LOGO VNBET
CHƯƠNG IV
NI-TÁT-KỲ BA-DẬT-ĐỀ (1)
I. SÚC TRƯỜNG Y (2)
A. DUYÊN KHỞI
1. Y dư
[601c]Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo thọ trì ba y không được dư.
Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo chứa y dư. Hoặc có y mặc buổi sáng.
Hoặc có y mặc buổi trưa. Hoặc có y mặc buổi xế. Nhóm sáu tỳ-kheo thường kinh doanh trang nghiêm y phục, cất chứa như vậy.
Các tỳ-kheo thấy, bảo nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Đức Phật cho phép thọ trì ba y, không được dư. Đây là y của ai?”
“Y dư của chúng tôi đấy.” Nhóm sáu trả lời.
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Đức Như Lai cho phép thọ trì ba y, tại sao các thầy cất chứa y dư, hoặc có y mặc buổi sáng, hoặc có y mặc giữa ngày, hoặc có y mặc buổi xế?”
Các tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
_____________________
(1) Cf, Tăng kỳ 8, tr.292b10: “Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y dư cần phải xả trước Tăng; sau đó sám tội ba-dật-đề. Xả mà không sám hối, phạm tội việt tì-ni. Ba-dạ-đề, nghĩa là có thể đọa ác đạo.” Thập tụng 5, tr.30b12: “Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y ấy cần phải xả. Tội ba-dạ-đề cần phải sám hối.” Căn bản 16, tr.711c26: “Ni-tát-kỳ ba-dật-để-ca, vật ấy cần phải xả; tội ấy cần phải sám.” Pāli (Vin.iii. 193): nissaggiya pācittiya.
(2) Pāli: Atirekacīvara, Vin. iii. 195.

* Trang 189 *
device

ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập họp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao, nhóm sáu tỳ -kheo, Như Lai cho phép thọ trì ba y, các ông lại chứa cất y dư?”
Đức Phật dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo nào chứa y dư, (1)  ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
2. Quá mười ngày
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, Tôn giả Anan nhận được một tấm y phấn tảo quý giá (2) từ nơi một người kia, muốn dâng cúng cho đại Ca-diếp. (3) Vì ngài Ca-diếp thường sống hạnh đầu-đà, mặc loại y này. Nhưng lúc ấy, ngài không có ở đó.
Tôn giả A-nan có ý nghĩ: “Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới,
‘Tỳ-kheo nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay, ta nhận được y phấn tảo quý giá, muốn [602a1] dâng cúng cho đại Ca-diếp. Vì đại
Ca-diếp thường sống hạnh đầu-đà, mặc loại y này. Mà ngài không có ở đây. Không biết làm sao đây?”
_________________________
(1)  Ngũ phần: qua một đêm.
(2)  Quý giá phấn tảo y 貴價糞掃衣; quý giá ở đây nên hiểu là “thực chất, đúng nghĩa.” Tức đúng loại y bị vất bỏ như là rác, chứ không phải y trân quý, có giá trị. Ngũ phần 4: 2 tấm vải kiếp-bối.
(3)  Pāli: muốn cúng lại cho Xá-lợi-phất.

* Trang 190 *
device

A-nan liền đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên, bạch đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, Ngài vì các tỳ-kheo kết giới, ‘tỳ-kheo nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay con nhận được một y phấn tảo quý giá, muốn dâng cúng lên đại Ca-diếp. Vì đại Ca-diếp thường tu hạnh đầu đà, mặc y phấn tảo.” Phật hỏi A-nan:
“Khi nào Ca-diếp về?”
A-nan bạch Phật:
“Sau mười ngày sẽ về.”
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, tùy thuận thuyết pháp cho các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện nói về thiểu dục tri túc, hạnh đầu-đà, ưa pháp xuất ly, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay về sau cho phép chứa y dư, không quá mười ngày.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, y đã xong, ca-thi-na đã xả, cất chứa y dư, trong mười ngày không tịnh thí được phép chứa. Nếu quá mười ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y đã xong: chỉ là ba y. (1)
Y ca-thi-na đã xả. (2)
_____________________
(1) Y dĩ cánh 衣已竟. Pāli: niṭṭhittacīvarasmi, y đã hoàn tất; tức y đã may xong; bao gồm trường hợp y bị mất, y bị cướp, y bị cháy. Ngũ phần 4: giặt, nhuộm, và may xong.
(2) Thiếu giải thích trong bản Hán. Ngũ phần 4 (tr.23b28): ca-thi-na đã được xả do bạch nhị yết-ma. Pāli (Vin.iii. 196): ubbhatasmiṃ kaṭhine, được giải thích: ca-thi-na đã được xả do tám nguyên nhân; hoặc do Tăng tác pháp xả. Xem chương Y ca-thi-na.

* Trang 191 *
device

Y: (1) có mười loại: y thi, y kiếp-bối (vải), y khâm-bà la, y sô-ma (bố), y sấm-ma, y phiến-na, y ma (vải gai), y súy-di-la, y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni. (2)
Y dư: (3) cho đến miếng vải chiều dài bằng tám ngón tay, chiều rộng bằng bốn ngón tay của Như Lai trở lên đều gọi là y dư.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, được chứa. Ngày thứ hai được y, cho đến ngày thứ mười được y, được chứa. Qua đến ngày thứ mười một, khi bình minh (4)  xuất hiện, tất cả y đó trở thành ni-tátkỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư được (như vậy lần lần lên đến ngày thứ mười không được, xây dựng câu văn cũng như trên) (5)
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư được, cho đến ngày thứ mười được y.
Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y nhận được trong tám ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư được (như vậy lần lần lên đến
___________________
(1) Hầu hết, Hán dịch y 衣 (Pāli: cīvara), cần được hiểu là vải để may y, chứ không phải là áo mặc theo nghĩa đen của từ Hán.
(2) Mười loại y: y thi (Pāli: koseyya), y kiếp-bối (Pāli: kappāsika), y khâm-bà-la (kambala), y sô-ma (khoma), y sấm-ma, y phiến-na (sāna), y ma (bhaga, vải gai), y súy-di-la, y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni 絁衣劫貝衣欽婆羅衣芻摩衣讖摩 衣扇那衣麻衣翅夷羅衣鳩夷羅衣讖羅半尼衣. Ngũ phần: kiếp-bối 劫貝, khâm-ba-la 欽波羅, dã-tàm-miên 野蠶綿, trữ 紵, ma 麻. Tăng kỳ: khâm-bà-la 欽婆羅 kiếp-bối 劫貝, sô-ma 芻摩, câu-xá-da 俱舍耶, xá-na 舍那, ma 麻, xu-mâu-đề 軀 牟提. Pāli: cīvara, y ở đây chỉ sáu loại y (=vải) được chấp nhận: khoma (vải lanh), kappāsika (vải bông), koseyya (lụa), kambala (lông thú), a (vải gai thô), bhaga (vải bố).
(3) Trường y 長衣. Căn bản 16 (tr.711c25): “Ngoài những y đang thọ trì, còn lại gọi là y dư.” Pāli: atirekacīvara, giải thích: y không được phân phối (anadiṭṭhita) và chưa được tác tịnh (avikappita).
(4) Như lai chỉ (tiếng hoa), được hiểu theo bề rộng của ngón hay lóng tay, Pāli , sugata-aṅgula; 1 aṅgula = I inch – 2.54 cm.
(5) Minh tướng 明相, tướng sáng, dấu hiệu sáng. Pāli: aruuggamane, khi mặt trời mọc.

* Trang 192 *
device

Ngày thứ mười không được, xây dựng câu văn cũng như trên). (1)
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba  không được. Ngày thứ tư được, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y nhận được trong tám  ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba vá thứ tư không được. Ngày thứ năm được (như vậy lần lần xuống, cho đến ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn như trên) (2)
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, người thứ tư không được y. Ngày thứ năm được y, cho đến này thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y nhật được tron bảy ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu Tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y.
[602b]Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không được y. Ngày thứ sáu được y, (như vậy chuyển, xuống cho đến ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười, không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không được y. Ngày thứ sáu được y, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y được trong sáu ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không được. Ngày thứ bảy được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như vậy).*
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba,
______________________
(1) Trong ngoặc: nguyên tiểu chú trong bản Hán.
(2) Tiểu chú trong bản Hán.

* Trang 193 *
device

ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không được y. Ngày thứ bảy được y, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y được trong năm ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không được y. Ngày thứ tám được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ
mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không được y. Ngày thứ tám được y, cho đến ngày thứ mười được y, nếu qua ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y được trong bốn
ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không được y. Ngày thứ chín được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ
tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không được y. Ngày thứ chín, ngày thứ mười được y; số y được trong ba ngày đó, nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh
xuất hiện, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không được y. Ngày thứ mười được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ
sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba,

* Trang 194 *
device

ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không được y. Ngày thứ mười được y. Nếu qua ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y được trong hai ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười [602c] không được y. Nếu qua ngày mười một, khi bình minh xuất hiện, số y nhận được trong một ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y không tịnh thí. (1) Ngày thứ hai được y tịnh thí. Ngày thứ ba được y, cho đến ngày thứ mười được y không tịnh thí. Qua đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y nhận được trong chín ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y mà không tịnh thí. Ngày thứ ba được y tịnh thí. Ngày thứ tư được y không tịnh thí (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ mười được y tịnh thí, không tịnh thí, xây dựng câu văn cũng như trên).* Nếu y bị
___________________
(1) Tịnh thí 淨施, hay tác tịnh. Tăng kỳ 8 (tr.292b14): “Được phép chứa y dư trong vòng 10 ngày không tác tịnh. Quá 10 ngày, ni-tát-kỳ ba-dạ-đề.” Căn bản 16 (tr.711c26): “y dư trên 10 ngày, nếu tác phân biệt pháp (tác tịnh), được phép chứa.” Tứ phần, ba-dật-đề 59: có hai cách tịnh thí, chân thật và triển chuyển. Chân thật tịnh thí là biếu luôn. Triển chuyển tịnh thí chỉ cho trên danh nghĩa, người cho vẫn dùng với ý niệm “mượn tạm.” Pāli, Pācittiya 59 (Vin.iv.122): vikappana, tác tịnh hay tịnh thí, có hai cách: sammukhavikappana, hiện tiền tác tịnh và parammukha-vikappana, khiếm diện tác tịnh.

* Trang 195 *
device

mất (xây dựng câu văn cũng như trên). Nếu làm phi y (đặt câu văn cũng như trên).* Nếu với ý nghĩ là người quen biết lấy (đặt câu văn cũng như trên).* Nếu quên đi (xây dựng câu văn cũng như trên).* Tất cả đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu y phạm xả đọa mà không xả, đem đổi lấy y khác, phạm một ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Y xả đọa này nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người, hoặc một người. Không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, mặc y trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến kính lễ Thượng tọa, quỳ gối, chấp tay,
thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., cố ý chứa y dư như vậy, quá mười ngày, phạm xả đọa. Nay, tôi xả cho Tăng sử dụng.”
Xả y rồi phải sám hối. Người thọ sám phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Lời tác bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., cố ý chứa y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy xong, sau đó mới thọ sự sám hối. Vị thọ sám nên nói với phạm nhân rằng:
“Hãy tự trách tâm ông!”
Phạm nhân trả lời:
“Xin vâng!”
Nếu Tăng đông, khó tập hợp, mà tỳ-kheo này có duyên sự muốn đi xa thì nên hỏi tỳ-kheo ấy rằng: “Y này, ông muốn cho ai?” Tùy theo lời nói của vị ấy mà cho, và Tăng phải hoàn y này lại liền cho tỳ-kheo ấy bằng pháp bạch nhị yết-ma. Nghi thức trao như sau:
Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc

* Trang 196 *
device

trên tác bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., cố ý chứa y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này trao cho tỳ-kheo tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... cố ý chứa y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng, Tăng đem y này cho tỳ-kheo tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng đem y này trao cho [603a1] tỳ-kheo tên là... kia và Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn cho tỳ-kheo này, thì im lặng; vị nào không đồng ý, xin nói.
“Tăng đã chấp thuận cho Tỳ-kheo tên là... kia y này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo này ở giữa Tăng xả y rồi, mà không được trả lại; Tăng mắc đột-kiết-la. (1) Khi trả lại, có người nói “đừng trả”, người ấy mắc đột-kiết-la.
Nếu tác pháp tịnh thí, (2) hoặc gởi đi cho người khác, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, (3)  hoặc cố ý làm cho hư hoại, hoặc đốt cháy, hoặc làm phi y, (4) hoặc thường xuyên mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật- đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
________________________
(1)  Pāli, Vin.iii.197 (Pācittiya 1): Sau khi xả y dư, cần sám ba-dật-đề. Y phải được trả lại, nói: ima cīvara āyasmato dammī’ti, “Y này tôi trả lại cho Trưởng
lão.”
(2)  Sau khi đã xả như pháp.
(3)  Ba-lợi-ca-la 波利迦羅. Skt (=Pāli). parikara, dây đai, dây nịt, để buộc y phục.
(4)  Phi y 非衣; không dùng làm y.

* Trang 197 *
device

Sự không phạm: không quá mười ngày. Hoặc chuyển tịnh thí. Hoặc gởi đi cho người. Hoặc tưởng bị giặc cướp; hoặc tưởng bị mất; hoặc tưởng bị cháy; hoặc tưởng bị trôi. [Trong các trường hợp này] không tịnh thí, không gởi đi cho người, không phạm.
Nếu y bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, lấy mặc, (1)  hoặc người khác đưa cho mặc, (2) hoặc người khác đưa cho làm, (3)  thì người kia không phạm.
Người nhận gởi gắm y kia hoặc mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, hoặc bị giặc bắt dẫn đi, hoặc bị ác thú hại, hoặc nước trôi chìm. Các trường hợp như vầy mà không tác tịnh thí, không gởi đi cho người, cũng không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
II. NGỦ LÌA Y (4)
A. DUYÊN KHỞI
1. Lìa y
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đem y gởi nơi tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhân gian. Tỳ-kheo được gởi y, thường thường đem y
______________________
(1)  Hán: thủ trước 取著; chưa rõ nghĩa. Cf, Tứ phần 17, tr.676b13 (ba-dật-đề 59): “Vật đã chân thật tịnh thí, cần phải hỏi chủ sau đó mới dùng (Hán: thủ trước). Nếu là triển chuyển tịnh thí, không cần hỏi, tùy ý dùng (tùy ý thủ trước).” Cf, Tăng kỳ 8 (T22n1425, tr.293a10): người khác nhận giùm y được cúng, nhưng chưa đưa; quá hạn, vẫn không phạm.
(2)  Cf, Tăng kỳ 8, nt., hoặc thầy, hoặc đệ tử nghe có người cho y, nhưng y chưa đưa đến. Quá hạn vẫn không phạm.
(3)  Cf, Tăng kỳ 8, nt., nhờ người may y. May đã xong, nhưng chưa giao. Quá hạn, vẫn không phạm.
(4)  Pāli: Ticīvaravippavaseyya, Vin.iii. 198.

* Trang 198 *
device

phơi nắng. Các tỳ-kheo thấy, hỏi:
“Đức Phật cho phép tỳ-kheo chứa ba y, không được dư. Đây là y của ai?”
Tỳ-kheo phơi y trải lời: “Đây là y của nhóm sáu tỳ-kheo. Họ là bạn thân của tôi, đem gởi cho tôi, để du hành trong nhân gian. Sợ bị sâu bọ phá nên tôi đem phơi.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao các thầy đem y gởi cho tỳ-kheo thân hữu; lìa y mà du hành trong nhân gian?”
Hiềm trách rồi, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
[603b]”Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại đem y gởi cho tỳ-kheo thân hữu; lìa y mà du hành trong nhân gian?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ- kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo nào, y đã xong, y ca-thi-na đã xả, lìa một trong ba y ngủ đêm nơi khác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
2. Cương giới của y
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy, bấy giờ có một

* Trang 199 *
device

tỳ-kheo bị bệnh can tiêu, (1) có y phấn tảo tăng-già-lê nặng quá. Tỳ- kheo này vì có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang nó theo được, tự nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã vì các tỳ-kheo kết giới, không được lìa y ngủ đêm. Lìa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay ta bị bệnh can tiêu, mà ta có y phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang theo được. Nay ta nên như thế nào đây?” Vị ấy nói với các tỳ-kheo đồng bạn rằng:
“Đức Thế Tôn đã vì các tỳ-kheo kết giới, không được lìa y ngủ đêm. Lìa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay tôi bị bệnh can tiêu, mà tôi có y phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang theo được. Nay tôi nên như thế nào? Các Đại đức vì tôi đến bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn dạy thế nào, tôi sẽ phụng hành như vậy.”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn liền tập hợp các Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
Từ nay trở đi, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo bệnh này pháp bạch nhị yết-ma, kết không mất y. Nghi thức trao như vầy:
Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giầy dép, đến lễ Thượng tọa, quì gối, chấp tay, bạch xin như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh can tiêu, phấn tảo tăng-già-lê này nặng, có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang
_____________________
(1) Can tiêu bệnh 乾痟病, chứng gầy còm, hay nhức đầu kinh niên? Từ điển Khang Hy: tiêu 痟, chứng bệnh nhức đầu. Ngũ phần 4, một tỳ-kheo trì y phấn tảo, muốn đi xa, nhưng y quá nặng. Tăng kỳ 8: Xá-lợi-phất muốn về thăm quê, gặp phải lúc mưa dầm, tăng-già-lê nặng vì ướt sũng, nên không đi được. Căn bản 17: Ngày Tăng bố-tát, đại Ca-diếp không đến được vì ở cách sông, gặp khi trời mưa, qua sông nước lớn, y bị ướt. Pāli, Pācittiya 2: aññataro bhikkhu Kosambiya gilāno hoti, một tỳ-kheo ở Kosambi bị bệnh.

* Trang 200 *
device

theo được. Nay tôi đến xin Tăng pháp không mất y.”
Nên cầu xin như vậy ba lần. Trong Tăng nên sai một vị có thể tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
[603c]”Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh can tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, nên không thể mang theo được, đến xin Tăng pháp không mất y. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trao cho tỳ-kheo này pháp không mất y. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh can tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, mà không thể mang theo được, nay đến xin Tăng pháp không mất y. Nay, Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y. Trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y thì im lặng; vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
B. GIỚI TƯỚNG
Từ nay về sau sẽ nói giới như sau:
Tỳ-kheo nào y đã xong, y ca-thi-na đã xả, lìa một trong ba y ngủ đêm chỗ khác, trừ tăng yết-ma, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y đã xong: đủ ba y.
Y ca-thi-na đã xả. (như trên)
Ba y: tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.
Y: có mười loại, như trên đã nói.
Tăng: cùng một thuyết giới, cùng một yết-ma.

* Trang 201 *
device

Không mất y: trong Tăng-già-lam có một giới. Mất y: trong Tăng-già-lam có nhiều giới.(1)
Không mất y: cây có một giới. Mất y: cây có nhiều giới.
Không mất y: sân (2) có một giới. Mất y: sân có nhiều giới.
Không mất y: xe có một giới. Mất y: xe có nhiều giới.
Không mất y: thuyền có một giới. Mất y: thuyền có nhiều giới.
Không mất y: thôn có một giới. Mất y: thôn có nhiều giới.
Không mất y: nhà có một giới. Mất y: nhà có nhiều giới.
Không mất y: giảng đường có một giới. Mất y: giảng đường có nhiều giới.
Không mất y: kho chứa có một giới. Mất y: kho chứa có nhiều giới.
Không mất y: lẫm có một giới. Mất y: lẫm có nhiều giới.
Tăng-già-lam: có bốn loại như trên. (3)
Cây: cao bằng người, có bóng che đủ để ngồi kiết già.
Sân: nơi đập và phơi ngũ cốc.
Xe: chỗ đủ cho xe quay đầu lại.
Thuyền: chỗ đủ cho chiếc thuyền xoay lại.
Thôn: [604a1] có bốn loại như trên. (4)
Giảng đường: có nhiều khoảng trống.
Kho: nơi chứa các vật mua bán, ngựa xe v.v...
Lẫm: chỗ chứa ngũ cốc.
____________________
(1) Một giới… nhiều giới; Ngũ phần: đồng giới, dị giới 同界異界. Thập tụng 5: một giới, biệt giới; Căn bản 17: một thế phần, nhiều thế phần. Nghĩa là, mỗi nơi có một hay nhiều phạm vi phụ cận. Pāli: ekūpacāra, nānūpacra. Xem thêm cht. 1, tr. sau.
(2) Hán: tràng 場.
(3)  Như trên. Các đoạn trước, chưa chỗ nào đề cập.
(4)  Chương i, Ba-la-di ii, phần thích nghĩa.

* Trang 202 *
device

Giới Tăng-già-lam: giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới Tăng-già-lam kia. Giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới của cây kia. Cho đến giới của kho chứa này chẳng phải giới của kho chứa kia, cũng như vậy. Giới cây này chẳng phải giới cây kia. Cho đến giới kho chứa, giới của Tăng-già-lam cũng như vậy.
Giới của sân này chẳng phải giới của sân kia. Cho đến giới Tăng-già-lam, giới cây, cũng như vậy. Ngoài ra xây dựng câu văn cũng như trên.
Giới Tăng-già-lam: ở đường biên của Tăng-già-lam, với sức người trung bình, dùng đá hoặc gạch ném đến chỗ nào thì nơi đó gọi là giới. (1)  Cho đến giới của kho chứa cũng như vậy.
Nếu tỳ-kheo để y ở trong Tăng-già-lam, lại ngủ ở dưới gốc cây, khi bình minh chưa xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay cầm y, hoặc đến trong tầm đá ném tới. Nếu không xả y, hoặc tay cầm y, hoặc đến trong tầm đá ném tới; khi bình minh xuất hiện, tùy theo chỗ lìa y ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Trừ ba y, lìa các y khác, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo để y trong Tăng-già-lam, đến chỗ sân phơi. Bình minh chưa xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay phải nắm y, hoặc đến trong tầm đá ném tới. Nếu không xả y, không đến trong tầm đá ném tới, mà bình minh xuất hiện, tùy theo chỗ lìa y ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Cho đến ngủ nơi kho chứa, mỗi mỗi câu cũng như vậy. Nếu tỳ-kheo để y dưới gốc cây, đến ngủ chỗ sân phơi lúa cho đến ngủ nơi kho chứa của Tăng-già-lam thì cũng như vậy.
Không mất y: Nếu nơi a-lan-nhã không có giới, trong khoảng tám
_____________________
(1) Tăng viện với một hay nhiều khu phụ cận. Pāli, Vin.iii. 200: vihāro ekūpacāro nanūpacāro: tinh xá có một vùng phụ cận, hay nhiều vùng phụ cận. Căn bản 17, gọi là có một thế phần hay có nhiều thế phần. Một nhà có thể chỉ có một thế phần, nếu chỉ có một gia trưởng. Một nhà nhưng có nhiều thế phần, nếu có nhiều gia trưởng. Anh em chia nhau ở từng khu vực riêng.

