỳ-kheo-ni nhận được tỏi rồi, về sau thường xuyên, cô cũng lại đi cách vườn tỏi không xa. Mỗi lần thấy cô, người chủ vườn đều hỏi: “A-di lại cần tỏi nữa phải không?”
Cô nói: “Cần. Có tỏi tôi ăn được cơm.”
Chủ vườn đem tỏi cúng dường và  ra lệnh cho người giữ vườn rằng, “Từ nay, hằng ngày cấp cho tỳ-kheo-ni mỗi vị năm củ tỏi.”
Sau đó người chủ vườn để người giữ vườn ở nhà, còn mình  thì đem tỏi vào Tỳ-xá-ly bán.
Bấy  giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà về  đến  trong Tăng-già-lam  nói với các tỳ-kheo-ni rằng: “Các cô biết không, nơi vườn tỏi tại chỗ nọ có đàn-việt  tên nọ hằng ngày cấp cho tỳ-kheo-ni mỗi người năm củ tỏi. Các cô có thể đến đó nhận.”
Bấy giờ, Thâu-la-nan-đà dẫn sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, đến nơi vườn tỏi, hỏi người giữ vườn: “Chủ vườn ở đâu?”
Người giữ vườn trả lời: “Chủ vườn chở tỏi vào Tỳ-xá-ly để bán. Các cô hỏi có chuyện gì?”
Thâu-la-nan-đà  nói:  “Chủ vườn hứa  cung cấp  cho tỳ-kheo-ni hằng ngày mỗi vị năm củ tỏi. Nay chúng tôi đến nhận.”
Người giữ vườn nói: “Chờ chủ vườn về chứ tôi không dám tự quyền. Tôi chỉ coi ngó mà thôi.”
Tỳ-kheo-ni nói: “Chủ vườn thì cúng mà tôi tớ không chịu đưa.”
Thâu-la-nan-đà  liền bảo sa-di-ni nhổ tỏi, kiểm số và phân phối: đây là  phần của Thượng tọa,  đây  là  phần của  thứ tọa,  đây  là  phần của Hòa  thượng A-xà-lê, đây  là phần của đồng Hòa  thượng đồng A-xà-lê, đây là phần của bà con quen biết, đây là phần ăn ngày nay, đây là phần ăn ngày mai, đây  là phần ngày mốt. Tức  thời, vườn tỏi bị nhổ sạch. Chủ vườn khi về thấy vườn tỏi sạch trơn, hỏi người giữ vườn:  “Tỏi đâu hết?”
Người giữ vườn báo cáo: “Trước đây do chủ sùng đạo nên hằng ngày cung cấp cho tỳ-kheo-ni mỗi người năm củ tỏi. Vừa rồi có sa-di-ni, thức-xoa-ma-na  đến hỏi  tôi:  ‘Hôm  nay  chủ vườn  có ở  nhà  không?’

* Trang 876 *
device

Tôi nói, ‘Chủ vườn vào Tỳ-xá-ly bán tỏi. Các cô hỏi có việc gì?’ Các cô ni nói:  ‘Chủ vườn hứa hằng ngày cấp cho tỳ-kheo-ni mỗi vị năm củ tỏi, nay [737a] chúng tôi đến nhận.’ Tôi nói: ‘Chờ chủ về. Tôi chỉ biết coi ngó  thôi chứ không  trọn quyền.’ Tỳ-kheo-ni nói: ‘Chủ vườn cho, đầy tớ không chịu đưa.’ Các cô nói như vậy rồi bảo sa-di-ni nhổ tỏi, đếm và phân phối: Đây  là phần của Thượng tọa, đây  là phần của thứ tọa, Đây là phần của Hòa thượng, đây là phần của A-xà-lê, đây là phần của  đồng Hòa  thượng,  đây  là  phần của  đồng A-xà-lê,  đây  là phần của bà con quen biết, đây  là phần ăn ngày nay, đây  là phần ăn ngày mai, đây  là phần ăn ngày mốt. Tất cả đều có phần ăn, cho nên vườn tỏi bị nhổ hết.”
Người chủ vườn liền cơ hiềm, nói:  “Tỳ-kheo-ni  này  không  có  tàm  quý.  Thọ  nhận  không  nhàm  chán, không biết đủ. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là  chánh  pháp? Dầu  đàn-việt  có  cho,  còn  phải  biết  đủ,  huống  là không có chủ ở nhà, mà nhổ hết tỏi của người ta!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Sao các cô nhổ hết tỏi của người  ta ăn và mang đi hết không để lại một củ nào?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: 
“Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên làm. Không có chủ, sao lại nhổ hết tỏi của người ta?”
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, kể cho các tỳ-kheo nghe: “Xưa kia, có một bà-la-môn 120 tuổi, hình thể ốm gầy. Vợ của người bà-la-môn  này  xinh đẹp không ai  sánh kịp,  sanh nhiều con  trai con gái. 
Người  bà-la-môn  này  luyến  ái vợ  và  các  con,  không  bao  giờ muốn xả  ly. Do sự  luyến ái  thắm  thiết này nên sau khi mạng chung ông sanh  trong  loài chim nhạn,  lông  trên mình đều  toàn bằng vàng.

* Trang 877 *
device

Do nhân duyên  tu phước đời  trước  nên tự biết  túc mạng của mình, nhạn suy nghĩ: “Bằng mọi phương  tiện  ta phải giúp đỡ sự sống cho những đứa con của ta, để chúng nó khỏi nghèo khổ.” Hằng ngày con chim  nhạn bay đến nhà cũ của mình, cho rơi xuống một chiếc  lông bằng  vàng rồi  bay  đi,  những  đứa  con lượm  được  lông  chim bằng vàng lại suy nghĩ: “Do nhân duyên nào mà con nhạn chúa này hằng ngày  bay đến  làm rơi  xuống một cái  lông bằng vàng cho  ta rồi bay đi? Chúng ta hãy chờ khi nó đến, rình bắt, nhổ hết lông vàng của nó.” Rồi chúng bắt và lấy  lông vàng. Nhổ lấy rồi, nó mọc lại bằng  lông trắng.” Đức Phật bảo các tỳ-kheo: 
[737b]  “Người Bà-la-môn  thuở  ấy,  sau  khi  chết đầu  thai  thành  con nhạn,  đâu  phải  ai  khác, mà  là  người  chủ vườn. Người vợ  xinh  đẹp của ông ta sanh nhiều con tức là Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà. Con trai con gái của vợ chồng người bà-la-môn chính  là  thức-xoa-ma-na, sa-di-ni... ấy vậy. Do bởi  tham ái  nên khiến cho  lông chim bằng  vàng hết,  lông  trắng  sanh. Nay lại  do  tham  ái  nên  nhổ hết tỏi,  phải bần cùng.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, rồi bảo  các tỳ-kheo:  “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào ăn tỏi, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni nào, ăn tỏi sống, tỏi chín, tỏi vụn, mỗi miếng phạm một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc chứng bệnh thế nào đó phải dùng bánh gói tỏi mà ăn để chữa; hoặc các  thứ  thuốc khác  trị không hết phải dùng tỏi để trị; hay dùng tỏi để trị bệnh ghẻ nhọt. Thảy đều không phạm.

* Trang 878 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 71. CẠO LÔNG BA CHỖ (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà cạo  lông ba chỗ, đến nhà đàn-việt, an tọa nơi chỗ ngồi, trước người phụ nữ, không tự khéo che thân, hình  thể bị lộ. Thấy vậy, các bà này nói: “Sư cô đi tắm với chúng tôi!”
Cô ni trả lời: “Thôi, đủ rồi. Như vậy là đã cúng dường rồi.”
Các bà lại nói: “Thì cô cứ đi tắm với chúng tôi!”
Cô ni đáp: “Tôi không cần tắm.”
Bấy giờ, các phụ nữ bèn cưỡng bức lột y của cô  ra. Thấy cô ni cạo lông, các bà nói:  “A-di, người đời  vì vấn đề dâm dục mà cạo  lông, chứ A-di cạo lông để làm gì?”
Thâu-la-nan-đà nói: “Từ khi  tôi còn ở  thế tục đã quen  làm việc này chứ chẳng phải mới bây giờ.”
Các phụ nữ cư sĩ cơ hiềm, nói:  “Tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý, quen  làm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy  có  gì  là  chánh  pháp? Sao lại cạo  lông  ba  chỗ  như  dâm nữ, tặc nữ?” Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết  tàm quý,  hiềm  trách Thâu-la-nan-đà: “Sao lại cạo lông ba chỗ?”
Các tỳ-kheo-ni  đến bạch  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo  [737c]  đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà: “Việc cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Thâu-la-nan-đà, tại sao lại cạo lông ba chỗ?”
__________________________                                        
(1) Pāli, Pāc.  2. Ngũ  phần:  điều  74,  cf.  điều  180; Thập tụng: điều  73; Căn bản  ni: điều 74.

* Trang 879 *
device

Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo: 
“Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, cạo lông ba chỗ, (1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Lông ba chỗ: chỗ đại, tiểu tiện và dưới nách.
Tỳ-kheo-ni  nào cạo  lông ba chỗ, mỗi lần động dao  là phạm  ba-dật-đề. Nếu nhổ bằng nhíp hay đốt, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,  thâu-lan-giá.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh  thế nào đó; hay bị ghẻ cần cạo để  thoa thuốc; hoặc bị cường lực bắt buộc. Thảy đều không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 72. TẨY TỊNH QUÁ PHẦN (2)
____________________
(1) Pāli: sambāde lomaṃ saṃhārapeyya, bản dịch Anh (Horner) hiểu là “dưỡng lông chỗ kín  (let  the hair of  the body grow); do động từ saṃharāpeti được hiểu  là sưu tập  (to  cause  to  collect,  PTS).  Nhưng  Luật sớ Pāli  (iv.  920)  nói:  kattariyā vā saṇḍasakena vā khurena vā yena kenaci ekapayogena vā nānāpayogena vā ekaṃ vā  bahūni vā  saṃharāpentiyā,  “...hoặc bằng  dao  nhỏ,  hoặc bằng  nhíp  nhổ,  hoặc bằng  dao cạo, bất cứ bằng một hay nhiều  phương  tiện  khác nhau nào... một hay nhiều (sợi lông)” Theo đây, saṃharāpeti nên được hiểu là “cạo” như trong các bản Hán. Ngũ phần, điều 74: “cạo lông dưới nách và chỗ kín”; điều 180: “đốt lông chỗ kín.”
(2) Pāli, Pāc. 5. Ngũ phần: điều 72; Thập tụng: điều 74; Căn bản ni: điều 75.

* Trang 880 *
device

a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Bà-già-bà  ở  trong vườn  Ni-câu-luật,  Ca-duy-la-vệ,
Thích-súy-sấu. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề (1) đến chỗ đức Thế Tôn, đầu diện đảnh lễ sát chân Ngài rồi đứng qua một bên, bạch Phật: “Thế Tôn, thân người nữ hôi hám, bất tịnh.”
Thưa như vậy rồi, bà lễ sát chân Phật, nhiễu ba vòng và cáo lui.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo  các tỳ-kheo:  “Từ  nay  trở  đi  ta  cho  phép  các tỳ-kheo-ni  dùng nước tác tịnh.” (2)
Thâu-la-nan-đà nghe đức Phật cho phép  tác tịnh rồi  liền dùng nước để  tác tịnh. Khi  tác tịnh, dục  tâm  khởi,  đưa  ngón  tay  vào  sâu  bên trong thủy đạo, bị móng tay  làm tổn thương, máu chảy ra,  làm bẩn y và ngọa cụ. Các tỳ-kheo-ni thấy, hỏi rằng: “Cô bị bệnh khổ gì vậy?”
Thâu-la-nan-đà nói rõ nhân duyên.
Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong số đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Tại sao khi cô dùng nước tác tịnh lại đưa ngón tay vào sâu theo đường  thủy đạo, khiến cho móng  tay  làm  thương tổn chảy máu,  làm bẩn y và ngọa cụ?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách [738a] tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: 
“Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm. Tại sao khi dùng nước  tác tịnh, cô lại khởi dục  tâm, đưa ngón tay vào sâu bên trong, khiến cho móng tay gây thương tổn, chảy máu ra làm bẩn y và ngọa cụ?”
_________________________                                         
(1) Ma-ha Ba-xà-ba-đề 摩訶波闍波提; chỗ khác gọi là Đại Ái Đạo. 
(2) Tác tịnh 作淨. Căn bản ni: tẩy tịnh 洗淨. Pāli: udaka-suddhikaṃ, rửa sạch bằng nước.

* Trang 881 *
device

Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách Thâu-la-nan-đà rồi bảo các tỳ-kheo: “Thâu-la-nan-đà này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là  người  đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới gồm mười  cú  nghĩa  cho  đến  câu  chánh  pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào,  dùng nước  tác tịnh, nên sử dụng hai ngón tay, mỗi ngón một đốt, nếu quá, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tác tịnh: dùng nước rửa bên trong âm hộ.
Tỳ-kheo-ni  dùng nước rửa  bên  trong  nên  dùng  hai  ngón  tay, mỗi ngón một đốt, nếu quá ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  Chỉ sử dụng  hai  ngón  tay, mỗi  ngón một  đốt  hay dưới một đốt; hoặc có bệnh thế nào đó; hay bên trong có cỏ, có trùng cần kéo ra ngoài. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 73. HỒ GIAO (3)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni dục  tâm hừng hẫy, nhan sắc  tiều tụy,  thân  thể gầy  còm. Khi họ  vào  trong vương  cung của vua Ba-tư-nặc, các phụ nữ trong cung thấy vậy hỏi: 
“A-di có bệnh hoạn gì?”
Lục quần ni nói: “Tôi không có bệnh hoạn, chỉ vì bệnh sắc.”
________________________                                         
(3) Pāli, Pāc. 4. Ngũ phần: điều 71. Thập tụng: điều 85. Căn bản ni: điều 93.

* Trang 882 *
device

Phụ nữ hỏi tiếp: “Bệnh sắc nào?”
Cô ni nói: “Dục tâm của tôi hừng hẫy.”
Các phụ nữ nói: “Chúng  tôi ở  trong cung,  lúc nào cũng có đàn ông.
Khi không có đàn ông, thì dùng hồ giao (1) làm nam căn, để vào trong nữ căn, vừa được thích ý, lại không phải  là hành dâm. Các cô có thể làm như vậy, vừa được thích ý, không phạm hành dâm.”
Khi  ấy  hai  trong  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  làm  nam căn  như vậy,  cùng làm việc dâm dục. Tỳ-kheo-ni khác thấy, tưởng là cùng đàn ông hành dâm. Khi đứng dậy mới biết chẳng phải đàn ông.
Các tỳ-kheo-ni  nghe  biết,  trong số  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao  các  cô lại  dùng hồ  giao  làm  nam căn  để  cùng  nhau  hành dâm?”
Các tỳ-kheo-ni  đến bạch với  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo  [738b]  đến bạch  lên  đức  Phật. Đức  Phật  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
“Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, sao lại dùng hồ giao  làm nam căn để cùng nhau hành dâm?” 
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, dùng hồ giao làm nam căn (2) , ba-dật-đề.
___________________
(1) Hồ giao 胡膠; nhựa, hay cao su. Căn bản ni: thọ giao 樹膠.
(2) Ngũ phần: làm nam căn đề vào trong nữ căn.

* Trang 883 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Làm nam căn: dùng các vật để  làm như hồ giao, cơm nhão, bột, sáp ong.
Tỳ-kheo-ni nào dùng các vật này  làm nam căn để vào nữ căn, tất cả đều phạm ba-dật-đề. Nếu không cọ xát vào nữ căn, phạm đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm. 
Sự không phạm: hoặc mắc phải căn bệnh  thế nào đó, phải dùng cục thuốc  hình  tròn  hay  viên  thuốc  đặt  vào  để  chữa;  hoặc  y  ngăn  chặn nguyệt thủy; hoặc bị cưỡng lực bắt ép làm. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 74. CÙNG VỖ (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni vì dục  tâm hừng hẫy, nhan sắc  tiều tụy, hình  thể ốm gầy. Vào  trong cung của vua Ba-tư-nặc, các phụ nữ trong cung thấy vậy hỏi:  “A-di bệnh gì?”
Chư ni nói: “Chỉ vì không thoả mãn.”
Các phụ nữ hỏi: “Không thoả mãn cái gì?”
Chư ni nói: “Dục tâm của chúng tôi hừng hực”
Các  phụ nữ  nói:  “Chúng  tôi ở  trong  cung,  thường  có  đàn ông. Lúc không có đàn ông  thì dùng hồ giao tạp vật  làm  nam căn để vào nữ căn, vừa  thỏa mãn được  lòng dâm, mà không gọi  là hành dâm. Sao chư tôn không làm như vậy?”
Các tỳ-kheo-ni  trả lời:  “Này  các  chị,  đức Thế Tôn  chế  giới  không được làm như vậy.”
Các phụ nữ lại nói: 
 ____________________                                       
(1) Pāli, Pāc. 3. Ngũ phần: điều 71. Thập tụng: điều 75. Căn bản ni: điều 76.

* Trang 884 *
device

“Này  các  cô,  chúng  tôi  ở  trong  cung,  khi  có  đàn  ông  thì  thôi;  lúc không  có  đàn ông  thì  cùng  nhau vỗ, vừa  được  khoái lạc mà  không gọi là hành dâm. Các cô vì sao không làm như vậy?”
Bấy giờ, hai  trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni cùng nhau vỗ. Các tỳ-kheo-ni khác thấy, tưởng là [738c] cùng đàn ông hành dâm. Lúc đứng dậy mới biết không phải đàn ông.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Sao các cô cùng nhau vỗ.”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức  Phật. Đức  Phật  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên làm. Tại sao các cô cùng nhau vỗ.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Những tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, cùng vỗ cho nhau, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Vỗ: lấy  bàn  tay  hay  gót  chân  đập  vào,  hoặc nữ căn với nữ căn vỗ nhau.
Tỳ-kheo-ni cùng vỗ với nhau, người vỗ phạm đột-kiết-la, người  thọ nhận vỗ phạm  ba-dật-đề. Nếu hai nữ căn cùng  nhau vỗ, cả hai đều phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la,  thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

* Trang 885 *
device

Sự không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh  thế nào đó, hoặc tới  lui, đi  đứng,  hoặc  quét  đất vướng  phải  chứ  không cố  tâm,  hay  khi tắm rửa đụng phải thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 75. HẦU QUẠT NƯỚC TỲ-KHEO ĐANG ĂN (1)
a. Duyên khởi
Một  thời đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có một  trưởng  giả  cùng vợ  xuất  gia  hành đạo. Đến  giờ,  ông  vào  thôn  khất  thực,  được  thức  ăn rồi,  đem  đến trong Tăng-già-lam của ni ngồi ăn. Người vợ cũ, hiện  là tỳ-kheo-ni, đem nước đến, đứng phía trước lấy quạt quạt. Tỳ-kheo bảo rằng: 
“Đứng  tránh  ra một  chút,  chứ  tôi xấu hổ với  người  ta. Đừng  đứng trước mặt tôi!”
Tỳ-kheo-ni nói: “Đại đức, sao lại xấu hổ với tôi?”
Vị tỳ-kheo lại nói: 
“Sao không tránh nhanh đi? Tôi xấu hổ với tỳ-kheo-ni.”
Tỳ-kheo-ni nói: 
“Tôi đứng trước mặt, nói xấu hổ. Vậy trước kia làm việc như vậy sao không xấu hổ?”
Bà vợ  là tỳ-kheo-ni  nói  xong nổi giận, lấy  cán quạt đánh, lấy nước rót trên đầu tỳ-kheo, rồi bỏ đi vào phòng.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách  [739a1] tỳ-kheo-ni  này: “Sao cô lại sân si đánh tỳ-kheo?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức  Phật. Đức  Phật  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách tỳ-kheo-ni này: 
_________________________-
(1) Pāli, Pāc. 6. Ngũ phần: điều 143. Tăng kỳ: điều 79. Thập tụng: điều 77.

* Trang 886 *
device

“Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao lại đánh tỳ-kheo?”
Đức Thế Tôn  sau khi bằng  vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni này, rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Tỳ-kheo-ni này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu  tiên phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi,  Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni  nào,  khi tỳ-kheo  ăn,  cung cấp nước, cầm  quạt quạt, (1) ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có các tỳ-kheo-ni nghi không dám chăm sóc tỳ-kheo bệnh, không có người cung cấp nước, cũng không dám hỏi. Đức Phật dạy: 
“Cho phép các tỳ-kheo-ni nuôi các tỳ-kheo bệnh, không ai cung cấp nước được phép hỏi.” 
Từ nay trở đi nên kết giới như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, tỳ-kheo không bệnh, khi ăn cung cấp nước, đứng trước mặt cầm quạt quạt, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni  nào, tỳ-kheo không bệnh đang ăn, cung cấp nước, đứng trước mặt, cầm quạt quạt, phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Chăm  sóc tỳ-kheo bệnh,  không  ai  cung cấp nước, hỏi, không phạm.
_____________________________                                        
(1) Ngũ phần: “…cầm bình nước và quạt, đứng trước mặt…” Tăng kỳ: “… cung cấp nước và quạt…”

* Trang 887 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 76. XIN NGŨ CỐC SỐNG  (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm  sáu tỳ-kheo-ni đi xin  lúa sống, (2) mè, gạo, đậu lớn, đậu nhỏ, đại mạch,  tiểu mạch sống. Các cư sĩ  thấy, cơ hiềm  nói:  “Các tỳ-kheo-ni  này  khất cầu  không  nhàm  chán,  không biết xấu hổ. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy thì có gì  là chánh pháp? Sao lại xin các  loại ngũ cốc sống như dâm nữ, tặc nữ?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Tại sao các cô xin các loại ngũ cốc sống như vậy?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên [739b] đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên làm. Sao các cô lại xin các loại ngũ cốc sống?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
__________________
(1) Pāli, Pāc. 7.
(2) Hán: sanh cốc 生穀. Pāli: āmakadhaññaṃ, gạo sống  (chưa nấu), được giải  thích gồm  luôn  các  thứ:  sāli  (gạo  trắng),  vīhi  (thóc),  yavo (đại mạch),  godhūmo  (tiểu mạch,  hay  lúa mì),  kaṅgu  (hạt  kê),  varako  (các  loại  đậu),  kudrusako  (lúa mạch đen).

* Trang 888 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, xin (1) ngũ cốc sống, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào xin  lúa sống cho đến đại, tiểu mạch, tất cả đều phạm ba-dật-đề. Tỳ-kheo, đột-kiết-la,  thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Đến xin nơi người bà con, hay người xuất gia; mình vì  người,  người  vì  mình  xin;  hoặc  không  xin  mà  được.  Thảy  đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 77. ĐẠI TIỂU TIỆN TRÊN CỎ TƯƠI (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ, cách tinh xá của tỳ-kheo-ni không xa có một vùng cỏ kết lũ (3) tươi tốt, các cư sĩ  thường đến đó ngồi nằm, vui chơi, ca hát, múa nhảy, hoặc có lúc than vãn. Những âm thanh này làm loạn động các tỳ-kheo-ni tọa thiền nên các tỳ-kheo-ni bực mình.
Sau khi cư sĩ đi, các cô dùng đồ bẩn như nước tiểu, phẩn, đem đổ lên trên cỏ. Sau đó, các cư sĩ  trở lại nơi ấy để vui đùa  thì bị  làm bẩn cả người và y phục do bởi đồ bất tịnh, và vùng cỏ cũng bị chết khô dần.
Do việc  làm ấy, các cư sĩ đều cơ hiềm, nói: “Các tỳ-kheo-ni này  thọ nhận  không  biết xấu hổ. Bên  ngoài tự xưng  là  tôi  biết  chánh  pháp.
__________________
(1) Pāli:  viññatvā…bhajjitvā…koṭṭetvā…pacitvā:  (tự mình  hay  nhờ  người) hỏi  xin, rang, giã, nấu.
(2) Pāli, Pāc. 9. Ngũ phần: điều 137. Tăng kỳ: điều 139. Thập tụng: điều 174. Căn bản ni: điều 79.
(3) Kết lũ  thảo 結縷草  (?). TNM: già  lâu  thảo 茄蔞草, cỏ  lau  (?Thiều Chửu). Pāli: harita, rau cỏ, các thứ xanh tươi; được giải  thích  là  trồng để làm  thức ăn cho con người.

* Trang 889 *
device

Như vậy có gì  là chánh pháp? Vùng cỏ tươi tốt nơi chúng  ta thường đến ca múa vui chơi, các cô dùng đồ bất tịnh, đại tiểu tiện đổ trên đó làm bẩn cả người và y phục chúng ta, và vùng cỏ cũng bị hư hoại.”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Chỗ các cư sĩ đến vui chơi, sao các cô đem đồ bất tịnh đại  tiểu  tiện đổ  lên  trên cỏ làm  cho  thân  và  y của họ bị bẩn mà  khiến  cho cỏ bị  chết  [739c] khô?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni này: 
“Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Tỳ-kheo-ni sao lại đem vật bất tịnh như đại tiểu tiện đổ trên chỗ các cư sĩ  thường đến vui đùa,  làm cho họ bị  làm bẩn cả thân và y phục?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách các tỳ-kheo-ni này rồi, bảo các tỳ-kheo: 
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đại tiểu tiện (1) trên cỏ tươi, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước
Tỳ-kheo-ni đại tiểu tiện trên cỏ xanh tươi, phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
____________________
(1) Căn bản ni: đại tiểu tiện và khạc nhổ. Pāli: đổ nước tiểu, phân, rác rưởi, thức ăn thừa, trên cỏ xanh.

* Trang 890 *
device

Sự không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh thế nào đó; hoặc đại tiểu tiện nơi chỗ không có cỏ rồi nước chảy đến chỗ có cỏ; hoặc gió thổi, hoặc chim ngậm bay rớt trên cỏ. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 78. ĐỔ ĐẠI TIỂU TIỆN NGOÀI TƯỜNG (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức Bà-già-bà  ở  trong  núi Kỳ-xà-quật, La-duyệt-kỳ. Bấy giờ, có một vị trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng sớm đổ ra bên ngoài tường mà không xem trước. Cũng vào lúc  đó  có vị  đại  thần  không  tin  ưa Tam bảo,  sáng sớm cưỡi  xe  đi chầu vua Bình-sa. Khi đi ngang qua bên ngoài tường của  tinh xá tỳ-kheo-ni,  ông bị  đồ bất tịnh  đổ  trên  đầu,  làm bẩn cả  y  phục. Vị  đại thần ấy nói:  “Tôi sẽ đến quan đoán sự thưa kiện việc này!”  (2)
Bấy giờ, có vị bà-la-môn chí tín (3) biết xem tướng, hỏi: 
“Đại thần muốn đi đâu?”
Đại  thần  nói:  “Tỳ-kheo-ni  dùng  đồ  đại  tiện bất tịnh  đổ  làm  ô  nhục tôi. Tôi muốn đến quan đoán sự thưa kiện việc này.”
Vị bà-la-môn can, nói: 
“Thôi, đừng nên đến kiện thưa  làm gì. Lắm khi không được kiện mà lại mắc tội nữa.” (4)
Vị đại  thần nghe  theo lời can, không kiện, trở về. Vị bà-la-môn xem tướng kia liền đến tịnh xá tỳ-kheo-ni, hỏi: 
“Tỳ-kheo-ni  nào  ban  đêm  đại  tiểu  tiện  trong  bô,  sáng  ngày  đổ  bên ngoài tường mà không xem trước như thế?”
__________________
(1) Pāli, Pāc.  8. Ngũ  phần: điều  135,  136. Tăng kỳ: Thập tụng:  điều  78. Căn bản: điều 80.
(2) Pāli: ông châm lửa, đòi đốt chùa.
(3) Pãli: một ưu-bà-tắc tình cờ đi đến.
(4) Pãli: ưu-bà-tắc này nói: “Điềm tốt đấy!”

* Trang 891 *
device

Chư ni trả lời:  “Chúng tôi không biết. Nhưng tại sao [740a1] ông lại hỏi như vậy?”
Vị bà-la-môn nói rõ nhân duyên, và nói tiếp: 
“Tôi  đã  can  không  cho  đại  thần  đó  thưa  kiện. Vậy, từ  nay  các  cô không nên đổ như vậy nữa.”
Chư ni tìm hiểu xem ai làm việc ấy. Liền biết một cô trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni  đã  đổ như vậy.  Các tỳ-kheo-ni  quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni: “Sao cô ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng ra đổ bên ngoài tường mà không xem trước?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Việc cô  làm  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, sao ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng ra đổ bên ngoài tường mà không xem trước?” 
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người ban đầu phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni  nào,  ban  đêm  đại  tiểu  tiện  trong  bô, (1) sáng  ngày đem đổ bên ngoài tường mà không xem trước,(2) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
_________________________                                        
(1) Pāli: đổ phân, nước  tiểu,  rác, cơm dư bên ngoài tường. Ngũ phần, điều 135: đổ phân, nước tiểu, ra ngoài tường dậu; điều 136: “liệng rác, thức ăn thừa”
(2) Nghĩa là, đứng bên trong tường mà liệng ra ngoài, không xem trước. Pāli: đổ hay sai người đổ (=ném hay liệng) qua tường hay phên dậu. 

* Trang 892 *
device

Tỳ-kheo-ni kia  ban đêm đại  tiểu  tiện  trong bô,  sáng ngày phải  xem ngoài tường thành trước, sau đó mới đổ. Sau khi thức dậy, phải búng ngón  tay hay tằng hắng. Nếu tỳ-kheo-ni ban đêm đại  tiểu  tiện  trong bô,  sáng  ngày  không  xem  trước  bên  ngoài tường mà  đổ,  ba-dật-đề.
Nếu ban đêm không búng ngón tay hay không tằng hắng mà đổ, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  Ban  đêm  đại  tiểu  tiện  trong  bô,  sáng  ngày  xem ngoài  thành rồi mới  đổ;  hoặc  ban  đêm  thì  búng  ngón  tay  hay tằng hắng; hoặc trước có gạch đá, gốc cây, có gai, nơi đổ các đồ bất tịnh; hoặc có nước sâu, bờ sông, hay đống rác thì đổ, không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 79. ĐI XEM NGHE KỸ NHẠC (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Bà-già-bà  ở  trong  núi Kỳ-xà-quật, tại  La-duyệt-kỳ. Bấy  giờ,  nhân  dân  trong nước  có  tiết hội, kỹ  nhạc  vui  chơi. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni đến xem coi, các cư sĩ thấy, cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni này không [740b] biết xấu hổ, quen thói bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp, mà cùng nhau xem coi các trò vui chơi như dâm nữ, tặc nữ không khác. Như vậy có gì là chánh pháp?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị  thiểu dục tri  túc sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô cùng nhau đến xem nghe các trò vui chơi?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
__________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 10. Căn bản ni: 172-174.

* Trang 893 *
device

“Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên làm. Sao các cô lại đi xem nghe các trò vui chơi?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, đi xem nghe kỹ nhạc,(2) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng      
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Xem nghe: thưởng thức các trò vui chơi.
Tỳ-kheo-ni từ  đường  chính  đến  đường  chính, từ  đường  chính  đến đường phụ, từ đường phụ đến đường chính; từ chỗ cao đến chỗ thấp, từ chỗ thấp đến chỗ cao để xem nghe kỹ nhạc; nhìn thấy thì phạm ba-dật-đề; không thấy, phạm đột-kiết-la.
Khởi ý muốn đi mà không đi, hoặc hẹn đi rồi nửa chừng trở lại, thảy đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc có sự khải  thỉnh; hoặc được kêu; hoặc  trên lộ trình phải qua ở một bên; hoặc chỗ tạm nghỉ đêm, hay bị cường lực dẫn đi, hoặc bị trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
_____________________                                        
(2) Pāli: naccaṃ vā gītaṃ vā vāditaṃ vā dassanāya gaccheyya, đi xem múa, hát và tấu nhạc.
 

* Trang 894 *
device

ĐIỀU 80. NÓI CHUYỆN VỚI NAM CHỖ KHUẤT (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni vào  trong xóm, cùng đứng  và  nói  chuyện với  đàn  ông nơi  chỗ vắng. Các cư sĩ  thấy cơ hiềm: “Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp, mà vào  trong xóm cùng đứng và nói chuyện với đàn ông nơi  chỗ vắng, không khác dâm nữ, tặc nữ.
Như vậy có gì là chánh pháp?” 
Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc,  [740c] sống hạnh  đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao  các  cô  vào  trong  xóm,  cùng  đứng  và  nói  chuyện với đàn ông nơi chỗ vắng?” 
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:  “Việc các cô  làm  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Sao các cô vào trong xóm cùng đứng và nói chuyện với đàn ông nơi chỗ vắng?” 
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni, rồi bảo các tỳ-kheo:  “Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni  nào,  vào  bên  trong  xóm (2) cùng  người  nam  đứng chỗ vắng và nói chuyện, ba-dật-đề.(3)
_____________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 12. Căn bản ni, điều 81-82.
(2) Pāli, Pāc. 12 không có chi  tiết “trong xóm.” Căn bản ni, điều 81: “đứng với đàn ông ở chỗ khuất kín”, điều 82: “đứng với tỳ kheo ở chỗ khuất kín.”
(3) Căn bản, điều 83: “…đứng với đàn ông ở chỗ trống…”; điều 84: “…đứng với tỳ-kheo ở chỗ trống…”

* Trang 895 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Xóm: nơi có nhà bạch y.
Chỗ vắng: chỗ không thấy, không nghe.
- Chỗ không thấy: do khói, mây, bụi, sương, bóng tối.
Chỗ  không  nghe:  ngoài tầm  nghe  được  tiếng  nói với  giọng  bình thường.
Tỳ-kheo-ni vào bên  trong xóm, cùng nam tử đứng nơi chỗ vắng nói chuyện, ba-dật-đề. Nếu có đồng bạn mù mà không điếc, đột-kiết-la; điếc mà không mù, cũng đột-kiết-la. Đứng mà không nói, cũng phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Có hai tỳ-kheo-ni  làm bạn; có người quen biết  làm bạn, có nhiều người nữ cùng đứng, không mù, không điếc, hoặc đi chứ  không  đứng,  hoặc bệnh bị xỉu,  hoặc bị cường lực bắt,  hoặc bị trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 81. ĐI VỚI NGƯỜI NAM VÀO CHỖ KHUẤT (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni cùng đi với người nam vào chỗ khuất vắng. Các cư sĩ thấy cơ hiềm: “Tỳ-kheo-ni này không biết hổ  thẹn,  phạm bất tịnh hạnh,  bên  ngoài tự xưng  tôi  biết  chánh pháp. Như vậy có gì  là chánh pháp? Sao tỳ-kheo-ni lại cùng đi với người nam vào chỗ khuất vắng, như dâm nữ, tặc nữ không khác!”
Các Tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc,  [741a1] sống
________________
(1) Tham chiếu, Pāli, Pāc. 12; Căn bản: điều 81 & 82.

* Trang 896 *
device

hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô cùng đi với người nam vào chỗ khuất vắng?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni,  sao lại cùng người nam vào chỗ khuất vắng?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi, bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, cùng đi với người nam (1) vào chỗ khuất vắng, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Chỗ khuất vắng: chỗ có cây, có vách, có rào, có vải hay các thứ khác ngăn che.
Tỳ-kheo-ni cùng người nam đi vào chỗ khuất vắng, phạm ba-dật-đề.
Nếu có đồng bạn mù mà không điếc, đột-kiết-la. Điếc mà không mù, cũng phạm đột-kiết-la. Đứng lại, (2) cũng phạm đột-kiết-la. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu có hai tỳ-kheo-ni  làm bạn, hoặc có người quen biết làm bạn, hoặc có người nữ khác làm bạn, không mù, không điếc,
______________________
(1) Hán: lập  trụ 立住,  đứng  (chứ  không  phải  đi). Phân  biệt, điều  80:  “cùng đứng”, điều 81 “cùng đi vào.”
(2) Phân biệt, điều 80: “cùng đứng”, ba-đật-đề.

* Trang 897 *
device

hoặc  đi  chứ  không  đứng, (1) hoặc bị bệnh xỉu,  hoặc bị cường lực bắt dẫn đi, hoặc bị trói, hay mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 82. THÌ THầM VỚI NAM MÀ KHÔNG CÓ ĐỒNG BẠN (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni, nơi đường hẻm  bên trong xóm, cùng người nam đứng nói chuyện nơi chỗ vắng, hoặc bảo bạn đi  cách  xa, để một mình cùng người  nam  nói chuyện  thì  thầm.
Các cư sĩ  thấy, cơ  hiềm:  “Tỳ-kheo-ni  này  không  biết  tàm  quý,  vi phạm phạm hạnh mà bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì  là chánh pháp? Tỳ-kheo-ni sao lại đứng nói chuyện với người nam trong đường hẻm nơi chỗ vắng bên trong xóm; hoặc bảo bạn đi cách xa, để một mình cùng người nam nói chuyện thì thầm, như dâm nữ, tặc nữ không khác!”
Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong  đó  [741b]  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh  đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô nói chuyện thì thầm với người nam trong đường hẻm, nơi chỗ vắng, bên trong xóm?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Tỳ-kheo-ni sao lại nói
______________________                                        
(1) Hán: hành bất  trụ 行不住,  giống như  trong  điều  80. Có lẽ  nên  đảo lại:  trụ bất hành. 
(2) Pāli, Pāc. 14. Cf. Tăng kỳ (tr. 540a24), điều 121 (Giới bản, điều 122): "nói thì thầm với đàn ông đứng trong tầm tay." Căn bản ni, điều 83: “cùng đàn ông đứng chỗ  trống”; điều 84: “cùng tỳ-kheo đứng chỗ  trống.”; điều 86-87: “thì thầm với đàn ông”; điều 88-89: “thì thầm với tỳ-kheo.”

* Trang 898 *
device

chuyện thì thầm với người nam nơi đường hẻm, chỗ vắng, bên trong xóm?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni, rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào,  vào  đường hẻm  bên  trong  xóm, bảo bạn  đi tránh  xa, tại  chỗ  khuất vắng  cùng  nam tử  đứng  và  nói chuyện thì thầm, ba-dật-đề.(1)
b. Giới tướng 
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Xóm: là chỗ nhà của bạch y.
Đường hẻm  chỗ  khuất vắng:  chỗ khuất vắng  đối với  thấy và chỗ khuất vắng đối với nghe.
- Chỗ khuất vắng đối với  thấy: do khói, mây, sương, bụi  trần, bóng
tối cho nên không thấy.
- Chỗ khuất vắng đối với nghe: khoảng cách không nghe được  tiếng nói với giọng bình thường.
Nói chuyện thì thầm: kề miệng vào tai mà nói.
Tỳ-kheo-ni  vào nơi  đường hẻm,  bên  trong  xóm, bảo bạn  đến  chỗ không thấy, không nghe, còn mình ở nơi chỗ vắng cùng nam tử đứng nói  nhỏ với  nhau,  ba-dật-đề.  (Bạn)  đến  chỗ  không  thấy mà  có  thể nghe,  phạm  đột-kiết-la.  (Bạn)  đến  chỗ  không  nghe mà  có  thể  thấy cũng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
________________________
(1) Cf. Căn bản ni, điều 86: “…nói thì thầm với đàn ông…”; điều 87: “… nghe đàn ông nói  thì  thầm…”; điều 88: “…nói thì thầm với tỳ-kheo…”; điều 89: “… nghe tỳ-kheo nói thì thầm…”

* Trang 899 *
device

Sự không phạm: Có hai tỳ-kheo-ni  làm bạn; hoặc có người nữ quen biết  làm bạn;  hay  có  người  khác  làm bạn;  hoặc  có bạn  không mù, không điếc; hoặc bị bệnh xỉu, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, hoặc có việc cần phải bảo bạn đi xa, hoặc bạn bị bệnh, hoặc vì bạn ấy thiếu oai nghi nên phải nói: “Cô đi nơi khác,  tôi sẽ mang  thức ăn đến cho cô”; hoặc bạn ấy phá giới, phá  kiến,  phá  oai  nghi,  hoặc bị cử tội,  hoặc  diệt tẫn,  hay  đáng  diệt tẫn; hoặc do việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 83. ĐI KHÔNG NÓI VỚI CHỦ NHÀ (1)
a. Duyên khởi
[741c] Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni, đến giờ, quấn y bưng bát  đến  nhà một cư sĩ. Vợ cư sĩ dọn một  cái  giường  đơn, (2) mời tỳ-kheo-ni ngồi; rồi vào nhà trong. Tỳ-kheo-ni ngồi chốc  lát, không nói với  chủ  nhà,  đứng dậy bỏ  đi. Cô vừa  ra  khỏi cửa,  có một ma-nạp (3) đến. Y  vào  nhà,  nhìn  xung  quanh  không  có  người,  liền  nghĩ:  “Cái giường ngồi này có  ích cho  ta.” Nghĩ xong, ma-nạp  liền lấy giường mang đi.(4) Sau đó vợ cư sĩ  trở ra, không thấy tỳ-kheo-ni, cũng không thấy giường đơn, liền nhắn hỏi tỳ-kheo-ni: “Cái giường đơn để đâu?”
Tỳ-kheo-ni  trả lời:  “Tôi  không  biết. Khi  tôi vừa  ra  có một ma-nạp vào nhà bà. Có thể y lấy đi. Nên kiếm y mà tìm.”
________________________
(1) Pāli, Pāc. 15.Căn bản ni: điều 96. 
(2) Độc tọa  sàng 獨坐床. Tức  cái  đòn  (ghế nhỏ)  để ngồi. Căn bản: ngọa cụ 臥具. Pāli: āsana, vật để ngồi; được giải  thích: để ngồi kết già. Có lẽ  là tấm  thảm hay một loại chiếu, đệm ngồi.
(3) Ma-nạp 摩納.  Thiếu  niên,  thanh  niên  hay một học  sinh  bà-la-môn.  Pl.,  Skt. māṇava.
(4) Pāli  (Vin.iv.  272): nữ tỳ  ra  lau  nhà,  thấy  bèn xếp cất  vào  trong một  cái  chậu (bhājantarikāya).