* Trang 203 *
device

Cây. (1) Một cây là bảy cung. Cung pháp nước Giá-ma-lê (2) trung bình dài bốn khủy tay.
Nếu tỳ-kheo nơi a-lan-nhã có thôn, để y trong khoảng tám cây, ngủ chỗ khác, bình minh chưa xuất hiện. Không xả y, tay không nắm y, hoặc không đến chỗ đá ném tới, khi bình minh xuất hiện, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Trừ ba y, lìa các y khác, đột-kiết-la.
Y xả đọa này nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả biệt chúng, không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, đương sự nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa quỳ gối, chấp tay,[604b] thưa như vậy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là..., đã lìa y ngủ, phạm xả đọa. Nay, tôi xả cho Tăng.”
Phạm nhân xả rồi phải sám hối. Vị thọ sám hối phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., lìa y ngủ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sám hối cho vị tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Bạch như vậy rồi, sau mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm nhân rằng:
“Hãy tự trách tâm ông!”
Phạm nhân trả lời:
“Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này, liền bạch nhị yết-ma. Thể
_________________________
(1)  Mahāvagga, Vin.i.111: 7 abhantara (a-bàn-đà). Khoảng cách giữa 2 cây là 1 abhantara.
(2)  Căn bản 17, tr.714c21: theo phép trồng xoài của Sanh Văn bà-la-môn (Pāli. Jaussoṇī).

* Trang 204 *
device

thức trao lại y như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên, tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., lìa y ngủ, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo... Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., lìa y ngủ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo tên... Các trưởng lão chấp thuận,
Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo... kia thì im lặng. Ai không đồng ý xin nói.
“Tăng đã chấp thuận trao y cho tỳ-kheo... kia rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu ở trong Tăng xả y rồi, mà không hoàn lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, có người nói: đừng hoàn, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,(1) hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: đã được Tăng tác yết-ma. Khi bình minh chưa xuất hiện, tay nắm y, hoặc cả y, hoặc đến chỗ đá quăng tới, hoặc tưởng bị cưỡng đoạt, hoặc tưởng bị mất, hoặc tưởng bị cháy, hoặc tưởng bị nước trôi, hoặc tưởng bị hư hoại. Nếu đường thủy bị đứt đoạn, đường bộ bị hiểm nạn, hoặc bị giặc cướp, hoặc nạn ác thú, hoặc nước lên lớn, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không xả y, tay không nắm tới y, không đến chỗ đá quăng tới thì không phạm.
_______________
(1) Xem cht. Ch Ni-tát-kỳ 1 trên.

* Trang 205 *
device

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
III. CHỜ Y MỘT THÁNG (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, [604c] có tỳ-kheo, mà y tăng-già-lê bị cũ rách hư hoại, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã vì các tỳ-kheo kết giới: ‘Y đã xong, y ca-thi-na đã xả, cho phép chứa y dư trong mười ngày. Chứa
quá hạn định, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Song, tăng-già-lê này của ta bị cũ, hư mục, trong vòng mười ngày không thể may xong. Bây giờ, ta nên như thế nào?” Vị ấy liền nói với tỳ-kheo đồng tâm ý rằng:
“Lành thay! Đại đức vì tôi bạch lên đức Thế Tôn. Ngài dạy thế nào tôi sẽ phụng hành thế ấy.”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo và bảo:
“Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo được chứa y dư, vì chờ cho đủ.”
Nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn cho phép chứa y dư vì chờ cho đủ; họ có y phấn tảo và các loại y khác, cùng loại mà chưa đủ, liền lấy trong đó y phấn tảo giặt và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem đến gởi các tỳ-kheo thân hữu rồi du hành trong nhân gian. Vì họ đi lâu quá không trở lại, tỳ-kheo nhận gởi sợ y ẩm ướt đem phơi. Các tỳ-kheo thấy, hỏi: “Thế Tôn đã chế giới, cho phép chứa ba y, không được quá. Y này của ai?”
Tỳ-kheo nhận gởi trả lời: “Y này là của nhóm sáu tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo nói: ‘Đức Thế Tôn chế giới, cho phép được chứa y dư cho đến khi nào có đủ.’ Họ có y phấn tảo và các loại y khác, cùng
_____________________
(1)  Pāli: Nissaggiya 3, akālacīvaram uppajjeyya. Vin.iii. 202.

* Trang 206 *
device

loại mà chưa đủ, nên lấy trong đó y phấn tảo, giặt và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tôi để du hành trong nhân gian. Sợ hư mục nên tôi đem hong phơi.”
Lúc ấy, trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Tại sao nói đức Thế Tôn cho phép chứa y dư vì chờ cho đủ, mà vì cùng loại y chưa đủ, lấy trong đó y phấn tảo giặt và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhân gian?”
Các tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này, nhóm sáu tỳ-kheo! Tại sao Thế Tôn cho phép tỳ-kheo chứa y dư vì chờ cho đủ, mà vì cùng loại y [605a1] chưa đủ lại lấy trong đó y phấn tảo giặt nhuộm, bốn đầu điểm tác tịnh, đem gởi cho tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhân gian?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào y đã đủ, y ca-thi-na đã xả, nếu tỳ-kheo được y vải phi thời, cần thì nhận; nhận rồi mau chóng may thành y; đủ thì tốt, không đủ thì được phép chứa một tháng vì chờ cho đủ; nếu chứa quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y đã xong: đủ ba y và y ca-thi-na đã xả.

* Trang 207 *
device

Thời: không thọ y ca-thi-na thì sau lễ tự tứ một tháng; có thọ y ca-thi-na thì sau lễ tự tứ năm tháng.
Phi thời: nếu quá thời hạn của y này.
Y: có mười loại như trên đã nói.
Nếu trong mười ngày, cùng loại y, (1)  đủ thì nên cắt rọc ra, lược may thành y. Hoặc tác pháp tịnh thí hoặc khiến cho người. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không gởi đi cho người, ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, tùy theo số y (vải) nhiều hay ít, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu y cùng loại không đủ, đến ngày thứ mười một, y cùng loại mới đủ, trong ngày liền phải cắt rọc, lược may thành y. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không sai cho người, đến ngày thứ mười hai, khi bình minh xuất hiện, tùy theo số y nhiều hay ít, đều phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Như vậy, cho đến ngày thứ hai mươi chín cũng thế. Nếu cùng loại y không đủ, ngày ba mươi đủ hay không đủ, cùng loại hay không cùng loại, trong ngày đó cũng phải cắt rọc, lược may thành y, hoặc tịnh thí, hoặc sai cho người. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không sai cho người, đến ngày thứ ba mươi mốt, khi bình minh xuất hiện, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giầy dép đến lễ Thượng tọa, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay, bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có y như vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm [605b] xả đọa. Nay tôi xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Người nhận sám hối phải tác bạch:
_______________
(1)  Y, ở đây đồng nghĩa như chữ vải. Xem cht. Ch. Ni-tát-kỳ ba-dật-đề 1 trước.

* Trang 208 *
device

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có y như vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi, sau đó mới nhận sự sám hối. Khi nhận sự sám hối nên nói với phạm nhân rằng:
“Hãy tự trách tâm ông!”
Phạm nhân đáp: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này ngay, bằng pháp bạch nhị yết ma như sau: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như vậy, chứa quá ngày như vậy, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên… Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu trong Tăng, xả y rồi, không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, nếu có người bảo “đừng trả”, thì người ấy phạm đột-kiết la.
Nếu không trả lại, chuyển tịnh thí, hoặc khiến cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc luôn luôn mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.

* Trang 209 *
device

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: chứa trong vòng mười ngày. Y cùng loại đủ, cắt rọc, lược may thành y. Cùng loại y không đủ, đến ngày thứ mười một cùng loại y đủ, đã được cắt rọc, lược may thành y.
Hoặc tịnh thí, sai cho người. Cho đến ngày hai mươi chín cũng như vậy. Ngày thứ ba mươi đủ hay không đủ, cùng loại hay không đồng loại, nội nhật phải cắt rọc, lược may thành y, hoặc tịnh thí, sai cho người, thì không phạm.
Tưởng bị đoạt, (1) tưởng bị mất, tưởng bị cháy, tưởng bị nước trôi mà không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không sai cho người thì không phạm. Nếu y bị đoạt, y bị mất, [605c] y bị cháy, y bị nước trôi, mà lấy (y dư) mặc, hoặc người cho mặc, hoặc làm chăn thì không phạm. Nếu tỳ-kheo nhận gởi y, mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, bị giặc, hoặc bị ác thú hại, hoặc bị nước trôi không cắt rọc, không lược, không may thành y, không sai cho người thì không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
IV. NHẬN Y PHI THÂN LÝ NI (2)
A. DUYÊN KHỞI
1. Liên hoa sắc
Một thời, đức Phật ở trong vườn trúc Ca-lan-đà, tại thành La-duyệt. Bấy giờ, có người thiếu nữ tên là Liên Hoa Sắc, (3) cha mẹ nàng gả
__________________
(1) Trong số ba y đang thọ trì, có cái nào tưởng bị cướp, có thể lấy y dư ra dùng (để thế vào y tưởng bị cướp).
(2)  Ngũ phần tr.25a8; Tăng kỳ tr.299b4; Thập tụng 6, tr.42a5. Căn bản 19 (tr.722b14): ni-tát-kỳ 5. Pāli, nissaggtiya 5, Cīvarapaigganhaa, Vin. iii. 207ff.
(3) Liên Hoa Sắc 蓮華色. Tăng kỳ 8, Ưu-bát-la tỳ-kheo-ni. Pāli, Uppalavaṇṇā.

* Trang 210 *
device

nàng cho người Uất-thiền. (1)  Sau đó, nàng mang thai; khi sắp sinh, trở về nhà cha mẹ. Nàng sinh được một đứa con gái, dung mạo xinh đẹp.
Liên Hoa Sắc cùng người con gái ở chung một nhà. Trong thời gian này, chồng của Liên Hoa Sắc tư thông cùng với mẹ của Liên Hoa Sắc, bị đứa tớ gái của Liên Hoa Sắc bắt gặp, và thưa lại với Liên Hoa Sắc việc ấy. Liên Hoa Sắc nghe sự việc như vậy, thầm nghĩ và
than rằng: “Sao con gái lại cùng với mẹ lấy chung một chồng. Thân người con gái để làm gì?” Liên Hoa Sắc đành bỏ hài nhi đang bồng trong tay, cải trang ra đi, đến nơi thành Ba-la-nại, đứng ngoài cửa thành. Thân hình đầy bụi bặm, và gót chân bị rách. Lúc đó, trong
thành có ông trưởng giả, vợ ông vừa mạng chung, cưỡi xe ra khỏi thành Ba-la-nại, để đến công viên ngắm cảnh. Ông trưởng giả gặp Liên Hoa Sắc đang đứng bên ngoài cửa thành, dung mạo xinh đẹp mà thân hình lại đầy bụi bặm, gót chân rách nát, nên để ý Liên Hoa
Sắc. Ông liền đến trước người nữ, hỏi:
“Cô thuộc về ai?”
Liên Hoa Sắc trả lời: “Tôi không thuộc về ai cả.”
Ông trưởng giả lại hỏi:
“Nếu chưa thuộc về ai thì có thể vì tôi làm vợ được không?”
Liên Hoa Sắc trả lời: “Cũng được.”
Ông trưởng giả liền bảo lên xe, chở về nhà làm vợ.
Sau một thời gian, ông trưởng giả, chồng của Liên Hoa Sắc, tập trung nhiều của quý từ Ba-la-nại đến nước Uất-thiền để buôn bán. Nơi đây, lúc bấy giờ gặp ngày đại hội, đồng nữ trong nước đến vui chơi. Người con gái của Liên Hoa Sắc, trang sức đẹp đẽ, cũng ở
trong số đông những người nữ đó. Thấy người con gái này xinh
___________________
(1)  Uất-thiền quốc 鬱禪國. Ngũ phần 5, Ưu-thiện-na ấp 優善那邑. Chuyện kể trong đây, Tứ phần Ngũ phần gần giống nhau. Nhưng không được kể trong Pāli. Pāli: Uppalavaṇṇā.

* Trang 211 *
device

đẹp, nên ông trưởng giả để ý, liền hỏi người bên cạnh:
“Cô gái này là ai?”
Đáp rằng: “Cô gái này tên như vậy.”
Lại hỏi: “Nhà cô ở đâu?”
Đáp rằng: “Nhà cô ở tại chỗ ấy.”
Lại hỏi: “Đường gì?”
Đáp rằng: “Đường tên như vậy.”
Trưởng giả lại hỏi: “Cửa ngõ của nhà xoay về hướng nào?”
Đáp: “Cửa ngõ của nhà xoay về hướng ấy.”
Ông trưởng giả liền đến nhà đó, hỏi người cha rằng:
“Cô gái này là con của ông phải không?”
Đáp rằng: “Con gái của tôi đó.”
Lại hỏi: “Ông có thể gả cho tôi không?”
Đáp rằng: “Vâng, có thể được.”
Ông trưởng giả hỏi: “Ông cần đòi bao nhiêu của?”
[606a1] Người cha của cô gái trả lời: “Trao cho tôi trăm ngàn lượng vàng.”
Ông trưởng giả bèn trao đủ số. Cha của cô gái trang điểm cho con mình.
Từ nước Uất-thiền họ trở về Ba-la-nại. Liên Hoa Sắc nhìn thấy liền có cảm tưởng như đang nhìn đứa con gái mình. Cô gái này thấy Liên Hoa Sắc cũng với ý nghĩ là mẹ mình. Hai người gần gũi nhau thời gian lâu, Liên Hoa Sắc chải đầu cho người nữ kia và hỏi rằng:
“Cô em là người nước nào? Con gái nhà ai?”
Người nữ kia trả lời: “Em là người nước Uất-thiền.”
Liên Hoa Sắc lại hỏi: “Nhà ở chỗ nào? Đường nào? Cửa ngõ xoay về hướng nào? Cha mẹ là ai?”
Người nữ kia trả lời: “Nhà của em ở chỗ nọ, chỗ kia, vân vân. Cha em tên như vậy như vậy.”

* Trang 212 *
device

Liên Hoa Sắc lại hỏi: “Mẹ của em họ gì?”
Nữ đáp rằng: “Em không biết mẹ. Chỉ nghe người ta nói mẹ tên là
Liên Hoa Sắc. Bỏ nhà đi lúc em còn nhỏ.”
Lúc ấy, Liên Hoa Sắc trong lòng tự nghĩ rằng: “Đây chính là con của ta.” Nàng tự oán trách mình, “Ôi! Thân người nữ để làm gì?
Tại sao ngày nay, mẹ và con lại cùng lấy một chồng?” Liên Hoa Sắc liền bỏ nhà ra đi.
Khi Liên Hoa Sắc đến vườn Trúc khu Ca-lan-đà nơi thành La duyệt, lúc bấy giờ đức Thế Tôn đang nói pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Từ xa thấy đức Thế Tôn tướng mạo đoan chánh, các căn tịch tịnh, đạt được chế ngự tối thượng như con voi chúa đã thuần, như nước lóng trong, không có bụi dơ, Liên Hoa Sắc phát tâm hoan hỷ, liền đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự nói pháp vi diệu, nói về bố thí, về trì giới, về sinh thiên và chê trách dục là bất tịnh; tán thán sự xuất ly.
Đức Thế Tôn nói về bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Tận, Đạo, phân biệt đầy đủ.
Bấy giờ, từ chỗ ngồi, Liên Hoa Sắc đạt được pháp nhãn tịnh. Ví như tấm lụa trắng mới và sạch, không có bụi bẩn, dễ nhuộm màu sắc. Liên Hoa Sắc đặng pháp thanh tịnh cũng lại như vậy; thấy pháp, đắc pháp, đắc thành quả chứng, bèn bước lên phía trước, bạch Phật rằng:
“Nguyện đức Thế Tôn cho con xuất gia, ở trong pháp của Phật, tu hạnh thanh tịnh.”
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Ông dẫn Liên Hoa Sắc này đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề, cho phép cô xuất gia.”
Tôn giả A-nan liền vâng lời đức Phật dạy, dẫn Liên Hoa Sắc đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề nói rằng:
“Đức Thế Tôn có dạy, bà hãy độ người phụ nữ này xuất gia.”

* Trang 213 *
device

Liên Hoa Sắc liền được cho phép xuất gia.
Một thời gian sau đó, Liên Hoa Sắc nhờ nỗ lực tư duy ngày càng tinh tấn, nên chứng đặng A-la-hán, đạt được đại thần lực. (1)
Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo-ni trụ nơi chỗ không nhàn, (2)  nhưng Liên Hoa Sắc tỳ-kheo-ni ngồi riêng trong một khu rừng khác (3) tư duy. [606b] Nơi trú xứ của Liên Hoa Sắc, lại có tên đầu lĩnh của bọn cướp thường ở tại đó. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chấp trì oai
nghi lễ tiết, khoan thai, nên tên đầu lĩnh giặc thấy vậy liền sinh thiện tâm.
Thời gian sau đó, tướng giặc bắt được nhiều thịt heo. Ăn xong còn dư, gói lại đem treo trên nhánh cây và nói: “Trong rừng này, nếu có sa-môn, bà-la-môn nào có đại thần lực thì lấy đem đi.” Tuy nói như vậy, nhưng tâm thì vì tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc.
Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc nhờ thiên nhĩ nghe, thiên nhãn thanh tịnh thấy thịt heo được gói trong tấm lụa trắng treo lên nhánh cây. Sáng ngày nói với thức-xoa-ma-na, sa-di-ni rằng:
“Các con đến nơi chỗ đó. Trên nhánh cây, có cái gói bằng lụa trắng, trong đó có thịt heo. Lấy mang về.”
Cô ấy liền đến lấy về, đưa cho tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc. Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc bảo nấu, rồi đến giờ ăn, tự tay mình đem lên trên núi Kỳ-xà-quật, dâng lên cúng dường các tỳ-kheo Thượng tọa.
Bấy giờ, có một tỳ-kheo mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách vá chằm. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc thấy vậy, phát tâm từ mẫn, liền hỏi vị tỳ-
__________________
(1)  Trong các tài liệu Pāli, Uppalavaṇṇā Therī nổi tiếng về bốn biện tài vô ngại (paisambhidā) và biến hoá thần thông (iddhivikubbana).
(2)  Không nhàn xứ 空閑處. Rừng hay a-lan-nhã. Lúc này Phật chưa qui định tỳ-kheo-ni không được sống trong rừng (ni bất trụ lan-nhã).
(3)  Ngũ phần 4, tr.25b29: trong rừng An-đà viên. Tại đây, một người bà-la-môn lẻn vào thất của Liên Hoa Sắc, cưỡng hiếp lúc bà đang ngủ. Giật mình thức dậy, bà vận thần thông bay đi. Người bà-la-môn rơi từ trên giường xuống địa ngục. Pāli: rừng Andhavana.

* Trang 214 *
device

kheo rằng: “Thưa Đại đức, sao ngài mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách đến thế?”
Vị tỳ-kheo ấy trả lời:
“Đại tỷ, đây là pháp phải diệt tận, nên tệ hại như vậy.”
Lúc bấy giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc đang khoác chiếc tăng-già-lê quí giá, nên thưa với vị tỳ-kheo ấy rằng:
“Thưa Đại đức, con xin cúng chiếc y này cho Đại đức. Đại đức cho con xin chiếc y hiện Đại đức đang mặc có được không?” Vị Tỳ-kheo ấy trả lời: “Được.”
Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc liền cởi y tăng-già-lê trao cho tỳ-kheo và lấy chiếc y cũ rách của tỳ-kheo mặc vào. Sau đó, Liên Hoa Sắc mặc chiếc y cũ rách này đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà cố hỏi Liên Hoa Sắc:
“Tại sao cô mặc chiếc y cũ rách đến thế?”
Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc liền đem nhân duyên trên bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn bảo:
“Này Liên Hoa Sắc, cô không nên làm như vậy. Như lai cho phép cô chứa giữ năm y nguyên vẹn bền chắc. (1)  Ngoài ra còn dư, mới tùy ý tịnh thí hoặc cho người. Tại sao vậy? Vì người nữ mặc y phục thượng hạng còn chưa tốt, huống chi là mặc y xấu.”
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà cố hỏi tỳ-kheo kia rằng:
“Thật sự ông có nhận y từ tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chăng?”
Vị tỳ-kheo kia thưa: “Bạch đức Thế Tôn đúng như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo kia:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
_________________
(1)  Tỳ-kheo-ni không được bận y rách, và phải đủ 5 y: ngoài 3 y như tỳ-kheo, còn có thêm tăng-kỳ-chi (Pāli: samkacchika, yếm che ngực) và áo tắm.

* Trang 215 *
device

thuận, làm việc không nên làm. Sao lại nhận y từ tỳ-kheo-ni?”
Quở trách rồi, đức Thế Tôn bảo [606c] các tỳ-kheo:
“Người này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vậy:
Tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni, (1)  ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
2. Những ngoại lệ
Khi đức Thế Tôn đã vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, các tỳ-kheo đều sợ nên cẩn thận không dám nhận lấy y từ nơi tỳ-kheo-ni thân quyến. Đức Phật dạy:
“Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni thân quyến. Tại sao vậy? Nếu không phải thân quyến thì không thể trù lượng được là nên nhận hay không nên nhận; hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc cũ, hoặc mới. Nếu là thân quyến thì trù lượng được, biết họ có khả năng hay không, nên nhận không nên nhận, hoặc tốt, hoặc xấu,
hoặc cũ, hoặc mới.”
Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
“Tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như trên rồi, lúc bấy giờ trong Kỳ-hoàn hai bộ Tăng (2) nhận được y cúng dường, cùng chia.
Khi ấy, có tỳ-kheo nhận nhầm y của tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo-ni nhận nhầm y của tỳ-kheo. Tỳ-kheo-ni mới đem y đến trong Tăng-già-lam, thưa với tỳ-kheo rằng:
“Tôi đem y này đến trao cho Đại đức, Đại đức trao y của Đại đức cho tôi.”
__________________
(1)  Pāli: bhikkhuniyā hatthato cīvara paigganheyya, nhận y từ chính tay tỳ-kheo-ni.
(2)  Hai bộ Tăng: tỳ-kheo Tăng và tỳ-kheo-ni Tăng.

* Trang 216 *
device

Các tỳ-kheo bảo: “Đức Phật không cho phép chúng tôi thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
Từ nay trở đi, cho phép trao đổi y. Muốn nói giới phải nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân
quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Chẳng phải thân quyến: (1) chẳng phải cha mẹ thân quyến cho đến bảy đời không thân.
Thân quyến: (2) cha mẹ thân quyến cho đến bảy đời thân quyến.
Y: có mười loại như đã nói ở trên.
Đổi chác: (3) dùng y đổi y, dùng y đổi phi y, hoặc dùng phi y đổi y, hoặc dùng kim đổi lấy ống đồng, hoặc dao, hoặc chỉ... cho đến một viên thuốc để đổi y.
Tỳ-kheo nào thọ nhận y từ nơi tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Vật ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, [607a1] trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối, chấp tay, tác bạch:
___________________
(1)  Thân lý 親里. Pāli: aññātikāya.
(2)  Căn bản 18: thân tộc; giải thích: cha mẹ của hai người đều có quan hệ thân tộc từ bảy đời.
(3)  Hán: mậu dịch 貿易. Pāli: pārivattaka, trao đổi, giao dịch, không hàm ý buôn bán đổi chác. Được phép trao đổi với nhau trong năm chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na. Cf. Vin.iii. 209.

* Trang 217 *
device

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết người thọ sám nên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là...., đã thọnhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này tên là... Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm nhân rằng:
“Hãy tự trách tâm ông!”
Phạm nhân đáp:
“Xin vâng!”
Tăng nên trả lại y cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma để trao. Tăng nên sai một Tỳ-kheo có khả năng tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đã thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác
bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Tăng nay đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo này tên là... Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đem y này trải lại cho tỳ-kheo có tên này thì im lặng. Ai không đồng ý xin nói.
“Tăng đã chấp thuận trao y cho tỳ-kheo kia tên là... rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

* Trang 218 *
device

Trước Tăng, đã xả y rồi, mà Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả y, nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự không phạm: thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni thân quyến, hoặc đổi chác. Vì Tăng, vì Phật đồ(1) mà lấy thì không phạm.
Người không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
V. NHỜ PHI THÂN LÝ NI GIẶT Y CŨ (2)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Ca-lưu-đà-di có nhan sắc xinh đẹp. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà cũng lại xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di để ý Thâu-lan-nan-đà. Thâu-lan-nan-đà cũng để ý Ca-lưu-đà-di. (3)
Đến giờ khất thực, Ca-lưu-đà-di [607b] khoác y, bưng bát, đến chỗ Thâu-lan-nan-đà, ngồi ngay trước mặt, để lộ hình. Tỳ-kheo-ni cũng lại ngồi để lộ hình. Hai bên nhìn nhau với dục tâm. Một lúc sau, Ca-lưu-đà-di xuất đồ bất tịnh, làm bẩn an-đà-hội. Thâu-lan-nan-đà thấy vậy nói rằng:
“Đại đức đưa cái y đây, tôi giặt cho.”
Ca-lưu-đà-di liền thay đưa cho. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà nhận được y, đến chỗ vắng dùng ngón tay lấy đồ bất tịnh cho vào miệng,
_______________
(1)  Phật đồ, tức Phật tháp.
(2)  Ngũ phần tr.26c14; Tăng kỳ 9 tr.300b22; Thập tụng tr.43a26. Căn bản tr.716a23: ni-tát-kỳ 4. Pāli: nissaggiya 4, puacīvara-dhovāpa. Vin. iii. 205ff.
(3) Pāli, ibi,., Tỳ-kheo-ni, không nói tên, vợ cũ của Udāyin.

* Trang 219 *
device

rồi lại lấy một ít cho vào trong đường tiểu tiện, sau đó có thai. Các tỳ-kheo-ni thấy vậy nói rằng:
“Cô không biết hổ thẹn, đã làm hạnh bất tịnh.”
Thâu-lan-nan-đà nói: “Đại tỷ! Tôi không phải không có hổ thẹn. Tôi không phạm tịnh hạnh.”
Các tỳ-kheo-ni nói: “Nếu cô không phạm tịnh hạnh thì tại sao có thai? Các tỳ-kheo-ni không phạm tịnh hạnh sao họ không có thai?”
Bấy giờ, Thâu-lan-nan-đà mới đem sự việc đã xảy ra trình bày rõ ràng với các tỳ-kheo-ni. Trong số các tỳ-kheo-ni nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, vì nhân duyên này hiềm trách Ca-lưu-đà-di: “Sao Tôn giả lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Lúc bấy giờ, đức Phật vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Có thật ông đã nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy chăng?”
Ca-lưu-đà-di thừa nhận là có.
Đức Phật dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy?”
Quở trách xong, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vậy:
“Tỳ-kheo nào, khiến tỳ-kheo-ni giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

* Trang 220 *
device

Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo chế giới như vậy rồi, sau đó các tỳ-kheo đều sợ, cẩn thận không dám khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập. Đức Phật dạy:
“Cho phép các tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập...” Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến [607c] giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Chẳng phải thân quyến: như trên đã giải.
Thân quyến: cũng như vậy.
Y cũ: là chỉ cần một lần mặc qua.
Y: nói mười loại như trên.
Nếu tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, (tỳ-kheo) phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Bảo giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni chỉ giặt nhuộm mà không đập, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một đột-kiết-la. (1)
Bảo giặt, nhuộm, đập mà cô ni giặt, không nhuộm mà đập, phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một đột-kiết-la.
Bảo giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni không giặt mà nhuộm đập, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một đột-kiết-la.
Bảo giặt, nhuộm, đập, nhưng ni không giặt, không nhuộm, không đập, (tỳ-kheo) phạm ba đột-kiết-la.
Nếu tỳ-kheo khiến thức-xoa-ma-na, sa-di-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm, đập y cũ, (tỳ-kheo) phạm đột-kiết-la.
_________________
(1)  Vin. iii. 307: phi thân lý, tương phi thân lý, nhờ nhuộm đập hay nhuộm giặt (2 việc), phạm 1 ni-tát-kỳ, 1 đột-kiết-la; nếu nhờ làm luôn cả 3 việc, phạm 1 ni-tátkỳ, 2 đột-kiết-la. Không có trường hợp phạm 2 ni-tát-kỳ.

* Trang 221 *
device

Nếu bảo tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y mới, (tỳ-kheo) phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm đột-kiếtla.
Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu sát đất, chấp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, Tỳ-kheo tên là..., đã khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết vị thọ sám phải bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đã khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên là... Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi sau đó mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm nhân:
“Hãy tự trách tâm ông!”
Phạm nhân đáp: “Xin vâng!”
Tăng nên trả y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng sai một vị có thể tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng chấp thuận, đem y này trả lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này hoàn lại cho [608a1] tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị

* Trang 222 *
device

nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã đồng ý trao y cho tỳ-kheo tên là... rồi. Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Trong Tăng vị tỳ-kheo này đã xả y rồi, nếu Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả lại, có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không trả lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc đốt, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc mặc luôn cho rách, đều phạm đột kiết-la. Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự không phạm: trao y cũ cho ni thân quyến giặt, nhuộm, đập; hoặc vì người bệnh mà giặt, nhuộm, đập; hoặc vì Tăng, Phật đồ giặt nhuộm đập; hoặc mượn y người khác giặt, nhuộm, đập thì không phạm. Người không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não bức bách. (1)
VI. XIN Y NƠI NHÀ PHI THÂN LÝ (2)
A. DUYÊN KHỞI
1. Xin y từ phi thân lý
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một gia chủ, (3) vào buổi sáng, thắng cỗ xe, cùng đoàn tùy tùng đến công viên, rồi quay xe trở lại tinh xá Kỳ-hoàn; để xe bên ngoài cửa ngõ Kỳ-hoàn, đi bộ
vào gặp Bạt-nan-đà Thích tử; lễ kính, hỏi chào. Rồi ngồi phía trước mặt mà nghe pháp. Bạt-nan-đà Thích Tử là người biện tài, trí tuệ, nói pháp khéo léo. Ông nói pháp cho gia chủ này nghe dưới nhiều
________________
(1)  Bản Hán, hết quyển 6.
(2)  Ngũ phần tr.27a26; Tăng kỳ tr.301c3; Thập tụng tr.44a29; Căn bản 19 tr.728a22. Vin. iii. 210. niss. 6 aññātakaviññatti.
(3) Pāli: seṭṭhiputta, con trai của một nhà phú hộ.

* Trang 223 *
device

hình thức khác nhau, khai hóa, khuyến khích, khiến gia chủ sinh lòng hoan hỷ. Gia chủ nghe pháp rồi, liền nói với Bạt-nan-đà rằng:
“Tôn giả cần gì, xin cho biết.”
Bạt-nan-đà trả lời:
“Không cần gì cả. Sự thỉnh cầu này cũng là sự cúng dường rồi.”
Gia chủ lại nói:
“Xin Ngài cứ nói. Nếu cần dùng thứ gì, không nên ái ngại.”
Bạt-nan-đà nói:
“Thôi! Thôi! Không phiền hỏi nữa. [608b] Giả sử tôi có điều cần thì gia chủ cũng không thể cho được đâu.”
Gia chủ lại nói:
“Xin ngài cứ nói. Tôi sẽ theo sự cần dùng mà cung cấp cho.”
Lúc ấy, gia chủ này mặc chiếc áo lụa trắng, rộng dài, quý giá. Bạt-nan-đà nói:
“Hãy cho tôi chiếc y ông đang mặc. Tôi cần chiếc y đó.”
Gia chủ trả lời:
“Sáng mai đến nhà, tôi sẽ trao cho ngài.”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi đã nói với ông trước rồi, ‘Giả sử tôi có điều cần thì gia chủ cũng không thể cho được đâu.’ Điều đó bây giờ đúng như tôi đã nói.”
Gia chủ thưa:
“Tôi cho ngài chứ chẳng phải là không cho. Nhưng ngày mai hãy đến, tôi sẽ cho y này. Hoặc cho cái khác còn tốt hơn nữa. Bây giờ, nếu cởi chiếc y này dâng cho ngài thì cũng được, nhưng tôi không thể không có y mà vào thành Xá-vệ.”
Bạt-nan-đà nói: “Thôi! Thôi! Tôi không cần nữa.”
Khi ấy, gia chủ nổi giận, không vui, liền cởi y xếp lại trao cho Bạt-

* Trang 224 *
device

nan-đà và nói rằng: “Tôi đã thưa với Đại đức là ngày mai hãy đến, tôi sẽ cho y này,
hoặc cho cái khác còn tốt hơn nữa. Nhưng Đại đức không tin, khiến cho bây giờ tôi chỉ quấn một chiếc y (1)  mà vào thành Xá-vệ.”
Rồi, gia chủ ra khỏi tinh xá Kỳ-hoàn, lên xe, chỉ quấn một chiếc y mà vào thành. Người giữ cửa thấy vậy liền hỏi:
“Ông từ đâu về? Bị ai cướp y?”
Gia chủ bảo:
“Vừa bị giặc cướp trong Kỳ-hoàn.”
Lập tức người giữ cửa liền vớ ngay dao gậy, định đi đến Kỳ-hoàn.
Gia chủ nói:
“Thôi! Thôi! Khỏi phải đi.”
Người giữ cửa hỏi: “Tại sao vậy?”
Bấy giờ, gia chủ thuật rõ nhân duyên. Các cư sĩ nghe qua đều cơ hiềm rằng: “Sa-môn Thích tử mong cầu nhiều, không biết đủ, không biết hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy thì có chánh pháp gì? Sao lại đòi cho kỳ được chiếc áo mà gia chủ đang mặc trên thân? Đàn-việt cúng dường tuy không nhàm chán nhưng người thọ nhận phải biết đủ chứ!”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Sao thầy lại đòi cho kỳ được chiếc áo quý giá mà gia chủ đang mặc trên người?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn mới tập hợp các tỳ-kheo.
Ngài biết mà vẫn cố hỏi Bạt-nan-đà:
“Có thật ông đòi cho được chiếc áo mà gia chủ đang mặc trên người hay không?”
________________
(1) Tức chỉ còn quấn một chiếc xà-rông mà thôi, để mình trần.

* Trang 225 *
device

Bạt-nan-đà thưa: “Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà rằng:
“Việc làm của ông là sai quấy, [608c] chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại đòi xin cho kỳ được chiếc y mà gia chủ đang mặc trên mình?”
Đức Phật quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
“Bạt-nan-đà là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vậy:
“Tỳ-kheo nào, xin y nơi cư sĩ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, các tỳ-kheo đều sợ, cẩn thận không dám xin y nơi cư sĩ thân quyến. Đức Phật dạy:
“Các tỳ-kheo xin y nơi cư sĩ thân quyến, không phạm.”
Từ nay về sau muốn nói giới, nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo nào, xin y nơi cư sĩ chẳng phải thân quyến, nitát-kỳ ba-dật-đề.”
2. Tỳ-kheo bị cướp y
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, có số đông tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la hạ an cư xong, ngày mười lăm tự tứ rồi, ngày mười sáu mang y cầm bát đến chỗ đức Thế Tôn. Vì ban ngày nắng nóng, các tỳ-kheo không thể đi được, mới đi ban
đêm. Họ bị lạc vào đường dữ và gặp ổ cướp. Chúng vừa cướp đoạt được của người một số của cải lớn đem về đó. Bọn cướp gặp tỳ-kheo nơi đường dữ, bèn hỏi:
“Các ông đến đây tìm chúng tôi phải không?”
Các tỳ-kheo trả lời:
“Không phải chúng tôi đi tìm các ông. Chúng tôi vừa hạ an cư ở

* Trang 226 *
device

nước Câu-tát-la xong, ngày mười lăm tự tứ rồi, nên ngày mười sáu mang y cầm bát muốn đến gặp đức Thế Tôn. Từ đó đến đây. Ban ngày bị nắng nóng, chúng tôi đi không được; đi ban đêm mới bị lạc đường nên đến đây, chứ không phải đi tìm các ông.”
Bọn giặc hỏi: “Nếu các ông không đi tìm chúng tôi thì tại sao đi con đường này? Há không muốn hại chúng tôi sao?”
Chúng nói xong liền đánh các tỳ-kheo gần chết và cướp lấy y bát.
Các tỳ-kheo phải trần truồng mà đi; đến đứng ngoài cổng Kỳ-hoàn.
Các tỳ-kheo (trong Kỳ-hoàn) thấy vậy nói rằng:
“Quý vị là Ni-kiền Tử lõa hình, không được vào trong Kỳ-hoàn.”
Các tỳ-kheo kia nói rằng:
“Chúng tôi chẳng phải Ni-kiền Tử. Mà là sa-môn Thích tử.”
Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly đang kinh hành cách đó không xa, các tỳ-kheo đến hỏi Tôn giả rằng:
“Hiện có một đám người trần truồng đang đứng ngoài cửa ngõ. Chúng tôi nói, ‘Các Tôn giả là Ni-kiền Tử, chớ vào tinh xá Kỳ-hoàn.’ Những người ấy nói, ‘Chúng tôi không phải Ni-kiền-tử mà là sa-môn Thích tử.’”
Rồi các tỳ-kheo nói với Tôn giả [609a1] Ưu-ba-ly rằng:
“Tôn giả nên ra xem, coi thử họ là ai?”
Tôn giả liền ra ngoài cổng, hỏi:
“Quý vị là ai?”
Đáp rằng: “Chúng tôi là sa-môn Thích tử.”
Lại hỏi: “Quý vị bao nhiêu tuổi?”
Đáp rằng: “Chúng tôi chừng ấy tuổi.”
Lại hỏi: “Quý vị thọ giới khi nào?”
Đáp rằng: “Chúng tôi thọ giới năm ấy.”
Lại hỏi: “Hòa thượng của quý vị là ai?”
Đáp rằng: “Hòa thượng của chúng tôi hiệu là như vậy.”

* Trang 227 *
device

“Tại sao quý vị lại trần truồng?”
Các tỳ-kheo liền trình bày đầy đủ nhân duyên đã xảy ra. Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly trở lại chỗ các tỳ-kheo nói:
“Những vị đó chẳng phải là Ni-kiền Tử mà là sa-môn Thích tử.”
Rồi Tôn giả Ưu-ba-ly bảo các tỳ-kheo đó rằng: “Các thầy nên tạm mượn y để mặc. Chớ nên trần truồng đến gặp đức Thế Tôn.”
Các tỳ-kheo liền mượn y mà khoác vào, rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn an ủi và hỏi các tỳ-kheo:
“Các ngươi thân được an ổn không? Đi đứng có được hòa hợp an lạc không? Không vì sự ăn uống mà khổ chăng?”
Các tỳ-kheo thưa: “Bạch Đại đức, chúng con thân được an ổn. Đi đứng có được hòa hợp an lạc. Không vì sự ăn uống mà khổ. Chúng con ở nước Câu-tát-la an cư xong, tự tứ rồi, mang y cầm bát, muốn đến thăm hỏi đức Thế Tôn. Ban ngày vì nắng nóng không đi được, đi ban đêm nên bị lạc đường, gặp bọn ăn cướp...” Trình rõ nhân duyên đầy đủ như trên với đức Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo rằng:
“Các ông làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Các ông là người ngu si, tại sao trần truồng mà đi? Nếu trần truồng mà đi, phạm đột-kiết-la. Nếu gặp trường hợp như vậy nên dùng cỏ mềm hay lá cây che mình, đến chùa gần nhất. Trước hết, có y dư  (1) thì nên lấy để mặc. Nếu không có thì hỏi các tỳ-kheo quen biết, có y dư nên mượn để mặc. Nếu bạn quen biết không có y, nên hỏi trong Tăng có y nào có thể chia. Nếu có thì
chia, còn không có thì nên hỏi có ngọa cụ hay không? Nếu có ngọa
____________
(1) Hán: trường y (tiếng hoa), xem ni-tát-kỳ 1.

* Trang 228 *
device

cụ thì đưa, nếu không có đưa cho thì tự mình mở kho xem có chăn màn, đồ trải đất, điệp, trích lấy, cắt thành y dùng để tự che thân, rồi
ra ngoài mà đi xin y.”
Khi ấy các tỳ-kheo cẩn thận, sợ không dám đem vật từ chỗ này đến chỗ khác. Đức Phật dạy: “Cho phép.”
Bấy giờ, tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, vì cẩn thận sợ không dám mặc y của Tăng. Đức Phật dạy:
“Được phép mặc.”
Các tỳ-kheo nhận được y rồi, không trả lại chỗ cũ y (mượn) của Tăng. Phật dạy: “Không nên như vậy. Nếu nhận được y (mới) rồi,
nên [609b] giặt, nhuộm, chằm vá (y mượn), an trí lại chỗ cũ. Nếu không an trí lại chỗ cũ thì như pháp mà trị.”
Bấy giờ, có tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, cẩn thận sợ không dám đến nơi cư sĩ, vợ cư sĩ không thân quyến xin y.
Đức Phật dạy: “Nếu y bị mất, y bị cướp, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi thì được phép đến nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không thân quyến xin y.”
Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề, trừ trường hợp đặc biệt. (1) Trường hợp đặc biệt là nếu tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi. (2)  Đây là trường hợp đặc biệt.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thân quyến, chẳng phải thân quyến: như trên đã giải.
________________________
(1)  Nguyên Hán: trừ dư thời 除餘時. Ngũ phần: trừ nhân duyên 除因緣. Pāli: aññatra samayā.
(2)  Pāli, giới văn: acchinnacīvaro vā, naṭṭacīvaro vā, y bị cướp và y bị hủy hoại. Phần giải thích nói, bị hủy hoại hoặc do lửa cháy, do nước cuốn, chuột mối gặm, hay sờn rách vì bận nhiều.

* Trang 229 *
device

Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng đã nói ở trước.
Y: có mười loại như trên đã trình bày.
Nếu tỳ-kheo nào xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề, trừ trường hợp đặc biệt.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng.
Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết người nhận sám hối phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi sau đó mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với tỳ-kheo kia rằng:
“Thầy nên tự trách tâm mình!”
Trả lời:
“Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho người này liền, bằng bạch nhị yết-ma như
vầy:
Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng

* Trang 230 *
device

chấp thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng đem y này hoàn lại cho [609c] tỳ-kheo này thì im lặng. Ai không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Phạm nhân xả y trong Tăng rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Khi hoàn y lại, có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không hoàn lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc mặc luôn cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: y bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, được phép xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến, hoặc xin nơi người đồng xuất gia, hoặc xin vì người khác, hay người khác xin vì mình. Hoặc không mong cầu mà được thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
VII. NHẬN Y QUÁ PHẦN (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại
__________________
(1)  Ngũ phần tr.27c22; Tăng kỳ tr.303a6; Thập tụng tr.45a24; Căn bản tr.729c28. Pāli, niss. 7, tatuttari, Vin.iii. 213.