* Trang 900 *
device

Sau  khi  truy  tìm, lấy lại  được  cái  giường  ngồi. Các cư sĩ cơ  hiềm: “Tỳ-kheo-ni  này  không  biết hổ  thẹn. Bên  ngoài tự xưng  là  tôi  biết chánh pháp. Như vậy có gì  là chánh pháp? Tại sao ngồi nơi giường ngồi của chủ nhà; rồi bỏ đi mà không nói, như dâm nữ, tặc nữ không khác!”
Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, khổ hạnh, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách tỳ-kheo-ni  này:  “Tỳ-kheo-ni  sao ngồi nơi giường ngồi của chủ, bỏ đi mà không nói?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách tỳ-kheo-ni  này:  “Cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao ngồi nơi tòa của người, khi đi không nói cho họ biết?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni này rồi, bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào,(1) vào ngồi (2) trong nhà bạch  y,  không nói với chủ nhà mà bỏ đi, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni vào ngồi  trong nhà bạch y, rồi không nói với chủ mà bỏ đi;  ra  khỏi cửa  ngõ,  phạm  ba-dật-đề. Một  chân  trong cửa  ngõ, một chân ngoài cửa ngõ, phương  tiện muốn đi mà không đi, cùng hẹn đi mà  không  đi, tất cả đều  phạm  đột-kiết-la.
_____________________
(1) Pāli, thêm yếu tố: trước giờ ăn trưa (purebhattaṃ).
(2) Pāli,  thêm yếu tố:  “ngồi  trên  chỗ  ngồi”,  giải  thích:  āsanaṃ nāma  pallaṅkassa okāso hoti, chỗ ngồi là khoảng trống để ngồi kết già.

* Trang 901 *
device

Tỳ-kheo,  đột-kiết-la. [742a1] Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Nói với  chủ rồi mới  đi;  hoặc  trên  chỗ  ngồi  đó  có người cùng ngồi; hoặc có dặn người ngồi gần rồi đi; hay người ngồi gần nói: “Cứ đi. Không can gì.” Hoặc ngồi trên đá, trên giường bằng gỗ, trên tường, trên cỏ trải ra, trên bục đất; (1) hoặc nhà muốn sập, hay bị cháy,  hoặc có rắn độc,  thú dữ,  trộm cướp, hay bị cường lực bắt, hoặc bị trói, hay mạng nạn, phạm hạnh nạn; không nói với chủ mà đi. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 84. NGỒI TRÊN GIƯỜNG KHÔNG HỎI CHỦ NHÀ (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong núi Kỳ-xà-quật tại  thành La-duyệt. Bấy giờ trong thành La-duyệt có một đại thần không tin ưa Tam bảo. Vị đại thần có một cái giường ngồi cá nhân, (3) không ai dám ngồi. Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  thường tới  lui  nhà  này  xem  như một  đàn-việt.
Thâu-la-nan-đà  đến  giờ  khất  thực,  quấn  y mang  bát  đến  đó,  không hỏi ai mà lại  ngồi  trên giường ngồi cá  nhân của vị đại  thần. Vị đại thần  thấy vậy, bèn  nói: 
“Ai bảo tỳ-kheo-ni này  ngồi  trên giường cá nhân của tôi?”
Cô ni nói: “Không ai bảo cả. Tôi tự đến ngồi.”
Vị đại  thần cơ hiềm nói: “Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà không biết hổ thẹn.  Bên  ngoài tự xưng  là  tôi  biết  chánh  pháp. Như vậy  có  gì  là chánh  pháp? Tỳ-kheo-ni  sao  không hỏi  chủ  mà tự  tiện  ngồi  trên giường ngồi của người ta, như dâm nữ, tặc nữ không khác?”
____________________                                        
(1) Chỉ những vật ngồi mà cá nhân không tự tiện di chuyển.
(2) Pāli, Pāc. 16. Ngũ phần, điều 129. Căn bản ni: điều 96.
(3) Độc tọa sàng 獨坐床; xem cht. 106 trên. Pāli, Pāc. āsana.

* Trang 902 *
device

Vào lúc ấy Thâu-la-nan-đà có nguyệt thủy nên  làm bẩn nệm giường, rồi lại bỏ đi. Vị đại thần thấy vậy, nổi giận nói: “Tỳ-kheo-ni này thật không biết xấu hổ. Bên ngoài tự xưng  là tôi biết chánh pháp. Nhưng không hỏi chủ, tự ý  ngồi  trên giường của  người  ta, giống  như dâm nữ, tặc nữ. Như vậy có gì là chánh pháp?”
Tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Tỳ-kheo-ni sao không hỏi chủ mà vội ngồi trên giường của người ta?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư Tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: 
“Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà,  [742b]  sao  cô  không  nói với  chủ mà vội ngồi trên giường của người?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo: 
“Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào,(1) vào  trong nhà bạch y, không hỏi chủ nhà, liền ngồi (2) trên giường, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni  vào  trong  nhà bạch  y,  không hỏi  chủ  nhà mà vội  ngồi trên giường, ba-dật-đề.
________________________
(1) Tham chiếu, Pāli, Pāc. 16, thêm chi tiết: “sau bữa ăn trưa” (pacchābhattaṃ).
(2) Pāli, nt.: “ngồi hoặc nằm.”

* Trang 903 *
device

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nói với chủ rồi mới ngồi; hoặc có chỗ ngồi thường; hoặc là bà con, hoặc có người bà con nói: “Cô cứ ngồi, chớ ngại. Tôi sẽ nói với chủ cho.” Hoặc ngồi trên đá, trên giường cây, trên bục đất, trên nệm cỏ, hoặc bị bệnh té xỉu xuống đất, hoặc bị cường lực bắt đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới,  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 85. TỰ TIỆN TRẢI CHỖ NGỒI NGHỈ KHÔNG HỎI CHỦ (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có số  đông tỳ-kheo-ni  trên  đường  đi  đến nước Câu-tát-la, tới một thôn không có trú xứ, (2) không nói với người chủ, (3) tự tiện trải tọa cụ để ngủ.
Các cư sĩ  thấy vậy, hỏi:  “Ai sắp xếp  cho  các tỳ-kheo-ni  nghỉ nơi đây?”
Các cô nói: “Không ai sắp xếp cả. Chúng  tôi tự sắp xếp chỗ nơi để nghỉ mà thôi.”
Các cư sĩ cơ hiềm: “Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Tại sao tỳ-kheo-ni không nói với chủ lại tự tiện vào nhà người  ta nghỉ ngơi, có khác gì dâm nữ, tặc nữ?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm  trách các tỳ-kheo-ni: “Tại sao tỳ-kheo-ni không nói với chủ mà tự tiện vào nhà người nằm ngồi?”
_________________
(1) Pāli, Pāc. 17. Ngũ phần: điều 164. Thập tụng: điều 105. Căn bản: điều 97.
(2) Không có chùa hay  tinh xá. Bản Hán có  thể nhảy  sót. Nên  thêm: “vào một nhà nọ.” Tham chiếu Pāli: “đến xin nghỉ đêm tại nhà một người bà-la-môn.”
(3) Pāli, chi tiết: chủ nhân đi vắng. Người vợ bảo chờ ông về.

* Trang 904 *
device

Các tỳ-kheo-ni đến bạch với tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni này: 
“Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  [742c]  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Tại  sao tỳ-kheo-ni không nói với chủ nhà, vào nhà người tự tiện nằm ngồi, nghỉ ngơi?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách các tỳ-kheo-ni này rồi bảo chư tỳ-kheo: 
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, vào nhà bạch y,(1) không hỏi chủ, tự tiện trải(2) chỗ ngồi nghỉ ngơi, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Trải chỗ ngồi: hoặc trải bằng cỏ hay bằng lá cây, cho đến bằng dạ.
Tỳ-kheo-ni nào, vào nhà bạch y, không hỏi chủ, tự  tiện  trải ngọa cụ để ngủ, lưng chạm đất, mỗi lần trở mình là phạm một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni,  đột-kiết-la, Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nói với chủ rồi mới nghỉ; hoặc  là nhà không người ở;  hoặc  là  phước  xá;  hoặc  là  quen  biết,  hay  là  bà  con  nói:  “Cô cứ nghỉ, tôi sẽ nói với chủ cho;” hoặc bị cường lực bắt, hay bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
___________________
(1) Pāli, nt.: “đến nhà bạch y lúc phi thời (vikāle kulāni upasaṃkamitvā).” Giải thích: phi thời, chỉ thời gian từ sau khi mặt trời lặn đến khi mặt trời mọc.
(2) Pāli: trải hay khiến người trải.

* Trang 905 *
device

ĐIỀU 86. CÙNG NGƯỜI NAM TRONG NHÀ TỐI (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm  sáu tỳ-kheo-ni cùng người  nam  vào trong buồng tối.(2) Các cư sĩ thấy cơ hiềm, nói: “Tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp.  Như vậy  có  gì  là  chánh  pháp? Tại  sao tỳ-kheo-ni lại  cùng người nam vào trong buồng tối như dâm nữ, tặc nữ không khác!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô cùng người nam vào trong nhà tối?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, tại sao các cô cùng người nam vào trong nhà tối?” 
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách  [743a1]  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni, rồi bảo các tỳ-kheo: 
“Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  này,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là những  người  đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới gồm mười  cú  nghĩa,  cho  đến  câu  chánh  pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo-ni nào, cùng người nam vào  trong nhà tối, (3) ba-dật-đề.
_____________________________
(1) Pāli, Pāc. 11. Ngũ phần, điều 128; Tăng-kỳ, 123.
(2) Ám thất 闇室. Pāli: rattandhakāre appadīpe, trong bóng tối ban đêm không đèn.
(3) Pāli, Pāc.11:  “Một mình  cùng  người  nam  đứng  hay  nói  chuyện  trong  đêm tối không đèn đuốc.”
 

* Trang 906 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nhà tối: không có đèn, lửa, không có cửa sổ nơi tường, không có ánh sáng.
Tỳ-kheo-ni cùng nam tử vào trong nhà tối, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  Có  đèn, lửa; tường  có cửa sổ,  ánh  sáng;  hoặc bị cường lực bắt dẫn  vào,  hoặc mạng nạn,  phạm hạnh nạn. Thảy  đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.(1)
ĐIỀU 87. THUẬT LỜI NGHE KHÔNG RÕ (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni Đề-xá Nan-đà là đệ tử của tỳ-kheo-ni  Sám-ma.  Thầy bảo  cô lấy  y  bát,  ni-sư-đàn,  ống  đựng  kim đem đến. Khi tỳ-kheo-ni Đề-xá nghe lời thầy dạy nhưng nghe không rõ, lại nói với các tỳ-kheo-ni khác rằng: “Thầy bảo tôi trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni nghe nói như vậy,  liền hỏi tỳ-kheo-ni Sám-ma: “Thật sự cô có bảo đệ tử của cô  trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim hay không?” 
Sám-ma nói:“Các cô, tôi  làm sao có ý nghĩ đó, bảo đệ tử trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim? Tôi chỉ bảo, lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim đem đến đây, chứ tôi đâu có bảo trộm lấy!”
Bấy giờ có các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, [743b] hiềm  trách tỳ-kheo-ni
____________________
(1) Bản Hán, hết quyển 25.
(2) Pāli, Pāc. 18. Ngũ phần, điều 133. Căn bản ni, ba-dật-đề 92.

* Trang 907 *
device

Đề-xá-nan-đà: “Sao cô không nghe rõ lời bảo của thầy mà lại đến nói với các tỳ-kheo-ni rằng: ‘Thầy bảo tôi trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim.’?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Đề-xá-nan-đà:
“Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại  sao  nghe  không  rõ lời  thầy  nói mà  nói với  các tỳ-kheo-ni rằng: ‘Thầy bảo tôi trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim.’?”
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách tỳ-kheo-ni Đề-xá-nan-đà rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni Đề-xá-nan-đà là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nghe không rõ lời mà đem nói với người, ba-dật-đề. (1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni  nào,  nghe  không  rõ lời mà  đem  nói với  các tỳ-kheo-ni rằng: “Thầy bảo tôi trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim”, nói rõ ràng, phạm ba-dật-đề; nói không rõ ràng, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Sự thật là như vậy, như nói: “Cô đến trộm lấy y bát, ni-sư-đàn,  ống  đựng  kim  đem  đến  đây.” Đệ tử  đến  các tỳ-kheo-ni
_________________
(1) Căn bản ni: “…không xét kỹ mà lại cật vấn…” Pāli: dug-gahitena dūpadhāritena paraṃ  ujjhāpeyya,  do  không  hiểu  rõ,  do  hiểu  nhầm,  khiến  người  khác bị  hiềm trách.

* Trang 908 *
device

nói: “Thầy  tôi bảo  tôi  trộm lấy y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim đem đến.” Hoặc nói đùa giỡn, nói gấp gáp, nói một mình, nói trong mộng hay muốn nói việc này nhầm nói việc khác. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 88. THỀ THỐT (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni vì một việc nhỏ, hờn giận nhau,  thề  thốt, sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh  trong Phật pháp, nói: “Nếu  tôi có  làm việc này  thì  tôi sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp. Nếu cô có làm việc này cô cũng sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các  cô  [743c]  chỉ  vì một  việc  nhỏ,  giận dữ  thề  nguyền sẽ  đọa  ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp, nói: ‘nếu tôi có làm việc này thì  tôi sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh  trong Phật pháp. Nếu cô có  làm việc này cô cũng sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh  trong Phật pháp!’?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, sao các cô chỉ vì một việc nhỏ giận hờn nhau, thề sẽ đọa ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp, mà nói:  ‘Nếu  tôi có  làm  việc này  thì  tôi sẽ đọa  trong ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp; nếu cô có làm việc này cô sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp!’?”
_______________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 19. Ngũ phần, điều 134. Căn bản ni: điều 91.

* Trang 909 *
device

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  chỉ  vì một  nhân  duyên  nhỏ mà  thề  thốt sẽ đọa  vào  ba  đường dữ,  không  sanh  trong  Phật  pháp,  nói: ‘Nếu  tôi  có  làm  việc  này  thì  tôi sẽ  đọa  vào  ba  đường dữ, không sanh trong Phật pháp. Nếu cô có làm việc này cô cũng sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh  trong Phật pháp’; (1) ba-dật-đề. (2)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Đức  Phật dạy, từ  nay  trở  đi  cho  phép xưng  “Nam mô  Phật”,  nói:
“Nếu tôi có làm việc này thì ‘Nam mô Phật.’ Nếu cô có làm việc này thì cũng ‘Nam mô Phật.’”
Tỳ-kheo-ni  chỉ  vì một  việc  nhỏ mà  thề  thốt sẽ  đọa  ba  đường dữ, không sanh trong Phật pháp, mà nói: “Nếu tôi có làm việc này thì sẽ đọa trong ba đường dữ, không sanh  trong Phật pháp. Nếu cô có  làm việc này cũng sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp.” Nói rõ ràng, phạm ba-dật-đề; nói không rõ ràng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm. 
Sự không phạm: Nếu nói: “Nam mô Phật”, hoặc nói đùa, nói nhanh vội, nói một mình, nói  trong mộng hay muốn nói việc này nhầm nói việc khác, thì không phạm.
____________________                                         
(1) Ngũ phần: “Tỳ-kheo-ni, tự thế thốt, nhưng thật sự nguyền rủa người khác...”
(2) Căn bản  ni:  “…đem  phạm hạnh  ra  mà  thề  thốt…” Pāli:  nira-yena brahmacariyena vā abhisapeyya, nguyền rủa bằng địa ngục hay phạm hạnh.

* Trang 910 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 89. ĐẤM NGỰC KHÓC (1)
a. Duyên khởi
[744a1] Một thời, đức Thế Tôn ở Câu-thiểm-di, trong vườn Cù-sư-la.
Bấy  giờ, tỳ-kheo-ni  Ca-la  cãi cọ (2) với  người  khác,  không  khéo  ghi nhớ tránh sự,(3) lấy tay đấm vào ngực mà khóc la.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách tỳ-kheo-ni Ca-la: “Sao cô cãi lộn với người khác rồi lấy tay đấm vào ngực mà khóc la?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Ca-la:
“Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni Ca-la, sao cô cãi lộn với người khác rồi lấy tay đấm vào ngực mà khóc la?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo-ni Ca-la rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni Ca-la này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  cùng  tranh  cãi,  không  khéo  ghi  nhớ  tránh sự (4) , đấm ngực la khóc,(5) ba-dật-đề.
_______________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 20, Vin. iv.77. Ngũ phần, điều 132. Căn bản ni, điều 90.
(2) Đấu tránh 鬥諍. Pāli: bhaṇḍitvā, tranh luận.
(3) Xem Ni luật, Tăng-già-bà-thi-sa 17.
(4) Pāli: không có các chi tiết này.
(5) Căn bản ni: “…vì giận hờn mà tự đấm ngực…” Pāli: vadhitā vadhitā rodheyya, tự đấm mình liên hồi, rồi khóc.
 

* Trang 911 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni cùng người khác tranh cãi: có bốn sự tranh cãi như trước đã nói.
Nếu Tỳ-kheo-ni cùng nhau  tranh cãi, không khéo ghi nhớ các  tránh sự, đấm ngực  la khóc, mỗi lần đấm ngực  là phạm một ba-dật-đề; rơi một giọt nước mắt, phạm một ba-dật-đề.(1)
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh  thế nào đó; hoặc khi ăn bị  nghẹn  nên phải tự đấm;  hoặc vì đại  tiểu  tiện mà chảy nước mắt; hoặc nhân bởi gió, lạnh, nóng mà chảy nước mắt; hoặc do khói xông mà chảy nước mắt; hoặc nhân nghe pháp tâm sanh nhàm chán mong cầu xa  lìa mà rơi nước mắt; hoặc nhỏ thuốc đau mắt nước mắt chảy. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 90. HAI NGƯỜI NẰM CHUNG GIƯỜNG (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở nước Bà-kỳ-đà.(3) Bấy giờ có nhóm sáu tỳ-kheo-ni, hai người đồng nằm một giường. Các tỳ-kheo-ni thấy, tưởng là nằm chung với đàn ông. Khi họ đứng dậy, mới biết chẳng phải  là đàn ông. Bấy giờ có một đại tướng, dũng kiện, nhiều trí, đủ các thuật, giỏi chiến đấu. Vừa cưới vợ chưa bao lâu thì được lệnh đi chinh phạt, ông bèn  nghĩ: “Nay  ta phải  viễn chinh. Nên gởi vợ lại cho ai? Nếu [744b] gởi cho cư sĩ thì nhà có nhiều các đàn ông, không thể được.”
____________________                                        
(1) Pāli: phải đủ cả hai yếu tố, tự đấm và khóc. Tự đấm mà không khóc, hay chỉ khóc mà không tự đấm, phạm đột-kiết-la.
(2) Pāli, Pāc. 31. Căn bản ni: điều 100.
(3) Bà-kỳ-đà 婆祇陀. Pāli, Phật tại Sāvatthi.

* Trang 912 *
device

Trước đó, đại tướng có quen biết với tỳ-kheo-ni Bạt-đề Ca-tì-la, (1) nên nghĩ: “Nay  ta có  thể đem vợ giao phó cho tỳ-kheo-ni Ca-tì-la  trước khi xuất chinh.” Ông bèn đem vợ đến đó gởi.
Tỳ-kheo-ni Ca-tì-la  nhận  người vợ được gởi. Vì  để  trông nom, nên hai  người  cùng  ngủ một  giường. Thân  thể tỳ-kheo-ni Ca-tì-la mềm mại, nên người đàn bà kia khi xúc chạm, sanh tâm nhiễm ái. Sau khi đại tướng chinh phạt xong  trở về, đến đón vợ về nhà. Nhưng người vợ do  luyến ái  thân  thể mềm mại của tỳ-kheo-ni nên  trốn đại tướng, trở lại ở với cô ni.
Bấy giờ, đại tướng nghĩ rằng: “Ta muốn  làm tốt lại hóa  ra xấu. Tại sao vợ ta nay không yêu ta nữa mà lại luyến ái tỳ-kheo-ni, trốn ta đến ở với cô ni?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Bạt-đề  Ca-tì-la:  “Sao  các  cô,  hai  người  cùng nằm một giường?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo-ni Ca-tì-la:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Tại sao các cô, hai người cùng nằm một giường?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách nhóm sáu ni và tỳ-kheo-ni Ca-tì-la rồi bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu ni và tỳ-kheo-ni Ca-tì-la này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,  là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  hai  người nằm  chung một  giường, ba-dật-đề.
___________________                                         
(1) Bạt-đề Ca-tì-la 跋提迦毘羅. Pāli: Bhaddā Kāpilāni.

* Trang 913 *
device

Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ, có vị vì sự nghi, không dám cùng nằm một giường với tỳ-kheo-ni bệnh, cũng không dám thay nhau cùng ngồi, thay nhau cùng nằm. Đức Phật dạy: 
“Cho  phép  cùng  người bệnh  đồng nằm một  giường;  cho  phép  luân phiên ngồi, luân phiên nằm.” 
Từ nay trở đi nên kết giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  không bệnh mà  hai  người  cùng nằm một giường, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Giường: có năm loại như trước đã nói.
Tỳ-kheo-ni  không bệnh,  hai  người  đồng nằm một  giường, mỗi  khi hông dính chiếu  trải  trên giường, mỗi một lần phạm một ba-dật-đề; cứ mỗi lần trở mình phạm một ba-dật-đề.
[744c] Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Cùng nằm một  giường với  người bệnh;  hoặc  luân phiên ngồi,  luân phiên nằm; hay bị bệnh xỉu; hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói hay vì mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 91. CHUNG NỆM CHĂN (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở nước Bà-kỳ-đà. Bấy giờ,  trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni, hai người nằm chung một nệm, chung một chăn. Các tỳ-kheo-ni  thấy, tưởng nằm chung với đàn ông. Khi đứng dậy mới biết chẳng phải đàn ông.
________________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 32.

* Trang 914 *
device

Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô hai người nằm chung một nệm, chung một chăn?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc  không  nên  làm. Tại  sao  các  cô  hai  người nằm chung một nệm, chung một chăn?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi, bảo  các tỳ-kheo:  “Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, hai người nằm chung một nệm, chung một chăn, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có tỳ-kheo-ni kia chỉ có một  đồ  trải  hoặc  là bằng rơm cỏ,  hoặc bằng  lá  cây,  các tỳ-kheo-ni nghi không dám cùng nằm, đức Phật dạy: 
“Cho phép tỳ-kheo-ni dùng riêng đồ trải, ngọa cụ, chăn. Nếu khi lạnh mà  chỉ  có một  cái  chăn,  cho  phép  cùng  đắp,  nhưng  bên  trong mỗi người phải mặc áo lót khi nằm.” 
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nằm cùng một nệm, cùng một chăn, ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni  hai  người nằm  cùng một nệm,  cùng một  chăn,  tùy  theo hông dính nơi giường, phạm ba-dật-đề; mỗi lần  trở mình phạm một ba-dật-đề. Nếu  cùng một nệm mà  khác  chăn,  đột-kiết-la. Nếu  cùng một chăn mà khác nệm, đột-kiết-la.

* Trang 915 *
device

Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  [745a1]  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Chỉ có một đồ trải bằng cỏ, bằng lá, riêng mỗi người có  đồ  trải bằng dạ;  hoặc  khi  trời lạnh nằm  cùng một  cái  chăn, mỗi người đều mặc áo  lót; hoặc bị bệnh xỉu; hoặc bị cường lực bắt, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 92. CỐ Ý GÂY PHIỀN (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  vì muốn  quấy  nhiễu người nên, hoặc (mình) ở trước với (người) đến sau, hoặc (mình) đến sau với (người) ở trước; (2) trước mặt tụng kinh, hỏi nghĩa, giáo thọ. (3)
Các Tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Tại sao  các  cô cố  ý  gây  phiền  phức, ở  trước  đến  sau,  đến  sau ở  trước; trước mặt tụng kinh, hỏi nghĩa, giáo thọ?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
___________________
(1) Pāli, Pāc. 33. Thập tụng: điều 100 & 101.
(2) Hán: tiên trụ hậu chí, hậu chí tiên trụ 先住後至後至先住, được hiểu: “với người ở trước mà mình đến sau, hoặc người đến sau mà mình ở trước…”. Thập tụng, điều 100: “Người ở trước quấy nhiễu người ở sau 先住惱後住者;” điều 101: “Người ở sau quấy nhiễu người ở  trước 後住惱先住者.” Xem cht. 142 dưới. So  sánh điều 173 sau.
(3) Thập tụng: “… đầu hôm, khách tọa thiền…, cô ngủ. Giữa đêm, khách ngủ, cô tọa thiền, tụng  kinh…  khách mất  ngủ…” Pāli, Vin.iv.  290:  Thullanandā  quấy  nhiễu Bhaddā Kāpilāni bằng cách, ban đêm, đi tới, đi  lui, đứng  lên, ngồi xuống…, đọc kinh, bảo người đọc kinh…(phá không cho cô này ngủ, vì ghen tức).

* Trang 916 *
device

“Tại  sao  các  cô cố  ý  gây  phiền  phức,  ở  trước  đến  sau,  đến  sau  ở trước; trước mặt tụng kinh vấn nghĩa, giáo thọ?” 
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cố  ý  gây  phiền  phức, ở  trước đến  sau,  đến sau  ở  trước;  trước mặt tụng  kinh, hỏi  nghĩa,  giáo  thọ,(1) ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có tỳ-kheo-ni không biết ai ở trước hay chẳng phải ở trước, ai đến sau hay chẳng phải đến sau, sau đó mới biết nên trong số đó có vị tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc là nghi. Phật dạy: “Không biết thì không phạm.” 
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết ở trước đến sau, biết đến sau ở trước, vì cố  ý  gây  phiền  phức,  trước mặt tụng  kinh, hỏi  nghĩa,  giáo thọ, ba-dật-đề.
b. Giới tướng

Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni biết ở  trước đến sau, đến sau ở  trước, vì cố ý gây phiền phức, trước mặt tụng kinh, hỏi nghĩa, giáo thọ; nói rõ ràng, phạm ba-dật-đề; không rõ ràng, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là [745b] phạm.
Sự không phạm: Nếu không biết; hoặc được cho phép; hoặc bà con, hoặc người bà con nói: “Sư cô cứ giáo thọ. Tôi sẽ vì sư cô nói cho.”
 ________________                                       
(1) Pāli,  bhikkhuniyā  sañcicca  aphāsuṃ  kareyya, cố  ý  gây bất  an  cho tỳ-kheo-ni khác.

* Trang 917 *
device

Hoặc người ở  trước đến  thọ kinh với người đến sau, hay người đến sau đến thọ tụng với người ở trước. Hoặc cả hai người đều đến người khác  thọ. Hoặc người kia hỏi người này đáp. Hoặc cùng nhau tụng; hoặc  nói  vui  đùa,  nói gấp  gáp,  nói  trong mộng;  hay muốn  nói  việc này nhầm nói việc khác. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 93. KHÔNG CHĂM SÓC NI SỐNG CHUNG BỆNH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà cùng sống chung với tỳ-kheo-ni khác bị bệnh mà không chăm sóc. Các tỳ-kheo-ni hỏi rằng, “Tỳ-kheo-ni  cùng sống chung với cô bị bệnh,  sao không chịu chăm  sóc?” Thâu-la-nan-đà vẫn cố  tình không chăm  sóc. Do không chăm sóc nên cô ni kia qua đời.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Tại sao cô không chăm sóc tỳ-kheo-ni bị bệnh cùng sống chung với cô? Các Tỳ-kheo-ni  có  nhắc  nhở  khuyên bảo  cô mà  cô vẫn  không nghe lời chăm sóc, để cho cô ấy chết.”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà:“Cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, tại sao tỳ-kheo-ni cùng sống chung với  cô bị bệnh  mà  cô  không  chăm  sóc?  Các tỳ-kheo-ni  nhắc  nhở khuyên  cô  nên  chăm  sóc,  cô vẫn  không  chăm  sóc,  để  cho  cô  kia chết?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà này  là nơi
____________
(1) Pāli, Pāc. 34. Ngũ phần: điều 123; Thập tụng: điều 102. Căn bản ni: điều 99.

* Trang 918 *
device

trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, tỳ-kheo-ni  cùng sống  chung bị bệnh  mà không chăm sóc(1) , ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Cùng sống chung: (2) là hai tỳ-kheo-ni cùng sống và làm việc với nhau.
Tỳ-kheo-ni  không  chăm  sóc tỳ-kheo-ni  cùng sống  chung bị bệnh phạm ba-dật-đề. Trừ người cùng sống chung bị bệnh ra, các tỳ-kheo-ni  khác,  hoặc Hòa  thượng A-xà-lê,  hoặc  [745c]  đồng Hòa  thượng, hoặc đồng A-xà-lê, hoặc đệ tử, bà con quen biết bị bệnh mà không chăm sóc, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Người cùng sống chung bị bệnh có chăm sóc; hoặc tự thân mình có bệnh không thể chăm sóc được. Hoặc do việc ấy đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 94. ĐUỔI NI AN CƯ RA KHỎI PHÒNG (3)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà  vào  an cư,  ban đầu cho phép tỳkheo-ni khác trải giường trong phòng. Nhưng khi an
_______________________
(1) Ngũ phần: không tự mình khán hộ, không khiến người khác khán hộ. Pãli: nevaupattheyya na upatthãpanãya ussukkam kareyya, không chăm sóc, không nhiệt tình khiến người khác chăm sóc.
(2) Đồng hoạt 同活. Ngũ phần: đồng học 同學. Căn bản ni: thân đệ tử, y chỉ đệ tử 親弟子依止弟子. Pāli:  sahajīvitaṃ, sống  chung;  giải  thích:  saddhivihārinī,  cùng  ở chung (một chỗ).
(3) Pāli, Pāc. 35. Cf. Tăng kỳ, 136.

* Trang 919 *
device

cư giữa chừng, vì giận hờn, kéo giường đuổi họ ra ngoài. Tỳ-kheo-ni bị đuổi xấu hổ, sợ mất đêm (1) nên bỏ tu.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Tại sao vào an cư, ban đầu cô cho phép tỳ-kheo-ni khác bày giường trong  phòng;  an cư  giữa  chừng,  vì  giận hờn,  cô  kéo  giường  đuổi người ta ra khiến cho họ xấu hổ, phải bỏ tu?”
Khi  ấy  các tỳ-kheo-ni  đến bạch với  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo  đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: “Cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, sao vào an cư ban đầu cô cho phép tỳ-kheo-ni khác bày giường  trong phòng; an cư giữa chừng, vì giận hờn, cô kéo giường đuổi họ ra, khiến cho họ xấu hổ bỏ tu?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  đầu  an cư,(2) cho  phép tỳ-kheo-ni  khác  bày giường  trong phòng để an cư,  sau vì giận hờn đuổi  ra,(3) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Trong an cư: tức thọ an cư rồi.
_______________________                                        
(1) Thất  túc 失宿. Cũng  nói  là  thất  tuế 失歲,  hay mất  tuổi hạ;  xem  đoạn  sau, tr.835a08.
(2) Pāli, Pāc. 35, không có chi tiết an cư.
(3) Pāli thêm chi tiết, “hoặc bảo đuổi ra.”
 

* Trang 920 *
device

Giường: có năm loại như trước đã giải.
Tỳ-kheo-ni, an cư ban đầu cho phép tỳ-kheo-ni khác để giường trong phòng, sau giận hờn đuổi ra,  tùy  theo phương  tiện,  tùy  theo mỗi lần (người bị đuổi) bước ra khỏi cửa, (người đuổi) phạm một ba-dật-đề. Nếu  phương  tiện  đuổi  nhiều  người  ra  nhiều  [746a1] cửa  thì  phạm nhiều ba-dật-đề. Nếu phương tiện đuổi nhiều người ra một cửa, phạm nhiều ba-dật-đề. Nếu phương tiện đuổi một người ra nhiều cửa, phạm nhiều ba-dật-đề. Nếu phương  tiện đuổi một người ra một cửa, phạm một ba-dật-đề. Nếu quăng ném các  y vật khác  ra, phạm đột-kiết-la. Nếu đóng cửa không cho người ta vào, phạm đột-kiết-la. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Không do sân nhuế mà tùy theo cấp bực Thượng tọa đuổi hạ tọa ra; người chưa thọ giới ngủ quá hai đêm; đến đêm thứ ba, đuổi ra; khiến người bệnh ra nơi đại tiểu tiện để tiện lợi; hoặc đối với kẻ phá giới, phá kiến, phá oai nghi, bị cử tội, bị diệt tẫn, đáng bị diệt tẫn; hoặc do việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn... vì tất cả các việc trên nên đuổi ra, thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 95. DU HÀNH SUỐT BA MÙA (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà, ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni, trải qua ba mùa xuân, hạ  và  đông  lúc  nào cũng  du  hành  trong  nhân  gian. Gặp  những  lúc mưa  to gió lớn, nước sông tràn ngập, cuốn trôi y bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim, và đạp chết cỏ sống. Các cư sĩ  thấy cơ hiềm “Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, đoạn mạng sống của chúng sanh. Bên ngoài
_______________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 39. Ngũ phần: điều 92; tham chiếu, điều 89: “không an cư...”, điều 90 “... không y chỉ chúng tỳ-kheo để an cư...” Tăng kỳ: điều 134; Thập tụng: điều 95. Căn bản ni: điều 101. Xem thêm, Tứ phần, điều 164.

* Trang 921 *
device

tự xưng, tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Tỳ-kheo-ni sao lúc nào cũng đi du hành trong nhân gian, trải suốt ba mùa. Gặp lúc mưa lớn, nước sông tràn ngập, cuốn trôi vật dụng, lại đạp chết cỏ sống, đoạn mạng chúng sanh?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô lúc nào cũng du hành trong nhân gian, trải suốt ba mùa xuân, hạ, đông? Gặp  lúc mưa lớn, nước sông tràn ngập, cuốn trôi y vật, lại đạp chết cỏ sống; khiến các cư sĩ cơ hiềm.”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức  Phật. Đức  Phật  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni,  sao lúc  nào cũng  du  hành  trong  nhân  gian,  suốt cả  ba  mùa  xuân, hạ, đông. Gặp  lúc mưa  to, nước sông  tràn ngập, cuốn  trôi y vật, lại đạp chết cỏ sống, [746b] khiến cho các cư sĩ cơ hiềm?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni, rồi bảo các tỳ-kheo: “Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  suốt cả  xuân-hạ-đông  đều  du  hành  trong nhân gian, ba-dật-đề.
Thế Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy. Có tỳ-kheo-ni  vì  việc Phật,  việc  Pháp,  việc Tăng,  việc tỳ-kheo-ni bệnh.  Phật dạy:  “Cho phép đi ra ngoài giới được thọ pháp bảy ngày.” 
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  suốt cả  xuân-hạ-đông, (1)  đều  du  hành  trong nhân gian, (2) phạm ba-dật-đề, trừ nhân duyên khác.
__________________________                                        
(1) Căn bản ni: “ hạ an cư chưa tự tứ…”
(2) Pāli, Pāc. 39, Vin.iv. 296: antovassaṃ cārikaṃ careyya, du hành trong mùa mưa.

* Trang 922 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, trong suốt cả xuân hạ đông, đều du hành trong nhân gian,  tùy  theo mỗi lần vào bên  trong cương giới của một  thôn, mỗi mỗi  phạm  ba-dật-đề. Nếu nơi  không  có  thôn, nơi  không  có cương giới,  thì du hành  trong khoảng mười  lý, (1) phạm ba-dật-đề. Dưới một thôn hay dưới mười  lý phạm đột-kiết-la. Trong khoảng một  thôn, đi trong một cương giới, phạm đột-kiết-la.
Phương  tiện muốn đi mà không đi, hoặc hẹn đi mà không đi, tất cả đều  phạm  đột-kiết-la. Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: vì việc Phật, Pháp, Tăng, việc tỳ-kheo-ni bệnh, đi ra ngoài giới được thọ pháp bảy ngày. Hoặc bị cường lực bắt hay bị trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 96. AN CƯ XONG KHÔNG ĐI (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có các cư sĩ ở Xá-vệ  thỉnh tỳ-kheo-ni Sám-ma cùng nhau lập điều kiện: “Chúng tôi cúng dường chúng Tăng cho đến  an cư  xong.”  Nhưng  an cư  xong, tỳ-kheo-ni  Sám-ma vẫn  ở, không đi. Các cư sĩ cơ hiềm: “Trước đây chúng tôi có giao ước, thỉnh tỳ-kheo-ni Sám-ma đến an cư, cùng cúng dường chúng Tăng cho đến an cư xong. Nay an cư xong, tỳ-kheo-ni Sám-ma ở không chịu đi!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  hiềm  trách tỳ-kheo-ni  Sám-ma rằng:
________________________                                         
(1) Pāli (Vin.iv. 297): “bên trong thôn có nhà sát nhau, đi đến mỗi thôn phạm một ba-dật-đề. Trong khoảng trống không nhà, đi qua nửa do-tuần, phạm một ba-dật-đề.”
(2) Pāli, Pāc.  40; Ngũ  phần:  điều  94; Tăng kỳ:  điều  135; Thập tụng:  điều 96. Căn bản: điều 102.

* Trang 923 *
device

“Các cư sĩ cùng nhau lập điều kiện  thỉnh Sám-ma đến,  [746c] cùng cúng dường chúng Tăng cho đến an cư xong. Nay an cư xong tại sao ở luôn không chịu đi?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Sám-ma: “Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc  không  nên  làm. Cư sĩ  cúng dường  an cư. Nay an cư xong, sao cố ở lại không đi, khiến cho các cư sĩ cơ hiềm?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách tỳ-kheo-ni Sám-ma rồi, bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là  người  đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới gồm mười  cú  nghĩa,  cho  đến  câu  chánh  pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, hạ an cư xong không đi,(1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni an cư xong nên xuất hành, cho đến chỉ một đêm. Nếu Tỳ-kheo-ni nào, an cư rồi không xuất hành, ba-dật-đề. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm. 
Sự không phạm: An cư rồi đi; nếu cư sĩ kia mời ở lại, nói: “Tôi sẽ cúng dường lại”; hoặc các nhà  thay nhau mời  thọ  thực; hoặc bà con nam nữ mời thọ thực ngày ấy hay ngày mai; hoặc vì bệnh, không có bạn  chăm  sóc;  hoặc bị nạn nước, nạn  thú dữ, nạn  giặc cướp, nạn nước  tràn ngập; hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị  trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, gặp những nạn như vậy, hạ an cư xong không xuất hành, không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
_______________________                                         
(1) Ngũ phần, điều 94: “…qua một đêm mà không đi…” Pāli: “Nếu không ra đi du hành năm hay sáu do-tuần...”