* Trang 231 *
device

nước Xá-vệ. Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo đến tinh xá Kỳ-hoàn sau khi gặp bọn cướp cướp mất y.
Bấy giờ, có ưu-bà-tắc nghe có số đông tỳ-kheo đến tinh xá Kỳ-hoàn sau khi gặp bọn cướp cướp mất y, liền đem nhiều y tốt đến chỗ các tỳ-kheo, hỏi:
“Vừa rồi chúng con nghe có các tỳ-kheo bị mất y đến đây, là những vị nào?”
Các tỳ-kheo trả lời:
“Chính chúng tôi. Vậy hỏi có việc gì?”
Vị ưu-bà-tắc thưa:
“Chúng con nghe các tỳ-kheo gặp giặc cướp, cướp mất y, đã đến nơi Kỳ-hoàn này, nên đem những y này đến dâng cúng các Đại đức bị mất y. Xin các ngài tùy ý nhận.”
Các tỳ-kheo nói:
“Thôi! Thôi! Thỉnh cầu như thế đã là cúng dường rồi. Chúng tôi đã đủ ba y, khỏi phải nhận nữa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo nghe thế, nói với các tỳ-kheo rằng:
“Này các Đại đức, các ngài đủ ba y rồi, sao không nhận để cho chúng tôi, hay là cho người khác.”
Các cư sĩ đã vì các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến cúng. Các tỳ-kheo đủ ba y rồi lại nhận y của cư sĩ rồi cho nhóm sáu tỳ-kheo và người khác.
Bấy giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiền trách các tỳ-kheo: “Cư sĩ nơi Xá-vệ đã vì các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến cúng. Các vị đủ ba y rồi, tại sao lại lấy y của họ đem cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác?” Hiềm trách xong, tỳ-kheo thiểu dục đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem [610a1] nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo lại. Ngài biết mà vẫn cố hỏi:

* Trang 232 *
device

“Này các tỳ-kheo, có thật các ngươi đã đủ ba y mà nhận y của người, đem cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác không?”
Các tỳ-kheo thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo:
“Các ông làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Cư sĩ Xá-vệ đã vì các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến cúng, tại sao các ông đủ ba y rồi lại nhận y của họ để cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác?”
Quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, y bị mất, y bị cướp, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, nếu có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến, đem cho nhiều y yêu cầu tùy ý nhận. Tỳ-kheo ấy nên biết đủ mà nhận. Nếu nhận quá, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Chẳng phải thân quyến: cư sĩ, vợ cư sĩ.
Y: có mười loại cũng như trên đã nói.
Nếu mất một y, không nên nhận. Nếu mất hai y còn lại một y hai lớp, ba lớp, bốn lớp, thì nên tháo ra làm tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng hay an-đà-hội. Nếu ba y đều bị mất thì tỳ-kheo ấy nên tri túc mà nhận y. Tri túc có hai nghĩa: tri túc của người tại gia và tri túc của người xuất gia.
- Tri túc của người tại gia: tùy theo khả năng của người bạch y cho y mà nhận.
- Tri túc của người xuất gia: tức ba y vậy.

* Trang 233 *
device

Nếu cư sĩ yêu cầu tùy ý, (1)  cúng nhiều y cho tỳ-kheo, hoặc y mịn, hoặc y mỏng, hoặc y không bền chắc thì nên xếp lại hai lớp, ba lớp, bốn lớp để may. Nên may đường viền. Trên vai nên thếp một miếng để ngăn mồ hôi và làm nút móc. Nếu còn dư, hãy nói với cư sĩ, “Vải này còn dư, nên cắt làm gì?” Nếu người đàn-việt bảo, “Không phải tôi vì vấn đề mất y dâng cúng, mà chúng tôi do tự nguyện, xin được dâng cúng cho Đại đức.” Vị kia muốn nhận thì cứ nhận. Nếu tỳ-kheo nhận y quá mức tri túc, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc số đông, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả, không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, [610b] lễ Thượng tọa, quỳ gối hữu chấm đất, chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã nhận y quá mức tri túc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám hối trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đã nhận quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi sau đó mới thọ sám hối. Vị thọ sám nên nói với Tỳ-kheo phạm tội là:
“Thầy nên tự trách lòng mình!”
Tỳ-kheo phạm tội trả lời: “Xin vâng!”
__________________
(1) Tự tứ thỉnh 自恣請. Ngũ phần: (cư sĩ) muốn cúng cho nhiều y, tỳ-kheo chỉ nên nhận hai y. Tăng kỳ, Thập tụng: yêu cầu tùy ý, muốn cúng cho nhiều y, tỳ-kheo chỉ được phép nhận thượng y và hạ y. Pāli: abhihaṭṭhu pavāreyya, yêu cầu tùy y nhận; nhưng, tỳ-kheo mất cả 3 y, nhận 2 y; mất 2 y chỉ được nhận 1 y. Chỉ mất một y, hoàn toàn không được nhận.

* Trang 234 *
device

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã nhận quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã nhận quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Bây giờ, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo ấy. Các
trưởng lão nào đồng tâm ý đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo ấy thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Tăng đã chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo có tên là... rồi.”
“Tăng đã chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo có tên là... rồi vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo ấy đã xả y trong Tăng rồi mà Tăng không trả lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không hoàn lại mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố ý làm cho hư, hoặc đốt, hoặc mặc mãi cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu tri túc nhận, hoặc dưới mức tri túc, hoặc cư sĩ cúng nhiều y, hoặc mịn mỏng, không bền chắc xếp hai, ba, bốn lớp may thành y, đặt một miếng ngăn mồ hôi,(1)  may khâu hoàn. Nếu y (vải) còn dư, nói với cư sĩ: “Vải còn dư, làm gì?” Nếu cư sĩ nói: “Không phải tôi vì mất y mà cúng, do tôi tự nguyện muốn dâng cúng cho Đại đức.” Họ nói như vậy, tỳ-kheo cần thì nhận, không phạm.
___________________
(1) Ở trên vai.

* Trang 235 *
device

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
VIII. KHUYÊN CƯ SĨ TĂNG GIÁ Y (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ.
Bấy giờ, có một [610c] tỳ-kheo khất thực, đến giờ, đắp y, bưng bát vào thành Xá-vệ, lần lượt đi đến nhà cư sĩ xin thức ăn, nghe vợ chồng cư sĩ cùng bàn tính: “Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên đem số tiền để mua y với giá như vậy, mua y như vậy đem đến dâng cúng cho tỳ-kheo kia.” Tỳ-kheo khất thực rồi trở về Tăng-già-lam, gặp Bạt-nan-đà Thích tử, bảo rằng:
“Chưa có người nào trong giòng họ Cù-đàm có đại phước đức như ngài.”
Bạt-nan-đà Thích tử liền hỏi:
“Tôi có việc gì mà nói tôi là người phước đức?”
Vị tỳ-kheo khất thực trả lời: “Tôi vào trong thành khất thực, nghe vợ chồng cư sĩ cùng bàn tính như vầy, ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên đem số tiền để mua y với giá như vậy, mua y như vậy đem đến dâng cúng.’”
Bạt-nan-đà liền hỏi: “Có đúng như vậy hay chăng?”
Vị tỳ-kheo ấy trả lời: “Đúng như vậy.”
Bạt-nan-đà lại hỏi: “Nhà cư sĩ kia ở chỗ nào, cửa hướng nào?”
Tỳ-kheo khất thực trả lời:
“Nhà cư sĩ ấy ở chỗ đó, cửa ngõ xoay về hướng đó.”
Bạt-nan-đà liền nói với tỳ-kheo khất thực rằng:
_________________
(1)  Ngũ phần tr.28a18; Tăng kỳ tr.304b21; Thập tụng tr.45c5; Căn bản tr.731b15. Pāli, niss. 8, upakkhaa, Vin.iii. 213.

* Trang 236 *
device

“Vâng, người đó là bạn thân quen của tôi xưa kia, là đàn-việt thường cúng dường tôi, đúng như lời của thầy nói.”
Sáng sớm hôm sau, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ, đến nhà cư sĩ nói rằng: “Có phải cư sĩ muốn cho tôi y không?”
Cư sĩ nói: “Tôi có bàn tính riêng như vậy.”
Bạt-nan-đà nói với cư sĩ: “Nếu muốn cho tôi y thì nên may dài, rộng, loại bền chắc, tốt đẹp mới đúng loại y tôi thọ trì. Nếu không đúng, tôi không nhận, thì may làm gì.”
Các cư sĩ nghe như vậy, họ liền cơ hiềm rằng:
“Sa-môn Thích tử không có tàm quý, nhiều mong cầu không biết chán, bên ngoài tự xưng rằng ‘Tôi biết chánh pháp’; nhưng lại cưỡng bức người, đòi hỏi y tốt. Như vậy làm gì có chánh pháp?
Người cho tuy không biết nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ chứ. Người ta bàn tính riêng tư mà lại rình nghe là sao!”
Lúc ấy, có tỳ-kheo khất thực nghe được, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Tại sao lại cưỡng bức người, đòi cho được y tốt như vậy?”
Tỳ-kheo khất thực liền ra khỏi thành, về đến Tăng-già-lam, đem nhân duyên này đến nói với các tỳ-kheo.
Trong số đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Tại sao thầy cưỡng bức người, đòi cho được y tốt như vậy?”
Hiềm trách xong, vị ấy đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều [611a] không nên làm. Tại sao đến người cưỡng bức đòi cho được y tốt như vậy?”

* Trang 237 *
device

Quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo nào, có cư sĩ, hay vợ cư sĩ để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, nghĩ rằng: ‘Mua y như thế cho tỳ-kheo có tên như thế.’ Tỳ-kheo ấy liền đến nhà cư sĩ nói như vầy: ‘Lành thay cư sĩ, nên vì tôi mua y như vậy, như vậy.’ Vì muốn đẹp.
Nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ có cư sĩ muốn dâng cúng y theo ý muốn của tỳ-kheo, nên hỏi: “Đại đức cần loại y nào?”
Tỳ-kheo ấy nghi ngại, không dám trả lời. Đức Phật dạy: “Nếu cư sĩ yêu cầu tỳ-kheo tùy ý, thì nên trả lời.”
Lại có cư sĩ muốn cúng cho tỳ-kheo y quý giá, mà tỳ-kheo kia là vị thiểu dục tri túc, không cần loại y đại quý giá này, mà muốn loại y không quý giá. Tỳ-kheo kia ý nghi ngại không muốn nói lên ý của mình. Đức Phật dạy: “Cho phép các tỳ-kheo thiểu dục tri túc yêu cầu loại y không quý giá.” Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, có cư sĩ, hay vợ cư sĩ  (1) để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, nghĩ rằng: ‘Mua y như thế cho tỳ-kheo có tên như thế.’ Tỳ-kheo ấy trước không được yêu cầu tùy ý mà đến nhà cư sĩ nói như vầy: ‘Lành thay cư sĩ, nên vì tôi mua y như vậy, như vậy.’ Vì muốn đẹp. Nếu nhận được y, ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.
______________
(1)  Ngũ phần. Căn bản: cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến. Pāli: aññatakassa gahapatissa vā gahapatāniyā, cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.

* Trang 238 *
device

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng như trên đã giải.
Tiền sắm y: (1) giá tiền để sắm y, hoặc vàng bạc, trân châu, lưu ly, vỏ sò, ngọc thạch, anh lạc, vàng y.
Y: có mười loại như trên đã nói.
Cầu: (2)  có hai cách. Một là yêu cầu tiền để mua y, hai là yêu cầu y.
- Cầu số tiền để may y: đàn-việt cúng để may y với giá lớn chừng ấy mà cầu thêm, dù chỉ 1 phần 16 tiền.
- Cầu y: nói với người cư sĩ, may pháp y dài, rộng như vậy, cho đến dù xin thêm một sợi chỉ.
Tỳ-kheo này trước không được yêu cầu tùy ý mà đến cầu y quý giá dài rộng, nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Cầu mà không nhận được, phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, [611b] chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., trước không được yêu cầu tùy ý cúng dường y mà đến cầu y quý giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi nên sám hối. Vị nhận sám hối trước hết phải bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước không được yêu cầu tùy ý cúng dường y, mà đến cầu y quý
_______________
 (1) Y giá 衣價. Pāli: cīvaracetāpanna, vật ngang giá cho y; giải thích: vàng, bạc, ngọc ngà, trân châu; hoặc mảnh vải, hoặc chỉ, hoặc gòn.
(2)  Cầu 求: yêu cầu. Từ được giải thích, không có trong giới văn; trong đó được thay bằng từ tác như thị thuyết 作如是說, nói như vầy. Tăng kỳ: sách 索, yêu sách. Pāli: vikappa āpajjeyya, đề nghị.

* Trang 239 *
device

giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi sau đó mới nhận sự sám hối. Vị nhận sự sám hối nên bảo tỳ-kheo phạm tội rằng:
“Hãy tự trách tâm của mình!”
Tỳ-kheo phạm tội nói:
“Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước không được yêu cầu tùy ý khi cúng dường y mà đến cầu y quý giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hoàn y này lại cho tỳ-kheo có tên... đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo có tên... này trước không được yêu cầu tùy ý khi cúng dường y, mà đến cầu y quý giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo tên là...rồi.Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo này ở trong Tăng đã xả y rồi mà Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi đang trả có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu không trả lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc có làm cho hư hoại, hoặc đốt hay mặc mãi cho rách, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

* Trang 240 *
device

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: trước đó có yêu cầu tùy ý nên đến cầu xin, tri túc, mong cầu tối thiểu; đến cầu mong nơi thân quyến; đến cầu xin nơi người xuất gia, hoặc vì người mong cầu hay người vì mình mong cầu; hoặc không cầu mà được thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
IX. KHUYÊN HAI NHÀ TĂNG GIÁ Y (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, có tỳ-kheo khất thực, đến giờ, đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ khất thực; theo thứ tự [611c] xin từng nhà, đến nhà một cư sĩ, nghe hai vợ chồng cư sĩ cùng bàn: “Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên mua y như vậy dâng cúng.” Lại nghe một nhà cư sĩ khác, hai vợ chồng cũng cùng bàn: “Bạt-nan-đà là bạn quen biết trước kia của ta. Nên mua y như vậy để dâng cúng.”
Bấy giờ, vị tỳ-kheo khất thực kia, khi khất thực xong, ra khỏi thành Xá-vệ, trở về đến trong Tăng-già-lam, thấy Bạt-nan-đà Thích tử liền nói rằng:
“Tôn giả là người đại phước đức.”
Bạt-nan-đà hỏi:
“Vì việc gì mà thầy gọi tôi là người đại phước đức?”
Tỳ-kheo khất thực trả lời:
“Vừa rồi tôi vào thành Xá-vệ khất thực, theo thứ tự đến một nhà cư
_________________
(1)  Ngũ phần tr.28b18; Tăng kỳ tr.305a27; Thập tụng tr.46a26; Căn bản tr.733a2. Pāli, niss. 9, dutiya-upakkhaa, Vin.iii. 217.

* Trang 241 *
device

sĩ, nghe hai vợ chồng cùng bàn, ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên mua y như vậy dâng cúng.’ Lại nghe một nhà cư sĩ khác, hai vợ chồng cũng cùng bàn, ‘Bạt-nan-đà là bạn quen biết trước kia của ta. Nên mua y như vậy để dâng cúng.’”
Bạt-nan-đà liền hỏi: “Có chắc như vậy không?”
Vị tỳ-kheo khất thực nói: “Chắc.”
Bạt-nan-đà lại hỏi:
“Nhà của cư sĩ ấy ở chỗ nào? Cửa hướng nào?”
Vị tỳ-kheo khất thực trả lời: “Nhà ở chỗ đó, cửa hướng đó.”
Bạt-nan-đà nghe xong liền nói với vị tỳ-kheo kia rằng:
“Đúng vậy, đó là nhà đàn-việt của tôi, thường cúng dường cung cấp cho tôi.”
Sáng ngày sau, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ, đến nhà của hai cư sĩ nói rằng:
“Quý vị có ý định muốn cho tôi y phải không?”
Các cư sĩ trả lời: “Trong chỗ riêng tư tôi có bàn tính như vậy.”
Thích tử Bạt-nan-đà nói:
“Nếu muốn cho tôi y thì có thể chung lại may một y, rộng dài, bền chắc theo kiểu tôi thọ trì cho tôi. Nếu không đúng kiểu tôi thọ trì thì chẳng phải là thứ tôi cần.”
Các cư sĩ nghe như vậy, họ cùng nhau cơ hiềm:
“Bạt-nan-đà Thích tử không biết đủ, không có tàm quý, bên ngoài tự xưng rằng ‘Tôi biết chánh pháp’; nhưng lại tham cầu không biết đủ. Như vậy làm gì có chánh pháp? Người cho tuy không biết nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ chứ. Người ta bàn tính riêng tư mà lại rình nghe là sao!”
Bấy giờ, tỳ-kheo khất thực nghe được như vậy, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử: “Tại sao đến người cưỡng bức đòi y?”
Lúc ấy, tỳ-kheo khất thực nọ ra khỏi thành, đến Tăng-già-lam, đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo.

* Trang 242 *
device

Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử: “Tại sao đến người cưỡng bức đòi y?”
Quở trách rồi, vị ấy đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, trình bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. [612a1] Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc chẳng nên làm. Sao lại đến người cưỡng bức đòi hỏi y?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
“Bạt-nan-đà này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, có hai cư sĩ hay vợ cư sĩ để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, đều nói rằng: ‘Ta để dành tiền may y như vậy dâng cúng cho tỳ-kheo có tên như vậy.’ Tỳ-kheo ấy đến hai nhà cư sĩ, nói như vầy: ‘Lành thay, để dành tiền như vậy, như vậy để sắm y cho tôi. Hãy chung lại làm một cái y.’ Vì muốn đẹp. Nếu nhận được, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, có cư sĩ dâng cúng y theo ý muốn của tỳ-kheo, hỏi rằng:
“Ngài cần thứ y nào?”
Tỳ-kheo nghi ngại không dám trả lời. Phật dạy:
“Nếu cư sĩ yêu cầu tỳ-kheo tùy ý, thì tỳ-kheo nên trả lời.”
Bấy giờ, các cư sĩ vì tỳ-kheo may y quý giá để cúng, mà tỳ-kheo đó là vị thiểu dục tri túc, không muốn mặc y quý giá, cần chiếc y không quý giá, mà tỳ-kheo nghi ngại không dám nói lên ý muốn của mình, đức Phật dạy: “Cho phép các tỳ-kheo thiểu dục tri túc

* Trang 243 *
device

được nói lên ý muốn của mình về y không quý giá bằng.”
Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, có hai cư sĩ hay vợ cư sĩ1 để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, đều nói rằng: ‘Ta để dành tiền may y như vậy dâng cúng cho tỳ-kheo có tên như vậy.’ Tỳ-kheo ấy trước chưa nhận được sự yêu cầu tùy ý của cư sĩ, mà đến hai nhà cư sĩ, nói như vầy: ‘Lành thay, để dành tiền như vậy, như vậy để sắm y cho tôi. Hãy chung lại làm một cái y.’ Vì muốn đẹp. Nếu nhận được, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư sĩ, vợ cư sĩ, y giá, y, cầu: đều như trên đã giải.
Nếu tỳ-kheo trước đó không nhận được sự yêu cầu tùy ý mà đến yêu cầu y quý giá, rộng lớn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu đến yêu cầu mà không được, phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, [612b] quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., trước đó không nhận được sự yêu cầu tùy ý mà đến yêu cầu để được y quý giá phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết, vị nhận sám hối nên tác bạch:
“Đại đức Tăng nên lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó không nhận được sự yêu cầu tùy ý mà đến yêu cầu để được y quý giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”
_______________
(1)  Ngũ phần, Thập tụng, Pāli: cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.

* Trang 244 *
device

Tác bạch rồi sau đó mới thọ sám hối. Vị thọ sám nên bảo tỳ-kheo kia:
“Hãy tự trách tâm mình!”
Vị tỳ-kheo phạm tội thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo kia liền, bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó không nhận sự yêu cầu tùy ý mà đến đòi hỏi được y quý giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả y lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó không nhận sự yêu cầu tùy ý, đến đòi hỏi được y quý giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này
trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trao y cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo này xả y giữa Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiếtla.
Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hay tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư hoại, tất cả như vậy đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: vị ấy trước đó có nhận sự yêu cầu tùy ý mà đến đòi hỏi. Hoặc đối với y quý giá mà đòi xin y không quý giá.
Hoặc đến thân quyến cầu xin, đến người xuất gia cầu xin, hoặc vì người khác cầu xin y, hay người khác vì mình cầu xin y, hoặc không cầu xin mà tự được thì không phạm.

* Trang 245 *
device

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
X. YÊU SÁCH GIÁ Y QUÁ HẠN 1
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ.
Bấy giờ, trong thành La-duyệt có một vị Đại thần là thân hữu của Bạt-nan-đà Thích tử, thường [612c] tới lui với nhau, sai sứ đem số tiền may y đến chỗ Bạt-nan-đà Thích tử dặn rằng:
“Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta, ta thường kính trọng. Hãy đem số tiền sắm y này mua y như vậy dâng cúng.”
Người sứ giả đem số tiền sắm y đến trong Tăng-già-lam chỗ ở của Bạt-nan-đà, thưa như vầy:
“Lành thay! Ngài là người đại phước.”
Bạt-nan-đà hỏi: “Có việc gì người nói tôi là đại phước đức?”
Sứ giả thưa:
“Trong thành La-duyệt có vị Đại thần sai tôi đem số tiền sắm y này đến mua y như vậy dâng cúng cho ngài.”
Bạt-nan-đà hỏi: “Có thật vậy không?”
Sứ giả thưa: “Có thật.”
Bạt-nan-đà liền hỏi:
“Nhà vị Đại thần ở chỗ nào? Cửa ngõ về hướng nào?”
Sứ giả thưa: “Nhà vị Đại thần ở chỗ đó, cửa ngõ về hướng đó.”
Bạt-nan-đà nghe xong, nói:
“Đúng như lời của ông nói, Đại thần ấy là bạn quen biết xưa kia của tôi, là đàn-việt thường cúng dường thừa sự tôi.”
______________
(1)  Ngũ phần tr.28c10; Tăng kỳ tr.305b7; Thập tụng tr.46c12; Căn bản tr.733a14. Pāli, niss. 10, rājasikkhāpada, Vin.iii. 219.

* Trang 246 *
device

Bấy giờ, trong thành Xá-vệ lại có một trưởng giả quen thân cùng Bạt-nan-đà, thường lui tới. Bạt-nan-đà dẫn người sứ giả ấy vào trong thành Xá-vệ, đến nhà ông trưởng giả kia nói:
“Trong thành La-duyệt có một vị Đại thần sai người sứ này đem y giá này đến cho tôi để may y. Xin ông vui lòng giữ giùm.”
Ông trưởng giả liền nhận giữ giùm.
Một thời gian sau đó, vị Đại thần hỏi người sứ giả rằng:
“Trước đây ta đã bảo ngươi đem số tiền sắm y cúng cho Bạt-nan-đà.
Bạt-nan-đà đã vì ta mặc chiếc y ấy chưa?”
Người sứ giả thưa: “Không thấy Bạt-nan-đà mặc.”
Vị Đại thần liền bảo sứ giả đến nói với Bạt-nan-đà rằng:
“Trước đây tôi có sai sứ đem số tiền sắm y đến cúng cho ngài. Rốt cuộc ngài không mặc y của tôi. Ngài để tiền làm gì? Nay xin gởi trả lại tôi.”
Khi Bạt-nan-đà nghe nói như vậy liền vội vàng đến nhà ông trưởng giả, nói:
“Trước đây tôi có gửi số tiền sắm y. Nay tôi cần y, nên đi may y cho tôi.”
Thời gian ấy, trong thành Xá-vệ, các vị trưởng giả lại bận họp, mà trước đó đã có quy chế, ai không họp phải bị phạt năm trăm tiền. (1)
Ông trưởng giả thưa rằng:
“Theo nội quy của đại hội thì ai không đến họp phải bị phạt năm trăm tiền. Bây giờ, tôi xin phép đến họp. Đại đức chờ một chút, tôi họp xong sẽ trở về. Đại đức đừng để cho tôi bị phạt năm trăm tiền.”
Bạt-nan-đà nói:
“Không được. Trước hết, ông nên đem số tiền sắm y đi may y cho tôi.”
___________________
(1) Pāli: paññāsa baddho, phạt 50. Được giải thích là phạt 50 kahāpaa (tiền vàng). Tăng kỳ: người được ký thác tiền là cư sĩ Pháp Dự. Nhân vì lúc cần nên ông tạm mượn. Khi Ưu-ba-nan-đà đến đòi, cư sĩ chưa có tiền mặt để ứng liền, bị tỳ-kheo này đưa ra quan kiện.

* Trang 247 *
device

Bấy giờ, ông trưởng giả đành phải đem số tiền sắm y vì Bạt-nan-đà mà may thành y. Bấy giờ, phiên họp đã mãn, ông trưởng giả bị phạt năm trăm tiền vì không dự họp. Ông trưởng giả cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử đã làm cho hội nghị phạt tôi năm trăm tiền.” Bấy giờ, các cư sĩ trong thành Xá-vệ không tin Phật pháp cùng nhau cơ hiềm:[613a1] ‘Sa-môn Thích tử không biết tri túc, không có tàm quý, bên ngoài tự xưng là ta biết chánh pháp. Nhưng như vậy thì làm gì có chánh pháp? Họ làm cho ông trưởng giả không đến họp bị phạt năm trăm tiền. Từ nay trở đi, chúng ta không nên gần gũi lễ bái, chào hỏi thừa sự cúng dường.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Bạt-nan-đà: ‘Sao thầy khiến cho đại hội phạt ông trưởng giả năm trăm tiền?’
Rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà:
“Ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này Bạt-nan-đà, sao lại làm cho ông trưởng giả bị đại hội phạt năm trăm tiền?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài”. Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, hoặc vua, hoặc đại thần, hoặc bà-la-môn, hoặc cư sĩ, hay vợ cư sĩ, sai sứ mang tiền sắm y đến tỳ-kheo bảo rằng: ‘Hãy mang số tiền sắm y như vậy cho tỳ-kheo có tên như vậy.’ Người sứ kia đến chỗ tỳ-kheo, nói với tỳ-kheo rằng: ‘Đại đức, nay tiền sắm y này được gởi đến ngài, ngài

* Trang 248 *
device

hãy nhận.’ Tỳ-kheo ấy nên nói với người kia rằng: ‘Tôi không được phép nhận tiền may y này, khi nào cần y hợp thời và thanh tịnh tôi sẽ nhận.’ Vị sứ kia nên hỏi tỳ-kheo rằng: ‘Đại đức có người chấp sự không?’ Tỳ-kheo cần y nên nói: ‘Có’, và chỉ người dân trong Tăng-già-lam, hoặc ưu-bà-tắc, nói rằng: ‘Đó là người chấp sự của tỳ-kheo, thường chấp sự cho các tỳ-kheo.’ Bấy giờ sứ giả đến chỗ người chấp sự, trao số tiền sắm y rồi, trở lại chỗ tỳ-kheo, nói như vầy: ‘Đại đức, tôi đã trao số tiền sắm y cho người chấp sự mà Đại đức chỉ đó, khi nào Đại đức cần, đến đó sẽ được y.’ Tỳ-kheo khi cần y nên đến chỗ người chấp sự, hoặc hai lần, ba lần để cho họ nhớ lại, hoặc bằng cách nói rằng: ‘Tôi cần y.’ Hoặc hai lần, hoặc ba lần khiến cho họ nhớ lại. Nếu nhận được y thì tốt. Bằng không được y thì bốn lần, năm lần, sáu lần, đứng im lặng trước họ. Nếu bốn lần, năm lần, sáu lần đứng im lặng trước người đó mànhận được y thì tốt;[613b] bằng không được y mà cố cầu quá giới hạn đó, nếu được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu không được y thì tự chính mình, hoặc sai sứ đến chỗ người xuất tiền sắm y nói rằng: ‘Trước đây, ngài sai sứ mang tiền sắm y cho tỳ-kheo có tên như vậy; tỳ-kheo ấy cuối cùng không nhận được y. Ngài nên lấy tiền lại, đừng để mất.’ Như vậy là hợp thức. (1)
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Vua: người được tự tại, không thuộc quyền của ai.
Đại thần: người tả hữu của Vua.
Bà-la-môn: có huyết thống bà-la-môn. (2)
_________________
(1)  Pāli: aya tattha samīcī, đây là điều hợp cách. Và giải thích: aya tattha anudhammatā, ở đây điều này tùy thuận pháp tánh. Bản Hán đọc: aya tattha samaya. Ngũ phần, Thập tụng: thị sự ưng nhĩ 是事應爾, sự việc phải đó như vậy. Tăng kỳ: thị sự pháp nhĩ 是事法爾. Căn bản: thử thị thời 此是時.
(2)  Pāli: brāhmao nāma jātiyā brāhmao.

* Trang 249 *
device

Cư sĩ: chỉ những người tại gia, trừ Vua, Đại thần của Vua, bà-lamôn.
Vợ cư sĩ: cũng là người phụ nữ tại gia.
Tiền sắm y: như đã nói trước.
Y có mười loại như trên đã nói.
Nhớ lại: khiến cho người chấp sự, hoặc tại nhà, hoặc nơi chợ, hay chỗ làm việc, đến đó hai, ba lần, nói rằng: “Nay tôi cần y. Xin may y cho tôi.” Đó gọi là làm nhớ lại. Nếu hai, ba lần làm cho họ nhớ, được y thì tốt; không được y thì lần thứ tư, thứ năm, thứ sáu đến
đó, đứng im lặng trước họ.
Đứng trước mặt: đối với người chấp sự, hoặc tại nhà, hoặc tại chợ, hay nơi làm việc, đến đứng im lặng trước họ. Nếu người chấp sự hỏi: “Vì nhân duyên gì, Ngài đứng đây vậy?” Tỳ-kheo nên trả lời:
“Điều đó ông tự biết.” Nếu người kia nói, “Tôi không biết.” Nếu có người nào khác biết việc này, tỳ-kheo nói rằng: “Người đó biết việc này.” Nếu tỳ-kheo lên tiếng một lần thì trừ hai lần im lặng. Lên tiếng hai lần thì trừ bốn lần im lặng. Lên tiếng ba lần thì trừ sáu lần im lặng. Nếu tỳ-kheo quá hai, ba lần lên tiếng, quá sáu lần im lặng để đòi; đòi được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. (1)
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., quá ba
____________________
(1)  Giải thích của Pāli, Vin. iii. 223: 4 lần lên tiếng, 4 lần đứng im lặng. 5 lần lên tiếng, 2 lần đứng im lặng. 6 lần lên tiếng, không có đứng im lặng lần nào nữa. Theo cách này, tối đa lên tiếng 6 lần mà không có lần đứng im nào; hoặc tối đa đứng im 12 lần mà không có lần lên tiếng nào. Cứ mỗi lần lên tiếng, trừ đi 2 lần đứng im.

* Trang 250 *
device

lần nói để đòi y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết, người nhận sám phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quá ba lần nói đòi y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi mới [613c] nhận sám hối. Vị nhận sám nên nói với tỳ- kheo kia:
“Hãy tự trách tâm mình!”
Tỳ-kheo phạm tội trả lời:
“Xin vâng!”
Tăng phải trả y này lại cho tỳ-kheo đó bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quá ba lần nói đòi y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quá ba lần đòi y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trả y này lại cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng, Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo phạm tội đã xả y giữa Tăng như vậy rồi mà Tăng không hoàn lại thì mắc đột-kiết-la. Người nào bảo “đừng trả”, người ấy

* Trang 251 *
device

phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc sai cho người, hoặc mặc nhiều lần cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thứcxoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: ba lần nói đòi mà được y, sáu lần đứng im lặng được y.
Nếu không được y, tự mình đến, hoặc sai người đến chỗ người cúng tiền sắm y, nói, “Trước đây người sai sứ đem tiền sắm y đến cho tỳ-kheo có tên là... cuối cùng tỳ-kheo ấy không nhận được y, người có thể đến lấy lại, đừng để mất.” Nếu người kia nói: “Tôi đã cúng, không lấy lại.” Tỳ-kheo này nên cần có thời gian, dùng lời nhỏ nhẹ phương tiện đòi được y thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XI. NGỌA CỤ BẰNG TƠ TẰM (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong địa phận nước Khoáng dã. (2) Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm ngọa cụ (3)  mới bằng tơ tằm tạp. (4)  Họ đòi xin loại tơ chưa thành, hay đã thành; hoặc đã nhuộm hay chưa nhuộm; hoặc thứ mới hay thứ cũ. Họ đến nhà nuôi tằm nói rằng:
_____________________
(1)  Thập tụng 7 tr.47c10; Căn bản tr.735c6. Pāli, niss. 11, kosiya, Vin.iii. 223. Tăng kỳ tr.307c20: ni-tát-kỳ 11. Ngũ phần 5, tr.34c15: ni-tát-kỳ 21.
(2) Khoáng dã quốc 曠野國. Ngũ phần: A-trà-bễ ấp 阿荼髀邑. Pāli: Āavī.
(3) Ngoạ cụ 臥具 Pāli: santhata, đồ trải lót: chiếu, thảm, hay miếng vải. Các bộ khác: phu cụ 敷具.
(4) Tạp dã tàm miên 雜野蠶綿. Ngũ phần: làm ngọa cụ bằng kiêu-xa-da憍賒耶臥 具. Tăng kỳ: làm ngọa cụ mới bằng kiêu-xá-da 憍舍耶 tạp với lông dê thuần đen. Thập tụng: phu cụ mới bằng kiêu-thi-da 新憍施耶敷具. Căn bản: ngọa cụ mới bằng tơ tằm 作新野蠶絲臥具. Pāli: kosiyamissakaṃ santhata, ngọa cụ chen tạp với lụa.

* Trang 252 *
device

“Chúng tôi cần tơ.” (1)
Nhà nuôi tằm trả lời: “Đợi thời gian tằm chín hãy đến.”
Nhóm sáu tỳ-kheo đứng bên vừa đợi vừa xem. Họ đứng xem [614a] khi kén bị phơi, và con nhộng của tằm đang gây thành tiếng. Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử không có tàm quý, hại mạng chúng sinh. Bên ngoài tự xưng rằng ta tu theo chánh pháp. Như vậy thì làm gì có chánh pháp. Đòi hỏi cho được kén tằm để làm ngọa cụ mới!”
Họ quở trách việc làm trên. Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao lại phải đòi xin kén để làm ngọa cụ mới?” Quở trách như trên rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập họp các tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Các ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông lại đòi xin kén tằm để may ngọa cụ mới?”
Quở trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B.GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới bằng loại tơ tằm tạp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
_____________________
(1) Nguyên Hán: miên 綿; bông gòn. Pāli: các tỳ-kheo này đến nhà nuôi tằm (kosiyakāraka) đề nghị: luộc tằm (bāhu pacatha) cho họ xin để lấy tơ làm chăn trải.

* Trang 253 *
device

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tạp: (1)  là loại lông mềm, hoặc kiếp-bối, câu-giá-la, cỏ nhũ điệp, hoặc sô-ma, hoặc gai. (2)
Tỳ-kheo tự mình dùng loại tơ tằm tạp làm ngọa cụ mới mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề, không thành phạm đột-kiết-la. Nếu bảo người khác làm mà thành, cũng phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; làm không thành, phạm đột-kiết-la. Mình vì người khác làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.
Vật này nên xả. Khi xả nên dùng búa hoặc rìu bằm nhỏ trộn với bùn trét lên vách hay thoa nơi đất.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: được vật đã thành, hoặc dùng búa chặt bằm nhỏ hòa với bùn, hoặc trét lên vách hay nơi đất thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XII. NGỌA CỤ TOÀN ĐEN (3)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở lầu các, bên cạnh sông Di hầu, Tỳ-xá-ly. Bấy
_____________________
(1)  Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 21: tỳ-kheo làm ngọa cụ bằng kiêu-xa-da 憍賒耶; và giải thích: kiêu-xa-da là tơ (nguyên Hán, miên 綿: bông gòn) được làm từ con tằm. Tăng kỳ 9, ni-tát-kỳ 13: kiêu-xá-da có hai loại: sống, loại sợi mịn; chế tác, đã se thành sợi dệt. Thập tụng 24: kiêu-thi-da 憍施耶. Căn bản 20: dùng tơ tằm sống (dã tàm ty 野蠶絲) làm phu cụ.
(2)  Kiếp-bối 劫貝 (Pāli: kappāsa, bông gòn), câu-giá-la 拘遮羅 (Pāli: koseyya, tơ lụa, vải quyến), cỏ nhũ diệp, hoặc sô-ma 芻摩 (Pāli: khoma, ma bố, vải gai), hoặc gai.
(3)  Căn bản (tr.736a11): ni-tát-kỳ 12.Pāli, Nissaggiya 12, suddhakāḷaka, Vin.iii. 223. Ngũ phần 5 (tr.35a9), ni-tát-kỳ 22. Tăng kỳ 9 (tr.306c3), ni-tát-kỳ 11. Thập tụng (tr.48a3).

* Trang 254 *
device

giờ, các Lê-xa Tử ở Tỳ-xá-ly (1)  phần lớn làm hạnh tà dâm. Họ dùng lông dê toàn màu đen (2) làm áo (3)  choàng kín thân thể, đi ban đêm khiến cho người khỏi thấy.
Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo [614b] thấy vậy liền bắt chước lấy long dê toàn đen làm ngọa cụ bằng dạ. Các Lê-xa thấy vậy, thảy đều nói rằng: “Này Đại đức, chúng tôi sống trong ái dục, vì dâm dục nên dùng áo dạ bằng lông dê màu đen, chứ các ngài dùng loại dạ lông dê màu đen làm gì?”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý; hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: ‘Sao các thầy bắt chước Lê-xa dùng loại dạ lông dê màu đen?’
Quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Các ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông lại bắt chước Lê-xa dùng loại dạ lông dê màu đen?”
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo: “Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
__________________
(1)  Tỳ-xá-ly Lê-xa Tử 毘舍離梨車子(Pāli: Licchavī-putta). Ngũ phần: bạt-kỳ Tử 跋耆子 (Pāli: Vajji-putta). Pāli không có chi tiết này.
(2)  Hán: thuần hắc nhu dương mao 純黑羺羊毛. Khang hy: nhu dương, tức hồ dương (một loại dê của người Hồ). Ngũ phần: thuần hắc mao chiên 純黑毛氊. Căn bản: thuần hắc dương mao 純黑羊毛. Pāli: suddhakāakāna eakalomāna, lông dê thuần đen; eaka, một loại sơn dương.
(3) Hán: chiên 氈; vật dụng bện bằng da thú hay dạ. Đây chỉ áo choàng bằng dạ.

* Trang 255 *
device

Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen, nitát-
kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Lông toàn đen: hoặc màu đen tự nhiên, (1) hoặc màu đen do nhuộm.
Tỳ-kheo tự mình làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; làm không thành, phạm đột-kiết-la. Khiến người làm; thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. Vì người khác làm, thành hay không thành đều
phạm đột-kiết-la. Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., đã làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị thọ sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch [614c] như vậy rồi, sau đó mới thọ sám. Khi thọ sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
“Hãy tự trách tâm mình!”
Phạm nhân thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma,
__________________
(1)  Hán: sanh hắc 生黑. Pāli: jātiyā kālaka.

* Trang 256 *
device

như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã làm ngọa cụ bằng lông dê toàn màu đen, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, hoàn lại ngọa cụ cho Tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đã làm ngọa cụ bằng lông dê toàn màu đen, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem ngọa cụ này hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng đem ngọa cụ này hoàn trả cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo phạm tội đã xả ngọa cụ trong Tăng, nếu Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả lại có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu lấy làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem trải mãi cho hư rách đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni phạm, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu được vật đã làm thành, hoặc cắt rọc cho hư hoại, hoặc mỏng xếp làm hai lớp, hoặc dùng làm mền, hoặc làm gối, hoặc làm tọa cụ vuông nhỏ, hoặc làm dạ để nằm, hoặc làm đồ lót bên trong cái bình bát, hoặc làm cái bao đựng dao, hoặc làm bít tất, hoặc làm khăn trùm ấm, hoặc làm khăn gối, dép... đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 257 *
device

XIII. NGỌA CỤ QUÁ PHẦN(1)
A. DUYÊN KHỞI
[615a7] Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn trắng. (2) Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử không biết tàm quý, không nhàm chán, không biết đủ. Bên
ngoài tự xưng ta tu theo chánh pháp. Nhưng như vậy làm gì có chánh pháp! Sao lại làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn trắng, in tuồng nhà vua, hay đại thần của vua?”
Bấy giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục biết đủ, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Sao các thầy làm ngọa cụ bằng lông dê toàn trắng?”
Quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, rồi quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao các ngươi làm ngọa cụ bằng lông dê toàn trắng?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:
__________________
(1) Ngọa cụ 臥具. Thập tụng tr.48a28; Căn bản 21 (tr.736b4): phu cụ 敷具. Ngũ phần 5 (tr.35a25), ni-tát-kỳ 23; Tăng kỳ 9 (tr.307b19), ni-tát-kỳ 12. Pāli, Nissaggiya 13, dve bhāgā suddha-kāakāna, Vin. iii. 226ff.
(2) Thuần bạch dương mao 純白羊毛. Ngũ phần, nt.,Thập tụng, Căn bản, nt.: thuần hắc nhu dương mao 純黑羺羊毛. Pāli: suddhakāakāna eakalomāa, lông dê toàn đen.

* Trang 258 *
device

“Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này đầu tiên. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới thì nên dùng hai phần long dê toàn màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám. Nếu tỳ-kheo không dùng hai phần đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám mà làm ngọa cụ mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Trắng: trắng tự nhiên, hoặc nhuộm thành trắng.
Lông sắc xám: (1) lông nơi đầu, nơi tai, nơi chân, hoặc các nơi khác có màu xám.
Tỳ-kheo muốn làm ngọa cụ bốn mươi bát-la, (2) lông dê, thì phải hai mươi bát-la màu toàn đen, mười bát-la màu trắng, và mười bát-la màu xám. Muốn làm ngọa cụ ba mươi bát-la, thì phải mười lăm bát-la màu toàn đen, còn mười lăm bát-la thì phân nửa toàn màu trắng, phân nửa toàn màu xám. [615b] Muốn làm ngọa cụ hai mươi bát-la, thì phải mười bát-la màu toàn đen, năm bát-la màu trắng,
________________
(1)  Hán: mang sắc 尨色. Thích từ không có trong giới văn. Giới văn nói: tứ phần mang 四分尨, phần thứ tư xám. Ngũ phần 5 (tr.35b04), Thập tụng 4 (tr.48b11): đệ tứ phần hạ 第四分下; được giải thích: hạ, chỉ lông đầu, lông bụng, lông gót chân. Căn bản 21 (tr.736b09): đệ tứ phần thô 第四分麁, giải thích: thô, chỉ lông đầu, lông bụng và lông chân. Pāli: catuttha gocariyānam, phần thứ tư màu nâu đỏ (hạt sắc).
(2)  Bát-la 缽羅. Ngũ phần nt., Thập tụng nt.: ba-la 波羅. (Pāli: pala, đơn vị trọng lượng). Căn bản 21 (tr.736b16): thí dụ, ngọa cụ nặng 10 cân, thì 5 cân toàn đen, 2,5 cân trắng và 2,5 cân thô. Cf. Pāli (Vin.iii.227): 2 tūla (cân) đen, 1 tūla trắng, 1 tūla nâu đỏ. 1 pala khoang gr 4 ounce (=28, 35 gram x4), Từ điển Phật học Soothill.