* Trang 924 *
device

ĐIỀU 97. DU HÀNH NƠI BIÊN GIỚI MẤT AN NINH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ  nhân dân nơi  biên giới (2) của vua Ba-tư-nặc làm phản nghịch. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni du hành đến nơi có nghi ngờ, có  kinh sợ  như  thế. Bọn  giặc  thấy,  nói:  “Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  này đều  là  người  được  vua Ba-tư-nặc  cúng dường. Chúng  ta  hãy  quấy nhiễu.” Các cư sĩ  thấy, cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn,  đều  phạm  phạm hạnh. Bên  ngoài tự xưng  tôi  tu  chánh  pháp. Như vậy  có  gì  là  chánh  pháp? Tại  sao  du  hành  nhân  gian nơi  biên giới,  đến  chỗ  có sự  kinh sợ;  giống  như bọn  dâm nữ, tặc nữ  không khác!”
Các tỳ-kheo-ni  nghe,  [747a1]  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:  “Tại  sao  các  cô  du  hành  trong  nhân  gian,  đến nơi  có sự  khủng bố?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật vì  nhân duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Tại sao các cô du hành  trong nhân gian, đến nơi có sự khủng bố như vậy?” Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương tiện quở trách bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
___________________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 38. Ngũ phần: điều 96; Tăng kỳ (tr. 539b4), điều 118; điều Thập tụng: điều 98. Căn bản ni: điều 103.
(2) Căn bản  ni  17  (tr.1003c05): Vua Vị  Sinh Oán  (A-xà-thế)  chuẩn bị  chinh  phạt thành Quảng Nghiêm (thành Xá-vệ, nước Câu-tát-la). Thập tụng 98 (tr.323b03): A-xà-thế đang đánh nhau với một tiểu quốc ở biên cảnh.

* Trang 925 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, du hành (1) trong nhân gian đến biên giới (2) nơi có nghi ngờ, kinh sợ, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Biên giới: cách xa thành thị.
Có sự nghi: nghi có giặc cướp.
Kinh sợ: giặc cướp khủng bố.
Tỳ-kheo-ni nào du hành đến nơi biên giới, chỗ có sự khủng bố,  tùy theo sự đi vào  thôn, mỗi cương giới phạm một ba-dật-đề. Nơi  trống vắng không  thôn, đi mười  lý phạm một ba-dật-đề; đi dưới một  thôn hay dưới mười  lý phạm đột-kiết-la. Nếu trong thôn, một cương giới, phạm một đột-kiết-la.
Phương tiện muốn đi, cùng hẹn đi mà không đi, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  hoặc bị  kêu  hay  được mời,  hoặc  có  việc cần  đến, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị  trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, hoặc mình  đến  trước rồi  sau mới  có sự  nghi  khủng bố  phát  khởi. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
_________________
(1) Pāli: asatthā cārikaṃ careyya, bản Anh dịch: du hành mà không vũ khí; nghĩa  là không ai bảo vệ. Hoa dịch: du hành mà không theo thương đội. Từ Pãli sattha có nghĩa là gươm hay vũ khí, cũng có nghĩa là thương đội. Ngũ phần: xuất quốc cảnh... vô sở y hỗ 出國境... 無所依怙. Tăng-kỳ: đi đến chỗ hoang vắng mà không theo đoàn buôn ( Giới bản: đi đến nước khác mà không theo đoàn buôn chung).
(2) Pāli, Pāc. 38: … tiroraṭṭhe, bên ngoài lãnh thổ. Ngũ phần: quốc cảnh 國境. Thập tụng: quốc giới biên 國界邊. Cf. Căn bản ni, điều 103: vương quốc trung 王國中.

* Trang 926 *
device

ĐIỀU 98. DU HÀNH TRONG QUỐC GIỚI KHÔNG AN NINH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhân dân bên  trong quốc giới của vua Ba-tư-nặc nổi lên làm phản. (2) Bên trong quốc giới tại nơi có phản loạn ấy có sự  nghi  ngờ,  kinh sợ,  nhưng  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni vẫn  du  hành. Bọn giặc thấy, nói: “Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này đều do nhà vua Ba-tư-nặc cung cấp cúng dường. Chúng ta nên quấy nhiễu.”
Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm, nói: 
“Các tỳ-kheo-ni này không có hổ thẹn, thảy đều vi phạm phạm hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi tu chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Sao lại du hành đến chỗ [747b] có sự kinh sợ, bên trong quốc giới, giống như bọn tặc nữ, dâm nữ không khác!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô lại du hành trong nhân gian nơi có sự kinh sợ?”
Chư ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
“Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Sao các cô lại du hành nhân gian bên trong quốc giới nơi có sự kinh sợ?”
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
_________________
(1) Pāli, Pāc. 37. Ngũ phần: điều 95. Tăng kỳ, điều 119. Thập tụng: điều 97; Cf. điều 199. Tham chiếuCăn bản ni: điều 104.
(2) Quốc vương Ba-tư-nặc nước Kiêu (Câu)-tát-la đánh nhau với một tiểu quốc.

* Trang 927 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  du hành  (1) nơi có sự nghi ngờ, kinh sợ bên trong quốc giới, (2) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Bên trong quốc giới: có bốn mặt thành bao quanh. (3)
Có sự nghi ngờ: nghi có giặc cướp.
Nơi kinh sợ: chỗ có bọn giặc cướp.
Tỳ-kheo-ni nào du hành nhân gian nơi có sự nghi ngờ kinh sợ bên trong quốc giới, tùy theo mỗi lần vào thôn, đi mỗi cương giới, phạm một ba-dật-đề. Đi nơi trống vắng không có thôn, mười lý phạm một ba-dật-đề. Dưới một thôn hay dưới mười lý phạm đột-kiết-la. Đi trong thôn, một cương giới, phạm một đột-kiết-la.
Nếu phương tiện muốn đi mà không đi, cùng hẹn mà không đi, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu có việc cần thưa; hoặc bị kêu, hay được mời;
hoặc bị cường lực bắt, hay bị trói; hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; hoặc đến đó trước, sự nghi ngờ có khủng bố xảy ra sau. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 99. Thân cận cư sĩ (4)
__________________
(1) Xem cht. 160 trước.
(2) Pāli: antoraṭṭhe, bên trong lãnh thổ. 
(3) Đây hiểu là thành bang, tức quốc gia theo chế độ Nhà nước thành thị, mỗi thành thị  là một  quốc  giới. Pāli, Vin.iv.  295:  yassa  vijite  viharati,  tassa  raṭṭhe,  trong phạm vi mà người ấy đang sống, đó là trong quốc giới của nó.
(4) Pāli, Pāc. 36.

* Trang 928 *
device

a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà, ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni gần gũi sống chung (1) với cư sĩ, con trai cư sĩ, sống không tùy thuận. Các tỳ-kheo-ni can gián: "Này cô, không nên gần2gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra (2). Nếu cô sống riêng [747c] thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp." Nhưng cô kia vẫn cố không ở riêng. Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách tỳ-kheo-ni kia: "Sao cô gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống chung, sống không tùy thuận?"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni kia:
"Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao cô ở chung cùng gần gũi với cư sĩ, con trai cư sĩ, làm hạnh không tùy thuận?"
Quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
Từ nay trở đi Ta cho phép Tăng vì tỳ-kheo-ni kia tác pháp ha trách cho bỏ việc này bằng pháp bạch tứ yết-ma. Khiển trách như vầy để bỏ việc này: Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc tác bạch như vầy:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni có tên..., đã ở chung gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, làm hạnh không tùy thuận. Tỳ-kheo-ni khác can gián nói: 'Cô chớ gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra. Nếu cô sống riêng thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp.' Nhưng tỳ-kheo-ni kia vẫn như cũ không sống riêng ra. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận nay Tăng
___________________
(1) Thân cận cộng trú 親近共住. Pāli: saṃsaṭṭhā vihareyya, sống chung chạ.
(2) Biệt trú 別住. Pāli: viviccāyye, hãy xa lánh.

* Trang 929 *
device

trao cho tỳ-kheo-ni kia pháp quở trách, khiến bỏ việc này, nói: 'Cô chớ gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra. Nếu cô sống riêng thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp.' Đây là lời tác bạch.
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni này tên là..., đã gần gũi sống chung với cư sĩ, con trai cư sĩ, sống không tùy thuận. Các tỳ-kheo-ni khác can gián rằng, 'Cô chớ gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra. Nếu cô sống riêng thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp.' Nhưng tỳ-kheo-ni kia vẫn cố ý không thay đổi. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo-ni tên... pháp quở trách cho bỏ việc này, nói: 'Cô chớ gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, làm hạnh không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra. Nếu cô sống riêng thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp.' Các đại tỷ nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo-ni tên là... pháp ha trách cho bỏ việc này thì im lặng. Ai không đồng ý
xin nói."[748a1] (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
"Tăng đã chấp thuận trao cho Tỳ-kheo-ni tên... pháp ha trách cho bỏ việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Nên quở trách như vậy.
Chúng Tăng vì tỳ-kheo-ni kia tác pháp quở trách bằng bạch tứ yết-ma như vậy để bỏ việc này rồi, các tỳ-kheo-ni đến bạch các tỳ-kheo.Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Phật bảo các tỳ-kheo:
"Nếu có Tỳ-kheo-ni nào như vậy, Tăng cũng sẽ tác pháp bạch tứ yết-ma như vậy để bỏ việc này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, gần gũi sống chung với cư sĩ, con trai cư sĩ, sống hạnh không tùy thuận, tỳ-kheo-ni khác nên can gián tỳ- kheo-ni này rằng: 'Cô chớ gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống hạnh không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra. Nếu cô sống riêng thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp.'

* Trang 930 *
device

Khi tỳ-kheo-ni kia can gián, tỳ-kheo-ni này vẫn kiên trì không bỏ. Tỳ-kheo-ni kia nên ba lần can gián cho bỏ việc này. Cho đến lần thứ ba can gián, bỏ thì tốt; không bỏ, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Gần gũi: thường xuyên nói chuyện, thường xuyên cười giỡn, thường xuyên vui đùa với nhau. (1)
Cư sĩ: người chưa xuất gia.
Con trai cư sĩ:
con trai của người chưa xuất gia.
Tỳ-kheo-ni kia gần gũi chung sống với cư sĩ, con trai cư sĩ kia, sống hạnh không tùy thuận, tỳ-kheo-ni nên can gián tỳ-kheo-ni kia: "Cô chớ gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, sống hạnh không tùy thuận. Cô hãy sống riêng ra. Nếu cô sống riêng thì mới có sự tăng ích sống an lạc ở trong Phật pháp. Nay cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách mà phạm trọng tội."
Nếu cô ấy nghe theo thì tốt. Bằng không, nên tác bạch. Tác bạch xong, nên nói: "Này cô, tôi đã tác bạch xong, còn các pháp yết-ma nữa." Cô nên bỏ việc này đừng để Tăng phải quở trách mà phạm trọng tội.
Nếu nghe theo thì tốt. Bằng không, nên tác bạch yết-ma lần thứ nhất. Tác yết-ma lần thứ nhất xong nên nói: "Này cô, tôi đã tác bạch và tác yết-ma lần thứ nhất xong, còn hai pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách mà phạm trọng tội."
Nếu nghe theo lời thì tốt. Bằng không, tác yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai rồi nên nói: "Tôi đã tác yết-ma lần thứ hai xong, còn một pháp yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc này, [748b] đừng để Tăng quở trách mà phạm trọng tội."
_________________________
(1) Pāli:  ananulomikena kāyikavācasikena  saṃsaṭṭhā,  giao  tiếp với nhau  (thân cận) với thân và ngữ không chân chính (bất tùy thuận).

* Trang 931 *
device

Nếu nghe theo lời thì tốt. Bằng không, tác yết-ma lần thứ ba xong, phạm ba-dật-đề. Tác yết-ma lần thứ hai xong mới bỏ, phạm ba đột-kiết-la. Tác yết-ma lần thứ nhất mới bỏ, phạm hai đột-kiết-la. Bạch xong mà bỏ, phạm một đột-kiết-la. Bạch chưa xong, trước khi chưa bạch, gần gũi cư sĩ, con trai cư sĩ, làm hạnh không tùy thuận, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Khi mới nói liền bỏ; phi pháp biệt chúng ha trách, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ pháp hòa hợp, phi pháp, phi luật, phi Phật dạy bảo. Hoặc hoàn toàn không tác pháp ha trách. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 100. DU LÃM CUNG VUA (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni đến cung vua xem coi nhà vẽ, (2) vườn, rừng, hồ tắm. Các cư sĩ thấy cơ hiềm:
"Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, vi phạm phạm hạnh. Bên ngoài tự xưng ta biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Đến cung vua xem coi nhà vẽ, vườn, rừng, hồ tắm, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ."
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Sao các cô lại đi đến cung vua xem coi nhà vẽ, vườn, rừng, hồ tắm?"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với tỳ-kheo. Tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm
___________________
(1) Pāli, Pāc. 41. 
(2) Họa đường 畫堂. Pāli: uyyāne cittāgare paṭibhānacittaṃ, tranh vẽ tuyệt tác (được chưng bày) trong nhà trang trí họa trong lạc viên (của Vua). 

* Trang 932 *
device

sáu tỳ-kheo-ni: "Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa- môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, sao các cô đến cung vua xem coi nhà vẽ, vườn, rừng, hồ tắm?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi, bảo các tỳ-kheo: "Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp
cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kh3eo-ni nào, đến cung vua, (1) xem coi nhà vẽ,(2) vườn, rừng,(3) hồ tắm, (4) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào đến cung vua, xem coi nhà vẽ, vườn, rừng, hồ tắm.
Từ đường chính đến đường chính, [748c] từ đường chính đến chẳng phải đường chính, từ chẳng phải đường chính đến đường chính; từ cao đến thấp, từ thấp đến cao, đi đến mà thấy, ba-dật-đề; không thấy, đột-kiết-la.
Phương tiện muốn đi mà không đi; hẹn đi mà không đi; tất cả đều đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu vào trong cung vua để tâu việc gì; hoặc bị kêu hay được thỉnh; hoặc trên đường đi ngang qua đó; hoặc nơi nghỉ tạm lại đêm; hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; hoặc vì việc Tăng, việc tháp đến xem cách vẽ để lấy kiểu. Thảy đều không phạm.
__________________
(1) Pāli: rājāgaraṃ, lầu các của vua.
(2) Văn sức họa đường 文飾畫堂. Pal: cittāgāraṃ, nhà được trang trí vẽ vời.
(3) Viên lâm 園林. Pāli: ārāmaṃ vā uyyānam, công viên và lạc viên.
(4) Dục trì 浴池. Pāli: pokkharaṇiṃ, hồ sen.

* Trang 933 *
device

Hoặc đến trong Tăng-già-lam giáo thọ, nghe pháp; hoặc được mời trên đường đi ngang qua đó; hoặc nơi nghỉ đêm, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói dẫn đi, hoặc vì việc Tăng, việc tháp đến xem vườn rừng, hồ tắm để lấy kiểu. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 101. LỘ HÌNH TẮM SÔNG (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo-ni lộ hình tắm nơi sông, hồ, lạch nước. Có dâm nữ, tặc nữ đến nói với các tỳ-kheo-ni rằng:
"Các cô tuổi còn nhỏ, dưới nách chưa mọc lông mà lại xuất gia học đạo, tu phạm hạnh sao? Lúc tuổi còn trẻ trung ta có thể thọ hưởng ái dục. Khi già nua sẽ tu phạm hạnh. Như vậy cả hai đều được lợi!" Trong đó có vị tuổi còn nhỏ nghe nói như vậy sanh lòng không vui.
Bấy giờ, các cư sĩ thấy đều cơ hiềm: "Các tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Ở truồng mà tắm nơi sông, ao, hồ, lạch nước, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ không khác!"
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Sao các cô lộ hình tắm nơi sông, suối, ao, hồ, lạch nước?"
Các tỳ-kheo-ni thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, [749a1] làm việc không nên làm. Này tỳ-kheo-ni, sao các cô lộ hình tắm nơi sông, suối, ao, hồ, lạch nước?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: "Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều
______________________
(1) Pāli, Pāc. 21. Ngũ phần: điều 81. Thập tụng: 159.

* Trang 934 *
device

giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ." Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, lộ hình tắm trong nước sông, nước suối, nước ngòi,(1)  nước ao, (2) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nên dùng bốn cách để che hình khi tắm: Nơi khúc quanh bờ sông của dòng nước; nơi có bóng cây che; hoặc là nước che khuất; hoặc dùng y che t4hân. Với ba cách che đầu, không được lấy và  trao vật dụng cho nhau (3). Dùng y che thân, được phép làm tất cả sự việc như pháp. Tỳ-kheo-ni nào lõa hình tắm nơi sông, suối, ao, hồ, lạch nước mà nước thấm hết thân, ba-dật-đề; nước thấm không hết thân, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Chỗ khúc quanh của bờ sông, chỗ có bóng cây che, nơi ngăn che bởi nước; hoặc dùng y ngăn che thân, hoặc bị cường lực bắt. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 102. Y tắm quá lượng (4)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo-ni sắm y tắm. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo-ni
___________________
(1) Trong bản: thâm thuỷ 深水, nước sâu. TNM: cừ thuỷ.
(2) “…tắm trong…nước ao,” Pāli không có chi tiết này. Thập tụng: “Tắm khỏa thân tại chỗ trống.”
(3) Bất đắc tương thủ dữ khí vật 不得相取與器物. Bản Cung, không có chữ bất.
(4) Pāli, Pāc. 22. Thập tụng: điều 128.

* Trang 935 *
device

sắm y tắm, liền sắm nhiều y tắm vừa rộng vừa lớn. Tỳ-kheo-ni thấy hỏi: "Đức Phật cho phép các tỳ-kheo-ni chứa năm y. Đây là y gì?"
Nhóm sáu tỳ-khoe- ni nói: "Đây là y tắm của chúng tôi."
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Đức Thế Tôn cho phép chứa y tắm. Sao lại sắm nhiều y tắm vừa rộng vừa lớn?"
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên [749b] làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại sắm y tắm vừa rộngvừa lớn?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo:
"Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, sắm y tắm phải sắm cho đúng lượng. Trong  đây đúng lượng là, bề dài sáu (1) gang tay Phật, rộng hai gang rưỡi. Nếu quá, (2) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Y tắm: y dùng che thân khi tắm.
________________________
(1) Pāli:  dài  4  gang, rộng  2  gang.  Thập tụng  (tr.335a20):  dài  5  gang, rộng  2  gang rưỡi.
(2) Pāli, thêm, “phải cắt bỏ (Pāli: chedanakaṃ).”

* Trang 936 *
device

Tỳ-kheo-ni  nào sắm  y tắm bề  dài  quá lượng, bề rộng  đúng; bề  dài đúng, bề rộng quá lượng;  hay cả  hai đều quá lượng, tự cắt rọc  làm thành, ba-dật-đề; không  thành đột-kiết-la. Nếu bảo người khác  làm, cắt rọc  thành  thì  ba-dật-đề;  không  thành,  đột-kiết-la. Nếu  vì  người khác làm, thành hay không thành, thảy đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo,  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di-ni,  Sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Làm đúng lượng hay dưới mức quy định; hoặc được vật đã thành, cắt bỏ cho đúng pháp; hoặc chồng lớp. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 103. MAY Y QUÁ NĂM NGÀY (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một tỳ-kheo-ni muốn cắt may Tăng-già-lê. (2) Tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  nói:  “Cô  em  đem  đến  đây  tôi  may cho.” Cô ni liền đem vải y đến. Cô ni kia là người thông minh, nhiều người  quen  biết,  khéo  hay  giáo  hóa,  nên tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà có ý nghĩ muốn cho tỳ-kheo-ni kia cúng dường mình  lâu dài, nên cắt xong để đó, không chịu may.
Bấy giờ, tinh xá mà tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà ở bị phát hỏa, vải y bị cháy, gió thổi bay tứ tán. Cư sĩ thấy cơ hiềm: “Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng  tôi  tu chánh pháp. Như vậy có gì  là chánh pháp? Tỳ-kheo-ni cắt  y của người  ta rồi,  sao không may cho xong, để bị lửa cháy, gió thổi bay lung tung?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni Thâu-
_____________________
(1) Cf. Pāli, Pāc. 23. Thập tụng: điều 130. Tham chiếu, Tăng kỳ, ni-tát-kỳ 17.
(2) Pāli: cô này may xấu, cần tháo ra để may lại. Thập tụng, điều 130: Thí-việt-sa 施越沙, đệ tử của Thâu-la-nan-đà, tháo y ra rồi may lại không được.

* Trang 937 *
device

la-nan-đà: "Sao cô cắt y của người ta rồi [749c] không may ngay để bị cháy, gió thổi bay tứ tung?"
Các tỳ-kheo-ni bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà:
"Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp của sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao tỳ-kheo-ni cắt y mà không may ngay để bị cháy, gió thổi bay tứ tán?"
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương tiện quở trách bảo các tỳ-kheo:
"Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, may tăng-già-lê quá năm ngày, ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy rồi, có tỳ-kheo-ni tìm cầu tăng-già-lê, xuất y ca-thi-na, sáu việc nạn khởi, sanh nghi, đức Phật dạy: "Có những việc như vậy thì không phạm."
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, may tăng-già-lê (1) quá năm ngày, ba-dật-đề.
Trừ khi tìm cầu tăng-già-lê, xuất ca-thi-na y, sáu việc nạn phát sinh.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo, (2) đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
________________
(1) Pāli:  cīvaraṃ  visibbetvā  …  neva  sibbeyya,  “sau  khi  tháo  y  ra…  không  khâu lại…” Không xác định phải là tăng-già-lê.
(2) Bản Hán bị cắt ngang và nhảy sót. Đây theo như các điều mà sắp lại.

* Trang 938 *
device

Sự không phạm: Tìm cầu tăng-già-lê; xuất y công đức; năm ngày may xong; sáu việc nạn khởi; hoặc khi may, khi liệu lý, hoặc không có dao, không có kim, không có chỉ, thiếu vải không đủ; hoặc người chủ của y phá giới, phá kiến, phá oai nghi; hoặc bị cử, hoặc diệt tẫn; hoặc đáng diệt tẫn; hoặc do việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn nên không may thành thì quá năm ngày không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 104. QUÁ NĂM NGÀY KHÔNG XEM TĂNG-GIÀ-LÊ (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trên giảng đường Cao các, bên bờ sông Di hầu, tại nước Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, chúng Tăng nhận được nhiều sự cúng dường. Có tỳ-kheo-ni để tăng-già-lê trong phòng mà không trông coi, không hong phơi, bị trùng mối gặm, làm hoại sắc. Về sau, sự cúng dường chúng Tăng bị gián đoạn, vị tỳ-kheo-ni ấy không xem lại tăng-già-lê trước khi mang vào thôn, khi lấy dùng mới thấy tăng-già-lê bị trùng mối làm hoại sắc.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni này: "Tại sao để tăng-già-lê [750a1] trong phòng mà không trông coi, không hong phơi, để trùng mối gặm làm hoại sắc?"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni này:
"Cô làm điều sai quấy chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao để tăng-già-lê trong phòng mà không trông coi, không hong phơi, để trùng mối làm hoại sắc?"
_____________________
(1) Pāli, Pāc 24. Thập tụng: điều 131.

* Trang 939 *
device

Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương tiện quở trách bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, quá năm ngày không xem (1) tăng-già-lê, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào để tăng-già-lê trong phòng, mỗi năm ngày phải đến xem, không xem ba-dật-đề. Ngoài tăng-già-lê, các y khác mỗi năm ngày không xem coi, đột-kiết-la. Ngoài các loại y ra, các vật dụng khác, mỗi năm ngày không xem coi, khiến cho mất, trùng mối làm hoại sắc, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Để tăng-già-lê trong phòng mỗi năm ngày đến xem coi; hoặc cất nơi kiên cố; hoặc gởi cho người, người nhận cất nói:
"Cô cứ yên tâm, tôi sẽ vì cô coi ngó cho"; hay vị kia vì sợ mất nên không nhất thiết mỗi năm ngày không xem coi, thảy không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. (2)
ĐIỀU 105. CẢN TRỞ CÚNG Y CHO TĂNG (3)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
___________________________
(1) Ngũ nhật bất khán 五日不看; Thập tụng: ngũ dạ bất khán ngũ y 五夜不看五衣. Pāli: “quá năm ngày không khoác tăng-già-lê.”
(2) Bản Hán, hết quyển 26.
(3) Pāli, Pāc. 26.

* Trang 940 *
device

tại nước Xá-vệ. Bấy giờ [750b] tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà có người đàn-việt quen biết từ lâu; người ấy muốn dọn cơm và dâng y cho Tăng. Thâu-la-nan-đà nghe chuyện liền đến hỏi: 'Tôi nghe ông muốn dọn cơm và dâng y cho Tăng, có đúng không?' Người đàn-việt trả lời, 'Đúng.' Thâu-la-nan-đà nói: 'Chúng Tăng công đức lớn, oai thần lớn, nhiều đàn-việt dâng cúng. Ông còn nhiều chỗ để cúng. Nay ông chỉ nên cúng cơm, khỏi phải dâng y.'
Người đàn-việt thuận theo lời nên không sắm y, trong đêm chỉ chuẩn bị thức ăn để cúng. Sáng sớm, người đàn-việt đến thỉnh ni Tăng thọ thực. Các tỳ-kheo-ni quấn y bưng bát đến nhà thí chủ, ngồi yên nơi chỗ ngồi.
Bấy giờ, người đàn-việt quan sát các tỳ-kheo-ni, oai nghi rõ nét, pháp phục tề chỉnh, tự ăn năn, thốt lên lời: 'Chúng Tăng tốt đẹp thế này, tại sao ngăn cản tôi không để cho tôi được dâng y cúng dường?'
Các tỳ-kheo-ni nghe nói như vậy, mới hỏi người đàn-việt: 'Vì nhân duyên nào mà thốt lên những lời nói như vậy?' Người đàn-việt trình bày đầy đủ nhân duyên.
Tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: 'Tại sao cô ngăn cản việc cúng y cho chúng Tăng?'
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách Thâu-la-nan-đà:
"Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao cô ngăn cản việc cúng y cho chúng Tăng?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."

* Trang 941 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cản trở việc cúng y cho chúng Tăng, (1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Chúng: cũng như trước.
Y: có mười loại như trước.
Tỳ-kheo-ni gây trở ngại việc cúng y cho chúng Tăng ba-dật-đề. Ngoài chúng Tăng, gây trở ngại với người khác, đột-kiết-la. Ngoài y ra, gây trở ngại đối với các vật khác, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Người ta cúng ít, khuyên cúng nhiều; muốn cúng ít người, khuyên cúng nhiều người; muốn cúng thứ thô, khuyên cúng thứ tế; hoặc nói vui chơi, nói chỗ vắng, nói nhanh vội, [750c] nói trong mộng, muốn nói việc này nói nhầm việc khác. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 106. Lấy y của người khác mặc (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni quấn y tăng-già-lê của người khác mà không nói với chủ, vào thôn khất thực. Người chủ không biết, nghĩ là y mình đã bị mất. Sau đó tìm kiếm thì thấy tỳ-kheo-ni kia mặc đi, cô liền nói: "Cô phạm tội ăn trộm."
________________
(1) Pāli: gaṇassa cīvaralābhaṃ, sự nhận y của chúng (gaṇa: một nhóm, không phải Tăng: saṅgha)
(2) Pāli, Pāc. 25. Tăng kỳ: điều 71.

* Trang 942 *
device

Cô ni kia nói: "Tôi không ăn trộm y của cô. Tôi lấy mặc với ý nghĩ là của người quen thân."
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách tỳ-kheo-ni kia: "Tại sao cô không nói với chủ mà trộm lấy y của người ta mặc, khiến cho họ tưởng là y của họ đã bị mất?"
Tỳ-kheo-ni liền đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni kia:
"Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao tỳ-kheo-ni trộm y mặc mà không nói với chủ, khiến người tưởng là y đã mất mà đi tìm kiếm?"
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương tiện quở trách bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, lấy y của người khác mặc mà không hỏi chủ, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào lấy y của người khác mặc, không nói với chủ, mà đi vào trong thôn khất thực, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Có nói với chủ; hay là quen thân, hoặc người quen thân nói: "Cô cứ mặc đi, tôi sẽ vì cô nói với chủ cho" thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 943 *
device

ĐIỀU 107. CHO BẠCH Y, NGOẠI ĐẠO Y SA-MÔN (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử có sai hai sa-di, một người tên là Nhĩ, người kia tên là Mật. Một người thôi tu, một người mặc áo ca-sa gia nhập chúng ngoại đạo. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni lấy áo của sa-môn đem cho người thôi tu, và cho người gia nhập [751a1] ngoại đạo kia. (2)
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Tại sao các cô đem áo của sa-môn cho người thôi tu và cho người nhập ngoại đạo!"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô đem áo của sa-môn cho người thôi tu và cho người nhập ngoại đạo?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rồi bảo các tỳ-kheo: "Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đem y sa-môn3 cho người ngoại đạo, bạch y, ba-dật-đề.
____________________
(1) Pāli, Pāc. 28. Cf. Thập tụng: điều 132. Tăng kỳ: điều 72. Ngũ phần: điều 87. Căn bản: điều 142.
(2) Thullanandā lấy  y  sa-môn cho vũ công, ca kỹ, những người  làm  trò. Ngũ phần: đem y tỳ-kheo ni cho bạch y, ngoại đạo.
(3) Ngũ phần: y tỳ-kheo-ni.

* Trang 944 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Bạch y: người tại gia.
Ngoại đạo: người xuất gia ngoài giáo pháp của đức Phật.
Y sa-môn: áo hoại sắc.(1)
Tỳ-kheo-ni nào dùng y của sa-môn cho, người kia nhận, ba-dật-đề. Người này cho mà người kia không nhận, đột-kiết-la.
Phương tiện muốn cho mà không cho, hứa hẹn sẽ cho mà không cho, tất cả đều đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: cho cha mẹ, cho thợ làm tháp, cho thợ làm giảng đường, phòng ốc, tính tương đương giá trị thức ăn mà cho, hoặc bị cường lực đoạt, thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 108. NGĂN TĂNG CHIA Y (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ni chúng nhận được y cúng dường như pháp (3) muốn đem chia. Thâu-la-nan-đà có nhiều đệ tử, lúc đó đi vắng. Thâu-la-nan-đà có ý nghĩ muốn ngăn cản việc phân y như pháp, vì sợ đệ tử của mình không nhận được phần.
Các tỳ-kheo-ni biết ý nghĩ đó, trong số các tỳ-kheo-ni biết, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Thâu-la-nan-đà: "Tại sao cô có ý nghĩ ngăn cản việc phân y
___________________
(1) Pāli. Vin. iv. 286: samaṇacīvaraṃ…kappakataṃ, y của sa-môn, y đã tác tịnh.
(2) Pāli, Pāc. 27. Ngũ phần: điều 84. Thập tụng: điều 137. Căn bản: điều 147.
(3) Pãli: akãlacĩvara, y phi thời.

* Trang 945 *
device

như pháp của chúng Tăng, vì sợ đệ tử của cô [751b] không nhận được phần?"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách Thâu-la-nan-đà:
"Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao cô lại có ý nghĩ ngăn việc phân y như pháp của chúng Tăng, chỉ vì sợ đệ tử của cô không nhận được phần?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Thâu-la-nan-đà rồi bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  có  ý nghĩ, (1)  ‘chúng Tăng  phân  y như  pháp,’ bèn ngăn cản  không  cho  phân,  chỉ  vì sợ  đệ tử không nhận được phần,(2) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Chúng Tăng: cũng như trước đã giải.
Pháp: như pháp, như luật, như lời Phật dạy. Y: có mười loại như trước.
Tỳ-kheo-ni nào có ý nghĩ ngăn cản việc phân y như pháp của chúng Tăng, vì sợ đệ tử của mình không nhận được phần, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc chia lúc phi thời, phi pháp biệt chúng, phi pháp
___________________
(1) Pãli, không có chi tiết này.
(2) “Chỉ vì sợ…” Pāli không có chi tiết này. Thập tụng: “khi Tăng chia y, mà không tùy thuận…”
 

* Trang 946 *
device

hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ pháp hòa hợp chúng, phi pháp, phi luật, phi Phật dạy. Nếu khi sắp chia mà sợ mất, sợ hư hỏng, ngăn thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 109. . MONG TĂNG KHÔNG XUẤT Y CA-THI-NA (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tăng chúng tỳ-kheo-ni như pháp xuất y ca-thi-na. (2) Nhóm sáu tỳ-kheo-ni có ý nghĩ, "Mong chúng Tăng hôm nay không xuất y ca-thi-na, mà sau này sẽ xuất, để cho năm sự được buông xả kéo dài." (3) Các tỳ-kheo-ni biết nhóm sáu tỳ-kheo-ni có ý nghĩ, "Mong chúng Tăng hôm nay không xuất y ca-thi-na, mà sau này sẽ xuất, để cho năm sự được buông xả kéo dài."
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu- đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Tại sao các cô có ý nghĩ, mong chúng Tăng hôm nay không xuất y ca-thi-na, mà sau này sẽ xuất, để cho năm sự được buông xả kéo dài?"
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Thế Tôn. [751c] Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:

_______________________
(1) Nội dung điều luật này với điều 110 tiếp theo gần như đồng nhất. Chỉ khác nhau, điều 109, đình chỉ yết-ma, điều 110, ngăn yết-ma. Các bộ khác không có sự phân biệt này. Tham chiếu Pāli, Pāc. 29. Tham chiếu, Ngũ phần (tr.98a29), điều 184: ngăn cản thọ y ca-thi-na.  Thập tụng  46  (tr.336b14),  ba-dật-đề  135: Thâu-lan-nan-đà hy vọng  y mà chưa  nhận  được  nên  không  thuận  theo Tăng xả  y  ca-thi-na.”  Xem  ni-tát-kỳ  3 (thông giới).
(2) Xuất ca-thi-na y, xả tự nhiên do hết  thời hiệu, hay do  tác pháp xả.
(3) Năm điều lợi  trong thời gian của y ca-thi-na; tức 5 điều  luật  (ba-dật-đề 1, 2, 32, 33, 42  trong  luật tỳ-kheo) được nới lỏng  (phóng xả). Xem Phần  iii Ch. v, ở  sau. Pāli: Thullanadā ngăn cản xuất (xả) ca-thi-na, hy vọng thí chủ sẽ cúng y để chỉ chia cho các tỳ-kheo-ni cùng an cư trong một trú xứ, không chia cho tỳ-kheo-ni khách. Nếu xả ca-thi-na, khách và chủ đều phải chia đều.

* Trang 947 *
device

"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô có ý nghĩ, mong chúng Tăng hôm nay không xuất y ca-thi-na, mà sau này sẽ xuất, để cho năm sự được buông xả kéo dài?"
Bằng vô số phương tiện quở trách xong, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
"Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, có ý nghĩ, ‘Mong chúng Tăng không xuất y ca-thi-na hôm nay, sau sẽ xả, để năm việc phóng xả được kéo dài,’(1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tăng: cũng như trước.
Pháp: như pháp, như luật, như lời Phật dạy bảo.
Tỳ-kheo-ni nào có ý nghĩ đình hoãn việc xả y ca-thi-na như pháp của chúng Tăng, vì muốn cho năm sự được buông xả kéo dài, ba-dật-đề. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu xuất chẳng phải thời; phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ pháp hòa hợp chúng, phi pháp, phi luật, phi lời Phật dạy bảo. Hoặc khi xuất mà sợ mất, hư hỏng, nên ngăn khiến không xuất thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
__________________
(1) Tham  chiếu Pāli, Pāc.  29:  dubbalacīvarapaccāsāya cīvarakālasamayaṃ atikkāmeyya, pācittiyan ti, đặt hy vọng nơi y không chắc chắn, nếu quá thời của y, ba-dật-đề. Cf. Thập tụng: “Hy vọng được y yếu, mà thọ ca-thi-na, ba-dật-đề.”

* Trang 948 *
device

ĐIỀU 110. NGĂN TĂNG XUẤT Y CA-THI-NA (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ, Tăng tỳ-kheo-ni muốn  xuất  y  ca-thi-na.(2)
Nhóm sáu tỳ-kheo-ni có ý nghĩ: "Nay Tăng tỳ-kheo-ni như pháp xuất y ca-thi-na, ta nên ngăn đừng xuất, để năm sự được buông xả kéo dài." (3) Các tỳ-kheo-ni biết ý của nhóm sáu tỳ-kheo-ni muốn ngăn Tăng tỳ-kheo-ni như pháp xả y công đức để năm sự được buông xả kéo dài.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Tại sao các cô có ý nghĩ ngăn Tăng tỳ-kheo-ni như pháp xuất y ca-thi-na vì muốn năm sự được buông xả kéo dài?"
Tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô [752a] làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni chúng muốn như pháp xuất y ca-thi- na, tại sao các cô ngăn không xuất, vì muốn năm sự được buông xả kéo dài?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
"Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
_____________________
(1) Thập tụng: điều 136. Căn bản: điều 146.
(2) Xem điều 109 trước.
(3) Duyên khởi học điều này, Luật Pãli ( Pãc. 30, Vin.iv.287) nói, do một cư sĩ, nhân lễ lạc thành tinh xá mà ông dựng để cúng Tăng, yêu cầu Tăng tác pháp xả y-ca-thi-na để ông được cúng dường y phi thời cho cả hai bộ. Nếu ca-thi-na chưa xả, y chi được phân chia cho các vị đã an cư trong  trú xứ thôi.

* Trang 949 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, có ý ngăn Tăng tỳ-kheo-ni xuất y ca-thi-na,  vì muốn năm sự được buông xả kéo dài, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. Tăng: cũng nghĩa như trước.
Pháp: như pháp, như luật, như lời Phật dạy bảo.
Tỳ-kheo-ni nào có ý nghĩ ngăn tỳ-kheo-ni Tăng như pháp xuất y ca-thi-na, vì muốn khiến cho năm điều được buông xả lâu; nói rõ ràng ba-dật-đề; nói không rõ ràng đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đógọi là phạm.
Sự không phạm: Xuất y ca-thi-na phi thời, (1) phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng, tợ pháp biệt chúng, tợ pháp hòa hợp chúng, phi pháp, phi luật, phi lời Phật dạy. Hoặc khi xuất y, sợ mất hay hư hỏng, cho nên ngăn thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 111. KHÔNG VÌ NGƯờI DậP TẮT TRÁNH SỰ (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni tranh cãi, đến tỳ-kheo-ni Thâu- la-nan-đà nói: "Yêu cầu cô vì tôi giải quyết sự tranh cãi này." Tỳ- kheo-ni Thâu-la-nan-đà là người thông minh trí tuệ, là người có khả năng chấm dứt những việc cãi cọ xảy ra. Nhưng cuối cùng cô đã không tìm cách dập tắt tránh sự này. Tỳ-kheo-ni kia vì cuộc tranh cãi này mà không được hòa hợp, sầu ưu, nên thôi tu.
___________________
(1) Thời đế xuất ( xả) y ca-thi-na, xem chương viii, đoạn 4: xuất y.
(2) Pāli, Pāc. 45. Căn bản: điều 148.

* Trang 950 *
device

Chúng tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách Thâu-la-nan-đà rằng: "Tỳ-kheo-ni được yêu cầu giải quyết sự tranh cãi, sao cuối cùng không dùng phương tiện để dập tắt tránh sự này, khiến tỳ-kheo-ni kia do sự tranh cãi này không được hòa giải mà phải bỏ tu?"
Tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà: [752b]"Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao cô không vì tỳ-kheo-ni kia hòa giải sự tranh cãi khiến cho cô ni kia phải thôi tu?"
Đức Thế Tôn Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  được tỳ-kheo-ni  khác  yêu cầu rằng:  ‘Cô  vì tôi dập tắt  tránh sự này’ mà không  tìm cách để dập tắt, (1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tránh sự: có bốn loại như trước đã giải.
Tỳ-kheo-ni kia nói với các tỳ-kheo-ni khác rằng: "Cô vì tôi dập tắt tránh sự này" mà tỳ-kheo-ni ấy không tìm cách dập tắt tránh sự đó, ba-dật-đề. Trừ các tránh sự ra, nếu có các việc cãi cọ nhỏ khác, không tìm cách để dập tắt, đột-kiết-la. Nếu bản thân có tránh sự mà không tìm phương tiện giải quyết, đột-kiết-la.
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác có tránh sự mà không tạo phương tiện để giải quyết, đột-kiết-la.
_____________________
(1) Pāli: sādhū’ti sā paṭisuṇitvā pacchā anantarayikinī neva vūpasameyya..., “Cô ni ấy đã nhận lời, sau đó mặc dù không có bị trở ngại gì mà không cố dập tắt...”