* Trang 259 *
device

năm bát-la màu xám. Nếu tỳ-kheo không làm ngọa cụ mới bằng hai phần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Không thành, phạm đột-kiết-la.
Sai người làm mà thành thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. Nếu vì người khác làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hay một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, cởi bỏ dép, trống vai bên hữu, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối hữu chấm đất, chắp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., làm ngọa cụ mới không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết vị nhận sám phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã làm ngọa cụ mới không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải nói với phạm nhân rằng:
“Hãy tự trách tâm mình!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã làm

* Trang 260 *
device

ngọa cụ mới, không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả ngọa cụ lại cho Tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã làm ngọa cụ không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Bây giờ, Tăng đem ngọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đem ngọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận, hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo phạm tội xả ngọa cụ cho Tăng rồi, Tăng không hoàn lại phạm đột-kiết-la.
Nếu có người bảo “đừng trả” thì người ấy phạm đột-kiết-la; hoặc chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng để trải mãi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, [615c] sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu làm ngọa cụ mới hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám. Hoặc màu trắng không đủ, dùng màu xám bù vào, hoặc làm toàn màu xám. Hoặc được vật đã làm thành. Hoặc cắt rọc cho hư hoại. Hoặc làm cho hoại sắc. Hoặc làm gối, làm áo lót, làm đệm. Hoặc làm áo lót để nằm. Hoặc làm tọa cụ nhỏ vuông. Hoặc làm khăn bao bình bát. Hoặc làm đãy đựng dao. Hoặc làm bít tất. Hoặc làm khăn trùm cho ấm. Hoặc làm khăn gói dép, tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 261 *
device

XIV. NGỌA CỤ DƯỚI SÁU NĂM (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chê ngọa cụ hoặc dày, hoặc mỏng, hoặc nặng, hoặc nhẹ. Họ không xả ngọa cụ cũ, lại làm ngọa cụ mới. Họ thường tìm kiếm ngọa cụ về dồn chứa rất nhiều. Bấy
giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, chê trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao quý vị chê ngọa cụ cũ hoặc nhẹ, hoặc nặng, hoặc mỏng, hoặc dày; rồi không xả các cái cũ lại làm cái mới, nhiều như vậy?” Sau đó, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng mọi phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao nhóm sáu tỳ-kheo này chê ngọa cụ hoặc nhẹ, hoặc nặng, hoặc mỏng, hoặc dầy; rồi làm ngọa cụ mới, dồn chứa quá nhiều như vậy?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này đầu tiên. Từ này về sau, Ta vì các tỳ-kheo chế giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới, phải thọ trì cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả, (2) mà lại làm cái mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
______________________
(1) Tăng kỳ tr.308b12; Thập tụng tr.48b25; Căn bản tr.736b23. Pāli: Nissaggiya 14, santhanachabbassāni, Vin.iii. 227. Ngũ phần (tr.35b), ni-tát-kỳ 24.
(2) Tăng –kỳ: dù xả hay không xả (cái cũ). Pāli: vissajjetvā vā avissajjetvā vā, dù đã xả hay không xả cái củ.

* Trang 262 *
device

Khi đức Thế Tôn đã vì các tỳ-kheo kết giới như vậy, bấy giờ, có tỳ-kheo mắc bệnh can tiêu, (1)  mà cái ngọa cụ phấn tảo quá nặng. Vị ấy có chút nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, thầm nghĩ:
“Đức Thế Tôn đã chế giới: ‘Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới phải thọ trì [616a] cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả ngọa cụ cũ mà lại làm ngọa cụ mới, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay, có chút nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, mà ta mắc bệnh can tiêu, ngọa cụ này quá nặng, ta phải tính thế nào đây?” Tỳ-kheo ấy nói với các tỳ-kheo rằng:
“Đại đức, nay, tôi có chút nhân duyên phải du hành trong nhân gian, mà tôi mắc phải bệnh can tiêu. Ngọa cụ phấn tảo quá nặng, không thể mang theo được. Đại đức vì tôi bạch lên đức Thế Tôn. Nếu Thế Tôn dạy thế nào, tôi sẽ phụng hành thế ấy.”
Các tỳ-kheo nghe nói như vậy rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tập hợp các tỳ-kheo, bảo rằng:
“Từ nay trở đi, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp bạch nhị yết-ma.”
Tỳ-kheo kia phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có chút nhân duyên, muốn du hành trong nhân gian mà mắc bệnh can tiêu. Ngọa cụ phấn tảo quá nặng, không thể mang theo được. Nay tôi đến xin Tăng yết-ma làm ngọa cụ mới.”
Xin như vậy ba lần.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng làm yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
____________________
(1)  Xem Ni-tát-kỳ 2, cht. 23.

* Trang 263 *
device

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn du hành trong nhân gian mà mắc bệnh can tiêu. Có ngọa cụ phấn tảo nặng. Nay đến xin Tăng yết-ma làm ngọa cụ mới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng trao cho tỳ-kheo này pháp yết-ma làm ngọa cụ mới. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn du hành trong nhân gian, mà mắc bệnh can tiêu. Vì có ngọa cụ phấn tảo quá nặng nên nay đến xin Tăng yết-ma may ngọa cụ mới. Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo có tên... yết-ma may ngọa cụ mới. Trưởng lão nào đồng ý, Tăng trao cho Tỳ-kheo có tên... pháp yết-ma may ngọa cụ mới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận, trao cho Tỳ-kheo có tên... pháp yết ma may ngọa cụ mới rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đức Phật dạy, từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới, phải thọ trì cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả, mà lại làm cái mới, trừ Tăng yết-ma, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Nếu tỳ-kheo chưa đủ sáu năm, không bỏ cái cũ mà lại làm cái ngọa cụ mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Làm mà [616b] không thành, phạm đột-kiết-la. Sai người khác làm thành thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. Vì người mà làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm

* Trang 264 *
device

đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả cái ngọa cụ cũ mà lại làm cái ngọa cụ mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám hối trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả ngọa cụ cũ, mà lại làm các ngọa cụ mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám, vị ấy nên nói với tỳ-kheo phạm tội:
“Hãy tự trách tâm!”
Vị phạm tội thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy:
Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả cái ngọa cụ cũ mà lại làm cái mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả lại ngọa cụ cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả ngọa cụ cũ, mà lại làm cái mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem ngọa cụ này, trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng đem ngọa cụ này, trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận, trả ngọa cụ cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

* Trang 265 *
device

Tỳ-kheo phạm tội như vậy, đối giữa Tăng xả ngọa cụ rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu lấy chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc trải mãi cho hư hoại, hoặc làm phi ngọa cụ, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Tăng cho phép. Đủ sáu năm, hoặc chưa đủ sáu năm mà xả cái cũ, làm cái mới, hoặc là không có nên làm, hoặc người khác làm cho, hoặc được vật đã thành thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não [616c] bức bách.
XV. TỌA CỤ KHÔNG HOẠI SẮC (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn sai người lấy thức ăn về. (2)
Theo thường pháp của chư Phật, sau khi các tỳ-kheo đi thọ thực, đức Phật đi khắp các phòng. Ngài thấy tọa cụ cũ vất bỏ bừa bãi khắp nơi, hoặc trong nhà tắm (3) , hoặc trong nhà giáo thọ, hoặc chỗ đi kinh hành, hoặc trên đá rửa chân, hoặc trên đống đất ở trước cửa,
___________________
(1) Tọa cụ 坐具, khăn trải để ngồi. Pāli: nisīdana (ni-sư-đàn). Căn bản 21: phu cụ 敷具. Pāli: Nissaggiya 15, nisīdanadubbaṇṇa-karaa, Vin.iii. 230. Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 25 (tr.35c13).
(2) Thỉnh thực 請食. Thập tụng 7 (tr.49b16): nghinh thực phần 迎食分. Cư sĩ thỉnh Phật và các tỳ-kheo đến nhà thọ thực. Phật để các tỳ-kheo đi, Ngài ở lại tinh xá. Một tỳ-kheo mang thức ăn về cho Phật. Căn bản 21 (tr.737b23): thủ thực 取食 Pāli, Vin.iii. 230: Phật độc cư ba tháng, không gặp bất cứ ai, trừ tỳ-kheo tống thực.
(3) Hán: ôn thất, nhà tắm  nước nóng ; chỉ chung nhà tắm (Skt. Snāna)

* Trang 266 *
device

hoặc trên cây nọc, hoặc trên cọc ngà voi, (1)  hoặc nơi giá y, hoặc trên giường dây, giường gỗ, hoặc trên ghế đẩu, hoặc ở trên đất, không có người thu dọn.
Đức Thế Tôn thấy vậy, nghĩ rằng: “Các tỳ-kheo chê tọa cụ, hoặc nặng, hoặc nhẹ, hoặc mỏng, hoặc dày. Không bỏ cái cũ mà lại làm cái mới, tích tụ tọa cụ nhiều quá, vất bỏ bừa bãi khắp nơi, không người thu dọn. Nay Ta nên làm thế nào để các tỳ-kheo dùng lại tọa cụ cũ.” Ngài lại nghĩ: “Ta nên cho phép các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, phải lấy một miếng tọa cụ cũ vuông vức bằng một gang tay, may lên cái mới, cho hoại sắc.”
Đức Thế Tôn dùng cơm xong, vì nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
“Vừa rồi, sau khi chúng Tăng đi thọ thỉnh, Ta đi khắp các phòng, thấy các tọa cụ cũ vất bỏ bừa bãi khắp nơi, không có người thu dọn. Ta thấy vậy, nghĩ rằng, các tỳ-kheo hoặc bảo tọa cụ tôi nặng, hoặc bảo nhẹ; hoặc bảo mỏng, hoặc bảo dày; không xả tọa cụ cũ, mà lại làm tọa cụ mới. Những cái cũ vất bỏ bừa bãi khắp nơi, không người thu dọn. Thấy vậy, Ta nghĩ: Làm thế nào để các tỳ-kheo dùng lại tọa cụ cũ? Ta lại nghĩ, nay, Ta cho phép các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, nên lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới để cho hoại sắc. Do đó, cho phép các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, nên lấy cái cũ, vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới, để cho hoại sắc.”
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo khi may tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay may lên trên cái mới, cho hoại sắc. Nhưng khi họ may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay
đắp lên trên cái mới cho hoại sắc.
Trong số các Tỳ-kheo nghe thấy đó, có vị thiểu dục tri túc, sống
___________________
 (1) Long nha quyết 龍牙橛. Xem, Thập tụng (tr.60c22): tượng nha dặc 象牙杙. Xem cht. Ch ba-la-di 2.

* Trang 267 *
device

hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Tại sao đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo khi may tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới để cho hoại sắc, mà quý vị làm cái mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông vức [617a] một gang tay đắp lên trên cái mới?” Hiềm trách rồi, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao ta vì các tỳ-kheo chế giới: ‘Tỳ-kheo làm tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới cho hoại sắc.’
Mà các ông may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, may tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới, cho hoại sắc. Nếu may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới, cho hoại sắc, ni-tát-kỳ ba-dật -đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo nào muốn may tọa cụ mới, bấy giờ, nếu tọa cụ cũ chưa hư, chưa bị rách lỗ, nên sửa sang giặt nhuộm, kéo cho thẳng, cắt rọc một miếng vuông vức bằng một gang tay, đặt vào chính giữa, hay

* Trang 268 *
device

ngoài biên, may lên trên cái mới để cho hoại sắc. Nếu tỳ-kheo không lấy một miếng cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc, mà chỉ may cái mới; nếu may thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; may không thành, phạm đột-kiết-la. Khiến người khác làm mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. Vì người làm, thành không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,  chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ [617b] may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Phạm nhân thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng bạch nhị yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đã may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả tọa cụ lại cho

* Trang 269 *
device

tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem tọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đem tọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận, trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo có tên...này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu tỳ-kheo phạm tội xả tọa cụ cho Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu lấy chuyển làm tịnh thí hoặc tự mình thọ, hoặc sai cho người, hoặc ngồi mãi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiếtla. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: cắt lấy một miếng của cái cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc. Hoặc người ấy không có, được may cái mới. Hoặc người khác vì mình may. Hoặc được cái đã làm thành rồi. Hoặc may cái hoàn toàn cũ thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XVI. QUẢY LÔNG DÊ (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá- vệ.
_________________
(1)  Pāli: Nissaggiya 16: eakalomaharaa. Ngũ phần (35c25), ni-tát-kỳ 26. Tăng-kỳ (309b18), Căn bản (738a10), ni-tát-kỳ 16.

* Trang 270 *
device

Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử, (1) trên đường đi nhận được nhiều lông dê, cột trên đầu cây trượng quảy đi. Các cư sĩ thấy vậy cơ hiềm: ‘Sao sa-môn Thích tử lại đi mua bán lông dê?’ Và hỏi rằng: ‘Đại đức, lông dê này có bán không?’
Các tỳ-kheo nghe những lời này, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà rằng: ‘Sao lấy lông dê cột vào đầu trượng, quảy đi dọc đường?’
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, [617c] rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại quảy lông dê đi trên đường để cho cư sĩ chê trách?”
Đức Thế Tôn dùng mọi phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi đi đường được lông dê, nếu không có người mang, tự mình được mang đi cho đến ba do tuần. Nếu không có người mang, tự mình mang đi quá ba do tuần, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
__________________
(1) Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子. Căn bản 21: Ô-ba-nan-đà, tức Pāli: Upananda, dòng họ Thích-ca, thuộc nhóm sáu tỳ-kheo (Chabbaggiya). Pāli. Vin. iii. 233: một tỳ-kheo đi từ Kosala đến Sāvatthi.

* Trang 271 *
device

Nếu tỳ-kheo trên đường đi, hoặc tại trú xứ, nhận được lông dê, nếu cần thì lấy. Nếu không có người mang, tự mình được phép mang đi, cho đến ba do tuần. Nếu có người mang thì nên nói với người ấy rằng: ‘Nay tôi có vật này, nhờ mang giúp tôi đến chỗ đó.’ Trong khoảng này, tỳ-kheo không được tiếp tay mang. Nếu tiếp tay mang phạm đột-kiết-la. Nếu bảo tỳ-kheo-ni mang, quá ba do tuần, phạm đột-kiết-la; nếu bảo thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, mang quá ba do-tuần, phạm đột-kiết-la. Trừ lông dê, mang các vật khác như: câu-giá-la, cỏ nhũ diệp, sô ma, ma, xí-la-bà-ny, (1) mà mang quá ba do-tuần phạm đột-kiết-la. Nếu quảy các vật khác nơi đầu trượng mà đi cũng phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
“Hãy tự trách [618a] tâm ngươi!”
_________________________
(1)  Câu-giá-la 拘遮羅, cỏ nhũ diệp 乳葉草, sô ma 芻摩, ma 麻, xí-la-bà-ny 廁羅 婆尼. Các loại y.

* Trang 272 *
device

Đương sự thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả lông dê lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quảy (gánh) lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng
chấp thuận, trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem lông dê này, trả lại cho tỳ-kheo này. Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng đem lông dê này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên...này rồi. Tăng chấp thuận, nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu tỳ-kheo đã xả giữa Tăng rồi mà không trả lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Hoặc chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng mãi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu mang đi cho đến ba do tuần, hoặc dưới ba do tuần. Hoặc có người mang giúp, bảo họ mang đến chỗ đó, mà khoảng ấy mình không mang giúp. Sai tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni gánh đi ba do tuần. Hoặc lông mịn, giây bằng lông để trang sức, lông đầu, lông trên cổ, lông chân. Hoặc làm mão làm khăn trùm cho ấm. Hoặc gói dép. Tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 273 *
device

XVII. NHỜ CHẢI LÔNG DÊ (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở giữa Thích-sí-sấu (2) trong vườn Ni-câu-luật, Ca-duy-la-vệ.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm tọa cụ mới bằng lông dê, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải.
Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề vì nhuộm, nên tay bị dính thuốc nhuộm. Bà đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi:
“Cù-đàm-di, sao tay của Dì có màu sắc giống như thợ nhuộm vậy?” Cù-đàm-di bạch Phật: “Nhóm sáu tỳ-kheo muốn làm tọa cụ mới, nên đem lông dê đến, bảo chúng con giặt nhuộm chải, cho nên tay bị bẩn.”
Bà đảnh lễ dưới chân Phật, rồi trở về chỗ ở.
Đức Thế Tôn [618b] vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo.
Ngài biết mà vẫn hỏi nhóm sáu tỳ-kheo:
“Có thật các ông làm tọa cụ mới, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải hay không?”
Nhóm sáu tỳ-kheo thưa: “Bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại bảo tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-
_______________________
(1)  Pāli: Nissaggiya 17, elākaloma-dhovāpana, Vin. iii. 234ff. Ngũ phần 5 (tr.36a26), Ni-tát-kỳ 27.
(2) Thích-sí-sấu 釋翅瘦 (Sakkesu: giữa những người họ Thích). Pāli: giữa những người họ Thích, trong tinh xá Nigrodha, Ca-tỳ-la-vệ.


* Trang 274 *
device

kheo: “Nhóm sáu tỳ-kheo là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, các tỳ-kheo đều có sự nghi ngại, không dám sai tỳ-kheo-ni thân quyến giặt nhuộm chải lông dê. Đức Phật dạy:
“Cho phép thân lý được giặt, nhuộm, chải. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ- kheo kết giới:..”
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni không phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, chẳng phải thân lý, thân lý: cũng như trên đã giải.
Nếu tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm ba ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu sai giặt, nhuộm, chải mà người kia chỉ giặt, nhuộm chứ không chải thì phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la. (1)
Sai giặt, nhuộm, chải; người kia giặt, không nhuộm mà chải; (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Sai người giặt, nhuộm, chải; người kia không giặt mà nhuộm, chải, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Sai giặt, nhuộm, chải; người kia không giặt, nhuộm, chải, (tỳ-kheo)phạm ba đột-kiết-la.
_________________
(1)  Pāli (Vin. iii. 236): không phải thân lý, sai giặt và nhuộm hay giặt và chải (2 việc): phạm 1 ni-tát-kỳ, 1 đột-kiết-la. Sai giặt nhuộm và chải (3 việc): 1 ni-tát-kỳ, 2  đột kiết-la. Không có trường hợp 2 ni-tát-kỳ. Xem ni-tát-ky 4 ở trên
.

* Trang 275 *
device

Sai sa-di-ni, thức-xoa-ma-na chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập, phạm đột-kiết-la.
Vật này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối, vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã sai [618c] tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng: “Hãy tự trách tâm ngươi!”
Phạm nhân thưa: “Xin vâng!”
Tăng phải trả lông dê lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đã sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hoàn lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem lông dê này hoàn lại cho tỳ-kheo này. Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng đem lông dê này hoàn lại cho tỳ-kheo này thì im lặng.

* Trang 276 *
device

Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trao lông dê lại cho tỳ-kheo có tên...này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Giữa Tăng, tỳ-kheo ấy xả lông dê rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng mãi, hoặc cố ý làm cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đều đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: sai tỳ-kheo-ni thân quyến giặt nhuộm chải. Hoặc vì người bệnh giặt, nhuộm, chải. Hoặc vì chúng Tăng, vì Phật, vì tháp, giặt nhuộm, chải. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XVIII. CẦM GIỮ VÀNG BẠC (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt.
Bấy giờ, trong thành này có một vị Đại thần vốn là bạn quen thân trước kia của Bạt-nan-đà. (2) Một hôm nọ, vị Đại thần nhận được nhiều thịt heo, liền bảo người vợ: “Bạt-nan-đà Thích tử là thân hữu của tôi. Nên để phần thịt cho người.”
Người vợ theo lệnh của chồng, liền để phần thịt cho Bạt-nan-đà.
Hôm ấy là ngày tiết hội của mọi người ở thành Vương-xá nên có tổ chức các thứ kỹ nhạc, suốt đêm không ngủ. Bấy giờ, mấy đứa con
_____________________
(1)  Pāli, Nissaggiya 18, jātarūparajata, Vin. 111. 236. Ngũ phần (tr.37a27), ni-tát-kỳ 30.
(2)  Xem ni-tát-kỳ 16 trước.

* Trang 277 *
device

của vị Đại thần cũng ở trong số người đó. Vì suốt đêm không ngủ, chúng đói và mệt, nên hỏi mẹ: “Thịt heo còn không?”
Mẹ của chúng bảo rằng: “Hết rồi. Chỉ còn phần của Bạt-nan-đà họ Thích thôi.”
Các con liền đưa tiền cho mẹ và nói:
“Mẹ cầm tiền này, sáng ngày ra chợ mua lại phần thịt cho [619a1] Bạt-nan-đà. Còn phần thịt đó cho chúng con.”
Mẹ của chúng lấy tiền và trao phần thịt cho chúng.
Sáng sớm, Bạt-nan-đà đắp y, bưng bát, đến nhà vị Đại thần, ngồi nơi chỗ dọn sẵn. Bấy giờ, vợ của vị Đại thần thưa rằng:
“Hôm qua, gia đình có nhận được nhiều thịt heo. Ông trưởng giả bảo tôi, ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn cũ của tôi. Nên để dành phần thịt cho người.’ Theo lệnh của chồng, tôi có để phần thịt cho Đại đức. Nhưng khi hôm, gặp ngày tiết hội, mấy đứa con tôi thức khuya
đói bụng, nên đến đòi phần thịt đó. Chúng đưa tôi năm tiền và bảo:
‘Sáng ngày, ra chợ mua phần thịt lại cho Bạt-nan-đà. Còn phần thịt đó cho chúng con.’ Tôi đã trao thịt cho chúng nó. Số tiền này, bây giờ, tôi sẽ ra chợ mua lại phần thịt như vậy. Đại đức có thể chờ một chút.”
Bạt-nan-đà liền hỏi: “Chúng vì tôi đưa tiền phải không?”
“Vâng, chúng nó có đưa.”
“Như vì tôi, thì đưa số tiền đó cho tôi. Khỏi cần mua thịt.”
Bấy giờ, vợ của vị Đại thần liền đặt tiền xuống đất cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà nhận được tiền này rồi, đem gởi nơi hiệu buôn quen và đi. Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử mua bán tiền tài. Đem tiền gởi nơi hiệu buôn rồi đi.” Trong số các tỳ-kheo nghe nói đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà:
“Sao Thầy tự tay nhận tiền, đem gởi nơi hiệu buôn, rồi đi?”
Cũng lúc ấy, vua cùng các Đại thần hội hợp nhau, bàn luận rằng:
“Sa-môn Thích tử được nắm cầm vàng bạc hoặc tiền. Sa-môn

* Trang 278 *
device

Thích tử không cần phải xả bỏ vàng bạc hoặc tiền, trân châu, bảo châu, anh lạc và sinh tượng.” (1)
Lúc bấy giờ, trong phòng họp có vị Đại thần, tên là Châu Kế, (2) nói với các Đại thần rằng: “Không nên nói những lời này: ‘Sa-môn Thích tử được phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền, không xả bỏ trân bảo châu anh.’ Tại sao vậy? Chính vì tôi đã được nghe từ đức Như Lai dạy: ‘Sa-môn Thích tử không được phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền.’ Sa-môn Thích tử xa lìa trân bảo, châu anh.”
Bấy giờ, vị Đại thần Châu Kế có oai thế, có khả năng trình bày khéo léo, khiến mọi người hoan hỷ tin hiểu. Sau đó, Châu Kế liền chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ, rồi thưa: “Những điều con nói như vậy, đối với giáo pháp có sai trái hay không?”
Đức Phật bảo Đại thần:
“Đúng như điều ông nói, ở trong chánh pháp có nhiều lợi ích. Không có gì sai trái. Tại sao vậy? Sa-môn Thích tử không được phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền. Sa-môn Thích tử xa lìa trân bảo, châu ngọc, anh lạc, không dùng nó để trang sức làm đẹp. Nay ông nên biết, nếu nắm cầm vàng bạc hoặc tiền, không xa lìa châu ngọc, anh lạc, trân bảo, thì cũng sẽ thọ dụng ngũ dục. Nếu thọ dụng [619b] ngũ dục thì chẳng phải là pháp của sa-môn Thích tử.
“Này Đại thần, ông nên biết, nếu thấy sa-môn Thích tử nào gọi Ta là Thầy mà cầm vàng bạc hoặc tiền, trân bảo thì quyết định biết rằng đó chẳng phải là pháp của sa-môn Thích tử. Ta có nói như vầy: ‘Nếu tỳ-kheo nào, vì làm thất, cần cây gỗ, tranh tre v.v... thì
_______________________
(1)  Sanh tượng生像, chỉ vàng nguyên, chưa chế biến. Pāli: jātarūpa.
(2)  Căn bản 21 (tr.740a20): Bảo Kế 寶髻. Tăng kỳ 10 (tr.310c7): Chu-la tụ lạc chủ 周羅聚落主. Xem Tạp 32, kinh 911 (Ma-ni Châu Kế). Cf. Pāli, Maicūa-sutta, S. iv. 325, Vin.ii.296.

* Trang 279 *
device

được phép nhận. Nhưng không nên vì tự thân mà nhận.” (1)
“Đại thần nên biết, mặt trời, mặt trăng có bốn tai hoạn khiến cho không sáng, không trong sạch, không có khả năng chiếu soi, cũng không có oai thần. Bốn cái tai hoạn đó là gì? Là a-tu-la, (2) khói, mây, bụi mù. Đó là những đại hoạn của mặt trời, mặt trăng. Nếu gặp những hoạn này thì mặt trời, mặt trăng không sáng, không trong sạch, không có khả năng chiếu soi, cũng không có oai thần. Lại cũng như vậy, sa-môn, bà-la-môn cũng có bốn cái tai hoạn khiến cho không sáng, không sạch, không có khả năng soi chiếu, cũng không có oai thần. Bốn tai hoạn đó là gì? Nếu sa-môn, bà-la-môn không bỏ uống rượu, không bỏ dâm dục, không bỏ dùng tay nắm vàng bạc, không bỏ sự sống tà mạng. Đó gọi là bốn đại hoạn của sa-môn, bà-la-môn. Nó có khả năng khiến cho sa-môn, bà-la-môn không sáng, không sạch, không có khả năng soi chiếu, cũng không có oai thần.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống với hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà, rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này trình lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại tự tay nắm cầm tiền, đem gởi hiệu buôn, rồi đi?”
Quở trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn nói giới nên nói như vầy:
__________________
(1)  Bản Hán lược bỏ: không được vì tự thân mà thọ nhận tiền bạc các thứ. Pāli, S.iv. 325: na... kenaci pariyāyena jātarūparajata sāditabba, tuyệt đối không thọ nhận vàng bạc.
(2)  Tức nhật thực hay nguyệt thực.

* Trang 280 *
device

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự tay cầm tiền, hoặc vàng, bạc, hoặc bảo người cầm, hoặc nhận từ dưới đất, (1)  ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tiền: trên có hình hay nét vẽ. (2)
Tỳ-kheo tự tay cầm vàng bạc hoặc tiền, bảo người cầm, hoặc nhận từ nơi đất, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Vật này nên xả. (3)
Trong đây, xả như vầy: Nếu ở đó có người giữ vườn tin cậy, hoặc ưu-bà-tắc, thì nên nói với họ rằng: “Vật này không thích hợp với tôi, ông biết cho.” Nếu người ấy lấy cất, rồi trao lại cho tỳ-kheo thì tỳ-kheo nên [619c] nhận như là vật của người khác. Nhận rồi bảo
tịnh nhân cất. Nếu được tịnh y, bát, ống đựng kim, ni-sư-đàn nên đem trao đổi để thọ trì. Nếu ưu-bà-tắc kia nhận rồi trao cho tỳ-kheo tịnh y, bát, hoặc ni-sư-đàn, hay ống đựng kim thì nên nhận để thọ trì. Nếu người kia lấy rồi mà không trả lại thì nên khiến các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, vì muốn tịnh nên trao cho ông. Ông nên trao vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu người kia lấy rồi không trả lại, mà các tỳ-kheo khác không nói thì mình nên tự đến nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, vì muốn tịnh nên trao cho ông. Nay ông nên trao cho Tăng, cho tháp, cho Hòa thượng, cho đồng Hòa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho các cựu tri thức, hoặc hoàn lại nơi người chủ kia.” Vì sao? Vì không muốn mất vật
__________________
(1)  Ngũ phần: hoặc phát tâm nhận. Tăng kỳ (tr. 311b): tự tay cầm nắm, hoặc sai người nắm giữ, (với tâm) tham trước. Thập tụng (tr.51b): tự tay nhận lấy, hay sai người nhận lấy. Căn bản (tr.740c5): tự tay cầm nắm hay sai người khác cầm nắm. Pāli: uggaheyya vā uggahāpeyya vā upanikkhitta vā sādeyya, tự mình nhận, bảo người nhận, hay nhận để gởi (ký thác).
(2)  Hán: văn tượng 文像. Pāli: rajata, chính là bạc, bạch ngân, được dùng làm tiền. Vin. Ibid.: rajataṃ nāma kahāpao lohamāsako dārumāsako jatumāsako ye vohāra gacchanti.
(3) Pāli, cần phải tác pháp xả trong Tăng (saṅghamajje nissajjitabbaṃ). Vật xả không được hoàn lại cho tỳ-kheo phạm.

* Trang 281 *
device

Của tín thí kia. Nếu không nói với người kia: “Hãy biết cái này. Hãy nhìn cái này”; (1) phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu có nói “Hãy biết cái này. Hãy nhìn cái này.” Hoặc có người giữ vườn, hay ưu-bà-tắc có tín tâm, nói với họ: “Vật này không thích hợp; tôi không nên nhận. Ông nên biết cho.” Người kia nhận rồi, hoàn lại cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo nên vì thí chủ nhận, rồi trao cho tịnh nhân cất. Sau, nếu cần được y, bát tịnh, ống đựng kim, ni-sư-đàn, thì đem trao đổi để thọ trì. Nếu người kia lấy rồi, trao cho y bát tịnh, hoặc tọa cụ, hoặc ống đựng kim, thì nên nhận để thọ trì. Nếu người kia không chịu trao cho y thì nên nhờ các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, vì muốn tịnh nên trao cho ông. Ông nên trao vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu người kia lấy rồi không trả lại, mà các tỳ-kheo khác không nói thì mình nên tự đến nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, vì muốn tịnh nên trao cho ông. Nay ông nên trao cho Tăng, cho tháp, cho Hòa thượng, cho đồng Hòa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho các cựu tri thức, hoặc hoàn lại nơi người chủ kia.” Không nên để mất phẩm vật của tín thí. Tất cả như vậy thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XIX. KINH DOANH TÀI BẢO (2)
A. DUYÊN KHỞI
____________________
(1)  Hán: tri thị khán thị 知是看是; tương tự Pāli: āvuso, ima jānāhi, “Này ông, hãy nhận biết cái này.” Khi xả vật phạm, nếu có tịnh nhân hay cư sĩ đi đến, tỳ-kheo nói như vầy, tức là nhắc người ấy cất số tiền để ở đó mà tỳ-kheo không được phép cầm nắm. Cũng không được sai khiến người ấy nhận và cất giữ hộ.
(2)  Pāli: Nissaggiya 19: rūpiyasaṃvohāra. Ngũ phần 5 (tr.36c21), ni-tát-kỳ 29. Tăng kỳ (tr.312c03), ni-tát-kỳ 20. Căn bản 22 (tr.741c21): “Xuất nạp cầu lợi.”

* Trang 282 *
device

Một thời, đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ. 
Bấy giờ, Bạt-nan-đà đến hiệu buôn, dùng tiền đổi tiền, rồi mang đi. Các cư sĩ  thấy vậy đều cơ hiềm rằng: “Sa-môn Thích tử dùng  tiền đổi tiền, rành nghề mua bán.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị  thiểu dục,  tri  túc, sống hạnh đầu-đà,  ưa học  giới,  [620a1]  biết  tàm  quý  hiềm  trách Bạt-nan-đà rằng: “Sao lại đem tiền đổi tiền, rồi mang đi?”
Chư tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở  trách Bạt-nan-đà rằng: “Việc  làm của các ngươi  là sai quấy, chẳng phải oai  nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng phải hạnh  tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Sao lại dùng  tiền để đổi tiền?” 
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách, rồi bảo  các tỳ-kheo:
“Đây  là người ngu si,  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo  nào,  kinh  doanh  tiền  tài bảo vật, dưới mọi  hình thức, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Kinh doanh dưới mọi hình thức: (1)
_________________
(1) Hán: chủng chủng mãi mại 種種買賣. Thập tụng (tr.51c13): chủng chủng dụng bảo 種種用寶, chỉ các hình thức buôn bán đổi chác. Căn bản: chủng chủng xuất nạp cầu lợi 種種出納求利, các hình thức trao đổi để kiếm lời. Pāli (Vin.iii.239): nānappakārakaṃ, giải  thích: katampi akatampa katākatampi, đã được chế biến thành các  thứ  trang sức, hoặc chưa được chế biến, hoặc nửa chế biến nửa chưa chế biến.

* Trang 283 *
device

dùng vàng thành (1) đổi vàng thành; vàng chưa thành đổi vàng đã thành; vàng chưa thành đổi bạc thành; bạc chưa  thành, đổi bạc đã  thành; chưa  thành; bạc nửa chưa  thành đổi lấy  tiền. Dùng vàng chưa  thành đổi vàng  thành; đổi vàng chưa thành, đổi vàng đã  thành chưa  thành; đổi bạc  thành, đổi bạc chưa thành;  đổi bạc  đã  thành  và  chưa  thành,  đổi  tiền.  Dùng  vàng  đã thành chưa thành đổi vàng thành; đổi vàng chưa thành, đổi vàng đã thành  chưa  thành;  đổi bạc  thành,  đổi bạc  chưa  thành;  đổi bạc  đã thành  và  chưa  thành,  đổi  tiền. Dùng bạc  đã  thành,  đổi  vàng,  cho đến đổi tiền cũng như vậy. Dùng bạc chưa thành đổi vàng, cho đến đổi tiền cũng như vậy. Dùng bạc chưa thành đổi vàng, cho đến đổi tiền cũng  như vậy. Dùng bạc  đã  thành  chưa  thành  đổi  vàng,  cho đến  đổi  tiền cũng  như vậy. Dùng  tiền  đổi  vàng,  cho  đến  đổi  tiền cũng như vậy.
Tiền (2) :  có  tám  loại:  tiền  vàng,  tiền bạc,  tiền  thiếc,  tiền  đồng,  tiền bạch lạp, tiền chì thiếc, tiền cây, tiền hồ giao.
Nếu tỳ-kheo nào, kinh doanh các  loại bảo vật dưới mọi hình  thức, dùng vàng thành đổi vàng thành, cho đến đổi tiền, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Vật này phải xả.
Phương  thức xả: Nếu  người giữ vườn,  hoặc ưu-bà-tắc có  tín  tâm, nên  nói với họ rằng:  “Vật  này  không  thích hợp với  tôi. Ông  biết cho!” Nếu người kia nhận rồi hoàn lại cho tỳ-kheo thì tỳ-kheo nên nhận như  là của người khác, rồi bảo tịnh nhân cất. Sau đó, nếu cần tịnh y, bát, tọa cụ, ống đựng kim thì đem đổi để thọ trì. Nếu người kia nhận rồi,  trao cho tỳ-kheo y bát tịnh, tọa cụ, ống đựng kim,  thì nên  thọ  trì. Nếu  người  kia  nhận rồi mà  không  trả lại  cho tỳ-kheo [620b]  thì  nên  nhờ  các tỳ-kheo  khác  nói với họ rằng: “Đức  Phật dạy,  vì muốn tịnh  nên  trao  cho  người. Người  nên  hoàn vật  ấy lại cho tỳ-kheo  kia.” Nếu tỳ-kheo  khác  nói mà họ vẫn  không  trả  thì
_________________
(1) Vàng  thành và vàng chưa  thành, Hán:  thành kim, vị  thành kim 成金,未成金; Thập tụng:  tác bất tác 作不作. Pāli, nt.: katam, akatam: đã được chế biến thành nữ trang và chưa được chế biến.
(2) Pāli:  rūpiya,  chỉ  chung  vàng  và bạc;  giải  thích:  satthuvaṇṇo  (vàng  ròng), kahāpaṇo  (tiền  vàng),  lohamasako  (tiền  đồng),  dārumasako  (tiền gỗ), jatumasako (tiền hồ giao, nhựa cây).

* Trang 284 *
device

mình tự đến nói: “Đức Phật dạy, vì muốn tịnh nên  trao cho người. Nay người nên trao cho Tăng, cho tháp, cho Hòa thượng, cho đồng Hòa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho cựu tri  thức thân, hoặc hoàn lại cho người chủ cũ.” Tại sao vậy? Vì không muốn mất phẩm vật của  thí chủ. Nếu tỳ-kheo không nói với  người kia rằng:
“Hãy xem cái này! Hãy nhận biết cái này!” phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni,  ni-tát-kỳ  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu nói với người: “Hãy biết cái này! Hãy nhìn cái này!” Hoặc có nói với  người giữ vườn, hay  nói ưu-bà-tắc  tín  tâm rằng: “Vật này không  thích hợp với  tôi. Ông biết cho!” Nếu người kia nhận rồi hoàn lại cho tỳ-kheo  thì tỳ-kheo nên nhận như  là của người khác, rồi bảo tịnh nhân cất. Sau đó, nếu cần tịnh y, bát, tọa cụ, ống đựng kim  thì đem đổi để  thọ  trì. Nếu người kia  nhận rồi, trao cho tỳ-kheo y  bát tịnh, tọa cụ, ống đựng kim,  thì  nên  thọ  trì. Nếu người kia  nhận rồi mà không  trả lại cho tỳ-kheo  thì nên  nhờ các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, vì muốn tịnh nên trao cho người. Người nên hoàn vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu tỳ-kheo khác nói mà họ vẫn không trả thì mình tự đến nói: “Đức Phật dạy,  vì  muốn tịnh  nên  trao  cho  người.  Nay  người  nên  trao  cho Tăng, cho Tháp, cho Hòa thượng, cho đồng Hòa thượng, cho A-xà-
lê, cho đồng A-xà-lê, cho cựu tri thức thân, hoặc hoàn lại cho người chủ cũ.” Tại  sao vậy? Vì không muốn mất phẩm vật của  thí chủ. Nếu dùng tiền đổi dụng cụ anh lạc vì Phật, Pháp, Tăng; hoặc dùng đồ anh lạc đổi tiền vì Phật, Pháp, Tăng, thì không phạm. 
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới;  người  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
XX. BUÔN BÁN (1)
_______________________
(1) Pāli  (Vin.iii.242): Nissaggiya  20,  kayavikkaya. Ngũ  phần,  ni-tát-kỳ  28.  Tăng kỳ, ni-tát-kỳ 19.

* Trang 285 *
device

A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại Xá-vệ. Bấy  giờ, Bạt-nan-đà Thích tử, tại nước Câu-tát-la,  trên đường đi đến một  thôn không có trú xứ. (1) Khi đến  trong thôn, đem gừng sống đổi thức ăn. Ăn xong rồi đi.
Bấy  giờ,  Tôn  giả  Xá-lợi-phất cũng  đang tại  Câu-tát-la  du  hành trong nhân gian, rồi đến  trong  thôn không  trú xứ đó. Đến giờ, đắp y, bưng bát, vào thôn khất thực, tuần tự tới nơi nhà bán cơm, đứng im lặng. Người bán cơm thấy vậy bảo rằng:
“Đại đức, [620c] ông cần cái gì?”
Tôn giả trả lời: “Cư sĩ, tôi cần thức ăn.”
Người kia nói: “Đưa vật có giá ra đây.”
Tôn giả ngạc nhiên nói:
“Đừng nói như vậy. Điều đó chúng tôi không nên làm.”
Người bán cơm nói:
“Vừa rồi Bạt-nan-đà  dùng gừng sống  đổi  thức  ăn. Ăn rồi  đi. Sao
Đại đức nói không làm việc ấy?”
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe nói như vậy lấy làm xấu hổ, không nói gì.
Khất  thực xong, về đến  trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo.
Trong lúc ấy, trong thành Xá-vệ có một ngoại đạo, được một chiếc y quý giá,  lòng tự nghĩ: “Ta cần gì cái y quý giá này? Nay  ta nên đổi y khác.”
 Lại nghĩ tiếp, “Nơi nào ta có thể đối y? Chỉ có sa-môn Thích tử ưa mặc  y đẹp. Chắc họ có  thể đổi.” Nghĩ  xong  liền  đem chiếc  y đến trong Tăng-già-lam, nói với các tỳ-kheo rằng:
“Tôi muốn đổi y này. Vị nào muốn đổi thì đổi.”
_____________
(1) Hán:  (nhất)  vô  trú xứ  thôn 一無住處村;  chỉ  thôn  không  có  chùa của Tăng. Không rõ là từ chung hay tên thôn. Các bản không có chi tiết này.

* Trang 286 *
device

Bạt-nan-đà nghe vậy liền nói:
“Sáng mai đem đến đây! Tôi sẽ trao đổi y với ông.”
Bạt-nan-đà  là người rất khéo tay về may sửa y. Ngay đêm ấy, đem y cũ giặt, nhuộm, ủi, làm cho y sáng sủa như mới. Sáng ngày, ngoại đạo đem y đến trong Tăng-già-lam, nói với các tỳ-kheo:
“Vị nào muốn đổi y thì đổi.”
Bấy  giờ, Bạt-nan-đà  liền  đem  y của  mình  ra  giới  thiệu  nói với ngoại đạo:
“Tôi  dùng  y  này  đổi  cho  ông,  ông  đưa  y của  ông  cho  tôi  được không?”
Ngoại đạo trả lời: “Được.”
Hai bên trao đổi. Ngoại đạo nhận được y đem về trong vườn nơi cư trú của mình, đưa cho các ngoại đạo xem và nói:
“Các bạn nên biết, tôi đem chiếc y đang mặc đổi lấy y này đây.”
Trong số ngoại đạo, có người có trí tuệ nói rằng:
“Bạn bị  người  ta lừa rồi. Tại  sao vậy? Y của bạn  đang mặc tốt, rộng, dài, bền chắc. Còn  y  này  là  y cũ;  vì khéo ủi, sửa  soạn, nên trông qua thấy sáng sủa, in như y mới thế thôi.”
Ngoại đạo ấy nghe xong, liền đem chiếc y vừa đổi, vào trong Tăng-già-lam, nói với Bạt-nan-đà rằng:
“Tôi trả lại y ông. Ông trả lại y tôi.”
Bạt-nan-đà nói:
“Đã đổi rồi thì thôi, không được hoàn trả lại.”
Ngoại đạo nói:
“Y của tôi mới và tốt, rộng, dài, bền chắc; còn y của ông cũ và xấu được ủi sửa soạn như y mới mà thôi.”
Bạt-nan-đà nói:
“Đã đổi rồi dứt khoát tôi không hoàn lại.”
Ngoại đạo kia cơ hiềm:

* Trang 287 *
device

“Y của  tôi mà  tôi đòi lại không được hay  sao? Y của  tôi mới, tốt, rộng, dài, bền chắc. Y của ông cũ, xấu. Tại sao cùng  là người xuất gia với nhau, đổi y cho nhau mà hoàn lại không được?”
Trong số  các tỳ-kheo  nghe  đó,  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học  giới,  biết  tàm  quí,  [621a1]  hiềm  trách Bạt-nan-đà rằng: “Sao lại dùng gừng sống để đổi  thức ăn để ăn? Sao lại cùng với ngoại đạo đổi y mà không cho hoàn lại?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ  lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà: “Việc  làm của ngươi  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại lấy gừng đổi thức ăn để ăn; lại cùng ngoại đạo đổi y mà không cho hoàn lại?”
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách, rồi bảo  các tỳ-kheo: “Từ này về  sau, cho phép năm  chúng xuất gia  trao đổi qua lại. Khi đổi thẩm  định, không nên quá cao thấp với nhau như phép ngoài  chợ  búa.  Không  được  cùng  người  khác  đổi  chác,  mà  nên khiến tịnh nhân  làm việc ấy. Nếu họ cần đổi lại, nên hoàn lại cho họ. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo  nào,  kinh  doanh mậu dịch dưới mọi  hình  thức, (1) ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Kinh doanh mậu dịch dưới mọi hình thức: dùng thời dược đổi thời dược,  dùng  [thuốc]  có  thời hạn  đổi  [thuốc]  phi  thời hạn,  dùng
___________________
(1) Ngũ phần: chủng chủng bản mại cầu lợi 種種販賣求利. Tăng kỳ: chủng chủng mãi mại 種種買賣.