* Trang 951 *
device

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức- xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu (tránh sự) chấm dứt; hoặc vì họ tạo phương tiện; hoặc bị bệnh, hoặc nói không được; hoặc người kia phá giới, phá kiến, phá oai nghi, hoặc bị cử tội, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng diệt tẫn, hoặc từ việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn nên không tìm cách chấm dứt thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 112. CHO BẠCH Y NGOẠI ĐẠO THỨC ĂN (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử có hai sa-di, một người tên  là Nhĩ, một người  tên Mật. (2) Một người bỏ đạo, một người mang áo ca-sa gia nhập  trong chúng ngoại đạo. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni đem thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo. (3)
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Tại sao các cô đem thức ăn cho bạch y gia nhập ngoại đạo?"
Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa- môn, [752c] chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô đem thức ăn cho bạch y gia nhập ngoại đạo?"

____________________
(1) Pāli, Pāc. 46; tham chiếu, Pāc. 28. Tăng kỳ (530c1): điều 81.
(2) Xem điều 107 trên.
(3) Duyên khởi, Pāli, Vin.iv 302: Thullanandā tự tay đưa thức ăn cứng và mềm cho vũ  công  và  ca kỹ,  như Pāc  28,  thay  “y  sa-môn” (samaṇcīvaraṃ) bằng  “thức  ăn cứng và mềm” (khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā).

* Trang 952 *
device

Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đem c2ho bạch y và người gia nhập ngoại đạo (1) thức ăn có thể ăn, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì tỳ-kheo-ni kết giới như vậy, thì có vị nghi không dám để dưới đất cho, không dám sai người cho, đức Phật dạy:
"Cho phép sai người cho hoặc để dưới đất cho."
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, tự tay cầm thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo ăn,3 ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Bạch y: người chưa xuất gia.
Ngoại đạo: người xuất gia ngoài pháp của đức Phật. Thức ăn nhai:4 như trước đã giải.
Tỳ-kheo-ni nào, tự đem thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo; người này cho, người kia nhận; (người cho) ba-dật-đề; người kia không nhận, (người cho) đột-kiết-la.
Phương tiện muốn cho mà không cho, hẹn sẽ cho rồi ăn năn không cho; tất cả đều đột-kiết-la.
_______________________
(1) Hán: bạch  y  nhập  ngoại  đạo  giả  白衣入外道者. Pāli:  agārikassa vā paribbājakassa vā paribbajikāya vā, “cho người tại gia hay nam nữ xuất gia (ngoại đạo).” Tham chiếu Pāc. 28. 
(2) Hán: khả đạm  thực giả 可噉食者. Trong giới văn kết lần sau, không có chi  tiết này. Pāli: cho thức ăn cứng và mềm (khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā).
(3) Xem cht. 207 trên.
(4) Thực đạm 食噉;  trong giới văn chỉ nói thực 食. Đây chỉ một  trong hai  loại thức ăn, cứng và mềm. Xem cht. 2 trên.

* Trang 953 *
device

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc để dưới đất cho, hoặc sai người cho; hoặc cho cha mẹ, cho thợ làm tháp, hoặc bị cường lực đoạt; đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 113. LÀM NGƯỜI SAI KHIẾN CHO BẠCH Y (1)
a. Duyên khởi
Môt thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo-ni đảm đương việc nhà, xay lúa, giã gạo, nấu cơm, rang thóc, nấu thức ăn, hoặc trải giường, chỗ ngồi, ngọa cụ; hoặc quét đất, múc nước, nhận sự sai khiến của người.
Các cư sĩ thấy đều bĩu môi cười nhạo, nói: "Giống như vợ tôi đảm đương việc nhà, nào là xay lúa, giã gạo, nấu cơm... cho đến nhận sự sai khiến của người. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này đâu có khác gì?" Vì vậy, các cư sĩ sanh tâm khinh mạn, không cung kính. Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni, rằng: "Tại sao các cô đảm đương việc nhà, nào là xay lúa, giã gạo... cho đến nhận sự sai
khiến của người, không khác với người đời như vậy?"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Phật. Đức Phật vì [753a1] nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Các cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô đảm đương việc nhà, nào là xay lúa, giã gạo... cho đến để người sai, như người đời không khác?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo: "Các Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu
______________________
(1) Pāli, Pāc. 44. Căn bản: điều 153. Cf. Ngũ phần: điều 148. Tăng kỳ: điều 84. Thập tụng: điều 142

* Trang 954 *
device

tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, làm người sai khiến cho bạch y (1) , ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Làm người sai khiến cho bạch y: tức như trên, xay lúa, giã gạo... cho đến nhận sự sai khiến của người. Tỳ-kheo-ni kinh doanh gia nghiệp, nào xay lúa, giã gạo cho đến nhận làm sứ giả cho người, tất cả đều ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, tùy theo việc làm mà định tội. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu vì cha mẹ bệnh, hoặc (cha mẹ) bị giam cầm, mà trải giường, ngọa cụ, quét đất, múc nước, cung cấp những vật cần dùng, chịu sự sai khiến; hoặc vì người ưu-bà-di có tín tâm bị bệnh, hoăc bị giam cầm, mà trải giường, ngọa cụ, quét đất, múc nước, giúp đỡ họ; hoặc bị cường lực bắt buộc; tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 114. TỰ TAY QUAY SỢI (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni tự tay quay sợi. Các cư sĩ thấy đều bĩu môi cười, "Y như vợ tôi quay sợi. Tỳ-kheo-ni cũng vậy, đâu có khác gì!" Các cư sĩ sanh tâm khinh mạn, không cung kính.

_____________________
(1) Pāli: gihiveyyāvaccaṃ kareyya, chấp tác công việc gia đình, phục dịch người tại gia. Cf. Ngũ phần, điều 148: “…vì ẩm thực mà chấp tác việc nhà của bạch y.”
(2) Pāli, Pāc.  43. Căn bản:  điều  156  (&  155). Ngũ  phần:  điều  163  (cf.  điều  197). Thập tụng: điều 146.

* Trang 955 *
device

Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Saocác cô tự quay sợi?"
Tỳ-kheo-ni bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo bạch lên đức Phật.Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở tráchnhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việckhông nên làm. Tại sao các cô tự quay sợi, không khác gì ngườiđời?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:"Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những ngườiđầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giớigồm mười [753b] cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, tự tay quay sợi, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Sợi: có mười loại như trước. (1)
Tỳ-kheo-ni nào tự tay quay sợi, một vòng là phạm một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu tự mình tách sợi, và se sợi; (2) hoặc bị cường lựcbắt buộc thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
_________________
(1) Đoạn  trên, chưa  thấy ở đâu. Đây  chỉ 10  loại sợi để dệt mười  loại vải  (y). Xem Phần  I,  ch.  iii,  ni-tát-kỳ  1. Pāli:  có  6  loại  chỉ sợi (suttaṃ):  khomaṃ  (gai), kappāsikaṃ  (gòn),  koseyyaṃ  (lụa),  kambalaṃ  (lông  thú),  sāṇaṃ  (gai  thô), bhaṅgaṃ (gai lớn để may bố).
(2) Sách tuyến hợp tuyến 索線合線.

* Trang 956 *
device

ĐIỀU 115. NGỒI NẰM TRÊN GIƯỜNG BẠCH Y (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà đến giờ, quấn y, bưng bát, đến nhà cư sĩ, trải chỗ ngồi mà ngồi. Người vợ của cư sĩ lúc ấy cởi y phục anh lạc, vào vườn sau tắm gội. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà vội lấy y phục anh lạc của bà ta mặc vào rồi nằm trên giường của cư sĩ.
Trước đó ông chồng đi vắng. Khi trở về, vào trong nhà chợt thấy Thâu-la-nan-đà nằm, tưởng là vợ của mình, liền đến nằm, choàng tay sờ và hôn. Khi sờ phải đầu trọc, hỏi rằng: "Cô là ai?"
Thâu-la-đà trả lời: "Tôi là tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà."
Ông cư sĩ nói rằng: "Tại sao cô quấn y phục anh lạc của vợ tôi, nằm trên giường tôi, khiến tôi tưởng là vợ tôi? Cô đi ra mau, từ nay cô đừng đến nhà này nữa!" (2) Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách
Thâu-la-nan-đà: "Tại sao cô lại quấn y phục, đeo anh lạc của vợ người ta, nằm trên giường của họ?"
Tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà, rằng:
"Cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao cô lại vào nhà cư sĩ, quấn y phục, đeo anh lạc của vợ người ta, nằm trên giường của họ, khiến cho chồng họ bị kinh ngạc như thế?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
_________________
(1) Pāli, Pāc. 42.
(2) Pāli không có chi tiết như vậy. Chỉ nói, các tỳ-kheo-ni dùng ghế dài (āsandī) hay ván ngựa (đi-văng, Pāli: pallaṅka)

* Trang 957 *
device

Muốn nói giới nên như vầy":
Tỳ-kheo-ni nào,[753c] vào trong nhà bạch y, (1) hoặc ngồi hoặc nằm, trên giường nhỏ, giường lớn, (2) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nhà bạch y: là thôn xóm.
Giường nhỏ: giường để ngồi. Giường lớn: giường để nằm.
Tỳ-kheo-ni nào vào trong nhà bạch y, hoặc ngồi hoặc nằm nơi giường nhỏ, giường lớn; hông dính nơi giường, một lần trở mình phạm một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc phải bệnh thế nào đó; hoặc ngồi trên giường đơn (3) ; hoặc vì chúng tỳ-kheo-ni đông người; hoặc bị bệnh té xỉu, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói buộc, hoặc mạng nạn; phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 116. Tá túc không từ biệt chủ (4)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo-ni, đến nước Câu-tát-la.
__________________________
(1) Pāli, không có chi tiết này.
(2) Tiểu sàng, đại sàng 小床大床. Pāli: āsandiṃ vā pallaṅkaṃ vā paribhuñjeyya, thọ dụng trường kỷ hay ghế đơn (thảm để ngồi kết già). Xem giải thích đoạn dưới. Cf. D.  i.  7:  Sa-môn Gotama  không  ngồi nằm  trên  các  loại  giường  như  āsandī  (ghế bành?), pallaṅka
(3) Đây chỉ ghế chiếc.
(4) Tham chiếu, Pãli, Pãc.48.

* Trang 958 *
device

Trên đường đi đến một thôn không có trú xứ. Các cô nói với người chủ nhà nọ, xin trải tọa cụ trong nhà nghỉ lại một đêm. Sáng ngày đi mà không từ biệt chủ nhà.
Sau đó thôn bị phát hỏa, nhà bị cháy. Khi lửa cháy, người cư sĩ nghĩ rằng trong nhà có người nên không chạy đến để chữa cháy, (1) vì vậy nhà bị cháy sạch.
Cư sĩ hỏi: "Tỳ-kheo-ni đâu?" Có người cho biết, họ đi hết rồi. Các cư sĩ cơ hiềm, nói: "Các tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý. Bên ngoài tự xưng tôi tu chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp?
Tại sao xin chủ nghỉ đêm lại trong nhà, sáng ngày không từ biệt chủ nhà mà bỏ đi? Chúng tôi tưởng là trong nhà có người nên không chữa cháy, khiến cho nhà bị cháy sạch!"
Các Tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục trí túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni: "Tại sao các cô nói với chủ nhà xin ở lại đêm; khi đi không từ biệt chủ, khiến cho lửa cháy hết nhà người ta?"
Tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni rằng:
"Tại sao các cô xin chủ nghỉ đêm lại trong nhà người ta, khi đi không từ biệt chủ, khiến cho nhà người ta bị cháy hết?" Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo: "Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới
gồm mười cú nghĩa, [754a1] cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đến nhà bạch y, xin chủ dọn chỗ nghỉ đêm,  sáng ngày bỏ đi mà không từ biệt chủ, (2) ba-dật-đề.
_______________
(1) Pãli, thất của ni Thullanandã dễ cháy, các tỳ-kheo-ni không dọn đồ của cô ra, vì cô này bỏ đi mà không báo.
(2) Pãli: ãvasatham anissajjitvã cãrikam pakkameyya, không xả trú xứ mà ra đi du hành. Giải thích: không xả cho tỳ-kheo-ni khác, cho thức-xoa-ma-na, sa-di-ni.

* Trang 959 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. Nhà bạch y: là thôn xóm.
Nghỉ đêm: nơi ngủ lại đêm.
Dọn chỗ: hoặc trải bằng cỏ, bằng lá, cho đến tự trải bằng ngọa cụ dạ.
Tỳ-kheo-ni nào đến trong nhà bạch y, xin chủ cho dọn chỗ ngủ đêm, sáng ngày đi mà không từ biệt; ra khỏi cửa ngõ, ba-dật-đề. Một chân bên trong, một chân bên ngoài, phương tiện muốn đi mà không đi, hẹn đi mà không đi, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Có từ biệt chủ trước khi đi; hoặc trước có người ở trong nhà rồi; hoặc nhà không chủ; hoặc là phước xá; hoặc là thân hậu; hay thân hậu nói: "Cô cứ đi, tôi sẽ nói với chủ cho." Hoặc nhà bị sập đổ, hay bị lửa cháy, hoặc trong nhà có rắn độc, thú dữ, hoặc bọn giặc xâm nhập; hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị cột trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 117. HỌC CHÚ THUẬT THẾ TỤC (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có nhóm sáu tỳ-kheo-ni tụng các loại tạp chú thuật, (2) như chú chi tiết, chú Sát-lợi, chú quỷ, chú kết hung; hoặc học
_________________-
(1) Pāli, Pāc. 49. Ngũ phần: điều 190 (tụng và dạy người tụng), điều 207(Giới 210):tùy thế tục luận. Thập tụng: điều 140. Căn bản: điều 150.
(2) Tạp chú thuật 雜咒術, các môn học (chú thuật) tạp nhạp vô ích. Xem, Trường A-hàm 13, kinh “A-ma-trú”, T1,  tr.84c1. Xem, Pāli, D. 9,  liệt kê các  loại chú  thuật (tiracchāna-vijjā: khoa học  súc  sinh): aṅga-vijjā  (chi  tiết chú 支節咒), khoa xem tướng tay chân; khattiya-vijjā (sát-lị chú 剎利咒), khoa xem tướng cho vua chúa…

* Trang 960 *
device

tập cách bói quay bánh xe hươu; (1) hoặc học tập để hiểu biết âm thanh. (2)
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: "Tại sao các cô học tập tụng các loại chú như chi tiết, cho đến hiểu rõ các âm thanh?"
Quở trách rồi, chư ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô tập tụng các loại chú thuật, cho đến hiểu biết âm thanh?" Quở trách xong, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
"Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới [754b] nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, tập tụng chú thuật của thế tục, (3) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Chú thuật của thế tục: như chú chi tiết, cho đến tìm hiểu, giải thích âm thanh...
Tỳ-kheo-ni nào, tập tụng chú thuật của thế tục... cho đến âm thanh, hoặc khẩu thọ, hoặc chấp văn tụng; nói rõ ràng, ba-dật-đề. Nói không rõ ràng, đột-kiết-la.
_____________________
(1) Chuyển lộc luân 轉鹿輪, bánh xe hươu: vòng các con thú; chỉ hình dáng các con thú trên hoàng đạo đới; Skt. Mrgacakra. Pāli: migacakka, Hoa dịch là thuật giải tiếng các loài thú.
(2) Các thứ tiếng chim, thú. Xem cht. trên.
(3) Pāli:  tiracchānavijjā  (súc  sanh minh),  được  giải  thích  là  các học  thuật của  thế gian, không  liên hệ Thánh đạo. Các môn học này được coi  là bắt nguồn từ Vệ-đà (thần  bí),  nên cũng  thường  hiểu  là minh  chú. Trong  điều  luật  này,  quy  định tỳ-kheo-ni không được học các môn học thế tục, chứ không phải chỉ cấm học bùa chú. 

* Trang 961 *
device

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc tụng chú để trị bệnh trùng trong ruột; hoặc tụng chú để trị ăn ban đêm không tiêu; hoặc học sách vở, hoặc tụng chú thế tục hàng phục ngoại đạo; hoặc tụng chú để trị độc; hoặc dùng để hộ thân. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 118. DẠY NGƯỜI CHÚ  THUẬT (1)
Tỳ-kheo-ni nào, dạy người tụng tập chú thuật, ba-dật-đề.
ĐIỀU 119. ĐỘ NGƯỜiI NỮ ĐANG CÓ THAI (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một tỳ-kheo-ni tên là Bà-la, độ người nữ có thai xuất gia, thọ giới cụ túc. Sau đó, người ấy sanh một đứa con trai, bồng vào thôn xóm khất thực. Các cư sĩ thấy cơ hiềm: "Tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi tu chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Hãy xem người xuất gia này mới sinh con!"
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách tỳ-kheo-ni Bà-la này: "Tại sao cô độ người nữ có thai?"
Tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch Phật.Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Bà-la này: "Cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao độ người có thai?"
________________
(1) Như điều luật trên. Ở đây cấm dạy. Pāli, Pāc. 50. Thập tụng: điều 141. Căn bản: điều 151.
(2) Pāli, Pāc. 61. Ngũ phần: điều 115. Căn bản: điều 111.

* Trang 962 *
device

Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ người nữ có thai thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Các tỳ-kheo-ni không biết họ có thai hay không có thai, sau mới biết; nên trong số đó có vị tác pháp sám [754c] ba-dật-đề, hoặc nghi. Phật dạy:
"Không biết thì không phạm."
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết người nữ có thai mà độ cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nếu tỳ-kheo-ni nào biết người nữ có thai, độ cho thọ giới cụ túc; tác pháp yết-ma ba lần xong, Hòa thượng ni ba-dật-đề. Tác pháp yết-ma lần thứ hai xong, phạm ba đột-kiết-la. Tác pháp yết-ma lần thứ nhất xong, phạm hai đột-kiết-la. Bạch xong, một đột-kiết-la. Bạch chưa xong, đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, cho cạo đầu, mặc áo, chuẩn bị thọ giới cụ túc, hoặc tập hợp đã đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu không biết; hoặc tin lời nói của người kia; hoặc tin lời người đáng tin; hoặc tin cha mẹ họ nói, trao giới cụ túc rồi, sau sanh con, không phạm. Sau khi sanh rồi nghi không dám bồng ẵm, Phật dạy: "Nếu đứa bé chưa có thể rời mẹ thì tỳ-kheo-ni tự mình phải nuôi dưỡng, cho phép làm tất cả việc làm của bà mẹ: cho bú sữa, sú cơm, nuôi nấng." Sau đó có sự nghi không dám cùng ngủ với con trai này trong một nhà. Phật dạy: "Nếu con trai chưa thể rời mẹ thì được phép cùng ngủ một chỗ, không phạm."
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 963 *
device

ĐIỀU 120. ĐỘ PHỤ NỮ ĐANG CHO CON BÚ (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một tỳ-kheo-ni độ người phụ nữ đang còn cho con bú xuất gia, để con ở nhà. Sau đó, người nhà đem con đến giao. Cô ni bồng con vào xóm khất thực, các cư sĩ thấy cơ hiềm nói: "Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi tu chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Hãy xem người xuất gia này sanh con rồi bồng con đi khất thực!"
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách tỳ-kheo-ni kia: "Tại sao cô lại độ người phụ nữ còn đang cho con bú xuất gia, khiến các cư sĩ cơ hiềm?"
Tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni kia: "Cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao cô độ người phụ nữ còn cho con bú xuất gia?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni [755a1] kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ người phụ nữ còn cho con bú, thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni không biết người nữ ấy còn có con đang bú hay không; sau mới biết. Phật dạy: "Không biết thì không phạm."
________________________
(1) Pāli, Pāc. 62. Ngũ phần: điều 117.

* Trang 964 *
device

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết phụ nữ còn cho con bú, (1) mà trao cho giới cụ túc, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nếu tỳ-kheo-ni nào, biết phụ nữ còn cho con bú mà độ xuất gia thọ giới cụ túc; tác pháp yết-ma ba lần xong, Hòa thượng ni, ba-dật-đề.
Tác yết-ma hai lần xong, ba đột-kiết-la. Tác yết-ma lần thứ nhất xong, phạm hai đột-kiết-la. Bạch xong, một đột-kiết-la. Bạch chưa xong, đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, cho cạo đầu, cho xuất gia, cho quấn y, cho thọ giới hoặc họp chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu không biết, hoặc tin lời nói của người kia, hoặc tin lời người đáng tin, hoặc tin lời cha mẹ họ, độ xuất gia trao giới cụ túc rồi, sau mới đem con đến thì không phạm.
Bà mẹ nghi, không dám bồng con nuôi dưỡng, đức Phật dạy: "Nếu đứa bé chưa có thể tự sống, cho phép làm tất cả những việc của bà mẹ nuôi con cho đến khi dứt sữa." Sau đó, bà mẹ cùng đứa nhỏ ngủ một chỗ, có sự nghi, Phật dạy: "Chưa hết bú thì không phạm."
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 121. ĐỘ ĐỒNG NỮ CHƯA ĐỦ HAI MƯƠI  (2)
a. Duyên khởi
1. Độ thiếu nữ
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni nghe Phật chế giới được
__________________
(1) Ngũ phần: tân sản phụ 新產婦, đàn bà mới sinh con.
(2) Pāli, Pāc. 71. Tăng kỳ: điều 96. Thập tụng: điều 116. Căn bản: 115. 

* Trang 965 *
device

phép độ người, vội độ đồng nữ nhỏ tuổi, không biết họ có tâm dục hay không có tâm dục. Sau đó họ với nam tử có tâm nhiễm ô cùng đứng cùng nói chuyện đùa giỡn.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách các tỳ-kheo-ni rằng: "Đức Thế Tôn chế giới cho phép độ người, tại sao các cô lại độ đồng nữ nhỏ tuổi? Chúng với nam tử có tâm nhiễm ô cùng đứng cùng nói chuyện đùa giỡn?"
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni rằng:
"Cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao [755b] các cô độ đồng nữ nhỏ tuổi, không biết họ có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô. Sau đó họ cùng với nam tử có tâm nhiễm ô cùng đứng cùng nói chuyện đùa giỡn?"
Dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo-ni rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo-ni rằng:
2. Thế phát
"Các cô lắng nghe, nếu muốn cạo tóc cho người được độ ở trong chùa, thì phải nói cho tất cả ni Tăng biết. Hoặc tác bạch rồi, sau đó mới cạo tóc. Văn tác bạch như vầy:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Đồng nữ này tên là... đến cầu  cạo tóc với tỳ-kheo-ni tên... Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, cho đồng nữ tên... cạo tóc. Đây là lời  tác bạch."
Tác bạch như vậy rồi mới cho cạo tóc.
Nếu muốn cho xuất gia ở trong chùa phải nói cho tất cả ni Tăng biết. Tác bạch rồi mới cho xuất gia. Văn tác bạch như sau:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Người nữ này tên là... đến cầu  xuất gia với... Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp thuận cho người nữ trên... xuất gia. Đây là lời tác bạch."

* Trang 966 *
device

Tác bạch như vậy rồi mới cho xuất gia.
3. Ttruyền giới Sa-di-ni
Tác bạch cho xuất gia như vậy, cho cạo tóc, mặc áo ca-sa rồi, bảo họ quỳ gối, chắp tay, bạch như vầy:
"Con tên là... quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con ở trong giáo pháp của đức Như lai, cầu xin xuất gia theo Hòa thượng ni tên là... Đức Như lai Chí chơn, Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con." (Lần thứ hai, thứ ba bạch như vậy).
"Con tên là... đã quy y Phật rồi, đã quy y Pháp rồi, đã quy y Tăng rồi. Con ở trong giáo pháp của đức Như lai, cầu xin xuất gia theo Hòa thượng ni tên... Đức Như lai Chí chơn, Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con." (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng bạch như vậy).
Tiếp theo cho thọ giới:
"Suốt đời không sát sanh, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không ăn trộm, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không dâm dục, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không nói dối, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không uống rượu, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không đeo hương hoa anh lạc, là giới của sa-di-ni.

* Trang 967 *
device

Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không ca múa, kỹ nhạc, không được xem, nghe, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không ngồi trên giường cao rộng lớn, là [755c] giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không ăn phi thời, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Suốt đời không cầm vàng bạc, tiền, là giới của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
"Mười giới như vậy của sa-di-ni. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
4. Thọ học giới
Từ nay trở đi cho phép đồng nữ 18 tuổi, hai năm học giới, tuổi đủ 20 được trao cho giới cụ túc bằng pháp bạch tứ yết-ma. Nên nói giới như vầy: Sa-di-ni phải đến giữa Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân chúng tỳ-kheo-ni Tăng, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay nói lời tác bạch như vầy:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Con sa-di-ni tên là..., nay đến giữa Tăng xin hai năm học giới. Tỳ-kheo-ni tên... làm Hòa thượng. Xin Tăng cho con hai năm học giới, từ mẫn cố."
(Lần thứ hai, lần thứ ba cũng bạch như vậy).
Rồi sa-di-ni phải đến chỗ mắt thấy mà tai không nghe. Trong chúng tỳ-kheo-ni sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:

* Trang 968 *
device

"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Sa-di-ni kia tên là..., nay đến giữa Tăng xin hai năm học giới. Tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, cho sa-di-ni tên là... hai năm học giới, Tỳ-kheo-ni... làm hòa thượng. Đây là lời tác bạch.
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Sa-di-ni kia tên là..., đến trước Tăng xin hai năm học giới. Tỳ-kheo-ni... làm Hòa thượng. Nay Tăng cho sa-di-ni tên là... hai năm học giới. Tỳ-kheo-ni... làm hòa thượng. Các đại tỉ nào chấp thuận, Tăng cho sa-di-ni tên là... kia hai năm học giới. Tỳ-kheo-ni... làm Hòa thượng thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là lời yết-ma lần thứ nhất." (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
"Tăng đã chấp thuận cho sa-di-ni tên là... hai năm học giới. Tỳ-kheo-ni... làm Hòa thượng. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Thức-xoa-ma-na kia cần phả1i học tất cả giới, trừ điều "tự tay lấy thức ăn, trao thức ăn cho người." Đương sự học giới hai năm rồi, tuổi đủ 20, nên trao cho giới cụ túc bằng pháp bạch tứ yết-ma.
"Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đồng nữ tuổi mười tám, cho hai năm học giới, hai mươi tuổi, mới cho thọ giới cụ túc. Tỳ-kheo-ni nào, người nữ không đủ hai mươi tuổi mà cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
Thế Tôn [756a1] vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni không biết người nữ đủ hai mươi tuổi hay không, sau mới biết là không đủ nên có vị tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc nghi. Phật dạy:
"Không biết thì không phạm."
________________________
(1) Nghĩa là, việc làm này không bị cấm đối với thức-xoa.

* Trang 969 *
device

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết không đủ hai mươi tuổi (1) mà cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề. (2)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước
Tỳ-kheo-ni biết người không đủ hai mươi tuổi mà trao cho thọ giới cụ túc, ba lần yết-ma xong, Hòa thượng ni, ba-dật-đề. Hai lần yết-ma xong, ba đột-kiết-la. Một lần yết-ma xong, hai đột-kiết-la. Bạch xong, phạm một đột-kiết-la. Bạch chưa xong, một đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Đương sự tuổi đủ mười tám, cho hai năm học giới, đủ hai mươi tuổi, trao cho thọ giới cụ túc; hoặc không biết hay đương sự tự nói đủ hai mươi tuổi; hoặc tin lời người đáng tin, hay tin cha mẹ họ nói. Nếu sau khi thọ giới rồi nghi, nên tính luôn tháng trong thai, tính tháng nhuận, tính mỗi 14 ngày thuyết giới cho đủ thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 122.  ĐỘ ĐỒNG NỮ KHÔNG CÓ HAI NĂM HỌC GIỚI (3)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép độ người 18 tuổi cho hai năm học giới, đủ tuổi 20 trao cho giới cụ túc. Người kia không phải là 18 tuổi, không có hai năm học
____________________
(1) Pāli: ūnavīsativassaṃ kumāribhūtaṃ, “thiếu nữ dưới 20 tuổi.”
(2) Bản Hán, giới văn lần thứ hai có chỗ nhảy sót hay lược bỏ. Đây vẫn giữ nguyên theo Hán. 
(3) Pāli, Pāc. 72 (nhập 2 điều: 122 & 123 làm một). Tăng kỳ: điều 97. Cf. Ngũ phần: điều 106. Căn bản: điều 116.

* Trang 970 *
device

giới, cứ đủ tuổi 20 cho thọ giới cụ túc. Nhưng vì thiếu hai năm học giới nên sau khi thọ giới cụ túc rồi mà không biết nên học những giới nào.
Các tỳ-kheo-ni nghe biết; trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách các tỳ-kheo-ni rằng:
"Đức Thế Tôn chế giới cho phép độ người 18 tuổi cho hai năm học giới, đủ 20 tuổi cho thọ cụ túc. Tại sao các cô với người nữ chẳng phải tuổi 18 không có hai năm học giới, cứ tuổi 20 bèn cho thọ giới cụ túc; nhưng vì thiếu hai năm học giới nên họ không biết nên học giới nào?'
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni rằng:
"Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Đức Thế Tôn chế giới cho phép độ người 18 tuổi cho hai năm học giới, [756b] đủ 20 tuổi cho thọ cụ túc. Tại sao các cô với người nữ chẳng phải tuổi 18, không có hai năm học giới, cứ tuổi 20 bèn cho thọ giới cụ túc; nhưng vì thiếu hai năm học giới nên họ không biết nên học giới nào?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo-ni rồi, bảo các tỳ-kheo: "Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đồng nữ 18 tuổi mà không cho hai năm học giới, tuổi đủ hai mươi liền cho thọ giới cụ túc, (1) ba-dật-đề.
__________________________
(1) Pāli:  paripuṇṇavīsativassaṃ  kumāribhūtaṃ  dve  vassāni  chasu  dhammesu asikhitasikkhaṃ  vuṭṭhāpeyya,  “cho  thọ cụ  túc  thiếu đã  đủ  20  tuổi nhưng  chưa  có hai năm học sáu pháp.” Cf. Ngũ phần  (106): “…đồng nữ chưa đủ 18  tuổi mà cho học giới…”

* Trang 971 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước
Tỳ-kheo-ni nào đối với đồng nữ 18 tuổi chưa có hai năm học giới mà trao cho giới cụ túc,(1) xướng ba yết-ma xong, Hòa thượng ni ba-dật-đề. Hai yết-ma xong, ba đột-kiết-la. Một yết-ma xong, phạm hai đột-kiết-la. Bạch xong, một đột-kiết-la. Bạch chưa xong, đột-kiết-la.Trước khi chưa bạch, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Đồng nữ 18 tuổi có hai năm học giới, khi tuổi đủ 20, trao cho giới cụ túc, không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 123. ĐỘ SA-DI-NI KHÔNG CHO SÁU PHÁP (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép độ đồng nữ 18 tuổi cho hai năm học giới, cho sáu pháp, đủ 20 tuổi cho thọ giới cụ túc. Tỳ-kheo-ni không cho sáu pháp lại cho thọ giới cụ túc. Người kia khi học giới, làm bất tịnh hạnh, trộm lấy năm tiền, đoạn mạng người, tự xưng đắc pháp thượng nhân, ăn quá giờ ngọ, uống rượu. Các tỳ-kheo-ni nghe biết; trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách các tỳ-kheo-ni rằng: "Đức Thế Tôn chế giới cho phép đồng nữ 18 tuổi cho hai năm học giới, cho sáu pháp, đủ 20 tuổi cho thọ giới cụ túc. Tại sao các cô không dạy sáu pháp cho họ mà cho giới cụ túc nên họ phạm vào phạm hạnh, trộm năm tiền, cho đến uống rượu?"
Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các
________________________-
(1) Văn Hán có  thể nhảy sót. Phải nói đủ: “tuổi 18 mà không cho hai năm học giới, khi tuổi đủ 20 liền cho thọ cụ túc.” 
(2) Pāli, Pāc. 72. Cf. Tăng kỳ: điều 98. Căn bản: điều 119.

* Trang 972 *
device

tỳ-kheo-ni: "Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải [756c] oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni, các cô đối với đồng nữ 18 tuổi nên cho hai năm học giới, cho sáu pháp, đủ 20 tuổi cho thọ giới cụ túc. Tại sao không cho sáu pháp khiến cho họ phạm dâm...cho đến uống rượu?"
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
" Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đồng nữ 18 tuổi, cho hai năm học giới  nhưng không cho sáu pháp, liền cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề. (1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nếu thức-xoa-ma-na phạm dâm thì phải diệt tẫn. Nếu có tâm nhiễm ô cùng với nam tử có tâm nhiễm ô, hai thân xúc chạm tức là khuyết giới, phải thọ lại. Nếu trộm năm tiền, trên năm tiền phải diệt tẫn. Nếu lấy dưới năm tiền tức là khuyết giới, phải thọ lại. Nếu đoạn mạng người phải diệt tẫn. Nếu đoạn mạng súc sanh tức là khuyết giới, phải thọ lại. Nếu tự nói được pháp thượng nhân, phải diệt tẫn. Nếu cố nói vọng ngữ trong chúng tức là khuyết giới, phải thọ lại. Nếu ăn phi thời tức là khuyết giới, phải thọ lại. Nếu uống rượu là khuyết giới, phải thọ lại.
Tỳ-kheo-ni nào, đồng nữ 18 tuổi cho hai năm học giới nhưng không cho sáu pháp, tuổi đủ 20 cho thọ giới cụ túc, xướng ba yết-ma xong, Hòa thượng ni ba-dật-đề. Xướng hai yết-ma xong, ba đột-kiết-la. Xướng một yết-ma xong, hai đột-kiết-la. Bạch xong, một đột-kiết-la.
______________________
(1) Tăng kỳ (điều 98): “…chưa học đầy đủ học giới…”

* Trang 973 *
device

Bạch chưa xong, một đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, tập chúng, đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Đồng nữ 18 tuổi, học giới hai năm, cho sáu pháp rồi cho thọ giới cụ túc thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách (1) .
ĐIỀU 124. TRUYỀN CỤ TÚC TĂNG CHƯA THUẬN (2)
a. Duyên khởi
1. Truyền thọ cụ túc
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới: đồng nữ 18 tuổi cho hai năm học giới, cho sáu pháp, đủ 20 tuổi, trao giới cụ túc. Các tỳ-kheo-ni độ người mù lòa, chân đi khập khiễng, điếc, câm, ngọng, và các bệnh khác, [757a1] khiến Tăng bị chê bai, khi dễ.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni rằng: "Đức Thế Tôn chế giới cho phép đồng nữ 18 tuổi, cho hai năm học giới, cho sáu pháp, đủ 20 tuổi, trao cho giới cụ túc. Tại sao các cô lại độ người mù lòa, và có các bệnh khác, khiến Tăng bị chê bai khi dễ?
"Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni: "Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni đối với đồng nữ 18 tuổi, nên cho hai năm học giới, (cho sáu pháp), đủ 20 tuổi, trao giới cụ túc.
Tại sao các cô lại độ người mù lòa và người có các bệnh khác?"
_____________________
(1) Bản Hán, hết quyển 27.
(2) Pāli, Pāc. 73. Ngũ phần: điều 107. Tăng kỳ: điều 99.

* Trang 974 *
device

Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
"Từ nay trở đi, Ta chế lập giới cụ túc bằng pháp bạch tứ yết-ma cho tỳ-kheo-ni."
2. Giáo thọ già nạn
Nên trao cho như vầy: để người thọ giới đứng chỗ mắt thấy mà tai không nghe. Trong giới sư nên tác bạch sai vị giáo thọ sư. Nên tác bạch như vầy:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Người kia tên là..., theo Hòa thượng ni tên là..., cầu thọ giới cụ túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tỳ-kheo-ni tên là... làm Giáo thọ sư. Đây là lời tác bạch."
Vị giáo thọ sư đến chỗ người xin thọ giới nói:
“Này cô, đây là an-đà-hội, đây là uất-đa-la-tăng, đây là tăng-già-lê, đây là tăng-kỳ-chi, đây là phú kiên y, (1) đây là bát. Y bát này là của cô phải không? Cô hãy lắng nghe. Đây là lúc cần nói  thật với  lòng chân  thành. Nay  tôi hỏi cô,  thật  thì cô nói thật, không thật thì cô nói không thật: (2)
“Tên chữ của cô là gì?”
“Hòa thượng của cô hiệu gì?”
“Cô đủ 20 tuổi chưa?”
“Y bát có đủ không?”
“Cha mẹ có cho phép cô tu không?”
“Phu chủ có cho phép cô tu không?”
“Cô có mắc nợ không?”
“Cô có phải là tôi tớ không?”
“Cô là người nữ phải không?”
________________________
(1) Xem tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ 2.
(2) Luật Pāli, có 24 già nạn (Pāli: catuvīsati antarayike dhamme pucchī, Vin.ii. 272): 11 trường hợp dị dạng, 5 bệnh truyền nhiễm; còn lại tương tự với tỳ-kheo.

* Trang 975 *
device

"Người nữ có những bệnh như hủi, ung thư, hủi trắng, khô da, điên cuồng, hai hình, hai đường hiệp lại, tiểu tiện thường rỉ chảy, đại tiểu tiện đàm dãi chảy mãi. Cô có các bệnh như trên không?"
Nếu người xin thọ giới trả lời là "không" thì nên bảo rằng:
"Như những việc tôi vừa hỏi cô, giữa chúng Tăng cũng sẽ hỏi như vậy. Cô đã trả lời với tôi như thế nào thì giữa chúng cô cũng trả lời như vậy."
Vị giáo thọ sư hỏi rồi, với oai nghi như thường lệ, trở lại trong chúng, đứng chỗ ngang tầm cánh tay đưa ra đụng, (1) [757b] tác bạch:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Người nữ tên là..., theo Hòa thượng ni tên là..., xin thọ giới cụ túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi đã giáo thọ rồi, cho phép kêu người ấy vào. Đây là lời tác bạch."
Vị giáo thọ bảo: "Cô hãy vào!"
3. Bản bộ yết-ma
Cô ấy vào rồi, vị giáo thọ nên cầm y bát cho, bảo cô kỉnh lễ sát chân ni Tăng; rồi bảo quỳ gối trước mặt giới sư, chắp tay. Vị giáo thọ dạy bạch như sau:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Con tên là..., theo Hòa thượng ni tên là..., cầu thọ giới cụ túc. Con tên là... nay đến giữa Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Chúng Tăng dũ lòng thương cứu vớt con."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Giới sư tác bạch:
"Đại tỉ Tăng xin lắng nghe! Người nữ này tên là..., theo Hòa thượng ni tên là..., cầu thọ giới cụ túc. Nay người nữ này đến giữa Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là..., làm Hòa thượng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
____________________________
(1) Hán: thư thủ tương cập 舒手相及, chỉ khoảng cách giữa các tỳ-kheo khi tác yết-ma.

* Trang 976 *
device

thuận, tôi hỏi các nạn sự. Đây là lời tác bạch."
Vị giới sư nói: "Cô hãy lắng nghe! Nay là lúc phải chân thành. Tôi hỏi cô, thật thì cô nói thật. Không thật thì cô nói không thật:
"Tên chữ của cô là gì?"
"Hòa thượng của cô hiệu gì?"
"Cô đủ 20 tuổi chưa?"
"Y bát của cô có đủ không?"
"Cha mẹ cô có cho phép cô tu không?"
"Phu chủ cô có cho phép cô tu không?"
"Cô có mắc nợ ai không?"
"Cô có phải là tôi tớ không?"
"Cô là người nữ phải không?"
"Người nữ có những bệnh như hủi, ung thư, hủi trắng, khô da, điên cuồng, hai hình, hai đường hiệp lại, tiểu tiện thường rỉ chảy, đại tiểu tiện đàm dãi chảy mãi. Cô có các bệnh như trên không?"
Người thọ giới đáp: "Không."
Giới sư tác bạch:
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Người nữ này tên là..., theo Hòa thượng ni tên là..., cầu thọ giới cụ túc. Nay người nữ tên là... này đến giữa chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ- kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Người nữ tên là... tự nói thanh tịnh, không có các nạn sự, 20 tuổi, y bát đầy đủ. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho người nữ tên là... giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng, Đây là lời tác bạch.
"Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Người nữ tên là... theo Hòa thượng ni tên là... cầu thọ giới cụ túc. Nay người nữ tên là... này theo chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là...

* Trang 977 *
device

làm Hòa thượng. Người nữ tên là... tự nói thanh tịnh, không có các nạn sự, 20 tuổi, y bát đầy đủ. Nay Tăng trao cho người nữ tên là... giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng.
Các Đại tỷ nào chấp thuận Tăng trao cho người nữ tên là... giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng [757c] thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất." (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
"Tăng đã chấp thuận Tăng trao cho người nữ tên là... giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy." (1)
4. Chánh pháp yết-ma
Các tỳ-kheo-ni Tăng nên dẫn người thọ giới đến giữa Tăng tỳ-kheo, (2) trống vai bên hữu, kính lễ sát chân Tăng, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con tên là... theo Hòa thượng ni tên là... cầu thọ giới cụ túc. Nay con tên là... đến giữa chúng Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Xin Chúng Tăng dũ lòng thương cứu vớt con." (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
Giới sư nên hỏi:
"Tên chữ của ngươi là gì?"
"Hòa thượng của ngươi hiệu gì?"...
Cho đến câu: "Đàm dãi thường chảy ra..." như trước. Rồi hỏi tiếp:
"Ngươi đã học giới thanh tịnh chưa?"
Nếu cô ấy nói: "Đã học giới thanh tịnh," thì lại hỏi các tỳ-kheo-ni:
"Người này đã học giới thanh tịnh chưa?"
Nếu các cô ni nói:
"Học giới thanh tịnh."
_______________________
(1) Bản Hán, hết quyển 27.
(2) Xem ba-dật-đề 139.

* Trang 978 *
device

Giới sư nên tác bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là... theo Hòa thượng ni tên là... cầu thọ giới cụ túc. Nay người này tên là... đến giữa Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Người này tên là... đã học giới thanh tịnh. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho người nữ tên là... giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là... theo Hòa thượng ni tên là... cầu thọ giới cụ túc. Nay, người này tên là... theo Tăng xin thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Người này tên là... đã học giới thanh tịnh. Nay, Tăng trao cho người có tên... này giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng trao cho cô có tên... giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên là... làm Hòa thượng thì im lặng.[758a1] Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất." (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng bạch như vậy).
"Chúng Tăng đã chấp thuận cho cô có tên là... thọ giới cụ túc, tỳ-kheo-ni tên... làm Hòa thượng rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
5. Thuyết Ba-la-di-pháp
"Này Thiện nữ, hãy lắng nghe! Tám pháp ba-la-di sau đây do đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác nói ra. Người nào phạm, chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích:
1/ Không được hành bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục. Nếu tỳ-kheo-ni hành bất tịnh hạnh có ý lạc, hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, thì người này chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."

* Trang 979 *
device

2/ Không được trộm cắp, cho đến một lá cây, cọng cỏ. Nếu tỳ-kheo-ni ăn trộm của người năm tiền, hoặc hơn năm tiền, tự mình lấy hay chỉ bảo người lấy; tự mình bẻ 1 hay chỉ bảo người bẻ; tự mình chặt hay chỉ bảo người chặt; tự mình phá hay chỉ bảo người phá; hoặc đốt; hoặc chôn; hoặc làm hoại sắc, thì người này chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
3/ Không được cố ý đoạn mạng chúng sanh, cho đến loài kiến. Nếu tỳ-kheo-ni, tự tay mình cố ý đoạn mạng người, hoặc cầm dao trao cho người, hoặc bảo nên chết, khuyến khích chết, hoặc cho người uống thuốc độc, hoặc làm cho đọa thai, hoặc nguyền rủa độc chú cho chết, hoặc mình tự làm hay chỉ bảo người làm, thì người này chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
4/ Không được nói dối, cho đến nói giỡn. Nếu tỳ-kheo-ni không chân thật, chẳng phải là mình có mà tự xưng là tôi được pháp thượng nhân, tôi đắc thiền, đắc giải thoát, được tam-muội chánh thọ, đắc quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán; nói, 'có Trời đến, rồng đến, quỷ thần đến cúng dường tôi,' thì người này chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
5/ Không được thân chạm nhau với người nam, cho đến cùng với súc sanh, Nếu tỳ-kheo-ni với tâm nhiễm ô cùng nam tử có tâm nhiễm ô, hai thân xúc chạm nhau, từ nách trở
_____________________
(1) Để bản: đoạn. TNM: chiết.

* Trang 980 *
device

xuống, từ gối trở lên, hoặc nắm, hoặc sờ, hoặc kéo, hoặc đẩy, vuốt ngược, vuốt xuôi, nâng lên, để xuống, hoặc nắm, hoặc nắn bóp, thì người này chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
6/ Không được phạm tám sự,[758b] cho đến cùng với súc sanh. Nếu tỳ-kheo-ni với tâm nhiễm ô bằng lòng cho người nam có tâm nhiễm ô nắm tay, nắm y, đi vào chỗ vắng, chỗ vắng cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng đi, thân gần kề nhau, cùng hẹn nhau; phạm tám sự này, người này chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích; vì phạm tám sự. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
7/ Không được che giấu tội của người, cho đến tội đột-kiết-la, ác thuyết. Nếu tỳ-kheo-ni biết tỳ-kheo-ni khác phạm tội ba-la- di, mà không tự cử tội, không bạch với Tăng, không báo với nhiều người. Thời gian sau, tỳ-kheo-ni này thôi tu, hay bị diệt tẫn, hoặc bị ngăn không cho dự Tăng sự, hoặc theo ngoại đạo, khi ấy mới nói, 'Trước đây tôi biết việc như vậy như vậy,' thì người nói chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Vì che giấu trọng tội. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được."
8/ Không được tùy thuận tỳ-kheo bị cử tội, cho đến người giữ vườn và sa-di. Nếu tỳ-kheo-ni biết tỳ-kheo kia bị Tăng cử tội, như pháp, như luật, như lời Phật dạy mà tỳ-kheo ấy không phục tùng, không sám hối. Tăng chưa tác pháp cho tỳ-kheo ấy sống chung, mà tùy thuận với tỳ-kheo ấy; tỳ-kheo-ni khác nên can gián tỳ-kheo-ni này rằng: 'Này cô, cô có biết chăng? Tăng đã cử tội tỳ-kheo này như pháp, như luật, như lời Phật dạy mà tỳ-kheo ấy không phục tùng, không sám hối. Tăng

* Trang 981 *
device

chưa tác pháp cho tỳ-kheo ấy sống chung, cô đừng tùy thuận.' Khi tỳ-kheo-ni khác can gián mà tỳ-kheo-ni này kiên trì không bỏ. Tỳ-kheo-ni nên can gián ba lần, cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; không bỏ thì tỳ-kheo-ni này không phải là tỳ-kheo-ni, không phải người nữ dòng họ Thích. Vì tùy thuận theo người bị cử. Trong đây trọn đời không được làm. Ngươi có thể giữ được không?"
Nếu giữ được thì trả lời: "Được." (1)
6. Truyền pháp tứ y
"Này thiện nữ, hãy lắng nghe! Đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, nói pháp tứ y (2) . Tỳ-kheo-ni nương nơi đó được xuất gia, thọ giới cụ túc, thành tỳ-kheo-ni.
1/ Nương theo y phấn tảo đặng xuất gia, thọ cụ túc giới, thành pháp tỳ-kheo-ni. Trong đây ngươi trọn đời giữ được không?"
Giữ được thì nói: "Được." )
"Nếu được của lợi dư, đàn-việt thí y, loại y cắt rọc, thì được thọ."
2/ Nương theo sự khất thực mà được xuất gia, thọ cụ túc giới, thành pháp tỳ-kheo-ni. Trong đây ngươi trọn đời giữ được không?"
Giữ được thì nói: "Được."
"Nếu được của lợi dư, hoặc Tăng sai đi thọ thực, đàn-việt đem thức ăn đến, thức ăn ngày mồng tám,[758c] ngày mười bốn, ngày mười lăm hay mồng một trong tháng, hoặc thường thực của chúng Tăng, hay đàn-việt mời thọ thực thì có thể
________________________
(1) Ngũ phần 29 ( tr.188c27), sau tám ba-la-di, truyền tám pháp bất khả việt ( bát kinh).
(2) Luật Pāli, chỉ truyền ba y (tasso nissaye). Vì tỳ-kheo-ni trọn đời không được sống tại trú xứ a-lan-nhã. Nếu sống tại đó, phạm đột-kiết-la (Vin.ii. 278: na bhikkhuniyā araññe vatthabbaṃ. yā vaseyya āpatti dukkaṭassā ti.). Xem Tứ phần 49 (tr.928a17). Ngũ phần 40, tr. 547c7.

* Trang 982 *
device

thọ."
3/ Nương nơi gốc cây mà ngồi, (1) đặng xuất gia thọ cụ túc giới, thành pháp của tỳ-kheo-ni. Trong đây ngươi trọn đời giữ được không?"
Giữ được thì nói: "Được."
"Nếu được của lợi dư, phòng riêng, nhà nóc nhọn, phòng nhỏ, nhà bằng đá, hai phòng có một cửa thì nên thọ."
4/ Nương nơi thuốc hủ lạn, (2) mà được xuất gia thọ cụ túcgiới, thành pháp tỳ-kheo-ni. Trong đây ngươi trọn đời giữ được không?"
Giữ được thì nói: "Được."
"Nếu được của lợi dư bơ sữa, dầu, bơ sống, mật, mật mía, thì có thể thọ."
7. Giáo giới
"Ngươi đã thọ giới cụ túc rồi; bạch tứ yết-ma như pháp, thành tựu đúng cách, Hòa thượng như pháp, A-xà-lê như
__________________
(1) Ngũ phần, y thô tệ ngọa cụ.
(2) Hủ lạn dược 腐爛藥, được hiểu  theo nghĩa đen  là “thuốc mục nát” truyền  thống Pāli hiểu nó là “nước đái quỷ.” Xem Trung bộ kinh  I, 315b – tức Pāli gọi  là pūti-mutta  (định  nghĩa của  PTS Pāli-English  Dictionary: nước  tiểu  có  mùi rất  hôi; thường  là nước  tiểu của  trâu  bò  được  dùng  làm  thuốc  cho tỳ-kheo.)  Trong  đó,mutta, nếu hiểu tương  đương với mukta  thì  có nghĩa  là  “cái  được  trích  ra.” Còn pūti,  tiếng Phạn cũng vậy;  có  ba gốc  động từ  khác nhau. Hoặc từ pūy: bốc  thổi, hoặc từ pū: tinh lọc; hoặc từ pā: uống. Nếu hiểu từ kép Pāli pūti-mutta gồm có pūti do động từ căn pūy và mutta tức là mūtra, như vậy sẽ có nghĩa nước đái độc thối, hoặc nước đái quỷ hoặc hủ lạn dược như Hán dịch, có lẽ không chính xác, và điều này phản lại nguyên  lý  y học  thường được  thấy  trong các kinh điển,  theo đó,  tùy bệnh cho  thuốc. Có lẽ nên hiểu từ kép này do động từ căn pū và mukta, nó sẽ có nghĩa loại thuốc được rút ra từ tinh dầu hoặc tinh cốt của các loại thảo mộc. Điều này phù hợp với điểm được qui định trong luật: tỳ-kheo không được dùng các loại cây, rau cỏ đang sống và tươi làm thức ăn, trừ trường hợp đã tác tịnh. Về dịch ngữ khác tương đương hủ lạn dược do Nghĩa Tịnh là trần khí dược 陳棄藥 có thể gần sát ý nghĩa vừa nói. Dẫn Yết-ma-yếu chỉ, Ch. iii, cht. 91. Ngũ phần, hạ tiên dược.

* Trang 983 *
device

pháp, hai bộ Tăng như pháp đầy đủ. Ngươi nên khéo thọ giáo pháp, nên khuyến hóa làm việc phước, tu bổ tháp, cúng dường chúng Tăng. Hòa thượng, A-xà-lê, những gì các ngài dạy như pháp, ngươi không được chống trái. Ngươi nên học vấn tụng kinh, siêng cầu phương tiện, để ở trong pháp của Phật, chứng được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Có như vậy, công đức sơ phát tâm xuất gia của ngươi không bị uổng phí, quả báo không đoạn tuyệt. Ngoài ra những gì chưa biết, ngươi nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê."
Xong rồi, khiến người mới thọ giới đi trước, chư ni đi sau.
"Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đồng nữ 18  tuổi, cho học giới hai năm, cho sáu pháp, đủ 20 tuổi, chúng Tăng không chấp thuận (1) mà cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tăng: cũng như trước.
Tỳ-kheo-ni nào đối với người nữ 20 tuổi, có hai năm học giới, đã cho sáu pháp, nhưng chúng Tăng không cho phép mà cho thọ giới cụ túc; yết-ma xong lần thứ ba, Hòa thượng ni, ba-dật-đề; yết-ma lần thứ hai xong, ba đột-kiết-la; yết-ma lần thứ nhất xong, hai đột-kiết-la; bạch xong, một đột-kiết-la; bạch chưa xong, đột-kiết-la; trước khi chưa bạch, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
_______________________
(1) Pāli  (Vin.  iv.  329):  saṅghena  asammataṃ,  Tăng  chưa hứa  khả;  giải  thích: ...ñattidutiyena  kammena  vuṭṭhānasamutti  na  dinnā  hoti,  không  được  cho  phép bằng bạch nhị yết-ma. Cf. Pāc. 64: Thức-xoa-ma-na đủ 2 năm học giới,  thỉnh cầu Tăng truyền cụ túc. Tăng tác pháp bạch nhị chấp nhận thỉnh cầu. Sau đó tiến hànhthủ tục truyền thọ cụ túc.

* Trang 984 *
device

Sự không phạm: đủ 20 tuổi, có hai năm học giới, (cho sáu pháp), chúng Tăng cho phép thọ giới cụ túc thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 125. THẬP NHỊ TẰNG GIÁ (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, [759a1] các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới  cho phép tỳ-kheo-ni  trao giới cụ  túc cho người. Chư ni độ phụ nữ nhỏ  tuổi (2) cho  thọ giới cụ  túc. Thọ giới rồi, cô ấy không biết nam tử có  tâm nhiễm ô hay không có  tâm nhiễm ô, bèn cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng đùa giỡn với nam tử có tâm nhiễm ô. (3) 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết hổ  thẹn, hiềm  trách các tỳ-kheo-ni rằng: “Đức Thế Tôn chế giới cho phép tỳ-kheo-ni độ người khác thọ giới cụ túc. (4)
________________________
(1) Pāli, Pāc. 65 & 66. Ngũ phần: điều 104. Tăng kỳ: điều 100 & 101 & 102. Thập tụng: điều 108. Căn bản: 108.
(2) Thiếu niên phụ nữ 少年婦女, được hiểu  là phụ nữ đã có chồng nhưng còn nhỏ tuổi; bản Hán dịch  sót ý. Nên hiểu: “Thiếu nữ nhỏ  tuổi đã có chồng.” Ngũ phần (91a15): cho thọ cụ túc nữ đã có chồng chưa quá 20 tuổi. Tăng kỳ (536a2): Các tỳ-kheo-ni cho nữ 12  tuổi đã có chồng  thọ cụ  túc khi chưa đủ 20  tuổi, không qua 2 năm học  giới.  Thập tụng  (325c11):  Thâu-la-nan-đà  độ nữ  12  tuổi  nhưng  đã  có chồng. Căn bản (1004c1): độ những cô bé họ Thích đã có chồng, sau khi dòng họ Thích bị vua Lưu-ly tàn sát. Pāli, Vin. iv. 321: ni độ nữ đã có chồng nhưng chưa đủ 12 tuổi (ūnadvādasavassaṃ ghigataṃ).
(3) Ngũ phần: (vì quá nhỏ nên) ngu ám, vô  tri, không kham học giới. Tăng kỳ: quá nhỏ,  quá yếu  đuối,  không  kham  khổ sự. Pāli:  (nhỏ  quá)  không  kham nổi lạnh, nóng, đói khát, muỗi mòng các thứ.
(4) Ở đây hiểu là độ nữ chưa quá 12 tuổi đã có chồng. Tăng kỳ 39 (535c19): Bấy giờ các cô gái họ Thích, họ Ma-la, họ Lê-xa, đã có chồng, kham chịu khổ sự, có trí tuệ, muốn xuất gia. Cù-đàm-di thỉnh ý Phật: nữ tuy mới 12 tuổi những đã có chồng, có được thọ cụ túc không? Phật cho phép. Căn bản ni 17 (1004c1): Sau khi họ Thích bị tàn sát, các cô bé không nơi nương tựa, xin xuất gia. Tỳ-kheo-ny bảo đợi đủ 20. Các cô bé nói: chúng con 12 tuổi đã có chồng, đã từng hầu hạ cha mẹ chồng, quản

* Trang 985 *
device

Sao các cô lại độ người phụ nữ nhỏ tuổi đã từng có chồng, (1) thọ giới cụ  túc? Thọ giới rồi, cô ấy không  biết nam tử có  tâm  nhiễm ô hay không có  tâm nhiễm ô, bèn cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng đùa giỡn với nam tử có tâm nhiễm ô.” 
Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi,  chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô lại độ người phụ nữ nhỏ tuổi đã từng có chồng, thọ giới cụ túc? Thọ giới rồi, cô ấy không biết nam tử có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô, bèn cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng đùa giỡn với nam tử có tâm nhiễm ô.” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Từ  nay  trở  đi,  muốn  độ  người,  trao  giới cụ  túc,  trước  phải bạch chúng Tăng, rồi mới cạo đầu, cho đến trao cho mười giới như trên. 
“Từ nay trở đi, cho phép độ người nữ 10 tuổi đã từng có chồng, cho hai năm học giới, khi đủ 12 tuổi, cho thọ giới cụ túc, bằng pháp bạch tứ yết-ma như trên.”
“Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  độ  phụ nữ  10  tuổi  đã từng  có  chồng, (2) cho hai năm học  giới,  đủ  12  tuổi mới  cho  thọ  giới cụ  túc; nếu dưới 12 tuổi mà cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề. (3)
_____________________
lý gia sự. Nay có  thể hầu Hòa  thượng, A-xà-lê. Các tỳ kheo bạch Phật. Phật cho phép.
(1) Hán: thiếu niên tằng giá phụ nữ 少年曾嫁婦女. Pāli (Vin. iv. 321): ūnadvādasa-vassaṃ gihitaṃ, nữ chưa đầy 12 tuổi nhưng đã có chồng (tục tảo hôn).”
(2) Thập tuế tằng giá 十歲曾嫁. 
(3) Ngũ  phần:  “…thập nhị  tuế dĩ  giá nữ 十二歲已嫁女…” Tăng kỳ:  “…  thích  tha phụ giảm thập nhị vũ 適他婦減十二雨…” Pāli, Pāc, 66: paripuṇṇadvādasavassaṃ gihigataṃ dve vassāni chasu dhammesu asikkhitasikhaṃ vuṭṭhāpeyya, pācittiyaṃ, nữ đã có chồng, đủ 12 tuổi, chưa đủ 2 năm học giới, mà cho thọ cụ túc, ba-dật-đề.

* Trang 986 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni biết người dưới 12 tuổi mà cho thọ giới cụ túc, yết-ma lần thứ ba xong, Hòa thượng ni ba-dật-đề; yết-ma lần thứ hai xong, phạm ba đột-kiết-la; yết-ma lần thứ nhất xong, hai đột-kiết-la; bạch rồi, một đột-kiết-la; bạch chưa xong, đột-kiết-la; trước khi chưa bạch, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Độ khi 10 tuổi, [759b] cho hai năm học giới, đến 12 tuổi cho thọ giới cụ túc, thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 126. Độ nữ tằng giá không bạch Tăng (1)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới, được độ người nữ 10 tuổi đã từng có chồng, cho hai năm học giới, đến đủ 12 tuổi, cho thọ giới cụ túc. Chư ni độ người mù lòa, chân khập khiễng, điếc và có các bệnh khác, khiến chúng Tăng bị chê bai, biếm nhẽ. (2)
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu- đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách các tỳ-kheo-ni rằng: "Đức Thế Tôn chế giới, cho độ phụ nữ 10 tuổi đã từng có chồng, cho hai năm học giới, đủ 12 tuổi cho thọ giới cụ túc. Sao các cô lại độ người mù lòa, điếc và có các bệnh khác, khiến chúng Tăng bị biếm nhẻ?"
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni: "Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai
____________
(1) Pāli, Pāc. 67. Ngũ phần: điều 105. Tăng kỳ: điều 103. Thập tụng: điều 109. 
(2) Xem ba-dật-đề 124 trước.

* Trang 987 *
device

nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Thế Tôn chế giới, cho phép tỳ-kheo-ni độ phụ nữ 10 tuổi đã từng có chồng, cho hai năm học giới, đủ 12 tuổi cho  thọ giới cụ  túc. Sao các cô lại độ người mù  lòa, điếc và có các bệnh khác, khiến chúng Tăng bị biếm nhẻ?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo:“Từ nay  trở đi, cho phép  thọ giới cụ  túc, bằng bạch tứ yết-ma,  nên  trao cho như vầy: Dẫn người thọ giới đến chỗ mắt thấy, tai không nghe... cho đến câu: “Tôi đã giáo thọ xong.” 
Cho phép kêu vào cũng như trên. (1)
Khi đã đến  trong Tăng, Giới sư  tác bạch hỏi nạn sự cho đến bạch tứ yết-ma như  trên, và đến giữa đại Tăng cho  thọ giới. Tất cả đều như trên, đồng với pháp của đồng nữ 18 tuổi. 
“Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  độ  phụ nữ  tuổi nhỏ  đã từng  có  chồng,  cho hai năm học giới, đủ 12  tuổi, không bạch Tăng (2) mà cho  thọ giới cụ túc, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, độ người phụ nữ tuổi nhỏ đã từng có chồng, cho hai năm học giới,  tuổi đủ 12 nhưng không bạch với chúng Tăng mà cho thọ giới [759c] cụ túc, ba yết-ma xong, Hòa thượng ni ba-dật-đề; hai yết-ma  xong,  ba  đột-kiết-la; một yết-ma  xong,  hai  đột-kiết-la; bạch xong, một  đột-kiết-la; bạch  chưa  xong,  đột-kiết-la;  trước  khi  chưa bạch, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
_____________________
(1) Xem ba-dật-đề 124 trước.
(2) Chưa được Tăng chấp thuận, xem cht. 250, ba-dật-đề 124 trước.

* Trang 988 *
device

Sự  không  phạm: Độ  phụ nữ  12  tuổi  đã từng  có  chồng, bạch Tăng trước khi thọ giới cụ túc thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 127. CHO NGƯỜI NHƯ VẬY THỌ CỤ TÚC (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni độ dâm nữ, (2) cho thọ giới cụ túc. Những người nam (3) đã từng quan hệ sâu với họ, thấy vậy cùng nhau bàn, nói: “Dâm nữ này trước kia cùng chúng tôi làm những việc như vậy  như vậy.”Tỳ-kheo-ni vừa được độ và các tỳ-kheo-ni khác nghe, thảy đều xấu hổ.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý, hiềm  trách các tỳ-kheo-ni rằng: “Sao các cô lại độ dâm nữ cho thọ giới cụ túc? “
Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Tại sao các cô lại độ dâm nữ, cho thọ giới cụ túc?” 
Đức Thế Tôn Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
________________
(1) Cf. Pāli, Pāc. 70. Thập tụng: điều 115. Ngũ phần: điều 112. Căn bản: điều 160 & 114.
(2) Ngũ phần (91c28): dâm nữ không chịu nhận giáo giới (chưa thuần tính, hay chưa có  ý hoàn lương). Nếu dâm nữ đã nhàm chán  thân nữ, được phép độ. Thập tụng (328b11): có nhân duyên được phép độ, nhưng phải đưa cô ấy đi chỗ khác từ 5 hay 6 do-tuần trở lên.
(3) Để bản chép nhầm là nữ nhân.

* Trang 989 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cho người như vậy (1) thọ giới cụ  túc, (2) ba-dật-đề. 
Đức  Thế  Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy.  Các tỳ-kheo-ni không  biết  là người  như vậy  hay  chẳng phải  là  người  như vậy,  sau mới biết, nên các vị tác pháp ba-dật-đề, có vị nghi. Đức Phật dạy:  “Không biết thì không phạm.”
Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết người như vậy mà cho  thọ giới cụ  túc, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Người như vậy: (3) chỉ cho dâm nữ.
Người  ấy,  hoặc  có  phu  chủ,  hoặc  có  anh  em của  phu  chủ,  cho  đến người tư thông cũ. Tỳ-kheo-ni cho người như vậy thọ giới cụ túc thì [760a1]  nên dẫn họ  đi  xa  cách năm,  sáu  do-diên  (do-tuần). (4) Nếu
_______________________
(1) Hán: như thị nhân 如是人. Ngũ phần: dâm nữ 婬女. 
(2) Thập tụng: “Nuôi dâm nữ làm đệ tử mà không đưa xa khỏi bản xứ 5, 6 do-tuần.” Pāli, Pāc. 70, nội dung tương tự, nhưng người nữ được nói  là  sahajīviniṃ, người sống chung, không nói rõ nguồn gốc. Sau đó, cô này bị chồng hay chủ (sāmika) bắt lại. Theo  quy  định như  trong  già nạn, nữ  có  chồng phải  được  phu  chủ  cho  phép mới được xuất gia (Ni luật, ba-dật-đề 143). Vậy đây có thể hiểu trường hợp xảy ra tương tự Tứ phần hay Thập tụng: dâm nữ xuất gia, bị khách cũ săn đuổi.
(3) Như thị nhân 如是人.
(4) Giải  thích  này gần  giống sự  việc  được  nêu  trong Pāli, Pāc.  70:  sahajīviniṃ vuṭṭhāpetvā neva vūpakāseyya na vūpakāsāpeyya antamaso chappañcayojanānipi, “… cho người cùng sinh hoạt thọ cụ túc mà không tự mình hay nhờ người đưa đi ẩn cho đến năm hay sáu do-tuần…” Trong đó, “người cùng sinh hoạt (sahajivinī: đồng hoạt, cộng hoạt)” được giải thích “người cùng sống chung (saddhivihāranī)” mà  thường  chỉ  người  cùng sống  chung một  trú xứ, tức  chỉ  cho  đệ tử. Điều  luật tương tự, Ngũ phần, điều 122: “… độ đệ tử, không tự mình hay nhờ người đưa đi khỏi bản xứ năm hay  sáu  do-tuần…”;  được giải  thích  (tr.92c12):  sau khi  cô  này xuất gia, bọn đàn ông quen biết cũ tìm đến chọc ghẹo, nên phải đưa đi khỏi bản xứ. Cf. Ngũ phần, điều 112 & cht. 1 sau.

* Trang 990 *
device

không đi được, cho lánh vào chỗ thâm kín. Tỳ-kheo-ni độ người như vậy xuất gia,  thọ giới cụ  túc rồi, không dẫn họ đi xa cách năm, sáu do-tuần, hay lánh mình vào chỗ thâm kín, ba-dật-đề. (1)
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Trước không biết là người như vậy liền cho thọ giới cụ  túc;  hoặc dẫn  người  ấy  đi  xa  cách năm,  sáu  do-tuần;  hoặc bảo người dẫn đến chỗ xa năm,  sáu do diên, hay ở chỗ  lánh mình  thâm kín.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não,, bức bách. 
ĐIỀU 128. ĐỘ ĐỆ TỬ KHÔNG DẠY HỌC GIỚI  (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có tỳ-kheo-ni An Ẩn (3) độ  nhiều  đệ tử, mà không dạy bảo. Do không được dạy bảo nên họ không xét  theo oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp, thọ bất tịnh thực khắp nơi, (4) hoặc thọ thực với bát bất tịnh. (5) Khi tiểu thực đại thực lớn tiếng kêu la, y như pháp tụ hội của bà-la-môn.
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni thấy vậy, bảo rằng:
“Này, cô em! Tại sao các cô không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh,  khất  thực  không  như  pháp,  thọ bất tịnh  thực  khắp nơi,  hoặc thọ thực với bát bất tịnh? Khi tiểu thực đại thực lớn tiếng kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn!”
____________________
(1) Ngũ  phần  điều  112  (tr.92a05): “Độ  người nữ  đã  nhàm  chán  thân nữ,  không phạm.”
(2) Pāli, Pāc. 68. Cf. Ngũ phần: điều 121. Tăng kỳ: điều 104. Thập tụng: điều 114. Căn bản: điều 112 & 113.
(3) An Ẩn, hoặc phiên âm Sai-ma; cùng chỉ một người. Pāli: Thullanandā.
(4) Bất tịnh thực, thức ăn không được luật cho phép, hay chưa được tác tịnh. Pāli: na jānanti kappiyaṃ vā akappiyaṃ vā, “không biết là hợp thức hay không hợp thức.”
(5) Bát không đúng theo luật quy định.

* Trang 991 *
device

Các tỳ-kheo-ni ấy thưa:
“Chúng  con  là  đệ tử của tỳ-kheo-ni  An  Ẩn.  Thầy  con  nuôi  đệ tử nhiều  nhưng  không  giáo  giới  chúng  con. Do  không  được  giáo  giới nên chúng con như vậy!”
Tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách tỳ-kheo-ni An Ẩn: “Sao cô nuôi nhiều đệ tử mà không dạy bảo? Do không dạy bảo nên có nhiều việc làm không như pháp.”
Quở  trách rồi tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên  đức  Phật. Đức  Phật  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở  trách tỳ-kheo-ni  An  Ẩn rằng:  “Cô  làm  điều  sai  quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Tại sao cô nuôi nhiều  đệ tử mà  không dạy bảo  để  chúng  không  xét  biết  oai  nghi, quấn y không tề chỉnh, khất  thực không như pháp,  thọ bất tịnh  thực khắp nơi,  hoặc  thọ  thực với  bát bất tịnh; khi  tiểu  thực đại  thực lớn tiếng kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu  tiên phạm giới  này.  [760b] Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ nhiều đệ tử, mà trong hai năm không dạy học giới, không chăm sóc bằng hai pháp, (1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Hai pháp: một là pháp, hai là y và thực.
___________________
(1) Pāli: dve vassāni neva anugaṇheyya na anuggaṇhāpeyya,  trong hai năm, không chăm sóc, cũng không nhờ người chăm sóc. Ngũ phần: “… trong sáu năm, không do  chính mình  chăm  sóc 攝取, không nhờ người  chăm  sóc…” Tăng kỳ:  “… cần phải giáo giới  trong hai năm…” Thập tụng: “…nuôi đệ tử mà không cung cấp tài và  pháp…” Căn bản, gồm  2  điều, 112:  không  giáo  thọ  giới  (không dạy  các học giới), và 113: không nhiếp thọ vệ hộ (không chăm sóc bảo hộ).

* Trang 992 *
device

- Chăm sóc bằng pháp: (1) dạy tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng huệ, học vấn, tụng kinh.
- Chăm sóc bằng y và  thực: cho y  thực, giường nằm, ngọa cụ, thuốc men,  tùy  theo khả năng mà cung cấp các  thứ cần dùng. Tỳ-kheo-ni nào, nuôi  nhiều đệ tử cho  thọ giới cụ  túc, mà  trong  hai năm không dạy học giới, không nhiếp hóa bằng hai pháp, ba-dật-đề. 
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu đã độ mà có cho học giới  trong hai năm, dùng hai  việc nhiếp  hóa, một  là pháp, hai  là  y  thực. Hoặc họ  thọ giới cụ túc, rồi bỏ Hòathượng đi, hoặc phá giới, phá kiến, phá oai nghi; hoặc bị cử,  hoặc  diệt tẫn,  hoặc  đáng  diệt tẫn,  hoặc  do  việc  này  đưa  đến mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU129. KHÔNG CÓ HAI NĂM THEO HÒA THƯỢNG NI (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni độ nhiều đệ tử. Khi được độ rồi, họ bỏ  Hòa  thượng  đi,  nên  không  nhận  được mọi sự dạy dỗ, không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp,  thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc  thọ thực với bát bất tịnh. Khi tiểu  thực  đại  thực, họ lớn  tiếng  kêu  la,  như  pháp tụ hội của  bà-la-môn. Các tỳ-kheo-ni thấy vậy hỏi: “Này,  các  cô  em! Tại  sao  các  cô  không  xét  biết  oai  nghi,  quấn  y không tề  chỉnh,  khất  thực  không  như  pháp,  thọ bất tịnh  thực  khắp nơi, hoặc thọ bát bất tịnh thực; khi tiểu thực đại thực lớn tiếng kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn?” 
Các tỳ-kheo-ni  ấy  thưa:  “Chúng  con  thọ  giới cụ  túc rồi bỏ  Hòa thượng đi, không nhận được sự giáo dục nên như thế!”
__________________________
(1) Pháp nhiếp thủ 法攝取.
(2) Pāli, Pāc. 69. Ngũ phần: điều 119.Tăng kỳ: điều 105. Thập tụng: điều 113.

* Trang 993 *
device

Tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni:  “Tại  sao  các  cô  em  thọ  giới rồi bỏ Hòa  thượng  đi,  để  không  nhận được sự  giáo dục,  không  xét  biết  oai  nghi,  quấn  y  không tề  chỉnh, khất thực không như pháp, thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc thọ thực với bát bất tịnh? Khi  tiểu  thực đại  thực lớn  tiếng kêu  la,  [760c] như pháp tụ hội của bà-la-môn?”
Các tỳ-kheo-ni quở  trách rồi, đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên Đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni. 
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không  nên  làm. Tại  sao  thọ  giới cụ  túc rồi,  các  cô lại  lìa bỏ Hòa thượng đi, nên không được sự giáo dục, không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất  thực không như pháp,  thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc  thọ  thực với bát bất tịnh? Khi  tiểu  thực đại  thực lớn  tiếng kêu  la, như pháp tụ hội của bà-la-môn?”
Sau khi bằng vô số phương tiện  quở  trách,  Phật bảo  các tỳ-kheo:  “Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,  là những  người đầu  tiên phạm giới  này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, không có hai năm  theo Hòa  thượng ni, (1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni không có hai năm theo Hòa thượng ni, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Thọ  giới cụ  túc rồi,  hai năm  theo Hòa  thượng  ni;
_________________________
(1) Ngũ phần: “… mới  thọ giới… không nương  thờ Hoà  thượng  trong  sáu năm…” Tăng kỳ: “… sau khi thọ cụ túc, phải đi theo hầu hạ Hoà thượng trong hai năm…”

* Trang 994 *
device

hoặc Hòa thượng cho phép đi thì được đi; hoặc Hòa thượng phá giới, phá kiến, phá oai nghi; hoặc bị cử, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng diệt tẫn, hoặc do việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn,  trong hai năm phải xa lìa. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 130. TĂNG CHƯA CHO PHÉP MÀ ĐỘ NGƯỜI  (1)
a. Duyên khởi
Một  thời,  đức  Phật  ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng  cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ đức Thế Tôn chế giới, cho phép độ người  thọ giới cụ  túc. Các tỳ-kheo-ni ngu si độ người mà không biết giáo dục. Do  không  được  giáo dục  nên họ  không  xét  biết  oai  nghi,  quấn  y không tề  chỉnh,  khất  thực  không  như  pháp,  thọ bất tịnh  thực  khắp nơi,  hoặc  thọ  thực với  bát bất tịnh. Khi  tiểu  thực  đại  thực  thì  cao tiếng kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Đức Thế Tôn chế giới, cho phép độ người. Tại sao các cô là người ngu si cũng vội độ người mà không biết giáo dục. Do không được giáo dục nên họ không  xét  biết  oai  nghi,  cho  đến  khi  tiểu  thực  đại  thực, lớn  tiếng [761a1] kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn.”
Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên ĐứcThế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi,  chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận, làm việc không nên làm. Tại sao đức Thế Tôn chế giới, tuy cho phép độ  người,  nhưng  các  cô hạng  ngu  si, cũng vội  độ  người mà  không biết  giáo dục. Do  không  giáo dục,  nên họ  không  xét  biết  oai  nghi, khất  thực không như pháp,  thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc  thọ bát
___________________________
(1) Cf. Pāli, Pāc. 75. Ngũ phần: điều 103. Tăng kỳ: điều 99. Thập tụng: điều 112. Căn bản ni: điều 107.

* Trang 995 *
device

bất tịnh thực. Khi tiểu thực đại thực thì lớn tiếng kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn.”
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, bảo các tỳ-kheo: yết-ma súc chúng.
Từ  nay  trở  đi,  cho  phép Tăng bạch  nhị yết-ma  để  cho  phép  người
muốn trao giới cụ túc cho kẻ khác. Người ấy đến giữa Tăng cầu xin, nên cầu như vầy: đến trong chúng tỳ-kheo-ni, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ  sát chân các tỳ-kheo-ni, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay, bạch: 
“Đại tỷ Tăng, xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo-ni tên là..., (1) cầu xin chúng Tăng cho phép độ người thọ giới cụ túc.” 
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
Tỳ-kheo-ni Tăng nên  xem  xét người ấy, nếu đủ khả năng giáo dục, cho học giới trong hai năm, chăm sóc bằng hai sự, một là pháp, hai là y  thực,  thì  thuận  cho. Nếu  không  đủ  khả năng  giáo dục,  không  thể cho học giới trong hai năm, chăm sóc bằng hai sự, thì nên nói:
“Này cô, thôi đi! Đừng nên độ người.” 
Nếu  cô  ấy  có  trí  tuệ,  có  khả năng  giáo dục,  cho học  giới  trong  hai năm, chăm  sóc bằng  hai sự,  thì ni  chúng nên  sai một vị có  thể yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại tỷ Tăng,  xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni  này  tên  là...(2),  nay đến  giữa  chúng Tăng cầu  xin  pháp  trao  giới cụ  túc  cho người. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với Tăng, Tăng  chấp thuận  cho  phép tỳ-kheo-ni  tên  là...,  trao  giới cụ  túc  cho người. Đây là lời tác bạch.
“Đại tỷ Tăng,  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo-ni  này  tên  là...,  nay đến  giữa  chúng Tăng cầu  xin  phép  trao  giới cụ  túc  cho người. Nay, Tăng trao cho tỳ-kheo-ni tên là..., pháp trao giới cụ  túc cho người. Các đại tỉ nào chấp  thuận Tăng  trao cho
_____________________
(1) Pāli: “...tỳ-kheo-ni đã đủ 12 hạ.”
(2) Pāli: “...tỳ-kheo-ni đã đủ 12 hạ này, tên là...”

* Trang 996 *
device

tỳ-kheo-ni  tên  là...,  pháp  trao  giới cụ  túc  cho  người  thì  im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp  thuận cho tỳ-kheo-ni  tên  là..., pháp  trao giới cụ túc cho người rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
“Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm  [761b] mười  cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, (1) Tăng  không  cho  phép mà  trao  giới cụ  túc cho người, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Cho phép: chúng Tăng bạch nhị yết-ma, cho phép tỳ-kheo-ni kia.
Nếu Tăng không cho phép mà  trao giới cụ  túc cho người, ba-dật-đề.
Chúng Tăng không cho phép bèn cho người y chỉ, hoặc nuôi sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Chúng Tăng  cho  phép  trao  giới cụ  túc  cho  người, nhận tỳ-kheo-ni  y  chỉ  và  nuôi  sa-di-ni,  thức-xoa-ma-na. Đó gọi  là không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 131. CHƯA ĐỦ 12 HẠ MÀ ĐỘ NGƯỜI (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại
____________________
(1) Các bộ,  đại  thể tương  đồng:  đủ  12  tuổi  (hạ), nhưng Tăng  chưa  tác yết-ma  súc chúng. Pāli:  “...  đã  đủ  12 hạ  nhưng  chưa  được tăng  cho  phép.” (saṅghena asammatā). 
(2) Pāli, Pāc. 74. Ngũ phần: điều 106. Tăng kỳ: điều 94. Thập tụng: điều 106. Căn bản: điều 106.

* Trang 997 *
device

nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới, cho phép tỳ-kheo-ni đến giữa chúng Tăng xin phép  trao giới cụ  túc cho người. Tỳ-kheo-ni tân học thiếu niên cũng đến chúng Tăng xin phép trao giới cụ  túc cho người, rồi không  thể giáo dục. Do không được giáo dục cho nên họ không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp, thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc thọ thực bát bất tịnh. Khi  tiểu  thực đại  thực  thì lớn  tiếng kêu  la, như pháp tụ hội của bà-la-môn!
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách  các tỳ-kheo-ni:  “Các  cô nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép độ người. Tại sao các cô không biết mình là tân học niên thiếu, mà cũng xin phép trao giới cụ túc cho người, rồi  không  thể  giáo dục.  Do  không  được  giáo dục  nên họ không  xét biết oai  nghi, quấn  y không tề chỉnh... cho đến  tiểu  thực đại thực thì lớn tiếng kêu la, [761c] như pháp tụ hội của bà-la-môn?”
 Các tỳ-kheo-ni quở  trách rồi  thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni này:  “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Tại sao các cô là tân học niên thiếu mà xin phép trao giới cụ  túc  cho  người,  để rồi  không  thể  giáo dục  được. Do  không được giáo dục nên họ không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp, thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc thọ thực bát bất tịnh. Khi  tiểu  thực đại  thực  thì lớn  tiếng kêu  la, như pháp tụ hội của bà-la-môn?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách các tỳ-kheo-ni này rồi, bảo  các tỳ-kheo:  “Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  tuổi chưa đủ 12,  trao giới cụ  túc cho người, ba-dật-đề.

* Trang 998 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Nếu tỳ-kheo-ni  tuổi (hạ) dưới 12, trao giới cụ  túc cho người, ba-dật-đề; hoặc dưới 12, cho người  y chỉ, hay  nuôi  thức-xoa-ma-na,  sa-di-ni; tất cả đều đột-kiết-la. Đó gọi là phạm. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la.
Sự không phạm: Tuổi (hạ) đủ 12 trao giới cụ túc cho người; hoặc cho người y chỉ; hay nuôi thức-xoa-ma-na, sa-di-ni; thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 132. ĐỦ HAI MƯƠI HẠ TĂNG CHƯA CHO PHÉP MÀ ĐỘ NGƯỜI  (1)
Một  thời, Đức Thế Tôn ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép ni 12  tuổi hạ được  trao giới cụ  túc cho người, đều tự xưng rằng, mình đã đủ 12 hạ. Mặc dầu  là ngu si, vội  trao giới cụ  túc cho người,  mà  không  biết  giáo dục.  Do  không  được  giáo dục  nên họ không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp, thọ bất tịnh thực khắp nơi, hoặc thọ bát bất tịnh. Khi tiểu thực đại thực kêu la lớn tiếng, như pháp tụ hội của bà-la-môn.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni này: “Sao các cô nghe đức Thế Tôn chế giới, cho phép ni đủ 12 hạ được  trao giới cụ túc cho người, các cô tự xưng  là mình đủ 12 hạ, cầu xin trao giới cụ  túc  cho  người? Trong  khi  đó  các  cô  là  người  ngu  si  không  biết giáo dục. Do không được giáo dục nên người được độ họ không biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp... cho đến như pháp tụ hội của bà-la-môn.”
_______________-
(1) Pāli, Pāc. 75. Ngũ phần: điều 103. Cf. Tăng kỳ: điều 93 & 94. Thập tụng: điều 107.

* Trang 999 *
device

Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni này: “Các cô  làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Tại  sao các cô tự xưng  là mình  đủ  12  tuổi hạ,  [762a1] cầu  xin  trao  giới cụ  túc  cho  người.Trong khi đó các cô  là người ngu si không biết giáo dục. Do không được sự  giáo dục  nên  người  được  độ  không  biết  oai  nghi,  quấn  y không tề chỉnh, khất thực không như pháp... cho đến như pháp tụ hội của bà-la-môn?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương  tiện quở  trách các tỳ-kheo-ni này rồi, bảo  các tỳ-kheo:  “Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đủ 12 hạ, chúng Tăng không cho phép, mà trao giới cụ túc cho người, (1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, đủ 12 hạ, chúng Tăng không cho phép mà  trao giới cụ  túc cho người,  ba-dật-đề. Chúng Tăng không cho phép mà nhận người y chỉ và nuôi thức-xoa-ma-na, sa-di-ni, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Tuổi hạ đủ 12, chúng Tăng cho phép trao giới cụ túc cho  người  và  cho  người  y  chỉ,  nuôi  thức-xoa-ma-na,  sa-di-ni  thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
_____________________-
(1) Cf. Tăng kỳ, điều 93: “…đủ 12 hạ nhưng chưa đủ mười pháp…”; điều 94: “…đủ mười pháp nhưng chưa được yết-ma…”

* Trang 1000 *
device

ĐIỀU 133. CHÊ TĂNG CÓ THIÊN VỊ (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ  có tỳ-kheo-ni  ngu  si, (2) không  thể  giáo dụcđược,  đến  chúng Tăng cầu  xin  trao  giới cụ  túc  cho  người. Các tỳ-kheo-ni can gián: “Này cô em, thôi đi! Đừng đến chúng Tăng cầu xin trao giới cụ túc cho người.”
Cô ni đến xin Tăng cho trao giới cụ túc cho người, không được Tăng chấp  thuận, bèn nói: “Các tỳ-kheo-ni có  thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh. Thương ai thì cho, ai không thương thì không cho.” Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni: “Sao, các cô là người ngu si, lại đến Tăng xin  trao giới cụ  túc cho người. Các cô lại  nói:  ‘Các tỳ-kheo-ni  có  thiên vị,  có  giận hờn,  có sợ  hãi,  có bất minh, thương ai thì cho, ai không thương thì không cho.’”
Chư ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi,  chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận, làm  việc không  nên  làm. Các cô  là  người  ngu  si, khi đến Tăng  xin phép [762b] trao giới cụ túc cho người, các tỳ-kheo-ni can gián rằng: ‘Này cô em,  thôi đi! Đừng đến chúng Tăng cầu xin  trao giới cụ  túc cho người.’ Các cô  sao lại  nói:  ‘Các tỳ-kheo-ni có  thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh,  thương ai  thì cho, ai không  thương  thì không cho’?” 
Đức Thế Tôn sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
_______________________
(1) Pāli, Pāc. 76. Ngũ phần: điều 109. Tăng kỳ: điều 109. Thập tụng: điều 110.
(2) Pāli: tỳ-kheo-ni Caṇḍkālī.

* Trang 1001 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, Tăng  không  cho  phép  trao  giới cụ  túc  cho người, mà nói rằng:  ‘ Tăng  có  thiên vị,  có  giận hờn,  có sợ hãi, có bất minh, muốn cho ai thì cho, không muốn cho ai thì không cho,’ (1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tăng: nghĩa cũng như trước.
Không  cho  phép:  chúng Tăng  nói,  “Cô  em,  thôi  đi! Đừng  xin  trao giới cụ  túc  cho  người.” Cô  ni  kia  không  được Tăng  cho  phép  trao giới cụ túc cho người, mà nói: 
“Các Tỳ-kheo-ni  có  thiên vị,  có  giận hờn,  có sợ  hãi,  có bất minh. Người  thương  thì  cho,  người  không  thương  thì  không  cho;”  nói  rõ ràng thì ba-dật-đề. Nói không rõ ràng, đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Sự việc kia, sự thật là có thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi,  có bất minh,  thương  ai  thì  cho,  không  thương  thì  không  cho; hoặc  nói  vui  đùa,  nói  nhanh vội,  nói  chỗ vắng,  nói một mình,  nói trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc kia. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 134. ĐỘ NGƯỜI CHA MẸ, PHU CHỦ KHÔNG ĐỒNG Ý (2 )
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni khi nghe đức Thế Tôn chế giới cho  phép  độ  người  thọ  giới cụ  túc,  liền vội  độ  cho  thọ  giới cụ  túc
_______________________
(1) Pāli:  sādhū’  ti  paṭissutvā  pacchā  khīyanadhammaṃ  āpajeyya,  đã  đồng  thuận nhưng sau đó lại bất bình.
(2) Pāli, Pāc. 80. Ngũ phần: điều 126. Thập tụng: điều 124. Căn bản: điều 121.

* Trang 1002 *
device

những người mà cha mẹ hay phu chủ chưa cho phép. Sau khi thọ giới cụ túc rồi, cha mẹ hay phu chủ họ đến dẫn về. Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết hổ  thẹn, hiềm  trách nói:  “Sao các cô khi nghe đức Thế Tôn chế giới, cho phép độ người, lại vội độ những người mà cha mẹ  hay phu  chủ không  cho, khiến cho cha mẹ  hay phu chủ họ đến dẫn về?”
Các tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo bạch  lên Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách [762c] các tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Tại sao Thế Tôn chế giới cho phép độ người, thì vội độ những người mà cha mẹ hay phu chủ không cho; để rồi, sau đó, cha mẹ hay phu chủ họ đến dẫn về?”
Đức Thế Tôn Sau  khi bằng  vô số  phương  tiện  quở  trách,  đức Phật bảo  các tỳ-kheo:  “Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  trao giới cụ  túc cho người (1) mà cha mẹ hay phu chủ không đồng ý, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, nếu  trao giới cụ  túc cho người mà cha mẹ hay phu chủ họ không cho phép, yết-ma lần thứ ba xong, Hòa thượng ba-dật-đề; yết-ma lần thứ hai xong, ba đột-kiết-la; yết-ma lần thứ nhất xong, hai đột-kiết-la; bạch xong, một đột-kiết-la; bạch chưa xong, một đột-kiết-la; trước khi chưa bạch, phương tiện Tăng bạch, cho cạo tóc, tập chúng, đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm. 
______________________
(1) Pāli: mātāpitūhi  ...  sikkhamānaṃ vuṭṭhāpeyya,  ...  thọ cụ  túc cho  thức-xoa-ma-na mà cha mẹ...

* Trang 1003 *
device

Sự không phạm: Người đó được cha mẹ hay phu chủ cho phép, hoặc không có cha mẹ hay phu chủ thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 135. ĐỘ NỮ ĐANG MÊ LUYẾN NGƯỜI NAM (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni khi nghe đức Thế Tôn chế giới được độ người. Các tỳ-kheo-ni bèn độ cho thọ giới cụ túc người nữ (2) đang  luyến ái đàn ông, con  trai, hay sầu ưu, dễ mừng, dễ giận. Thọ giới cụ  túc rồi,  cô  ấy  vì  nhớ  nghĩ  đến  đàn  ông  nên sầu  ưu, dễ nổi nóng giận, cùng gây sự với các tỳ-kheo-ni.  Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  hiềm  trách  các tỳ-kheo-ni: “Đức Thế Tôn  chế  giới  được  độ  người. Sao  các  cô lại  độ  cho  thọ  giới cụ  túc người nữ đang  luyến ái đàn ông, con  trai, hay sầu ưu, dễ mừng, dễ giận? Thọ giới cụ túc rồi, cô ấy vì nhớ nghĩ đến đàn ông nên sầu ưu, dễ nổi nóng giận, cùng gây sự với các tỳ-kheo-ni?”
Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không  nên  làm. Tại  sao  [763a1]  các  cô lại  độ  cho  thọ  giới cụ  túc người nữ đang  luyến ái đàn ông, con  trai, hay sầu ưu, dễ mừng, dễ giận? Thọ giới cụ túc rồi, cô ấy vì nhớ nghĩ đến đàn ông nên sầu ưu, dễ nổi nóng giận, cùng gây sự với các tỳ-kheo-ni.”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người
_________________
(1) Pāli, Pāc.79. Căn bản: điều 118.
(2) Pāli, Vin.  iv.  333:  thọ cụ  túc  thức-xoa-ma-na (sikkhamāna)  đang  thân cận với những  người  đàn  ông,  thiếu  niên;  cô  ấy  là  người  hung dữ,  là  người  đa  ưu sầu (sokāvasa).

* Trang 1004 *
device

đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  độ  cho  xuất  gia  thọ  giới cụ  túc  người nữ đang luyến ái đàn ông, con trai, hay sầu ưu, hay sân hận, ba-dật-đề. 
Đức Thế Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy. Bấy  giờ,  các tỳ-kheo-ni  không  biết  người  ấy  có  hay  không  đang  luyến  ái  đàn  ông, con  trai, hay sầu ưu, hay  sân hận,  sau mới  biết cô ấy đang  luyến ái đàn ông, con trai, nên có vị tác pháp sám ba-dật-dề, có vị nghi. 
Đức Phật dạy:  “Không biết thì không phạm.”  Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết  người nữ  đang  luyến  ái  đàn  ông,  con trai, hay sầu ưu, hay sân hận, mà độ cho xuất gia thọ giới cụ túc, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Người nữ đang  luyến ái đàn ông con  trai, tư  thông nhau; cô ấy hay sầu ưu, hay sân nhuế; sau khi  thọ giới cụ  túc rồi, do nhớ tưởng đàn ông  nên  hay  gây gỗ với tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo-ni  biết  người nữ  đang luyến ái đàn ông con  trai, tư  thông nhau; cô ấy hay sầu ưu, hay sân nhuế; mà cho thọ giới cụ túc, yết-ma lần thứ ba xong, Hòa thượng ni phạm ba-dật-đề. Yết-ma lần  thứ hai xong, phạm ba đột-kiết-la. Yết-ma lần  đầu  xong,  hai  đột-kiết-la. Bạch rồi, một  đột-kiết-la. Bạch chưa xong, đột-kiết-la. Trước khi chưa bạch, mà cho cạo tóc, cho thọ giới, tập đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la.Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Trước không biết; hoặc  tin lời của người đáng  tin; hoặc  tin lời của  cha mẹ họ;  hoặc  thọ  giới cụ  túc rồi bệnh  ấy mới sanh. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
 

* Trang 1005 *
device

ĐIỀU 136 SAU HAI NĂM HỌC GIỚI KHÔNG TRAO CỤ TÚC (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước  Xá-vệ. Bấy  giờ, tỳ-kheo-ni  Thâu-la-nan-đà  nói với  thức-xoa-ma-na rằng: “Cô học việc này, cô bỏ việc này; tôi sẽ trao giới cụ túc  cho  cô.” (2) Thức-xoa-ma-na bằng  lòng.  Thức-xoa-ma-na  này [763b]  là  người  thông minh  trí  tuệ,  có  khả năng  khuyến  hóa,  nên Thâu-la-nan-đà  có  ý  nghĩ, muốn  khiến  cho  thức-xoa-ma-na  khuyến hóa lâu dài để cúng dường mình. Do vậy, không tạo phương tiện sắp xếp  để  trao  giới cụ  túc  cho  thức-xoa-ma-na. Thức-xoa-ma-na  hiềm trách  Thâu-la-nan-đà  như vầy:  “Cô bảo  con bỏ  việc  này, học  việc này; cô sẽ trao giới cụ túc. Tại sao đến nay, cô không tạo phương tiện để trao giới cụ túc cho con?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm tráchThâu-la-nan-đà rằng: “Sao cô nói với thức-xoa-ma-na: ‘Bỏ việc này. Học việc này. Tôi sẽ trao giới cụ túc.’ Mà lại không trao giới cụ túc cho cô ấy?”
Tỳ-kheo-ni  liền đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà: “Sao cô nói với thức-xoa-ma-na: ‘Bỏ việc này, học việc này;  tôi sẽ  trao giới cụ  túc.’ Mà lại không  trao giới cụ  túc cho cô ấy?” Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:  “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  nói với  thức-xoa-ma-na rằng:  ‘Cô  em, bỏ việc này, học việc này, tôi sẽ trao giới cụ túc cho.’ Nếu không tạo phương tiện để trao giới cụ túc, ba-dật-đề.
_____________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 78. Ngũ phần: điều 111. Tăng kỳ: điều 110. Thập tụng: điều 125.
(2) Pāli, Vin. iv. 333: “Nếu cô đi theo tôi hai năm, tôi sẽ cho thọ cụ túc.”

* Trang 1006 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni kia nói với thức-xoa-ma-na rằng: “Này cô em, cô bỏ việc này, học  việc  này,  tôi sẽ  trao  giới cụ  túc  cho  cô.”  Sau,  không tạo phương tiện để trao giới cụ túc cho cô ấy, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu hứa trao giới cụ túc, rồi trao giới cụ túc; hoặc bị bệnh, hoặc không cùng sinh hoạt; hoặc không có 5 y; hoặc không đủ chúng mười vị;  hoặc  khuyết  giới,  hoặc  phá  giới,  phá  kiến,  phá  oai nghi, hoặc bị cử tội, hoặc bị diệt tẫn, hoặc đáng diệt tẫn, hoặc do việc ấy đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn nên không tạo phương tiện để trao giới cụ túc. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 137. NHẬN Y MÀ KHÔNG TRAO GIỚI CỤ TÚC (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có [763c] thức-xoa-ma-na (2) mang chiếc y đến trong Tăng-già-lam, chỗ ở của các tỳ-kheo-ni, thưa: “Cho con giới cụ túc, con sẽ biếu chiếc y này.” Khi ấy tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà nói: “Này  cô  em,  cô  đưa  chiếc  y  cho  tôi,  tôi sẽ  trao  giới cụ  túc  cho.” Thức-xoa-ma-na  liền  đem  chiếc  y  đưa  cho tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà. Thâu-la-nan-đà nhận y rồi, không tạo phương tiện trao giới cụ túc cho thức-xoa-ma-na. Thức-xoa-ma-na cơ hiềm nói: “Cô nói với con, đưa  chiếc  y  cho  cô,  cô sẽ  trao  giới cụ  túc  cho. Cô  nhận  y rồi,  sao không trao giới cụ túc cho con?”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách Thâu-la-nan-đà: “Cô nói với
______________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 77. Ngũ phần: điều 108. Thập tụng: điều 123. Căn bản: điều 122.
(2) Ngũ phần ( tr.91b24): một phụ nữ bạch y.

* Trang 1007 *
device

thức-xoa-ma-na: ‘Này cô em, cô đưa chiếc y cho tôi,  tôi sẽ  trao giới cụ túc cho.’ Cô đã nhận y rồi, sao không trao giới cụ túc cho?”
Quở  trách xong, chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà rằng:
“Cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Cô nói với thức-xoa-ma-na: ‘Này cô em, cô đưa chiếc y cho tôi, tôi sẽ trao giới cụ  túc cho.’ Cô đã nhận y rồi, sao không  trao giới cụ túc cho?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nói với  thức-xoa-ma-na: (1) ‘Cô đưa y cho  tôi, tôi sẽ  trao giới cụ  túc cho;’ mà không tạo phương  tiện  trao giới cụ túc cho, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Y: có mười loại, cũng như trước.
Tỳ-kheo-ni  nào  nói với  thức-xoa-ma-na:  “Cô  đưa  y  cho  tôi,  tôi sẽ trao cho cô giới cụ túc.” Nhận y rồi, không tạo phương tiện trao giới cụ túc, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Hứa  cho  thọ  giới cụ  túc rồi  trao  cho  giới cụ  túc; hoặc bị bệnh; hoặc không cùng sinh hoạt với nhau nữa; hoặc không có 5 y; hoặc không đủ chúng mười vị; hoặc bị khuyết giới, hoặc bị phá giới, phá kiến, phá oai nghi, hoặc bị cử, [764a1] hoặc bị diệt tẫn,
______________________________                                        
(1) Ngũ phần: bạch y quy nữ 白衣歸女.

* Trang 1008 *
device

hoặc đáng diệt tẫn, hoặc do việc ấy đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn nên không tạo phương tiện để trao giới cụ túc thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 138. MỘT NĂM ĐỘ HAI NGƯỜI (1)
a. Duyên khởi 
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni An Ẩn nhiều đệ tử, trao cho giới cụ túc mà không thể giáo dục cho chu đáo. Do không được giáo dục cho nên họ không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không  như  pháp,  thọ bất tịnh  thựckhắp nơi,  hoặc  thọ  thực  bát bất tịnh. Khi  tiểu  thực đại  thực  thì lớn  tiếng kêu  la, như pháp tụ hội của bà-la-môn. 
Các Tỳ-kheo-ni nghe rồi hỏi: 
“Sao các cô không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không  như  pháp,  thọ bất tịnh  thực  khắp nơi,  hoặc  thọ  thực  bát bất tịnh? Khi  tiểu  thực  đại  thực  thì lớn  tiếng  kêu  la,  như  pháp hội họp của bà-la-môn?” 
Các cô liền trả lời: “Chúng con  là đệ tử của tỳ-kheo-ni An Ẩn. Thầy chúng con không dạy nên chúng con không biết!”
Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong số đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni An Ẩn: “Cô độ nhiều đệ tử, không giáo dục được hết. Do không được giáo dục cho nên họ không xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thựckhông  như  pháp,  thọ bất tịnh  thực  khắp nơi,  hoặc  thọ  thực  bát bất tịnh. Khi  tiểu  thực đại  thực  thì lớn  tiếng kêu  la, như pháp tụ hội của bà-la-môn.”
Các tỳ-kheo-ni bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức
________________________-                                        
(1) Pāli, Pāc. 82 & 83. Ngũ phần: điều 117  (cf. điều 192). Tăng kỳ: điều 106. Thập tụng: điều 126. Căn bản: điều 124.

* Trang 1009 *
device

Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni An Ẩn rằng: “Cô  làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Cô độ nhiều đệ tử, không giáo dục  được hết. Do  không  được  giáo dục  cho  nên họ  không  xét biết oai nghi, quấn y không tề chỉnh, khất thực không như pháp,  thọ bất tịnh  thực khắp nơi, hoặc  thọ  thực bát bất tịnh. Khi  tiểu  thực đại thực thì lớn tiếng kêu la, như pháp tụ hội của bà-la-môn.”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười [764b] cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  chưa  đầy  12  tháng,  trao  giới cụ  túc  cho người nữa, (1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni đủ 12  tháng được  trao giới cụ  túc cho người nữa; đủ 12 tháng  được  cho  người nữa  y  chỉ;  đủ  12  tháng  được  trao  giới  thức-xoa-ma-na, cho hai năm học giới; đủ 12 tháng được độ sa-di-ni. Tỳ-kheo-ni  nào chưa đầy 12  tháng  trao giới cụ  túc cho người nữa, ba-dật-đề; chưa đầy 12 tháng cho người y chỉ, độ thức-xoa-ma-na, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Đủ 12 tháng trao giới cụ túc cho người, đủ 12 tháng cho người y chỉ,  trao giới  thức-xoa-ma-na, hai năm học giới. Độ sa-di-ni thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
 _______________________-                                       
(1) Pāli: ekaṃ vassaṃ dve vuṭṭhāpeyya, trong một năm, truyền cụ túc cho hai người.

* Trang 1010 *
device

ĐIỀU 139. CÁCH ĐÊM CHÁNH PHÁP YẾT-MA (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni khi  nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép  trao cho người giới cụ  túc. Họ bèn ở  trong ni chúng trao giới cụ túc; rồi để cách đêm mới đến trong Tăng tỳ-kheo để cầu nhận giới cụ túc. (2) Trong khoảng thời gian đó, người tân thọ giới hoặc bị mù  lòa,  điếc  hay  chân  đi  khập  khiễng  và  các  chứng bệnh  khác, đem lại sự hủy nhục cho chúng Tăng. Các tỳ-kheo-ni nghe,  trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở  trách  các tỳ-kheo-ni rằng: “Đức  Thế  Tôn  chế  giới  được  độ người. Sao các cô độ người mù lòa, ngu si, điếc, chân đi khập khiễng và các loại bệnh khác, đem lại sự hủy nhục cho chúng Tăng?”
Quở trách rồi, chư ni bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Sao các cô độ người mù  lòa, ngu si, điếc, chân đi khập khiễng và các loại bệnh khác, đem lại sự hủy nhục cho chúng Tăng?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  cho  người  thọ  giới cụ  túc,  [764c]  để  cách đêm mới dẫn  đến  trong tỳ-kheo Tăng  xin nhận  giới cụ  túc, ba-dật-đề.
 ________________________                                      
(1) Ngũ phần: điều 119 (cf. điều 195). Tăng kỳ: điều 107. Thập tụng: điều 127.
(2) Sau khi hành bản bộ yết-ma  (xem ba-dật-đề 124  trên), để cách đêm, ngày hôm sau mới dẫn giới tử đến tỳ-kheo Tăng hành chánh pháp yết-ma.

* Trang 1011 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni  nên  ngay  trong ngày  thọ giới cụ  túc,  liền dẫn đến  trong Tăng tỳ-kheo xin  nhận giới cụ  túc. Tỳ-kheo-ni  nào, cho  thọ giới cụ túc, để cách đêm mới dẫn đến  trong Tăng tỳ-kheo xin nhận giới cụ túc, ba-dật-đề. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Ngay trong ngày thọ giới cụ túc,  liền dẫn đến trong Tăng tỳ-kheo xin nhận giới cụ túc. Hoặc muốn dẫn đến để xin giới cụ túc, người vừa  thọ giới bị bệnh,  hay do đường  sá  trở ngại,  hoặc có nạn  thú dữ, hay nạn giặc, nạn nước lớn, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói nhốt, hoặc bị mạng nạn, phạm hạnh nạn, không thể trong ngày đó dẫn đến trong chúng tỳ-kheo được, thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. (1)
ĐIỀU 140. KHÔNG ĐẾN NHẬN GIÁO THỌ (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước  Xá-vệ. (3) Bấy  giờ,  ngày  giáo  thọ,  các tỳ-kheo-ni  không  đi nhận giáo thọ.
Các tỳ-kheo-ni  nghe  biết;  trong số  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh  đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  quở  trách  các tỳ-kheo-ni rằng: “Ngày giáo thọ, sao các cô không đi nhận giáo thọ?”
Tỳ-kheo-ni đến bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy thuận, làm việc không nên làm. Ngày giáo thọ, sao các cô không đến
___________________
(1) Bản Hán, hết quyển 28.
(2) Pāli, Pāc. 58. Ngũ phần: điều 110. Tăng kỳ: điều 131. Thập tụng: điều 152.
(3) Vin. iv. 314: giữa những người họ Thích, trong rừng Ni-câu-loại, Ca-tì-la-vệ.

* Trang 1012 *
device

trong  chúng  nhận  giáo  thọ?” Sau  khi bằng vô số  phương  tiện  quở trách,  đức  Phật bảo  các tỳ-kheo:  “Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu [765a1] chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, ngày giáo thọ không đến nhận giáo thọ, (1) ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Khi ấy, các tỳ-kheo-ni có Phật sự, Pháp sự, Tăng sự, hoặc việc nuôi bệnh. Phật dạy: 
“Cho phép gởi lời lại. (2)” Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  không bệnh mà  không  đến  nhận  giáo  thọ, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni không đến nhận giáo thọ, ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Ngày giáo  thọ đến nhận giáo  thọ; hoặc bị bận việc Phật-Pháp-Tăng, và người nuôi bệnh nên gởi lời lại thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 141. NỬA THÁNG KHÔNG CẦU TĂNG GIÁO THỌ (3)
_________________________
(1) Pāli: ovādāya vā  saṃvāsāya na gaccheyya, không đi dự nghe giáo giới, và  sinh hoạt  chung  (cọng  trú). Giải  thích:  nghe  giáo  giới (ovādāya),  nghe  tám  pháp  tôn trọng  (bát kỉnh pháp). Ngũ phần: “…không dự nghe giáo giới và yết-ma…” Tăng kỳ: “… nửa tháng, thanh tịnh bố tát mà không cung kính (không đến dự)…”
(2) Chúc  thọ 囑授. Các bộ  không  có  chi  tiết  này. Pāli,  trừ  các  trường hợp  không phạm: có chướng nạn, không có đồng bạn cùng đi, bịnh, sự cố; nhưng không quy định trong giới văn.
(3) Pāli, Pāc. 59. Ngũ phần: đ. 100. Tăng kỳ: đ. 132. Thập tụng: 151. Căn bản: 126.

* Trang 1013 *
device

a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni khi  nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép các tỳ-kheo-ni Tăng nửa  tháng đến Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ, mà tỳ-kheo-ni kia không đến cầu giáo thọ. Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong số đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách  các tỳ-kheo-ni rằng: “Đức Thế Tôn chế giới, cho phép các tỳ-kheo-ni Tăng nửa tháng đến Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ. Sao các cô không đến cầu giáo thọ?”
Tỳ-kheo-ni bạch với  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo  đến bạch  đức  Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao các cô không đến trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, mỗi nửa  tháng  không  đến  trong tăng cầu giáo thọ, ba-dật-đề. (1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni:  nghĩa  như  trước.  Đức  Thế  Tôn  có dạy  như vầy:  “Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng phải đến trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ. Tất cả ni đều đến cầu.” Do đông người nên tạo sự ồn ào. Đức Phật dạy: “Không nên đến tất cả, mà nên bạch nhị yết-ma sai một tỳ-kheo-ni vì [765b] Tăng tỳ-kheo-ni nửa  tháng đến  trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ.” 
_____________________                                        
(1) Cf. Pāli, Pāc.59: “Mỗi nửa tháng, tỳ-kheo-ni phải cầu tỳ-kheo Tăng hai việc: hỏi ngày bố-tát, và thỉnh giáo giới” Tăng kỳ (điều 132): Nửa thánh Tăng (tỳ kheo) giáo giới, mà không cung kính, không đến (dự).

* Trang 1014 *
device

1. Yết ma sai thỉnh giáo thọ
Nên sai như vầy: Trong chúng nên sai một vị có thể tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch. 
“Đại tỷ Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận  sai tỳ-kheo-ni  tên  là...,  vì Tăng tỳ-kheo-ni, nửa tháng đến trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ. Đây là lời tác bạch.
“Đại tỷ Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng sai tỳ-kheo-ni  tên..., vì Tăng tỳ-kheo-ni, nửa  tháng  đến  trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ. Đại tỷ nào chấp thuận, Tăng sai tỳ-kheo-ni tên..., vì Tăng tỳ-kheo-ni, nửa tháng đến trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp  thuận,  sai tỳ-kheo-ni  tên..., vì Tăng tỳ-kheo-ni, nửa tháng đến trong Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
2. Phép thỉnh giáo thọ
Tỳ-kheo-ni đến  trong Tăng một mình không có người bảo hộ. Vì sự bảo hộ, cho phép  sai  hai,  ba tỳ-kheo-ni cùng đi. Các tỳ-kheo-ni kia nên đến  trong đại Tăng, kính lễ sát chân Tăng, rồi cúi đầu chấp  tay nép mình, bạch:
“Tỳ-kheo-ni Tăng hòa hợp  kính lễ dưới  chân Tăng tỳ-kheo cầu giáo thọ.”  (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. )
Bấy giờ, tỳ-kheo-ni đợi Tăng nói giới xong,  thời gian quá  lâu, đứng chờ mệt mỏi, đức Phật dạy: “Không nên chờ như vậy. Cho phép thưa thỉnh lại (1) một đại tỳ-kheo rồi về.” 
Đức Thế Tôn đã cho phép nhờ thưa thỉnh lại. Cô kia bèn nhờ tỳ-kheo khách  thưa  thỉnh lại. Đức Phật dạy: “Không  nên  nhờ  thưa  thỉnh lại như vậy.”
__________________________                                        
(1) Chúc thọ 嘱授.

* Trang 1015 *
device

Chư  ni  nhờ  người  đi  xa  thưa  thỉnh lại.  Phật dạy:  “Không  nên  nhờ thưa thỉnh lại như vậy.”
Chư  ni  nhờ  người bệnh  thưa  thỉnh lại. Đức  Phật dạy:  “Không  nên nhờ thưa thỉnh lại như vậy.”
Chư ni nhờ người không có  trí  tuệ  thưa  thỉnh lại. Phật dạy: “Không nên nhờ thưa thỉnh lại như vậy.”
Chư  ni  nhờ  thưa  thỉnh lại rồi,  sáng  ngày  không  đến hỏi,  đức  Phật dạy: “Phải đến hỏi xem có được chư Tăng chấp  thuận giáo  thọ hay không.” 
Tỳ-kheo  nên  quy  định  ngày  giờ  đến. Tỳ-kheo-ni  phải  theo sự  quy định đó mà nghinh đón. Tỳ-kheo quy định ngày giờ đến giáo thọ mà không đến, đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni không nghinh  đón,  theo  thời giờ đã quy định, đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni nghe vị giáo thọ đến phải ra nửa do-tuần để nghinh đón. Vị giáo  thọ vào đến chùa phải cung cấp các thứ cần dùng, phương tiện tắm rửa, nấu cơm, cháo, canh, trái cây để cúng dường. Nếu không cúng dường như vậy, đột-kiết-la.
Trường hợp Tăng tỳ-kheo bị bệnh hết  thì  ni  sai  người  tín cẩn  đến kính lễ  thăm hỏi. Nếu bị biệt chúng hay chúng không hòa hợp, hoặc không đủ chúng,  (tỳ-kheo-ni) cũng nên  sai  người  tín cẩn đến lễ bái thăm hỏi. 
Nếu Tăng tỳ-kheo-ni bị bệnh hết, (tỳ-kheo-ni) cũng phải sai người tín cẩn đến lễ bái thăm hỏi. Nếu biệt chúng hay ni chúng không hòa hợp, [765c] hoặc không đủ chúng, tỳ-kheo-ni (1) cũng nên sai người  tín cẩn đến lễ bái thăm hỏi. Nếu không đến kính lễ thăm hỏi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nửa  tháng đến  trong Tăng cầu giáo  thọ. Ngày nay chúc  thọ  sáng ngày mai đến hỏi. Tỳ-kheo đến đúng hạn, tỳ-kheo-ni đến đúng kỳ. Tỳ-kheo-ni nghe vị giáo thọ đến, ra nửa do-tuần nghinh đón. Vị giáo thọ đến chùa nên cung cấp nước và đồ để rửa tắm, thức ăn, canh, cháo, trái cây, cúng dường đầy đủ. Nếu đại Tăng có bệnh, (tỳ-kheo-ni)  nên  sai  người  tin cẩn  đến lễ  bái  thăm hỏi. Nếu  biệt chúng, chúng không hòa hợp, chúng không đủ, (tỳ-kheo-ni) cũng nên
_________________
(1) Văn trong bản Hán, thiếu chủ từ. Xem đoạn sau, điều 142 (tr.766a28).

* Trang 1016 *
device

sai  người  tín cẩn  đến lễ  bái  thăm hỏi. Nếu Tăng tỳ-kheo-ni bệnh, hoặc  biệt  chúng,  chúng  không  hòa hợp,  hay  chúng  không  đủ,  (tỳ-kheo-ni) cũng phải sai người tín cẩn đến lễ bái thăm hỏi. Nếu đường xá bị  trở ngại, nạn giặc cướp, ác thú hay nước lụt tràn ngập, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói nhốt, mạng nạn, phạm hạnh nạn. Gặp các nạn  như vậy,  (tỳ-kheo-ni) không  sai  người  tín cẩn đến  thăm hỏi  thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 142. TỰ TỨ TRƯỚC HAI BỘ TĂNG (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni nghe đức Thế Tôn chế giới, cho phép tỳ-kheo-ni an cư mùa hạ xong, phải đến trong Tăng tỳ-kheo nói  ba  việc tự tứ:  thấy,  nghe,  nghi. Song  các tỳ-kheo-ni  này  không đến trong đại Tăng, nói ba việc tự tứ: thấy, nghe, nghi.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách các tỳ-kheo-ni:  “Đức Thế Tôn chế giới, cho phép tỳ-kheo-ni hạ an cư xong, phải đến trong đại Tăng nói ba việc tự tứ: thấy, nghe, nghi. Sao các cô không đến nói việc tự tứ ?”
Tỳ-kheo-ni  liền đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Tỳ-kheo-ni hạ an cư xong, phải đến trong đại Tăng nói ba việc tự tứ: thấy, nghe, nghi. Sao các cô không đến nói?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người
_________________________
(1) Pāli, Pāc. 57. Ngũ phần: điều 93. Thập tụng: điều 150. Căn bản: điều 129.

* Trang 1017 *
device

đầu  tiên phạm giới này.Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên [766a1] nói như vầy:
Tăng tỳ-kheo-ni, hạ an cư xong phải đến trong Tăng tỳ-kheo (1) nói ba việc tự tứ: thấy, nghe và nghi. Nếu không như vậy, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Khi  đức Thế Tôn  đã  cho  phép tỳ-kheo-ni hạ  an cư  xong,  phải  đến trong đại Tăng nói ba việc tự tứ:  thấy, nghe và nghi; các tỳ-kheo-ni đến hết trong đại Tăng để nói tự tứ nên gây sự ồn ào. 
Đức Phật dạy:
1. Yết-ma tăng sai cầu tự tứ
“Không  nên  đến hết  như vậy. Từ  nay  trở  đi  cho  phép  sai một tỳ-kheo-ni  vì Tăng tỳ-kheo-ni hạ an cư xong, phải  đến  trong đại Tăng nói  ba  việc tự tứ:  thấy,  nghe  và  nghi, bằng  pháp bạch  nhị yết-ma.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa vào sự việc trên tác bạch:
“Đại tỷ Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp  thuận, nay Tăng sai tỳ-kheo-ni  tên  là..., vì Tăng tỳ-kheo-ni đến  trong đại Tăng nói ba việc tự tứ:  thấy, nghe và nghi. Đây là lời tác bạch.
“Đại tỷ Tăng,  xin lắng  nghe!  Nay Tăng  sai tỳ-kheo-ni  tên là..., vì Tăng tỳ-kheo-ni đến trong đại Tăng nói ba việc tự tứ: thấy, nghe và nghi. Đại tỷ nào chấp  thuận Tăng sai tỳ-kheo-ni tên là..., vì Tăng tỳ-kheo-ni đến trong đại Tăng nói ba việc tự tứ:  thấy, nghe và nghi,  thì  im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. 
_______________________
(1) Pāli:  ubhatosaṅghe tīhi  ṭhānehi  …pāvareyya,  “…tự tứ  ba  việc  trước  hai bộ Tăng…” Thập tụng “… giữa hai bộ Tăng, cầu ba sự tự tứ…”

* Trang 1018 *
device

“Chúng Tăng đã chấp  thuận sai tỳ-kheo-ni  tên  là..., vì Tăng tỳ-kheo-ni  đến  trong  đại Tăng  nói  ba  việc tự tứ rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.” 
2. Nói ba sự tự tứ
Tỳ-kheo-ni đi một mình không có người bảo hộ. Vì sự bảo hộ, đức Phật sạy, nên  sai hai, ba tỳ-kheo-ni  làm bạn cùng đi. Khi đến  trong đại Tăng kính lễ dưới chân Tăng, cúi đầu, chấp tay, khép mình bạch:
“Tăng tỳ-kheo-ni hạ  an cư  xong. Tăng tỳ-kheo hạ  an cư xong. Tăng tỳ-kheo-ni muốn nói ba việc tự tứ:  thấy, nghe và nghi. Xin Đại đức rủ lòng thương chỉ bảo con. Nếu con thấy có tội sẽ như pháp sám hối.” (Lần  thứ hai, lần  thứ ba cũng nói như vậy.)
3. Định ngày tự tứ
Tỳ-kheo-ni tự tứ cùng một ngày với Tăng tỳ-kheo. Hai bộ Tăng đều cực nhọc. Đức Phật dạy: 
“Không nên tự tứ như vậy. Tăng tỳ-kheo tự tứ ngày 14 thì tỳ-kheo-ni
Tăng tự tứ  ngày  15. Nếu,  đại Tăng bị bệnh,  hoặc  biệt  chúng,  hay chúng  không  hòa hợp,  hoặc  không  đủ  chúng, tỳ-kheo-ni  nên  sai người  tín cẩn  đến lễ  bái  thăm hỏi. Nếu  chúng Tỳ-kheo-ni bị bệnh, hoặc  biệt  chúng,  hay  chúng  không  hòa hợp,  hoặc  không  đủ  chúng, tỳ-kheo-ni cũng  phải  sai  người  tín cẩn  đến lễ  bái  thăm hỏi. Không làm như vậy, đột-kiết-la.”
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi [766b] là phạm.
Sự không phạm: Tăng tỳ-kheo-ni hạ an cư xong, Tăng tỳ-kheo hạ an cư xong, tỳ-kheo-ni nói ba việc tự tứ: thấy, nghe và nghi. Tỳ-kheo tựtứ ngày 14, Tỳ-kheo-ni tự tứ ngày 15. Tăng tỳ-kheo bệnh, hoặc biệt chúng,  chúng  không  hòa hợp,  hay  không  đủ  chúng, tỳ-kheo-ni  nên sai  người  tín cẩn  đến lễ  bái,  thăm hỏi. Chúng tỳ-kheo-ni bệnh,  cho đến chúng không đủ, cũng phải sai người tín cẩn đến lễ bái, thăm hỏi Tăng tỳ-kheo. 
Nếu  đường bộ  đường nước bị  trở  ngại, nạn  giặc cướp,  ác  thú  hay nước lụt  tràn  ngập,  hoặc bị cường lực bắt,  hoặc bị  trói  nhốt, mạng

* Trang 1019 *
device

nạn, phạm hạnh nạn. Gặp các nạn  như vậy không  sai người  tín cẩn đến thăm hỏi thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 143. AN CƯ NƠI KHÔNG CÓ TỲ-KHEO (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  các tỳ-kheo-ni hạ  an cư nơi  không  có tỳ-kheo. Đến ngày giáo  thọ, không có chỗ để cầu giáo thọ. Có sự nghi ngờ, không có người để hỏi.
Các tỳ-kheo-ni nghe biết;  trong đó có vị  thiểu dục tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Sao các cô lại hạ  an cư nơi  không  có tỳ-kheo,  đến  ngày  giáo  thọ  không  có chỗ để cầu giáo thọ, có sự nghi ngờ không có ai để hỏi?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách các tỳ-kheo-ni:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không  nên  làm. Sao các cô lại hạ  an cư nơi không có tỳ-kheo, cho đến có sự nghi ngờ không có ai để hỏi?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, hạ an cư nơi không có tỳ-kheo, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, hạ an cư nơi không có tỳ-kheo, phạm ba-dật-đề.
________________________
(1) Pāli, Pāc. 56. Ngũ phần: điều 91. Thập tụng: điều 149. Căn bản: điều 128 &127.

* Trang 1020 *
device

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Hạ an cư chỗ có tỳ-kheo. Nếu ni y nơi Tăng tỳ-kheo an cư,  trong  thời  gian  đó tỳ-kheo  qua  đời,  hoặc  đi  xa,  hay  thôi  tu, hoặc bị giặc bắt dẫn đi, [766c] hoặc bị thú dữ hại, hoặc bị nước cuốn trôi, thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 144. ĐỘT NHẬP CHÙA TỲ- KHEO (1 )
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước  Xá-vệ. Bấy  giờ,  trong  thành  Xá-vệ một tỳ-kheo-ni  được nhiều người biết đến qua đời. Các tỳ-kheo-ni lại xây tháp trong phạm vi chùa của tỳ-kheo. 
Các tỳ-kheo-ni  thường  đến  chùa tụ họp,  nói cười,  đọc tụng,  than khóc; hoặc tự trang nghiêm thân hình, làm loạn động các tỳ-kheo tọa thiền.
Trưởng  lão Ca-tỳ-la (2) thường ưa tọa  thiền. Sau khi các tỳ-kheo-ni  ra về, Trưởng lão liền đến đập phá tháp, dọn bỏ hết bên ngoài Tăng-già-lam.  Các tỳ-kheo-ni  nghe  Ca-tỳ-la  đập  phá  tháp, dẹp bỏ  ra  ngoài chùa,  bèn cầm  dao gậy  đến  đánh, gạch  đá  đến  chọi  Trưởng  lão.
Trưởng lão dùng thần túc bay lên hư không. 
Các tỳ-kheo-ni nghe việc này,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh  đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  quở  trách  các tỳ-kheo-ni:“Sao các cô lại cầm dao gậy đến đánh, gạch đá đến chọi Trưởng  lão Ca-tỳ-la?” (3)
_________________________
(1) Pāli, Pāc. 51. Tăng kỳ: điều 116. Thập tụng: điều 153.
(2) Xem duyên khởi của ba-dật-đề 145.
(3) Câu chuyện này được kể là duyên khởi của ba-dật-đề 52, luật Pāli, xem Tứ phần, ba-dật-đề 145 đoạn  sau. Duyên khởi  theo Pāli về điều  luật này: các tỳ-kheo đang khâu vá y nên chỉ khoác một y. Lúc ấy có tỳ-kheo-ni đến, không hỏi xin phép mà

* Trang 1021 *
device

Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Tại sao các cô lại cầm dao gậy gạch đá muốn hành hung tỳ-kheo?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
Các tỳ-kheo-ni này  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. 
Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, vào trong Tăng-già-lam của tỳ-kheo, ba-dật-đề. 
Thế  Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy.  Các tỳ-kheo-ni  nghi, không  dám  vào nơi  già-lam  không  có Tăng tỳ-kheo,  đức Phật dạy:
“Già-lam không có Tăng cho phép vào.” 
Từ nay nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  vào  trong Tăng-già-lam  có tỳ-kheo,  ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới  như vậy. Khi ấy, các tỳ-kheo-ni không biết già-lam có tỳ-kheo hay không có, sau mới biết là già-lam có tỳ-kheo  nên  có vị  tác  pháp  sám  ba-dật-đề,  có vị  nghi.
Đức Phật dạy: “Không biết thì không phạm.”
____________________
tự tiện đi vào. Theo duyên khởi này, Tứ phần hiểu mục đích của học xứ này khác hẳn cách hiểu của Pāli. Theo đó, tỳ-kheo-ni vào Tăng-già-lam của tỳ-kheo đường đột không báo trước, khiến tỳ-kheo bối rối vì thiếu oai nghi trước tỳ-kheo-ni. Tăng-kỳ (tr.538c17): Tỳ-kheo-ni Kiệt-trụ Mẹ vào phòng tỳ-kheo Kiệt-trụ Cha vốn là chồng cũ mà không báo trước.

* Trang 1022 *
device

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy: 
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết  chùa (1) có tỳ-kheo mà  vào,  [767a1]  ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có tỳ-kheo-ni muốn cầu giáo  thọ,  không  biết cầu ở  đâu;  có  điều  nghi  ngờ muốn hỏi,  không biết hỏi ai. Không dám vào chùa Tăng. Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi, cho phép bạch rồi mới vào chùa.” 
Tỳ-kheo-ni muốn lễ  tháp của  Phật,  tháp của Thanh văn,  Phật dạy: “Muốn lễ tháp Phật, tháp của Thanh văn, thì được vào; ngoài ra, phải bạch rồi mới vào.” 
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy: 
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết Tăng-già-lam  có tỳ-kheo,  không bạch mà vào, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni  nào  biết Tăng-già-lam  có tỳ-kheo,  không bạch mà  vào cửa  ngõ,  ba-dật-đề. Một  chân  trong cửa  ngõ, một  chân  ngoài cửa ngõ, phương tiện muốn vào, hoặc hẹn vào mà không vào, tất cả đều, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Nếu  trước  không  biết;  hoặc  không  có tỳ-kheo mà vào; hoặc lễ bái  tháp Phật, tháp Thanh văn ngoài cửa, thưa bạch xin phép rồi mới vào. Nếu đến nhận giáo thọ, hoặc muốn hỏi pháp, hoặc được mời,  hoặc  trên  đường  đi  ngang  qua,  hoặc tạm  nghỉ lại  đêm, hoặc bị cường lực bắt dẫn  đi,  hoặc bị  trói  nhốt dẫn  đi,  hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
___________________
(1) Nguyên Hán: tự 寺. Trong các giới văn trên: Tăng-già-lam 僧 伽藍. 

* Trang 1023 *
device

ĐIỀU 145. MẠ LỊ TỲ-KHEO (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà thuộc nước  Xá-vệ. Bấy  giờ,  trưởng  lão tỳ-kheo  Ca-tỳ-la,(2) đêm  đã qua, sáng sớm, quấn y bưng bát vào  thành Xá-vệ khất  thực. Các tỳ-kheo-ni  thấy  Ca-tỳ-la  liền  nhục mạ: (3) “Ông  là  quân tệ  ác,  dòng hạ tiện,  chủng tộc  công sư.(4) Ông  đã  phá  hoại  tháp của  chúng  tôi,  đem vất bỏ bên ngoài Tăng-già-lam.” 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách rằng:  ‘Tại  sao  các  cô lại chửi rủa Trưởng lão Ca-tỳ-la?’
Quở trách rồi chư ni đến bạch nói các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Tại sao các cô mạ lị Ca-tỳ-la?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì tỳ-kheo-ni  [767b] kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, mạ lị(5) tỳ-kheo, ba-dật-đề.
________________
(1) Pāli, Pāc. 52. Tăng kỳ: điều 91. 
(2) Ca-tỳ-la 迦毘羅. Pāli, Pāc. 52: trưởng lão Kappitaka, vốn là Hoà thượng của tôn giả Ưu-ba-li (upālissa  āyasmato upajjhāyo). Truyện kể gần  giống Tứ  phần  trong duyên khởi của ba-dật-đề 144.
(3) Truyện kể của Pāli: Kappitaka phá tháp của tỳ-kheo-ni. Các ni đệ tử thương nghị muốn hại  Kappitaka.  Có tỳ-kheo-ni  báo  cho  Upāli  biết.  Tôn  giả  nói lại  cho Kappitaka biết để Hoà thượng trốn đi. Vì vậy, các ni cô không hại được Kappitaka, nên họ mắng nhiếc Upāli: “Gã thợ hớt tóc, từ chủng tộc ti tiện...”
(4) Công sư chủng 工師種, tức thủ-đà-la, thấp nhất trong bốn giai cấp.
(5) Pāli:  akoseyya vā  paribhāseyya vā, nhục mạ hay  chửi bới hung dữ. Giải  thích: nhục mạ bằng 10 cách. Chửi bới hung dữ, khiến cho người khác nghe mà sợ. 

* Trang 1024 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Mạ lị: như nói dòng hạ tiện, họ hạ tiện, nghề hạ tiện, nghiệp hạ tiện, hoặc nói phạm tội, hoặc nói ông có kết sử như vậy như vậy; hoặc xúc phạm  đến  tên  húy của  người. Tỳ-kheo-ni  nào, mạ lị tỳ-kheo bằng dòng giống, (1) cho đến xúc phạm đến  tên húy, nói  rõ rằng ba-dật-đề; nói không rõ ràng, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc nói vui chơi, hoặc nói nhanh vội, hoặc nói một mình,  nói  trong mộng, muốn  nói  việc  này  nhầm  nói  việc  khác  đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 146. MẠ LỊ NI CHÚNG (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni Ca-la (3) ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ các  tránh sự, (4) sau đó giận hờn, hiềm  trách ni chúng. Các tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết hổ  thẹn, hiềm  trách tỳ-kheo-ni Ca-la: “Sao cô hay ưa gây gổ; chuyện xong rồi, qua đêm còn ôm  lòng  thù hận, hiềm  trách ni chúng?”
Chư ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Ngài vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách Ca-la. “Cô làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.  Sao  cô  ưa  hay  ưa  gây gổ;  chuyện  xong rồi,  qua  đêm  còn  ôm lòng
___________________________
(1) Xem Phần I, Ch. v ba-dật-đề 2. 
(2) Pāli, Pāc. 53. Căn bản: điều 130 & 131.
(3) Ca-la 迦羅. Pāli: Caṇḍakālī. Đoạn trên, có chỗ dịch nghĩa là Hắc.
(4) Xem, Ni luật, tăng-già-bà-thi-sa 17, cht.

* Trang 1025 *
device

thù hận, hiềm trách ni chúng?” Sau khi bằng vô số phương tiện quở  trách,  đức  Phật bảo  các tỳ-kheo:  “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta  vì tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười  cú  nghĩa,  cho  đến  câu  chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, ưa gây gổ, không khéo ghi nhớ các tránh sự, sau đó giận hờn, không hoan hỉ, mắng chửi chúng tỳ-kheo-ni,(1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tránh: có bốn thứ như trước.
Chúng: bốn người hay hơn bốn người. Tỳ-kheo-ni ưa gây gổ, đã qua đêm, sau đó còn mắng chửi chúng tỳ-kheo-ni, nói rõ ràng, ba-dật-đề; nói không rõ ràng, đột-kiết-la. Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  [767c]  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Nói  vui  đùa,  hoặc  nói gấp vội,  nói một mình,  nói trong mộng, hay muốn nói việc này lại nhầm nói việc kia đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
147. NHỜ ĐÀN ÔNG MỔ NẶN NHỌT (2)
a. Duyên khởi
Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Ni-câu-luật tại Thích-súy-sưu, (3) nước  Ca-tỳ-la. Bấy  giờ, tỳ-kheo-ni Bạt-đà-la  ca-tỳ-la,  thân  hình bị sanh  ung  nhọt,  nhờ  đàn  ông mổ nặn. Thân  thể của tỳ-kheo-ni  này
________________________
(1) Pãli: ganam paribhāseyya, mạ lỵ chúng. Giải thích: gaṇo nāma bhikkhuni-saṅgho, chúng chỉ Tăng tỳ-kheo-ni.
(2) Pāli, Pāc. 60. Ngũ phần: điều 167. ( Giới bản 168). Tăng kỳ: điều 132. ( Giới bản 133). Thập tụng: điều 162. Căn bản: điều 159.
(3) Thích-súy-sưu 釋翅搜. Tức Pāli: sakkesu, giữa những người họ Thích. Nhưng ở đây, nhân duyên theo Pāli, Phật tại Xá-vệ.

* Trang 1026 *
device

mịn màng như thân của thiên nữ không khác. Khi tay người đàn ông xúc  chạm  vào  thân  thể mịn màng của  cô  ni,  tâm  sanh  đắm  nhiễm, bèn ôm; muốn phá hoại phạm hạnh của ni cô. Cô  liền lớn  tiếng kêu la: “Đừng  làm vậy! Đừng  làm vậy!” Các tỳ-kheo-ni ở gần nghe, đều đến hỏi: “Chuyện gì cô la thế?” Cô ni kể rõ đầu đuôi. 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  hiềm  trách: Bạt-đà-la  ca-tỳ-la:  “Tỳ-kheo-ni sao lại nhờ đàn ông mổ nặn mụt nhọt?”
Tỳ-kheo-ni bạch với chư tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách Bạt-đà-la ca-tỳ-la:
“Cô  làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Tỳ-kheo-ni sao lại nhờ đàn ông mổ nặn mụt nhọt?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, thân thể có ung nhọt, và các loại ghẻ,(1) không thưa với chúng hay người khác(2) mà vội nhờ đàn ông mổ nặn, hoặc băng bó, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tăng: cũng như trước.
Tỳ-kheo-ni  nào,  thân  thể  sanh  ung  nhọt,  các  thứ  ghẻ  khác,  không thưa bạch với chúng, mà  nhờ  nam tử mổ, một lần hạ dao xuống  là
______________________
(1) Tăng-kỳ: mụt nhọt chỗ kín, từ đầu gối trở lên, từ vai trở xuống.
(2) Pāli: chưa xin phép Tăng hay chúng hứa khả.

* Trang 1027 *
device

một ba-dật-đề. Nếu băng bó, thì mỗi nuộc dây là một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Bạch với chúng Tăng rồi mới nhờ đàn ông mổ ung nhọt hay ghẻ; hoặc bị cường lực bắt. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 148. BỘI ƯỚC THỈNH THỰC (1)
a. Duyên khởi
[768a1] Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có một cư sĩ  thỉnh Tăng  chúng tỳ-kheo-ni  sáng  ngày  thọ  thực. Trong  đêm,  ông sửa  soạn  các món  ăn ngon bổ. Sáng hôm sau, đến mời ni chúng đến thọ thực.
Hôm  đó gặp  ngày  tiết hội  trong  thành Xá-vệ,  các cư sĩ  đều mang thức ăn cá,  thịt, cơm, cơm khô, bánh bột, cúng cho tỳ-kheo-ni. Các tỳ-kheo-ni nhận  thức ăn này và ăn. Sau đó mới đến nhà cư sĩ để ăn. Bấy giờ, cư sĩ tự tay chế biến thức ăn cơm canh cúng dường cho các tỳ-kheo-ni. Các tỳ-kheo-ni nói: “Thôi! Thôi! Cư sĩ đừng sớt nhiều.”
Cư sĩ thưa: “Con sắm sửa đầy đủ các thức ăn ngon bổ, mỗi vị một tô thịt  là  chỉ  vì  chư  ni.  Chư  ni  đừng  nghĩ  con  không  có  tín  tâm  mà không dùng. Các vị cứ việc dùng, con thật có tín tâm.”
Tỳ-kheo-ni nói: “Chúng  tôi không nghĩ như vậy đâu! Vì hôm nay  là ngày tiết hội, các cư sĩ đều mang thức ăn như cá, thịt, cơm, cơm khô, bánh bột, các thức ăn ngon bổ đến trong Tăng-già-lam cúng cho các tỳ-kheo-ni. Chúng  tôi ăn xong rồi mới đến đây. Cho nên dùng  ít mà thôi!”
Cư sĩ  nghe  xong cơ  hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni  này  không  biết  nhàm chán, không  tri  túc. Bên  ngoài tự xưng  tôi  biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Đã nhận lời mời của  tôi  trước, sao lại
________________________
(1) Pāli, Pāc. 54.

* Trang 1028 *
device

nhận  các  thức  ăn của  người  khác  ăn, rồi mới  đến  thọ  thực nơi  nhà tôi?” 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni: “Đã nhận lời mời của cư sĩ rồi; sau đó sao lại nhận thức ăn khác?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Ngài vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni:  “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không  nên  làm. Đã nhận lời mời của cư sĩ rồi;  sau đó  sao lại  nhận thức ăn khác?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi,  Ta  vì tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  trước  đã  nhận lời mời,  hoặc  đã  ăn no rồi, sau lại ăn cơm, cơm khô, bánh bột, cá và thịt,(1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
[768b] Tỳ-kheo-ni nào đã nhận lời mời  trước, hay ăn đủ no rồi, sau lại ăn cơm, cơm khô, bánh bột, cá và thịt của người khác; mỗi miếng ăn là một ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Nhận lời mời  ăn  chẳng  phải  thức  ăn  chánh  thực; (2) hoặc mời ăn không đủ no; hoặc không được mời trước; hay ngay khi ăn nhận được thức ăn thêm; hoặc tại nhà đó nhận cả bữa ăn truớc bữa ăn sau. Thảy đều không phạm.
_______________________
(1) Pāli: ăn thêm thức ăn loại cứng (khādanīya) hay loại mềm (bhojanīya).
(2) Chánh thực 正食; xem Phần I, Ch.v ba-dật-đề 35 & cht. 1, tr.495, 497.

* Trang 1029 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 149. TẬT ĐỐ VỀ GIA ĐÌNH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Đề-xá là đệ tử của tỳ-kheo-ni An Ẩn. Cô có một nhà đàn-việt quen thân từ lâu. An Ẩn bảo Đề-xá: “Cô có thể cùng tôi đến nhà đàn-việt đó được không?”
Đề-xá trả lời: “Muốn đến thì cũng được.”
Hai người cùng đi. Tỳ-kheo-ni An Ẩn y phục chỉnh tề, không mất oai nghi. Đàn-việt  thấy,  tâm sanh hoan hỷ, bèn cúng dường. An Ẩn  thọ thực  xong, về lại  chùa,  nói với  Đề-xá: “Đàn-việt  ấy  thuần  thành.
Hoan hỷ ưa cúng dường.”
Đề-xá  sinh  tâm  ganh tị,  bèn  nói: “Đàn-việt  ấy  thuần  thành,  vì  ưa cúng dường cô ấy mà!” (2)
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  quở  trách tỳ-kheo-ni Đề-xá:  “Sao  cô sinh tâm ganh tị, mà nói: ‘Đàn-việt ấy thuần thành, vì ưa cúng dường cô ấy mà!’?”
Tỳ-kheo-ni bạch với  chư tỳ-kheo.  Chư tỳ-kheo  đến bạch  lên  đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách tỳ-kheo-ni Đề-xá:“Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao cô sinh tâm ganh tị, mà nói: ‘Đàn-việt ấy thuần thành, vì ưa cúng dường cô ấy mà!’?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
_______________________
(1) Pāli, Pāc. 55. Tăng kỳ: điều 90. Thập tụng: điều 150. Căn bản: điều 133, 132.
(2) Duyên khởi Pāli: một tỳ-kheo-ni không muốn các tỳ-kheo-ni khác đến gia đình cư sĩ nhận cúng dường, bèn nói với các cô: “Nhà đó có chó dữ, có bò hung tợn. Các cô chớ đến.”

* Trang 1030 *
device

“Tỳ-kheo-ni này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu  tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, sanh tâm tật đố về gia đình,(1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni nào đối với nhà người sanh  tâm tật đố nói: “Đàn-việt ấy
[768c]  thuần  thành,  vì  hoan hỷ  ưa  cúng dường  cô  ấy mà!” Nói  rõ ràng, ba-dật-đề, nói không rõ ràng đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Sự  thật  là như vậy,  người đàn-việt kia, chỉ có  tâm tốt đối với cô ni kia nên cô ấy nói: “Đàn-việt ấy thuần thành, vì hoan hỷ ưa  cúng dường  cô  ấy mà!” Hoặc  nói  vui  chơi,  nói vội gấp,  nói một  mình,  nói  trong mộng,  muốn  nói  việc  này lại  nhầm  nói  việc khác. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 150. THOA BỘT HƯƠNG (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni dùng bột hương  thoa vào mình. Các cư sĩ  thấy  đều cơ  hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni  này  không
________________________
(1) Pāli: kulamaccharin, “bủn xỉn về gia đình;” giải thích (vin. iv. 312): nói xấu một gia đình  trước các tỳ-kheo-ni để các cô này không ai đến đó. Tăng kỳ: “Với  tâm bủn xỉn, giữ gia đình người riêng cho mình.” Thập tụng: hộ tích tha gia 護惜他家.
(2) Pāli, Pāc.  88. Ngũ  phần: điều  153. Thập tụng: điều  164. Căn bản:  điều 166 & 167.

* Trang 1031 *
device

biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì là chánh pháp? Dùng bột hương thoa vào mình, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ không khác!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô dùng các loại bột hương thoa vào mình?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Phật. Đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheoni: 
“Cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi, phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Sao các cô dùng các  loại bột hương thoa vào mình?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, dùng bột hương (1) thoa vào mình, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, dùng hương bột thoa vào mình, ba-dật-đề 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  hoặc  vì  có  chứng bệnh  thế  nào đó,  hoặc bị cường lực. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
_______________________-
(1) Pāli: gandhavaṇṇeka nahāyeyya, “tắm bằng hưong liệu và phẩm màu.”

* Trang 1032 *
device

ĐIỀU 151. XỨC DẦU VỪNG (MÈ) (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước  Xá-vệ. Bấy  giờ,  [769a1]  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  dùng cặn vừng  (mè) (2) bôi  thoa vào  thân. Các cư sĩ  thấy đều cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni  này không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên  ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Lấy cặn vừng (mè) bôi thoa vào thân, như bọn tặc nữ, dâm nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý, quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô dùng cặn vừng (mè) bôi thoa vào thân?”
Tỳ-kheo-ni bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao các cô dùng cặn vừng (mè) bôi thoa vào thân?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, dùng cặn vừng (mè)  thoa chà vào  thân,(3) ba-dật-đề.
___________________________
(1) Pāli, Pāc. 89. Ngũ phần, điều 152 (Giới bản 154). Thập tụng: điều 164; cf. điều 150 trên. Căn bản: điều 168.
(2) Hồ  ma  chỉ 胡麻滓. Pāli:  piññāka, nước cặn vừng, bột vừng, tức vừng  được nghiền nát thành bột.
(3) Pāli: vāsitena piññākena nahāyeyya, tắm bằng nước ướp vừng. Ngũ phần: “ không bịnh, dùng chất trơn bóng chà xát thân thể …”

* Trang 1033 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, dùng cặn dầu mè thoa chà trong thân, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Vì có bệnh như  thế nào đó; hoặc bị cường lực bắt. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 152. SAI TỲ-KHEO-NI XOA BÓP (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni sai các tỳ-kheo-ni thoa bóp  thân  mình.  Các cư sĩ  thấy  đều cơ  hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni  này không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Sai các tỳ-kheo-ni thoa bóp thân mình, như bọn dâm nữ, tặc nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô lại sai các tỳ-kheo-ni xoa bóp thân mình?”
Tỳ-kheo-ni liền bạch chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này [769b] tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Sao các cô lại sai các tỳ-kheo-ni xoa bóp thân mình?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người
_______________________                                         
(1) Pāli, Pāc. 90. Tăng kỳ: đều 127. Thập tụng: điều 165  (cf. điều 153 & 154 dưới). Căn bản: điều 161.

* Trang 1034 *
device

đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  sai tỳ-kheo-ni  thoa  bóp  thân mình,(1) ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, sai tỳ-kheo-ni thoa bóp thân mình, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc chứng bệnh thế nào đó, hoặc bị cường lực bắt thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 153. SAI THỨC-XOA-MA-NA XOA BÓP (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  sai  thức-xoa-ma-na thoa  chà  thân.  Các cư sĩ  thấy  đều cơ  hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni  này không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Sai  thức-xoa-ma-na thoa chà trong thân, như bọn dâm nữ, tặc nữ không khác!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Sao các cô lại sai thức-xoa-ma-na thoa bóp thân?”
____________________
(1) Khải ma 揩摩. Pāli: ummaddāpeyya parimaddāpeyya, tự mình chà xát (chà dầu) và nhờ người khác chà xát.
(2) Pāli, Pāc. 91. Tăng kỳ: điều 128 (Giới bản 129). Thập tụng: điều 165. Căn bản: 162.

* Trang 1035 *
device

Tỳ-kheo-ni  liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Sao các cô lại sai thức-xoa-ma-na thoa bóp thân?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  sai  thức-xoa-ma-na  thoa  bóp  thân  thể,  ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, sai thức-xoa-ma-na thoa chà thân thể, [769c] ba-dật-đề. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc bệnh thế nào đó, hoặc bị cường lực bắt thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 154. SAI SA-DI-NI XOA BÓP (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  sai  sa-di-ni  xoa  chà thân thể. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp.
Nhưng  như vậy  có  gì  là  chánh  pháp? Sai  sa-di-ni  xoa  chà  thân  thể
__________________
(1) Pāli, Pāc. 92. Tăng kỳ điều 127 (Giới bản 128). Thập tụng: điều 165.

* Trang 1036 *
device

giống như bọn dâm nữ tặc nữ không khác!” Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết  tàm quý, chê  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô lại sai sa-di-ni xoa chà thân thể?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Sao các cô lại sai  sa-di-ni xoa chà thân thể?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, sai sa-di-ni xoa chà thân thể, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, sai sa-di-ni xoa chà thân thể, ba-dật-đề 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc bệnh thế nào đó, hay bị cường lực bắt thì không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới,  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 155. SAI PHỤ NỮ BẠCH Y XOA BÓP (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
_________________________
(1) Pāli, Pāc. 93. Tăng kỳ: điều 129  (Giới bản điều 130).

* Trang 1037 *
device

tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni sai phụ nữ bạch y xoa chà thân thể. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni này không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy  có gì  là chánh pháp? Sai phụ nữ bạch  y  thoa chà thân thể, giống như bọn dâm nữ tặc nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, [770a1] ưa học giới, biết tàm quý, chê trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô lại sai phụ nữ bạch y xoa chà nơi thân thể?”
Tỳ-kheo-ni bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Tỳ-kheo-ni  sao các cô lại sai phụ nữ bạch y xoa chà nơi thân thể?”
Sau  khi bằng  vô số  phương  tiện  quở  trách,  đức  Phật bảo  các tỳ-kheo:“Các tỳ-kheo-ni này  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người  đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, sai phụ nữ bạch y xoa chà  thân  thể, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni  nào,  sai phụ nữ bạch  y  xoa chà  thân  thể, ba-dật-đề. Tỳ-
kheo, đột-kiết-la, Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc phải chứng bệnh thế nào đó, hay bị cường lực bắt thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 1038 *
device

ĐIỀU 156. MẶC VÁY LÓT (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà có ý nghĩ, mặc váy  lót (2) cho mình phồng  lên.(3) Các cư sĩ  thấy đều cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni  này không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên  ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Mặc váy lót cho mình phồng lên, giống như bọn dâm nữ tặc nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  quở  trách Thâu-la-nan-đà rằng:  “Tại sao cô lại có ý nghĩ quấn y mặc váy lót cho mình phồng lên?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách  Thâu-la-nan-đà: 
“Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng  phải  oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại có ý nghĩ mặc váy lót, khiến cho mình phồng lên?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  [770b]  giống hữu lậu,  là  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, mặc váy lót,(4) ba-dật-đề.
___________________
(1) Pāli, Pāc. 86. Cf. Ngũ phần: điều 205 & 206.
(2) Trữ khỏa y [袖-由+宁]髁衣, quần chẽn bó đùi. Pāli: saṅghāṇi váy hay quần đùi. 
(3) Duyên khởi Pāli (Vin.iv. 339): một nữ tín chủ nhờ một ni cô mang một cái váy lót đến cho người khác. Cô ni vì không tiện bỏ váy vào bát, nên mặc vào người. Giữa đường, giây lưng đứt, váy bị tuột. Mọi người chê cười.
(4) Cf. Ngũ phần, điều 205: “… mặc y theo cách kỹ nữ…”, điều 206: “… mặc y theo cách phụ nữ bạch y…”

* Trang 1039 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Váy  lót: dùng  lông mịn, hoặc vải kiếp-bối, hoặc câu-giá-la, hoặc cỏ
nhũ hiệp, hoặc sô-ma, hoặc bằng tơ tằm, tất cả đều ba-dật-đề. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  hoặc  có bệnh  thế  nào  đó,  bên  trong  quấn  y bệnh, ngoài mặc  niết-bàn-tăng, kế  đó mặc  ca-sa;  hoặc bị cường lực  đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 157. CHỨA ĐỒ TRANG SỨC  (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  chứa  những  thứ của phụ nữ dùng, để  trang điểm  thân, như vòng, xuyến và những  thứ sử dụng cho chỗ xấu. (2) Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni này không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Chứa các đồ trang sức của phụ nữ như vòng, như xuyến và những đồ sử dụng cho chỗ xấu, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ!” 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý, quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô lại chứa những đồ trang sức của phụ nữ như vòng, như xuyến và những đồ sử dụng cho chỗ xấu?”
Các tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo,
__________________________                                        
(1) Pāli, Pāc. 87. Ngũ phần: điều 159 (cf. điều 158 & 159). Thập tụng: điều 160. Căn bản: điều 170.
(2) Hán: ổi xứ 猥處, những chỗ được gọi là “xấu” trên thân phụ nữ.

* Trang 1040 *
device

quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Các  cô  làm  điều  sai  quấy,  chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc  không  nên  làm. Tỳ-kheo-ni  sao lại chứa những đồ trang sức của phụ nữ như vòng, như xuyến và những đồ sử dụng cho chỗ xấu?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  chứa những  đồ  trang sức của phụ nữ,  ba-dật-đề.
Thế Tôn  [770c] vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni gặp phải mạng nạn, phạm hạnh nạn, nghi không dám mang những đồ  trang sức như vậy để chạy  trốn. Phật dạy: “Từ nay  trở đi, nếu gặp mạng nạn, phạm hạnh nạn, cho phép mang những đồ  trang sức để tẩu thoát.” 
Từ nay trở đi nên kết giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, chứa (1) những đồ  trang sức của phụ nữ, ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, chứa đồ trang sức của phụ nữ như vòng, xuyến, các thứ dùng để sử dụng cho những nơi xấu, cho đến dùng vỏ cây  làm tóc, tất cả đều ba-dật-đề. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc có bệnh như thế nào đó, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, mang để chạy, hoặc bị cường lực bắt đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
_______________________
(1) Pāli, Pāc. 87: itthālaṅkāraṃ dhāreyya, mang (đeo) đồ trang sức phụ nữ.

* Trang 1041 *
device

ĐIỀU 158. MANG DÉP, CẦM DÙ (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni mang dép da, (2) cầm dù đi  đường. Các cư sĩ  thấy  đều cơ  hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni  này  không biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Mang dép da, cầm dù đi đường, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý, quở  trách nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô mang dép da, cầm dù đi đường?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo bạch  lên  đức  Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Sao các cô mang dép da, cầm dù đi đường?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, mang  dép  da, cầm  dù  đi  ngoài  đường,  ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni  ở  chỗ  tiểu  thực,  đại  thực,  hoặc tập hợp  vào  ban  đêm,  hoặc  khi thuyết giới. Trên đường đi, gặp  lúc  trời mưa  thấm ướt,  làm hư hoại
__________________________
(1) Pāli, Pāc. 84. Ngũ phần: điều 142. Thập tụng: điều 148. Tăng kỳ: điều 112. Căn bản: điều 157 & 158.
(2) Tứ phần, Ngũ phần, Tăng-kỳ, giống nhau: cách tỉ 革屣. Căn bản ( điều 158): thể sắc hải lý , giày dép màu sắc. Pāli: upāhana, giày dép (chung các thứ).

* Trang 1042 *
device

sắc y mới nhuộm. Đức Phật dạy:  [771a] “Từ nay trở đi, vì hộ thân, hộ y, hộ ngọa cụ, cho phép làm dù bằng vỏ cây, bằng lá, bằng tre để che trong Tăng-già-lam.” 
Bấy  giờ  có  các tỳ-kheo-ni gặp  lúc  trời mưa  đi  chân  không, bị  bùn làm bẩn chân, làm bẩn y,  làm bẩn tọa cụ. Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi,  vì hộ  thân, hộ  y, hộ tọa cụ  cho  phép  làm  guốc  để mang  trong Tăng-già-lam.” 
Các tỳ-kheo-ni tuy  làm guốc để mang, nhưng vẫn cứ  làm bẩn y,  làm bẩn chân, làm bẩn tọa cụ. Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi cho phép bên dưới mang bằng vỏ cây. Vỏ cây bị rớt thì dùng dây buộc lại. Nếu bị đứt, cho phép dùng cước, hoặc lông hoặc vỏ cây bó dính nơi chân.” 
Từ nay trở đi nên kết giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  mang  dép  da, cầm  dù  đi,  ba-dật-đề.  Trừ những trường hợp đặc biệt.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, mang dép, cầm dù đi, ba-dật-đề. Trừ những  trường hợp đặc biệt.
Tỳ-kheo-ni mang dép,  tùy  theo đi  trong phạm vi một  thôn, mỗi mỗi thôn đều ba-dật-đề. Nơi không có  thôn, vùng a-lan-nhã, đi mười  lý thì một ba-dật-đề. Đi dưới một  thôn, đột-kiết-la. Dưới mười  lý, đột-kiết-la. Đi trong phạm vi một giới, đột-kiết-la.
Phương  tiện muốn đi mà không đi, hoặc hẹn đi mà không đi, tất cả đều đột-kiết-la. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc bệnh như  thế nào đó; hoặc vì hộ thân, hộ y, hộ ngọa cụ; ở  trong Tăng-già-lam;  làm dù bằng vỏ cây, bằng  lá, bằng  tre, dùng để che mà đi. Hoặc vì hộ  thân, hộ y, hộ ngọa cụ nên làm  guốc  dép  để  đi  trong Tăng-già-lam  thì  không  phạm.  Hoặc bị cường lực bắt,  hoặc bị  trói  nhốt,  hoặc mạng nạn,  phạm hạnh nạn, mang guốc dép, cầm dù đi. Thảy đều không phạm.

* Trang 1043 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.(1)
ĐIỀU 159. NGỒI XE CỘ ĐI ĐƯỜNG (2)
a. Duyên khởi
[771b7]Một thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni, cưỡi xe đi trên đường. Các cư sĩ  thấy đều cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Nhưng  như vậy  có  gì  là  chánh  pháp? Cưỡi  xe  đi  ngoài  đường  như bọn dâm nữ, tặc nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô cưỡi xe đi trên đường?”
Tỳ-kheo-ni liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo bạch lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Sao các cô cưỡi xe đi  trên đường?”
Sau  khi bằng  vô số  phương  tiện  quở  trách,  đức  Phật bảo  các tỳ-kheo:“Các tỳ-kheo-ni này  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, ngồi xe cộ đi đường, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni già yếu, suy nhược, bị bệnh, khí lực ốm gầy, không thể đi từ trú xứ
______________________
(1) Bản Hán, hết quyển 29.
(2) Pāli, Pāc. 85. Ngũ phần: điều 141. Tăng-kỳ, điều 110. Thâp tụng: điều 145. Tăng kỳ: điều 111.

* Trang 1044 *
device

này đến  trú xứ kia được. Đức Phật dạy: “Từ nay  trở đi, cho phép đi bằng xe kéo bộ, (1) tất cả xe người nữ (2) .”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni có nạn sự, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, nghi không dám ngồi xe chạy. Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi gặp phải các nạn  như vậy,  cho  phép  ngồi  xe mà  chạy.” Từ  nay  nên  nói  giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  không bệnh,  ngồi  xe cộ mà  đi,  ba-dật-đề. Trừ trường hợp đặc biệt. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Xe cộ (3): có bốn  loại, cộ bằng  voi, cộ bằng  ngựa, cộ bằng xe, cộ do người đi bộ.
Tỳ-kheo-ni nào không bệnh, [771c] cưỡi một trong các loại xe đi, tùy theo cương giới của  thôn đã đi, mỗi  thôn, một ba-dật-đề. Nếu a-lan-nhã  không  có  thôn,  đi mười  lý, một  ba-dật-đề; dưới một  thôn  hay dưới mười  lý,  đột-kiết-la. Nếu  đi  trong  giới vức một  gia  đình,  đột-kiết-la. Phương  tiện muốn đi mà không đi, hẹn mà không đi, tất cả đều đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc có bệnh  thế nào đó, đi xe các  loại cho người nữ; (4) hoặc mạng nạn cỡi  xe để chạy, hoặc bị cường lực bắt dẫn đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
_____________________-
(1) Hán: bộ vãn thặng (thừa) 步挽乘. 
(2) Hán: nhất  thiết nữ  thặng 一切女乘. Có lẽ  loại xe chỉ dành cho phụ nữ. Các bộ không thấy đề cập loại xe này. Đoạn dưới, nói là chủng chủng nữ thặng 種種女乘 (Để bản: an 安; Tống-Nguyên-Minh: nữ 女).
(3) Thừa  (hay  thặng) 乘, chỉ chung các phương  tiện chuyên chở: xe, cộ, kiệu, cáng. Pāli: yāna, định nghĩa: vayhā, kiệu đi núi, ratha, xe do con vật kéo, sakaṭa, xe tải, sandamānikā, chiến xa, sivikā, cáng, pāṭaṅkī, kiệu.
(4) Xem cht. trước.

* Trang 1045 *
device

ĐIỀU 160. VÀO THÔN KHÔNG MẶC TĂNG-KỲ-CHI (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  không mặc tăng-kỳ-chi (2) đi  vào  trong  thôn nên để lộ ngực, nách, vú, eo lưng. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm: “Các tỳ-kheo-ni này không biết tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì  là chánh pháp? Không mặc tăng-kỳ-chi mà vào  trong  thôn, giống như tặc nữ, dâm nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô đi vào thôn mà không mặc tăng-kỳ-chi, để lộ ngực, nách, vú, eo lưng như vậy?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Sao các cô đi vào thôn mà không mặc tăng-kỳ-chi, để lộ ngực, nách, vú, eo lưng như vậy?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Nhóm sáu tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đi vào trong thôn mà không mặc tăng-kỳ chi, ba-dật-đề.
___________________________
(1) Pāli, Pāc. 96. Ngũ phần: điều 180. ( Giới bản 181).
(2) Tăng-kỳ-chi 僧祇支. Căn bản: tăng-khước-kỳ. Pāli: saṅkicchā (yếm), định nghĩa (Vin. iv. 345): áo che ngực, phần từ xương cổ xuống, rốn trở lên. Xem cht., tỳ-kheo-ni ni-tát-kỳ 2.

* Trang 1046 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Thôn: như trên đã giải.
Tỳ-kheo-ni nào, không mặc tăng-kỳ-chi mà vào trong cửa ngõ  thôn, ba-dật-đề. Một chân ngoài cửa một chân  trong cửa, phương  tiện mà không vào, hẹn vào mà không vào, tất cả đều đột-kiết-[772a1] la.
Tỳ-kheo  (?),  đột-kiết-la. (1) Thức-xoa-ma-na,  sa-di  (?),  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  hoặc mắc  phải  chứng bệnh  thế  nào  đó;  hoặc dưới nách có ghẻ; hoặc không có tăng-kỳ-chi; hoặc giặt nhuộm chưa khô; hoặc bị mất; hoặc cất chỗ quá kiên cố; hoặc bị cường lực bắt; hoặc mạng nạn, phạm hạnh. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
ĐIỀU 161. XẨM TỐI ĐẾN NHÀ CƯ SĨ (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. 
Bấy  giờ tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà, xẩm tối rồi  còn  đến  nhà cư sĩ, tìm chỗ ngồi mà ngồi. Ngồi trong giây  lát, không nói với chủ mà mở cửa ra đi. Trước đó có bọn trộm đã để tâm muốn trộm lấy của nhà cư sĩ này, gặp lúc cửa mở, không người, chúng liền vào tóm thâu tài vật mang đi.
Bấy giờ, cư sĩ hỏi rằng: “Khi xẩm tối, ai đã mở cửa ra đi?”
Đáp rằng: “Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà.”
Cư sĩ  liền cơ hiềm  nói: “Tỳ-kheo-ni này không  biết  tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy
_____________________                                        
(1) Người dịch do quán tính thuộc lòng, nên nói như vậy.
(2) Ngũ phần, điều 169.

* Trang 1047 *
device

có gì là chánh pháp? Cùng với kẻ trộm đồng mưu lấy trộm tài vật của tôi; giống như tặc nữ, dâm nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  quở  trách  Thâu-la-nan-đà:  “Sao  lúc xẩm tối cô lại đến nhà cư sĩ?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà: “Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lúc xẩm tối cô lại đến nhà cư sĩ?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, xẩm tối đến nhà cư sĩ, ba-dật-đề.
Thế Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy. Bấy  giờ  có tỳ-kheo-ni muốn  làm  việc  Phật,  Pháp, Tăng,  hoặc  có vị cần  nuôi bệnh,  hoặc được đàn-việt mời, nghi không dám đến. Đức Phật dạy:  “Từ nay trở đi, nếu có người mời thì cho phép đến.” 
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào, xẩm tối  đến  [772b] nhà bạch  y, mà  không được gọi trước, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào, xẩm tối đến nhà bạch y, trước không được gọi, bước vào cửa, ba-dật-đề. Một chân ngoài cửa, một chân trong cửa, phương tiện muốn đi mà không đi, hẹn đi mà không đi, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni đến nhà bạch y, ở lại một  thời gian ngắn, không nói với chủ mà bỏ đi ra cửa, ba-dật-đề.
Phương  tiện muốn đi mà không đi, hẹn mà không đi, tất cả đều đột-kiết-la.

* Trang 1048 *
device

Tỳ-kheo,  đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc vì việc Phật, Pháp, Tăng, hay việc nuôi bệnh, hoặc  được mời  đi,  hoặc bị cường lực bắt,  hay bị  trói dẫn  đi,  hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, trước không được kêu mà đi; đến nhà kia, trong một giây lát, trước khi đi nói với chủ; hoặc nhà kia bị hỏa hoạn nên sập  ngã;  hoặc  có rắn  độc,  có  giặc cướp,  có  thú dữ,  hay bị sức mạnh cưỡng bắt; hoặc bị trói dẫn ra, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không nói với chủ mà đi ra. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 162. MỞ CỬA TĂNG-GIÀ-LAM ĐI RA LÚC XẨM TỐI (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ  có một vị  trong  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni,  vào lúc xẩm tối,  không  nói với  ai mà mở cửa Tăng-già-lam bỏ  đi. Kẻ trộm  thấy,  liền khởi  lên ý nghĩ: “Ta sẽ cướp lấy  tài vật của già-lam này.” Nghĩ  xong chúng  liền  vào cửa đoạt cướp hết  tài vật. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni cùng hỏi nhau rằng: “Lúc xẩm tối, ai mở cửa bỏ đi mà không nói?” Liền sau đó được biết, một trong những vị của nhóm sáu tỳ-kheo-ni mở cửa  đi  ra. Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong  đó  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh  đầu-đà, ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  quở  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Lúc xẩm tối, sao cô mở cửa bỏ đi mà không nói với ai hết?”
Tỳ-kheo-ni  liền  thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Cô  làm  điều  sai  trái,  chẳng  phải  oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh tùy thuận,  làm điều không nên  làm. Tại sao tỳ-kheo-ni  lúc xẩm tối mở cửa bỏ đi mà không nói với ai?” 
____________________
(1) Ngũ phần, điều 168.

* Trang 1049 *
device

[772c] Sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:“Tỳ-kheo-ni này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu  tiên phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi,  Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, mở cửa Tăng-già-lam đi ra  lúc xẩm tối, ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Các tỳ-kheo-ni có việc Phật, Pháp, Tăng, hoặc nuôi bệnh, nghi không dám mở cửa đi. Đức Phật dạy: “Từ nay cho phép chúc thọ.” 
Từ nay, nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, mở cửa Tăng-già-lam đi ra  lúc xẩm tối, mà không dặn lại các tỳ-kheo-ni khác, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni  nào mở cửa Tăng-già-lam  ra  đi  lúc xẩm tối, mà  không dặn  dò lại,  ba-dật-đề. Một  chân  bên  trong, một  chân  bên  ngoài, phương  tiện muốn đi mà không đi, hay hẹn mà không đi, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc vì việc Phật, Pháp, Tăng, hay việc nuôi bệnh, dặn dò rồi đi; hoặc Tăng-già-lam bị phá hoại, hoặc bị rắn độc, hoặc giặc cướp, ác thú, hoặc bị cường lực bắt, hay bị cột trói dẫn đi, hoặc mạng nạn,  phạm hạnh nạn,  không dặn  dò mà  đi. Thảy  đều  không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 163. MỞ CỬA TĂNG-GIÀ-LAM ĐI RA LÚC MẶT TRỜI LẶN (1)
 _______________________                                         
(1) Cf. Ngũ phần: điều 168.

* Trang 1050 *
device

a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một vị trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni mở cửa Tăng-già-lam ra đi  lúc mặt trời lặn, mà không dặn ai. Vào lúc ấy, có một tên tù vượt ngục, từ xa thấy Tăng-già-lam mở cửa bèn chạy vào trốn. Các người giữ ngục  truy tầm, đến hỏi các tỳ-kheo-ni: “Có thấy tên tù hình dáng như vậy chạy đến đây hay không?” 
Vì không thấy nên các tỳ-kheo-ni trả lời: “Không thấy.”
Người giữ ngục tìm kiếm khắp nơi trong Tăng-già-lam, bắt được tên tù vượt  ngục. Các cư sĩ  thấy cơ  hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni  này  nói  láo không  biết hổ  thẹn. Bên  ngoài tự xưng  tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy  có  gì  là  chánh  pháp  nào?  Thấy  giặc cướp  mà  nói  không thấy!”
Các tỳ-kheo-ni hỏi  nhau,  xem  ai  đã mở cửa bỏ đi  lúc mặt  trời lặn. Sau đó, được biết  là một vị  trong nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  lúc mặt  trời lặn đã mở [773a1] cửa Tăng-già-lam mà đi ra.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách một vị  trong  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni: “Sao cô mở cửa đi ra lúc mặt trời lặn mà không dặn ai?”
Tỳ-kheo-ni  liền  thưa với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách một vị  trong nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. Tại sao các cô mở cửa bỏ đi vào lúc mặt trời lặn mà không dặn ai?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni này  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu,  là người đầu  tiên phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi,  Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, mở cửa Tăng-già-lam đi ra lúc mặt  trời lặn, ba-dật-đề.

* Trang 1051 *
device

Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới  như vậy. Các tỳ-kheo-ni  vì  việc Phật, Pháp, Tăng, hay việc nuôi bệnh, nghi không dám đi. Đức Phật dạy: 
“Từ nay trở đi, cho phép ‘dặn lại’ rồi đi.” 
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, mở cửa Tăng-già-lam đi ra  lúc mặt  trời lặn mà không dặn lại, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni  nào, mở cửa Tăng-già-lam  đi  ra  lúc mặt  trời lặn  mà không dặn lại,  ba-dật-đề. Một  chân  ở  trong, một  chân  ở  ngoài, phương  tiện muốn  đi mà  không  đi, hẹn  đi mà  không  đi, tất cả  đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: vì việc Phật, Pháp, Tăng, việc nuôi bệnh, chúc  thọ rồi mới đi, hoặc Tăng-già-lam bị hoại, hay bị phát hỏa, hoặc có giặc cướp, có thú dữ, có rắn độc ở trong, hoặc bị cường lực bắt, hay bị cột trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không dặn dò mà đi  thì không phạm. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 164. KHÔNG TIỀN HẬU AN CƯ (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni không hạ an cư. Các tỳ-kheo-ni  nghe,  trong đó có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách [773b] các tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô không hạ an cư?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đứcThế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở
_______________________
(1) Ngũ phần, điều 90.

* Trang 1052 *
device

trách Tỳ-kheo-ni: “Cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tỳ-kheo-ni sao lại không hạ an cư?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, không hạ an cư, ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni vì việc Phật, Pháp, Tăng, hay nuôi bệnh, an cư không kịp, Phật dạy:  “Từ nay trở đi, có những nhân duyên như vậy thì hậu an cư.”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, không  tiền an cư, không hậu an cư, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni nào không tiền an cư đột-kiết-la; không hậu an cư ba-dật-đề.
Sự không phạm: Tiền an cư; hoặc vì việc Phật, Pháp, Tăng, hay nuôi bệnh thọ hậu an cư. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 165. TRAO CỤ TÚC NGƯỜI NỮ BỆNH NHỊ ĐẠO (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà
________________
(1) Ngũ phần, điều 177 ( Giới bản, 178).

* Trang 1053 *
device

tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có  các tỳ-kheo-ni  nghe  đức Thế Tôn  chế giới, được độ người thọ giới cụ túc, bèn độ người đường đại tiện, tiểu tiện  thường són; đàm dãi  thường rỉ chảy, cho thọ giới cụ  túc. Người được độ thân bị làm bẩn, y bị làm bẩn, ngọa cụ bị làm bẩn. 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách các tỳ-kheo-ni:  “Sao các cô độ người, đường đại  tiện,  tiểu  tiện  thường són; đàm dãi thường rỉ chảy, khiến bị  làm bẩn  thân,  làm bẩn y,  làm bẩn ngọa cụ, chăn?”
Các tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không  nên  làm.  [773c] Tỳ-kheo-ni  sao lại độ  người,  đường  đại  tiện,  tiểu  tiện  thường  són,  đàm  dãi  thường rỉ chảy, khiến bị làm bẩn thân, làm bẩn y, làm bẩn ngọa cụ, chăn?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ người có đường đại tiểu tiện thường són, đàm dãi thường rỉ chảy, cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có các tỳ-kheo-ni không biết họ có đường đại tiện, tiểu tiện són hay không són; đàm dãi, có rỉ chảy,  hay  không rỉ  chảy. Sau mới  biết,  nên  có vị  tác  pháp  sám  ba-dật-đề, hoặc nghi. Phật dạy: “Không biết thì không phạm.”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  biết  người nữ  đường  đại  tiểu  tiện  thường són, đàm dãi thường rỉ chảy, mà trao cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.(1)
 _________________________________                                       
(1) Cf. Ngũ phần, điều 178: “… người nữ kinh nguyệt ra mãi…”

* Trang 1054 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni nào biết người mà đường đại tiện tiểu tiện thường són, và đàm  dãi  thường  tiết  ra, mà  độ  cho  thọ  giới cụ  túc;  ba lần yết-ma xong, Hòa  thượng  ni  ba-dật-đề; hai lần yết-ma  xong, ba đột-kiết-la; một lần yết-ma xong, hai đột-kiết-la; bạch rồi, đột-kiết-la; bạch chưa xong,  đột-kiết-la;  trước  khi  chưa bạch, cạo  đầu,  cho  thọ  giới, tập chúng đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Trước không biết, hoặc  tin lời người đáng  tin, hay tin lời của  cha mẹ,  cho  thọ  giới cụ  túc rồi,  sau  đó mới  sanh bệnh. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 166. TRAO CỤ TÚC NGƯỜI HAI HÌNH (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni độ người hai hình, lúc đại tiểu tiện có tỳ-kheo-ni thấy, bạch với chư tỳ-kheo-ni.
Chư tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm  trách các tỳ-kheo-ni: “Sao các cô độ người hai hình?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách các tỳ-kheo-ni:
“Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại độ người hai hình?”
_________________                                        
(1) Ngũ phần: điều 175.

* Trang 1055 *
device

Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, [774a1] đức Phật bảo các tỳ-kheo:  “Các tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là những  người  đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ người hai hình thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có các tỳ-kheo-ni không biết họ có hai hình hay không hai hình. Sau mới biết họ có hai hình, nên tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc nghi. Phật dạy: 
“Không biết thì không phạm.” 
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết người hai hình mà  trao cho giới cụ  túc, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Hai hình:  (1) hình nam và hình nữ.
Tỳ-kheo-ni nào biết người hai hình mà cho họ thọ giới cụ túc, yết-ma xong ba lần, Hòa  thượng ni  ba-dật-đề; hai lần yết-ma xong, ba đột-kiết-la; một lần yết-ma xong, hai đột-kiết-la; bạch xong một đột-kiết-la; bạch chưa xong đột-kiết-la; trước khi chưa bạch, cạo đầu cho thọ giới, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: Trước  không  biết,  hoặc  tin lời  nói của  người  kia, hoặc tin lời người đáng tin, hay tin lời cha me họ, cho thọ giới cụ túc rồi, sau đó mới biến thành hai hình thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
 _________________________-                                       
(1) Nhị hình 二形. Ngũ phần: nhị căn 二根.

* Trang 1056 *
device

ĐIỀU 167. THỌ CỤ TÚC NGƯỜI HAI ĐƯỜNG HIỆP LẠI (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni độ người hai đường hiệp lại thọ giới cụ túc, lúc đại tiện tiểu tiện các tỳ-kheo-ni thấy.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách các tỳ-kheo-ni: “Tại sao các cô lại độ người hai đường hiệp lại cho thọ giới cụ túc?”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không  nên  làm. Tại  sao tỳ-kheo-ni lại  độ  người  hai  đường  hiệp lại cho thọ giới cụ túc?” Sau khi bằng vô số phương  tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.”  [774b] Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ người hai đường hiệp lại, cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới  như vậy. Khi ấy, các tỳ-kheo-ni không biết họ có hai đường hiệp lại hay không, sau mới biết, nên có vị tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc có vị nghi. Đức Phật dạy: 
“Không biết thì không phạm.” Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  biết người hai  đường hiệp lại, cho  thọ  giới cụ túc, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.
Hai đường hiệp lại: đường đại tiểu tiện không tách riêng ra.
___________________-
(1) Ngũ phần: điều 176. (Giới bản 177)

* Trang 1057 *
device

Tỳ-kheo-ni nào biết người hai đường hiệp lại, mà độ cho thọ giới cụ túc,  tác pháp yết-ma lần  thứ ba xong, Hòa  thượng ni ba-dật-đề; yết-ma xong lần thứ hai, ba đột-kiết-la; yết-ma lần thứ nhất, hai đột-kiết-la; bạch xong, một đột-kiết-la; bạch chưa xong, đột-kiết-la; trước khi chưa bạch, cạo đầu, cho thọ giới, tập chúng, đủ chúng, tất cả đều đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Trước không biết, hoặc  tin lời nói của họ, hoặc  tin lời người đáng tin, hay tin lời của cha mẹ họ, cho thọ giới rồi sau hai đường mới hiệp. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 168. TRAO CỤ TÚC CHO NGƯỜI MẮC NỢ (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  có  các tỳ-kheo-ni  nghe  đức Thế Tôn  chế giới cho độ đệ tử, bèn độ người mắc nợ và các người có bệnh cho thọ giới cụ  túc. Thọ rồi, chủ nợ đến bắt đem về, còn người bệnh  thì cần người chăm sóc không thể rời xa được.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới,  biết  tàm quý, hiềm  trách các tỳ-kheo-ni: “Đức Thế Tôn chế giới cho phép độ người. Sao các cô lại độ người mắc nợ cho chủ nợ  đến bắt về;  còn  người bệnh  thì  phải cần  người  chăm  sóc, không thể rời xa được?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên  làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại độ người mắc nợ cho chủ nợ đến bắt về; còn người bệnh  thì phải cần người chăm sóc, không  thể lìa xa được?”
_______________
(1) Ngũ phần: điều 125 & 127.

* Trang 1058 *
device

Sau khi bằng vô số phương  tiện quở  trách,  [774c] đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, độ người mắc nợ và có bệnh,  trao cho giới cụ túc, ba-dật-đề. 
Thế Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy. Các tỳ-kheo-ni  không biết họ có mắc nợ hay không, có bệnh hay không, sau mới biết là họ có mắc nợ và có bệnh, nên có vị  tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc nghi. Phật dạy:  “Không biết thì không phạm.” 
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết người có mắc nợ và có bệnh mà cho thọ giới cụ túc, ba-dật-đề.(1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Mắc nợ: cho đến chỉ mắc nợ một tiền, là 1 phần trong 16 phần.
Bệnh: cho đến thường bị bệnh nhức đầu. (2)
Tỳ-kheo-ni nào biết người mắc nợ và người có bệnh mà độ cho  thọ giới cụ túc, ba lần yết-ma xong, Hòa thượng ni ba-dật-đề; hai lần yết-ma  xong,  ba  đột kiết-la; một lần yết-ma  xong,  hai  đột-kiết-la; bạch xong, một  đột-kiết-la; bạch  chưa  xong,  đột-kiết-la;  trước  khi  chưa bạch, cho cạo tóc, cho thọ giới, tập chúng, chúng đủ, tất cả đều đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  Trước  không  biết,  hoặc  tin lời  nói của  người  ấy, hoặc  tin lời người đáng  tin, hay  tin lời cha me họ, hoặc cho thọ giới cụ túc rồi, mới mắc nợ hay bệnh. Thảy đều không phạm.
____________________
(1) Ngũ phần, điều 125: “…người nữ bệnh thường xuyên…”; điều 127: “… người nữ mắc nợ…”
(2) Ngũ phần: “ trường bịnh, trường kỳ lạnh, nóng; phát tác đều đặn”.

* Trang 1059 *
device

Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 169. HỌC KỸ THUẬT  CỦA THẾ TỤC TÀ MẠNG (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni học tập chú thuật để tự nuôi sống. Chú  thuật gồm có chú chi  tiết, chú sát-lợi, hoặc chú khởi thi quỷ, hoặc học biết tướng chết, biết bói chuyển cầm thú  luận, biết âm thanh của các loài chim.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách các tỳ-kheo-ni rằng: “Tại sao các cô lại học tập các kỹ  thuật như vậy, cho đến biết âm  thanh của các loài chim?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rằng:
“Các  cô  làm  điều  sai  trái,  chẳng  phải  oai  nghi,  [775a1]  chẳng  phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại học tập các kỹ  thuật như vậy, cho đến biết âm thanh của các loài chim?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, học kỹ  thuật của  thế tục  để nuôi sống (2) ,  ba-dật-đề.
________________
(1) Tham chiếu, Tứ phần điều 117; Tăng kỳ: điều 82. 
(2) Tăng-kỳ: làm thầy thuốc để kiếm sống.

* Trang 1060 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Kỹ thuật: cũng như trước đã nói.
Tỳ-kheo-ni nào, học tập các kỹ thuật, cho đến biết âm thanh của các loài  chim  nói  rõ  ràng  ba-dật-đề,  nói  không  rõ  đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni,  đột-kiết-la.  Đó gọi  là phạm.
Sự không phạm: Nếu học chú để trị bệnh trùng ở trong bụng, hoặc trị ăn không  tiêu, học  thơ, học tụng; học  lý  luận của đời để hàng phục ngoại đạo;  hoặc học chú độc vì hộ  thân, không  vì sự  nuôi sống  thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU170. DẠY BẠCH Y CHÚ THUẬT CỦA THẾ TỤC  (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni dùng kỹ  thuật thế tục dạy cho các bạch y, nói: “Các ngươi chớ nên hướng về mặt trời, mặt trăng  và miễu  thờ  thần mà  đại  tiểu  tiện. Cũng  đừng hướng về mặt trời, mặt  trăng, nơi  thờ  thần, đổ  rác rưới và những nước bẩn rửa đồ đạc. Đừng hướng đến mặt trời mặt trăng, nơi  thờ cúng  thần mà duỗi chân. Hoặc muốn xây cất phòng nhà, cày cấy gieo  trồng nên hướng về mặt trời mặt trăng, nơi thờ thần miếu.” 
Lại nói: “Ngày nay trúng sao đó là tốt nên cày cấy, nên cất nhà, nên thuê người làm, nên cạo đầu con nít, nên để tóc, nên cạo râu tóc, nên cất chứa của cải, nên đi xa.”
Các tỳ-kheo-ni nghe biết;  trong đó có vị  thiểu dục tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  hiềm  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni: “Sao các cô lại đem kỹ  thuật như vậy để dạy cho bạch y, nói:  ‘Các
_____________________
(1) Tham chiếu, Tứ phần điều 118; Tăng kỳ: điều 83.

* Trang 1061 *
device

ngươi biết chăng? Các người đừng nên hướng về mặt trời mặt trăng, nơi miếu thờ cúng thần mà đại tiểu tiện, cho đến, nên đi xa?’”
Tỳ-kheo-ni  liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni rằng:
“Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  [775b]  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều  không  nên  làm. Nhóm  sáu tỳ-kheo-ni,  sao  các  cô lại  đem kỹ thuật dạy các  nhà  trưởng giả, nói:  ‘Người  biết chăng? Đừng hướng đến mặt  trời, mặt  trăng mà đại  tiểu  tiện, cho đến, nên xuất hành đi xa.’”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, dùng chú  thuật của  thế tục mà dạy bạch y, ba-dật-đề.(1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Kỹ thuật: như đã giải trước.
Nếu cần  nói  thì  nên  nói với  người  kia rằng: Đừng  nên hướng  đến tháp của Như Lai và  tháp của Thanh văn mà đại  tiểu  tiện và vất đổ những  thứ không sạch; cũng đừng nên hướng đến  tháp của Như Lai và  tháp của Thanh văn mà duỗi chân ngồi. Nếu muốn cất phòng xá và cày bừa gieo  trồng nên hướng đến  tháp của Như Lai và  tháp của Thanh văn. Lại không được nói ngày nay trúng sao đó là tốt, nên cất nhà, nên gieo giống, nên thuê người làm, nên cạo tóc cho con nít, nên cạo tóc, nên để tóc. Mà nên nói rằng, nên vào trong chùa  tháp, cúng
___________________
(1) Tăng kỳ, ibid.: “… dạy nghề thuốc…”

* Trang 1062 *
device

dường Tăng tỳ-kheo  thọ  thực; mồng  8,  14,  15  là  những  ngày  hiện biến hóa.(1) Tỳ-kheo-ni kia đem những kỹ thuật của thế tục để dạy cho bạch y như vậy, cho đến, nên xuất hành đi xa, nói rõ ràng ba-dật-đề, nói không rõ ràng, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm: nếu  nói,  đừng hướng  đến  tháp của  Như  Lai  và Thanh văn,  đại  tiểu  tiện,  đổ  các  đồ  rác bẩn; cũng  đừng hướng  đến tháp của Như Lai và Thanh văn duỗi chân ngồi. Nếu muốn cày cấygieo trồng, xây cất phòng nhà nên hướng đến tháp của Như Lai, cho đến pháp  thọ  thực, hoặc nói vui đùa nói gấp vội, nói một mình, nói trong mộng, muốn  nói  việc  này lại  nói  việc  khác. Thảy  đều  không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 171. BỊ ĐUỔI MÀ KHÔNG ĐI (2)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở nước Châu-na-hy-la. Bấy giờ, nhóm  sáu tỳ-kheo-ni bị đuổi mà không đi. Các tỳ-kheo-ni nghe,  trong đó có vị thiểu dục  tri  túc, sống hạnh  đầu-đà,  ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: [775c] “Tại sao các cô bị đuổi mà không đi?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: 
“Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  việc không nên làm. Tại sao cô bị đuổi mà không đi?” 
___________________
(1) Nơi  khác, gọi  là ngày  “thần  biến.” Ngày  chư  thiên hiện  thần  biến  đi  tuần hành nhân gian.
(2) Ngũ phần: điều 172.

* Trang 1063 *
device

Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
 “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, bị đuổi mà không đi, ba-dật-đề. (1)
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Nếu Tỳ-kheo-ni nào bị đuổi mà không đi, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Bị đuổi đi  liền; hoặc tùy thuận không chống trái, hạ ý sám hối, cầu giải yết-ma đuổi; hoặc bị bệnh; hoặc không có bạn để cùng  đi;  hoặc  đường  sá bị  trở  ngại;  hoặc bị nạn  giặc,  hoặc  thú dữ, hoặc nước lụt, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị  nhốt  trói, hoặc mạng nạn,  phạm hạnh nạn,  nên bị  đuổi  mà  không  đi.  Thảy  đều  không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 172. HỎI NGHĨA TỲ-KHEO KHÔNG XIN PHÉP (2)
a. Duyên khởi
Một  thời. đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni An Ẩn, đại  trí  tuệ, hỏi nghĩa các tỳ-kheo.  Các vị tỳ-kheo bị hỏi,  không  thể  trả lời  được  nên hổ thẹn. 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni An Ẩn: “Sao cô
____________________
(1) Ngũ phần, ibid, “… bị yết-ma khu xuất…”
(2) Pāli, Pāc. 95. Ngũ phần: điều 184. ( Giới bản 186. Thập tụng: điều 158. Căn bản: điều 169.

* Trang 1064 *
device

ỷ có  trí  tuệ nhiều, hỏi nghĩa các tỳ-kheo, khiến quí vị không  thể  trả lời được, nên hổ thẹn?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách tỳ-kheo-ni An Ẩn:
“Cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao  cô  ỷ  có  trí  tuệ  nhiều, hỏi  nghĩa  các tỳ-kheo,  khiến  quí vị không thể trả lời được, nên hổ thẹn?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu  tiên  [776a1] phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, hỏi nghĩa kinh các tỳ-kheo, ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Các tỳ-kheo-ni đến ngày giáo thọ không biết đến ai để cầu giáo  thọ; nghi, không biết đến nơi nào  để hỏi  nghĩa?. Đức  Phật dạy:  “Từ  nay  trở  đi, muốn hỏi  nghĩa phải xin phép trước, sau đó mới hỏi.” 
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, muốn hỏi nghĩa với tỳ-kheo, không xin phép trước mà hỏi,(1) ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni nào hỏi nghĩa với tỳ-kheo, không xin phép mà hỏi; nói rõ ràng, ba-dật-đề. Nói không  rõ  ràng đột-kiết-la. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm. 
Sự  không  phạm: Trước  xin  phép  sau mới hỏi;  hoặc  đã  thường hỏi;
_________________
(1) Thập tụng: “… chưa được cho phép, mà hỏi Kinh, Luật, Tì-đàm…”

* Trang 1065 *
device

hoặc quen  thân;  hoặc  người  thân hậu  nói:  “Cô cứ hỏi đi,  tôi sẽ  xin phép giùm cô”; hoặc vị kia  thọ giáo với vị này; hoặc hai người đều đến  thọ giáo nơi  người khác;  hoặc người kia hỏi người  này  trả lời; hay hai người cùng tụng hoặc nói cho vui, nói vội, nói chỗ vắng, nói trong mộng, hay muốn nói việc này, nhầm nói việc khác. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 173. GÂY PHIỀN PHỨC KẺ Ở TRƯỚC NGƯỜI ĐẾN SAU (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni, người ở trước kẻ đến sau, người đến sau kẻ ở trước. (2) Muốn gây phiền phức người kia, nên đi kinh hành, đứng, ngồi, nằm trước mặt người kia. 
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  biết hổ  thẹn,  quở  trách  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni:  “Tại sao, các cô người ở trước kẻ đến sau, trước mặt tỳ-kheo-ni muốn gây phiền phức bằng cách kinh hành, đứng, ngồi, nằm?” 
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
“Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên  làm. Tại sao, các cô kẻ ở trước người đến sau,  trước mặt tỳ-kheo-ni khác muốn gây phiền phức bằng cách đi kinh hành, đứng, ngồi, nằm?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
________________
(1) Xem điều 92 trên.
(2) Tiên  trụ hậu  chí, hậu  chí  tiên  trụ 先住後至後至先住: mình ở  trước, người  đến sau; hoặc mình đến sau, người ở trước (tại một trú xứ). Xem điều 92 và các cht. liên hệ.

* Trang 1066 *
device

[776b]”Sáu Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là những  người  đầu  tiên  phạm  giới  này. Từ  nay  trở  đi, Ta  vì  các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú  nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, kẻ ở  trước người đến sau, người đến sau kẻ ở  trước,  vì muốn  gây  phiền  phức  người  kia,  đi  kinh  hành, đứng, ngồi, nằm trước mặt người ấy, ba-dật-đề. 
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Có tỳ-kheo-ni kia không biết  (họ)  ở  trước  hay  không  phải  ở  trước,  (họ)  đến  sau  hay  không phải  đến  sau;  sau mới  biết,  nên  tác  sám  ba-dật-đề,  hoặc  nghi. Phật dạy: “Không biết thì không phạm.” 
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết kẻ ở trước người đến sau, người đến sau kẻ ở trước, vì muốn gây phiền phức vị kia, bèn đi kinh hành, đứng, ngồi, nằm trước mặt, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni  nào  biết kẻ ở  trước  người  đến  sau,  người  đến  sau kẻ ở trước,  vì  muốn  gây  phiền vị  kia,  nên  kinh  hành,  đứng,  ngồi, nằm trước mặt họ, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Trước không biết, hoặc có hỏi, hoặc cho phép kinh hành; hoặc là bậc Thượng tọa, hoặc xem nhau kinh hành, hoặc muốn kinh hành, hoặc  là quen biết, hoặc người quen biết nói: “Cô cứ kinh hành. Tôi sẽ nói giùm cho cô”; hoặc bị bệnh té xuống, hoặc bị cườnglực bắt, hoặc bị  trói cột, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn. Thảy đều không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 174. XÂY THÁP TRONG TĂNG-GIÀ-LAM CÓ TỲ-KHEO

* Trang 1067 *
device

a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một vị tỳ-kheo-ni, nổi tiếng được nhiều người biết, qua đời. Các tỳ-kheo-ni xây  tháp  trong Tăng-già-lam của tỳ-kheo. Chư ni tập trung những hòn đá rửa chân ở mọi nơi của đại Tăng đập  ra để xây  tháp. Có khách tỳ-kheo đến, vì không biết là tháp của tỳ-kheo-ni, nên lễ bái.  Các tỳ-kheo-ni nghe biết, trong đó có vị  thiểu dục tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách các tỳ-kheo-ni: “Sao các cô lại xây tháp trong Tăng-già-lam của đại Tăng, khiến cho khách tỳ-kheo đến không biết nên lễ bái?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều  [776c] không nên  làm. Tại  sao tỳ-kheo-ni lại  xây  tháp  trong Tăng-già-lam của  đại Tăng,  khiến  cho  khách tỳ-kheo không biết nên lễ bái?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  xây  tháp  trong Tăng-già-lam của tỳ-kheo, ba-dật-đề.
Thế Tôn vì các tỳ-kheo-ni kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo-ni đối với  trong Tăng-già-lam cũ, không có tỳ-kheo, nên hư hại, muốn xây tháp, nhưng nghi. Phật dạy: “Không phạm.” 
Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, xây  tháp  trong Tăng-già-lam có tỳ-kheo, ba-dật-đề. 
Các tỳ-kheo-ni lại không biết có tỳ-kheo hay không có tỳ-kheo nên hoặc  sám  ba-dật-đề,  hoặc  nghi.  Phật  nói:  “Không  biết  thì  không

* Trang 1068 *
device

phạm.” Từ nay, giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  biết Tăng-già-lam  có tỳ-kheo, mà  xây  tháp, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo-ni biết có tỳ-kheo trong Tăng-già-lam mà xây tháp, cứ theo mỗi việc lấy đá rửa chân, gạch ngói, những lọn cỏ nhiều hay  ít; mỗi một thứ  là một ba-dật-đề. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu  trước không biết, hoặc Tăng-già-lam cũ bị hư hại; hay xây tháp trước, Tăng-già-lam lập sau thì không phạm. 
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 175. KHÔNG LỄ BÁI TỲ-KHEO MỚI THỌ GIỚI (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn chế giới, khiến tỳ-kheo-ni dù là 100 tuổi mà thấy tỳ-kheo mới thọ giới, cũng phải đứng dậy nghinh đón, lễ bái, cung kính, hỏi chào, trải tọa cụ mời ngồi (2) . Song có các tỳ-kheo-ni kia không đứng dậy nghinh đón lễ bái, cung kính, hỏi chào.Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách các tỳ-kheo-ni:  “Đức Thế Tôn chế giới, khiến tỳ-kheo-ni dù  là 100  tuổi, nhưng khi thấy tỳ-kheo mới thọ giới, cũng phải đứng dậy nghinh đón cung kính, lễ  bái, hỏi  chào,  trải tọa cụ mời  ngồi.  Sao  các  cô  không  đứng dậy nghinh đón?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp [777a1] Tăng tỳ-kheo,
_____________________
(1) Ngũ phần: điều 178. ( Giới bản 179).  
(2) Tám trọng pháp của tỳ-kheo-ni, xem chương xii, “ Tỳ-kheo-ni”.

* Trang 1069 *
device

quở trách các tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên làm. Tại sao các cô thấy tỳ-kheo mới thọ giới không đứng dậy nghinh đón, lễ bái, cung kính, hỏi chào, trải tọa cụ mời ngồi, cho dù đã 100 tuổi?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  dù  100  tuổi,  thấy tỳ-kheo mới  thọ  giới (1) mà không đứng dậy nghinh đón, cung kính lễ bái, hỏi chào, ba-dật-đề. 
Thế  Tôn  vì  các tỳ-kheo-ni kết  giới  như vậy.  Có vị  nhất tọa  thực, không ăn  thức ăn  làm pháp dư  thực, (2) hoặc có bệnh, hay ăn chưa đủ no nên không đứng dậy chào, nghi. Phật dạy:  “Từ nay  trở đi cho phép nói:  ‘Sám hối Đại đức, con có nhân duyên như vậy, như vậy nên không đứng dậy nghinh đón Đại đức.’”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni  nào,  thấy tỳ-kheo mới  thọ  giới  phải  đứng dậy nghinh đón, cung kính lễ bái, hỏi chào mời ngồi. Nếu không làm vậy, trừ có nhân duyên, ba-dật-đề. 
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni  nào  thấy tỳ-kheo  không  đứng dậy,  ba-dật-đề. Trừ  nhân duyên. 
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu đứng dậy nghinh đón; hoặc nhất tọa thực, hoặc
_______________________
(1) Ngũ phần: “ thấy tỳ-kheo…”, không đề cập hạ lạp.
(2) Một lần ngồi ăn, đứng dậy rồi, không ăn lại nữa. Dù có  làm phép dư  thực. Xem Phần I, Ch. v. ba-dật-đề 35.

* Trang 1070 *
device

không ăn thức ăn  làm pháp dư thực, hoặc bị bệnh, hay vì ăn chưa đủ no, nói: “Sám hối Đại đức, con có nhân duyên như vậy, như vậy nên không  đứng dậy  nghinh  đón.” Hoặc bị bệnh  té  xuống  đất,  hoặc bị cường lực bắt,  hoặc mạng nạn,  phạm hạnh nạn.  Thảy  đều  không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 176. ĐI UỐN ÉO LÀM DUYÊN
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo-ni  quấn  y uốn  éo  thân hình đi, vì làm đẹp. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm:  “Các tỳ-kheo-ni này không biết hổ  thẹn, phạm vào phạm hạnh. Bên ngoài tự xưng  tôi  biết  chánh  pháp. Nhưng  như vậy  có  gì  là  chánh pháp? Vì muốn  làm đẹp, vừa đi, vừa uốn éo thân hình như bọn dâm nữ, tặc nữ vậy!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Sao [777b] các cô vì muốn  làm đẹp, vừa đi, vừa uốn éo thân hình, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ vậy?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm  điều không nên làm. Tại sao tỳ-kheo-ni, vì muốn làm đẹp, vừa đi vừa uốn éo thân hình?” 
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo-ni  này  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là  những  người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, vì muốn làm đẹp mà vừa đi vừa uốn éo thân hình, ba-dật-đề.

* Trang 1071 *
device

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni nào, vì muốn làm duyên làm đẹp, vừa đi, vừa uốn éo thân hình,  ba-dật-đề. Tỳ-kheo,  đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  vì mắc  phải  chứng bệnh  nào  đó;  hoặc  vì bị  người đánh phải tránh né, hoặc bị voi dữ xông đến, hoặc gặp giặc, hoặc gặp thú dữ, hoặc bị gai gốc phải lấy  tay đỡ; hoặc lội qua nước sông, hay mương rãnh, vũng bùn; hoặc muốn cho y được tề chỉnh, khỏi bị cao thấp so  le như vòi con voi hay  lá cây đa-la; hoặc xếp  thành lằn nhỏ nhăn nhó nên phải xoay mình ngó bên tả bên hữu. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 177. TRANG ĐIỂM HƯƠNG THƠM  (1)
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni tự mình  trang sức chải  tóc, thoa hương  thơm  vào mình,  các cư sĩ  thấy,  chê cười  nói:
Chúng ta là phụ nữ tự trang sức thân hình, chải tóc, thoa hương thơm vào người. Các tỳ-kheo-ni này mà cũng lại  làm như vậy!” Do đó, họ sanh tâm khinh mạn không cung kính.
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô đã xuất gia, sao lại trang sức thân hình như vậy?”
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế
_____________________
(1) Tham chiếu điều 150 trên. Thập  tụng,  các  điều  167-172: tự mình  và  nhờ  người  chà  đầu; tự mình  và  nhờ người chải  tóc; tự mình và nhờ người bện  tóc. Ngũ phần, điều 200 ( Giới bản 203):  làm eo nhỏ; điều 202 ( Giới bản 204): các hình thức trau chuốt thân hình; điều 205 ( Giới bản 208): ngắm nghía thân mình; điều 204 ( Giới bản 207): soi kiếng. Tham chiếu, Pãli pãc. 87.

* Trang 1072 *
device

Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: “Các cô  làm điều sai  trái, chẳng phải oai nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy  thuận,  làm điều không nên  làm. [777c] Nhóm sáu tỳ-kheo-ni, các cô đã xuất gia, sao lại  trang sức  thân hình? ”Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  trang điểm,(1)  thoa hương  thơm như phụ nữ, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni nào, trang điểm  thoa hương  thơm vào mình như phụ nữ, cứ  tính một chấm  là một ba-dật-đề. Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc có chứng bệnh  thế nào đó; hoặc cha mẹ mắc bệnh, hay bị  trói  nhốt, mình phải tắm rửa chải  tóc cho;  hoặc người ưu-bà-di tín tâm bịbệnh, hay bị nhốt trói, mà tắm rửa cho họ; hoặc bị cường lực. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
ĐIỀU 178. SAI NỮ NGOẠI ĐẠO XOA HƯƠNG
a. Duyên khởi
Một  thời, đức Bà-già-bà ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước  Xá-vệ. Bấy  giờ,  có tỳ-kheo-ni  Già-ca-chiên-đà-thâu-na  là chị  ruột của một nữ  tu  ngoại  đạo. Tỳ-kheo-ni  kia  sai  em  mình  là ngoại đạo xoa chà hương  thơm cho mình. Các cư sĩ  thấy chê cười,
________________-
(1) Pãli, Pãc. 87: ittālaṅkāraṃ dhāreyya, mang đồ tran điểm của phụ nữ.

* Trang 1073 *
device

nói: “Tỳ-kheo-ni này không biết hổ thẹn, phạm vào phạm hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì  là chánh pháp? Sai em mình  là ngoại đạo xoa chà hương thơm cho mình, giống như bọn dâm nữ, tặc nữ!”
Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ  thẹn, quở  trách tỳ-kheo-ni Già-ca-chiên-đà-thâu-na: “Sao cô lại bảo em gái cô là ngoại đạo xoa chà hương thơm vào mình?” 
Tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch  lên đức Thế Tôn. Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  quở trách tỳ-kheo-ni  Già-ca-chiên-đà-thâu-na:  “Cô  làm  điều  sai  trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên  làm.Tại sao tỳ-kheo-ni lại bảo em gái mình là ngoại đạo xoa chà hương thơm cho mình?”
Sau khi bằng vô số phương tiện quở trách, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp [778a1] cửu trụ.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào,  sai nữ ngoại đạo xoa chà hương  thơm cho mình, ba-dật-đề.
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước. 
Tỳ-kheo-ni nào, sai nữ ngoại đạo thoa chà hương thơm vào thân, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc mắc bệnh  thế nào đó, hoặc bị cường lực bắt. Thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu  tiên khi chưa  chế giới;  si  cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 1074 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)