* Trang 288 *
device

[thuốc] có thời hạn đổi [thuốc] bảy ngày, dùng [thuốc] có thời hạn đổi [thuốc] suốt đời, dùng [thuốc] có thời hạn đổi ba-lợi-ca-la. 
Dùng  [thuốc]  phi  thời hạn  đổi  [thuốc]  phi  thời hạn,  dùng  [thuốc] phi  thời hạn  đổi  thất  nhật dược,  dùng  [thuốc]  phi  thời hạn  đổi [thuốc]  suốt  đời,  dùng  [thuốc]  phi  thời hạn  đổi  ba-lợi-ca-la,  dùng [thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] có thời hạn. 
Dùng  [thuốc] bảy  ngày  đổi  [thuốc] bảy  ngày,  dùng  [thuốc] bảy ngày... cho đến [thuốc] phi thời hạn cũng như vậy. 
Dùng [thuốc] suốt đời đổi [thuốc] suốt đời, cho đến đổi [thuốc] bảy ngày cũng như vậy. 
Dùng  ba-lợi-ca-la  đổi  ba-lợi-ca-la  cho  đến  đổi  (thuốc)  suốt  đời cũng như vậy.
- Bán: trị giá một tiền, nhiều lần (trả giá) lên hay xuống.
- Bán lên giá: trị giá một tiền, nói giá ba tiền.
- Bán tăng gấp  giá:  trị  giá một  tiền,  nói  giá năm  tiền. Mua cũng như vậy.
Nếu tỳ-kheo  kinh  doanh mậu dịch, dưới mọi  hình  thức mà  nhận được lời, ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không nhận được lời, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la. Khi xả, đương sự  phải  đến  trong Tăng,  trống  vai  bên hữu, cởi bỏ  dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã kinh doanh mọi  thứ,  được  tài vật,  phạm xả  đọa,  [621b] nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết, vị nhận sám hối phải tác bạch:
“Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  này  tên  là...,  đã kinh doanh mọi thứ, được tài vật, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với Tăng, Tăng  chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”

* Trang 289 *
device

Tác bạch rồi,  sau  đó mới  nhận  sám hối. Khi  nhận  sám  phải bảo phạm nhân:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa: 
“Xin vâng!”
Tăng  nên  hoàn lại vật  đó  cho tỳ-kheo  này bằng bạch  nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng  tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  này  tên  là...,  đã kinh doanh mọi  thứ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian  thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp  thuận,  trả lại vật cho tỳ-kheo có tên này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại  đức Tăng  xin lắng! Tỳ-kheo  này  tên  là...,  đã  kinh doanh mọi  thứ,  được  tài vật,  phạm xả  đọa,  nay xả  cho Tăng. Nay, Tăng đem vật này  trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng  lão  nào  đồng  ý, Tăng  đem vật  này  trả lại  cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp  thuận  trả vật lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đương sự  đã xả  giữa Tăng rồi, Tăng  không  hoàn lại,  đột-kiết-la. Khi  trả  có  người bảo “đừng  trả”,  người  ấy  phạm  đột-kiết-la. Nếu chuyển  làm tịnh  thí, hoặc sai cho người, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc dùng mãi, hoặc dùng vào việc khác, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,  ni-tát-kỳ  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  cùng năm  chúng  xuất  gia  trao  đổi, tự mình  xét định không quá chênh lệch như bọn nhà buôn. Không cùng người khác đổi chác, hoặc sai tịnh nhân đổi chác, hoặc họ hối, cho họ đổi lại. Hoặc dùng sữa đổi dầu, dùng dầu đổi sữa. Tất cả không phạm.

* Trang 290 *
device

Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới;  người  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. (1)
XXI. CHỨA BÁT DƯ (2)
A. DUYÊN KHỞI
[621c7] Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chứa bát. Cái nào tốt  thì họ  trì, cái nào không tốt  thì để đó. Thường sưu tầm bát tốt như vậy cất chứa thành nhiều.
Bấy giờ, có các cư sĩ đến tham quan các phòng. Thấy nhóm sáu tỳ-kheo (3) chứa cất nhiều bát. Thấy vậy họ đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử mong cầu không nhàm chán, không biết  tàm quý. Bên ngoài tự xưng rằng,  ta  biết  chánh  pháp. Như vậy  thì  có  gì  là  chánh  pháp? Cất chứa nhiều bát như nơi cửa hàng của thợ đồ gốm.”
Trong số  các tỳ-kheo  nghe  đó,  có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, hiềm  trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao chứa bát, cái tốt  thì  thọ  trì, cái xấu để đó,  thường sưu tầm bát mới chứa cất thành nhiều?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.  Đức  Thế  Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo  quở trách Bạt-nan-đà rằng: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai  nghi,  chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng phải hạnh tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Sao lại chứa bát, cái tốt thì thọ trì, cái xấu để đó, thường tìm cầu bát mới chứa cất thành nhiều?” 
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách, rồi bảo  các tỳ-
__________________________                                        
(1) Bản Hán, hết quyển 8.
(2) Pāli, Nissaggiya 21, atirekapatta, Vin.  iii. 240. Ngũ phần  (tr.34b23), ni-tát-kỳ 20.  Tăng-kỳ (314b08), Thập tụng (53b10), Căn bản (744a08), ni-tát-kỳ 21.
(3) Đoạn sau, nói là Bạt-nan-đà.

* Trang 291 *
device

kheo:  “Bạt-nan-đà  là  người  ngu  si,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú  nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại  lâu dài.” Muốn nói giới nên nó như vầy:
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, Tôn giả A-nan nhận được chiếc bát quý giá của nước Tô-ma, (1) ý muốn dâng  cúng  cho Đại Ca-diếp  vì Đại Ca-diếp  thường  dùng  loại  bát của nước này.
Khi ấy, Đại Ca-diếp không ở đó. Tôn giả  nghĩ: “Đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết  giới,  ‘Tỳ-kheo  nào  chứa  bát dư,  ni-tát-kỳ  ba-dật-đề.’ Nay  ta nhận được chiếc bát quý giá của nước Tô-ma, [622a1] muốn dâng cúng cho ngài Đại Ca- diếp, song ngài không có ở đây.
Không  biết  làm  thế  nào.”  Tôn  giả A-nan  đến  chỗ  đức  Thế  Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên, bạch đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã vì tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Mà nay con vừa nhận được chiếc  bát quý giá của nước Tô-ma, muốn dâng cúng cho Đại Ca-diếp,  song Đại Ca-diếp không có ở đây, con không biết làm thế nào.” 
Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả A-nan: “Đại Ca-diếp bao lâu sẽ về?”
Tôn giả A-nan bạch Phật: “Sau mười ngày, Đại Ca-diếp sẽ về.”
Bấy  giờ,  đức Thế Tôn  vì  nhân  duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện tùy thuận nói pháp, khen ngợi hạnh đầu-đà nghiêm chỉnh,  thiểu dục tri  túc và những vị ưa xuất  ly, bảo các tỳ-kheo:  “Từ nay về  sau cho phép các Tỳ-kheo chứa  bát dư cho đến mười ngày.” 
__________________
(1) Tô-ma quốc 蘇摩國. Một trong 16 đại quốc thời Phật, theo liệt kê của Trung A-hàm 55  (T1n26,  tr.772b17). Liệt kê này không đồng nhất với Trường A-hàm 5 (Kinh Xà-ni-sa), và các bản Pāli  (A.vii.43 v.v.). Phiên Phạn ngữ 8  (T54n2130, tr.1035a18): Tô-ma, dịch là Nguyệt 月. Bát sản xuất tại nước Tô-ma được xem là 1 trong 6 loại bát hợp pháp. Xem Ngũ phần 26,  tr.169c14.

* Trang 292 *
device

Nên nói giới như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư, không tịnh thí, (1) được phép chứa trong hạn mười ngày. Quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Bát: Có sáu loại (2) : bát thiếc, bát nước Tô-ma, bát nước Ô-già-la, (3) bát nước Ưu-già-xa, (4) bát  đen,  bát  đỏ. (5) Đại  thể  có  hai  loại:  bát bằng thiếc và bát bằng đất. (6) Bát lớn chứa ba đấu, bát nhỏ chứa một đấu rưỡi. (7) Đây là dung lượng của bát, nên thọ trì như vậy, nên tịnh thí.
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát, cho đến ngày  thứ mười nhận  được  bát,  chứa  đến  ngày  thứ mười một,  khi  bình minh  xuất hiện, số bát nhận được trong mười ngày đều thành ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo  ngày  thứ  nhất  nhận  được  bát.  Ngày  thứ  hai  không nhận  được. Ngày  thứ  ba  nhận  được,  ngày  thứ tư  nhận  được,  như
______________________
(1) Căn bản 22: không phân biệt. Xem cht. Ch Ni-tát-kỳ 1. Pāli không có chi tiết này, nhưng định nghĩa bát dư là vật chưa được tác pháp thọ trì và chưa thuyết tịnh (atirekapattp nāma anadhiṭṭhito avikappito). Ngũ phần, cũng không có; và hướng dẫn: tỳ kheo được thêm bát mới, nếu không phân biệt được cũ và mới cái nào tốt thì dùng thay đổi cứ 5 năm ngày một cái, cho đến khi phân biệt được cái nào tốt hơn thì dùng, cái xấu hơn thì đem cho.
(2) Tăng-kỳ, 7 loại bát: 1. sâm-đà , 2. ô-ca-tư-ma , 3. ưu-ca-tra-da, 4. đa-kỳ-da , 5. bát sắt , 6. trí-diệp-ni , 7. tất-lệ-du
(3) Ô-già-la quốc 烏伽羅國, địa danh sản xuất bát. Pāli không đề cập. Có thể Pāli là Ugga-nigama, một thị trấn trong Vương quốc Kosala.
(4) Ưu-già-xa quốc 憂伽賒國; địa danh chưa rõ.
(5) Pāli: bát có hai loại, ba cỡ, như bản Hán, nhưng không nói xuất xứ của bát. Các bộ khác cũng không nói xuất xứ như Tứ phần.
(6) Thiết bát, nê bát 鐵缽泥缽. Pāli: ayopatta, mattikapatta.
(7) Pāli, Vin.iii. 243, bát có ba cỡ. Lớn, lượng một āḷhaka cơm; trung, một nāḷika cơm; nhỏ, một pattha. Thập tụng 7 (T.1435, tr. 53b): cỡ lớn, ba bát-tha cơm; cỡ
nhỏ, một bát-tha.

* Trang 293 *
device

vậy cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số bát nhận được  trong chín ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được, ngày thứ ba không nhận được (như vậy chuyển lần xuống đến ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên (1)).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba  không  nhận  được. Ngày  thứ tư  nhận  được,  cho  đến  ngày  thứ mười  nhận được bát, đến ngày  thứ mười một, khi  bình minh  xuất hiện, số bát nhận được trong tám ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát. Ngày  thứ  ba,  ngày  thứ tư  không  nhận  được. Ngày  thứ năm nhận được (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như vậy*).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba, ngày thứ tư không nhận được bát; ngày thứ năm nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một khi bình minh xuất hiện, số bát nhận được trong bảy ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát. Ngày  thứ ba, ngày  thứ tư, ngày  thứ năm không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười  không  nhận  được  bát,  đặt  [622b]câu văn cũng  như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba, ngày  thứ tư, ngày  thứ năm không nhận được bát. Ngày  thứ sáu nhận  được  bát,  cho  đến  ngày  thứ mười  nhận  được  bát,  ngày  thứ mười một  khi  bình  minh  xuất  hiện, số  bát  nhận  được  trong  sáu ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được,
____________________
(1) Tiểu chú trong bản Hán.

* Trang 294 *
device

ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm. Ngày thứ sáu không nhận được (như vậy chuyển xuống cho đến ngày  thứ bảy, ngày  thứ  tám ngày  thứ  chín,  ngày  thứ mười  không  nhận  được bát,  đặt  câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được bát. Ngày  thứ bảy  nhận  được  bát,  cho  đến  ngày  thứ mười  nhận  được bát, đến ngày  thứ mười một khi  bình minh  xuất hiện, số bát nhận được trong năm ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được. Ngày  thứ  ba,  ngày  thứ tư,  ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu,  ngày  thứ bảy  không  nhận  được  bát. Ngày  thứ  tám  nhận  được  bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày  thứ  sáu, ngày  thứ bảy, ngày  thứ  tám, ngày  thứ  chín,  ngày  thứ mười  không  nhận  được bát,  đặt  câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba, ngày  thứ tư, ngày  thứ năm, ngày  thứ sáu, ngày  thứ bảy không nhận  được  bát.  Ngày  thứ  tám  nhận  được  bát,  cho  đến  ngày  thứ mười  nhận  được  bát,  đến  ngày  thứ mười một  khi  bình minh  xuất hiện, số bát nhận được trong bốn ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được. Ngày  thứ  ba,  ngày  thứ tư,  ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu,  ngày  thứ bảy, ngày thứ tám không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ  chín,  ngày  thứ mười  không  nhận  được  bát,  đặt  câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba,  ngày  thứ tư, ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu, ngày  thứ bảy,  ngày thứ tám không nhận được bát. Ngày  thứ chín, ngày  thứ mười nhận được bát, số bát nhận được  trong ba ngày đến ngày mười một khi bình minh xuất hiện đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được.

* Trang 295 *
device

Ngày  thứ  ba,  ngày  thứ tư,  ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu,  ngày  thứ bảy, ngày  thứ  tám,  ngày  thứ chín, không  nhận được  bát (như vậy chuyển  xuống  cho  đến  ngày  thứ tư,  ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu, ngày  thứ bảy, ngày  thứ  tám, ngày  thứ chín, ngày  thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên).
Nếu tỳ-kheo ngày  thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày  thứ ba,  ngày  thứ tư, ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu, ngày  thứ bảy,  ngày thứ tám, ngày  thứ chín không nhận được bát. Ngày  thứ mười nhận được bát, ngày thứ mười một khi bình minh xuất hiện, số bát nhận được trong hai ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được. Ngày  thứ  ba,  ngày  thứ tư,  ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu,  ngày  thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên).
Nếu Tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày  thứ hai, ngày thứ ba,  ngày  thứ tư, ngày  thứ năm,  ngày  thứ  sáu, ngày  thứ bảy,  ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, ngày thứ mười một khi bình minh xuất hiện, số bát nhận được trong một ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát không tịnh thí. Ngày thứ hai được bát tịnh  thí. Ngày  thứ ba  [622c] được bát, cho đến ngày thứ mười được bát không tịnh thí, đến ngày thứ mười một khi bình minh xuất hiện, số bát nhận được trong chín ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát không tịnh thí. Ngày thứ ba được bát tịnh thí. Ngày thứ tư được bát không tịnh  thí (như vậy chuyển xuống cho đến ngày  thứ mười được bát không tịnh thí, và tịnh thí, đặt câu văn cũng như trên*). 
Sai cho người (đặt câu văn cũng như vậy). Hoặc mất (câu văn cũng như trên*).

* Trang 296 *
device

Hoặc cố làm cho hư hoại (câu văn cũng như vậy*).
Hoặc làm phi bát (câu văn cũng như vậy*). 
Hoặc khởi ý  thân hữu lấy (câu văn cũng như  trên*). Hoặc quên đi
(câu văn cũng như trên*). 
Tất cả đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu bát phạm ni-tát-kỳ mà không xả, lại đổi bát khác thì phạm một ni-tát-kỳ và một đột-kiết-la.
Bát phạm ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một  người,  không  được xả  biệt  chúng. Xả  không  thành xả  phạm đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng lên Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe!  Tôi, tỳ-kheo  tên  là...,  đã chứa  bát dư,  quá mười  ngày,  phạm xả  đọa,  nay xả  cho Tăng.”
Xả bát rồi phải sám hối, vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  này  tên  là...,  đã chứa  bát dư  quá mười  ngày,  phạm xả  đọa,  nay xả  cho Tăng. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với Tăng, Tăng  chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi mới nhận sự sám hối của vị kia. Nên nói với tỳ-kheo kia rằng: “Hãy tự trách tâm mình!
Vị ấy thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn bát lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  này  tên  là...,  đã chứa  bát dư  quá mười  ngày,  phạm xả  đọa,  nay xả  cho Tăng. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với Tăng, Tăng  chấp thuận, trả bát lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

* Trang 297 *
device

Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tỳ-kheo  này  tên  là...,  đã chứa  bát dư  quá mười  ngày,  phạm xả  đọa,  nay xả  cho Tăng. Nay Tăng trả bát lại cho tỳ-kheo này, các trưởng lão nào  chấp  thuận Tăng  trả  bát lại  cho tỳ-kheo  có  tên... này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Tăng  đã  chấp  thuận  trả lại  bát  cho tỳ-kheo  có  tên... này rồi, Tăng  chấp  thuận nên  im lặng. Việc  này  tôi  ghi nhận như vậy.”
Nếu đã xả bát trong Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la.
Nếu có người bảo “đừng trả”, vị ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển tịnh  thí hoặc sai cho người, hoặc cố  làm cho hư, hoặc làm  phi  bát,  hoặc  [623a1]  dùng  thường  xuyên, (1) tất cả  đều  phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,  ni-tát-kỳ  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự  không  phạm:  trong mười  ngày.  Hoặc tịnh  thí.  Hoặc  sai  cho người. Hoặc tưởng bị cướp đoạt, bị mất, bị phá hư, bị nước cuốn trôi thì không phạm. Nếu bát bị đoạt, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn trôi nên lấy dùng,  hoặc người khác cho dùng. Hoặc tỳ-kheo nhận gởi  bát qua đời, hoặc đi xa, hoặc  thôi  tu, hoặc bị giặc cướp, hoặc gặp ác thú hại, hoặc bị nước cuốn trôi, không sai cho người. Tất cả không phạm. 
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới;  người  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
XXII. ĐỔI BÁT MỚI (2)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
________________                                        
(1) Cho chóng hư. Xem Ni-tát-kỳ 1.
(2)  Pāli, Nissaggiya 22, ūnapañcabandhana. Ngũ phần (tr.34a22), ni-tát-kỳ 19.

* Trang 298 *
device

tại Xá-vệ. Bấy  giờ, Bạt-nan-đà Thích tử  bát bị vỡ,  nên  vào  thành Xá-vệ nói với một cư sĩ rằng:
“Ông biết cho. Bát tôi bị vỡ. Ông hãy giúp tôi.”
Bấy giờ, có cư sĩ nọ liền vào trong chợ mua cái bát cúng cho. Bạt-nan-đà lại đến nhà cư sĩ khác cũng nói rằng:
“Bát tôi bị vỡ. Ông hãy giúp tôi.”
Các cư sĩ kia cũng liền đến chợ mua bát cúng dường.
Bạt-nan-đà bị vỡ một cái bát mà cầu tìm nhiều bát để chứa cất. Sau đó, một thời gian các cư sĩ có cơ hội gặp nhau. Có một cư sĩ nói với các cư sĩ khác rằng: “Tôi được phước vô lượng.”
Các cư sĩ hỏi: “Nhờ việc gì mà bạn được phước vô lượng?”
Đáp rằng: “Tôn giả Bạt-nan-đà bị vỡ cái bát. Tôi mua cái bát cúng cho, nên được phước vô lượng.”
Các cư sĩ mỗi người đều tự nói: 
“Chúng tôi cũng được phước vô lượng.”
Các cư sĩ khác hỏi rằng: 
“Do nhân duyên gì quý vị đều được phước vô lượng?”
Các cư sĩ trả lời rằng: 
“Bạt-nan-đà bị vỡ cái bát, chúng  tôi đều  ra chợ mua bát cúng cho
Bạt-nan-đà.”
 Các cư sĩ cơ hiềm nói:
“Sa-môn  Thích tử  không  biết  tàm  quý,  mong cầu  không  nhàm chán, không biết đủ. Bên ngoài tự xưng rằng, ‘Ta biết chánh pháp.’
Như vậy thì có chánh pháp gì? Bị vỡ một cái bát mà tìm cầu nhiều bát  để  chứa cất. Đàn-việt  tuy  cúng dường  không  nhàm  chán mà người thọ nhận phải biết đủ chứ!” 
Trong số các Tỳ-kheo nghe đó, có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết  tàm quý, hiềm  trách Bạt-nan-đà Thích tử rằng:  “Sao  thầy bị vỡ một  cái  bát lại  tìm cầu  nhiều  bát  để  chứa cất?” Các Tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt lễ dưới chân, rồi

* Trang 299 *
device

ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn tập hợp các tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Việc  làm của ngươi  là  sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  [623b]  chẳng  phải hạnh  tùy thuận,  làm việc không nên  làm. Sao lại bể một cái bát mà  tìm cầu nhiều bát để chứa cất?”
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách, rồi bảo  các Tỳ-kheo:
“Bạt-nan-đà này  là người ngu si,  là nơi  trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, chứa bát  trám dưới năm chỗ không chảy rỉ, mà tìm xin bát mới, vì muốn đẹp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng để xả, lần lượt cho đến lấy cái bát tối hạ (1) trao cho, khiến  thọ  trì cho đến khi vỡ; đó là điều hợp thức. (2)
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Năm chỗ trám: khoảng cách giữa hai chỗ trám bằng hai ngón tay. 
Tỳ-kheo  nào  bát bị bể dưới năm  chỗ  trám (3) mà  không  chảy rỉ, lại tìm cầu bát mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. 
________________________
(1) Pāli: yo ca tassā bhikkhuparisāya pattapariyanto, tối hạ bát của chúng tỳ-kheo đó. Ngũ phần 5 (T22n1421, tr.34a), Thập tụng 8 (T23n1435, tr.54b), Căn bản 22 (T23n1442, tr.745c): chúng trung tối hạ bát.
(2) Nguyên Hán: thử thị thời 此是時. Ngũ phần, Thập tụng: thị pháp ưng nhĩ. Căn bản:  thử  thị kỳ  pháp. Pāli:  ayaṃ  tattha sāmīcī,  đó  là  tiến  trình hợp  thức;  giải thích: ayaṃ tattha anudhammatā, điều đó là sự tuỳ thuận pháp tánh trong đây.
(3) Hán: giảm ngũ xuyết 減五綴. Pāli: ūnapañcabandhanena, dưới năm chỗ vá.

* Trang 300 *
device

Nếu  trám đủ năm chỗ mà không rỉ chảy lại  tìm cầu bát mới, đột-kiết-la. 
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng trong trú xứ đó. Nên đến giữa Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo  tên  là..., bát đã bị bể, dưới năm  chỗ  trám  chưa rỉ  chảy, lại  xin  bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đã bị bể dưới năm  chỗ  trám  chưa rỉ  chảy, lại  xin  bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận,  tôi  nhận sự  sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi,  sau  đó mới  nhận  sám.  Khi  nhận  sám  nên  nói với người kia rằng:
Hãy tự trách tâm mình!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Bát của vị tỳ-kheo này nếu  là  loại bát quý giá tốt thì nên cất lại, và lấy cái bát kém nhất trao cho vị ấy, bằng bạch nhị yết-ma, nên trao như vầy: Trong Tăng sai một vị có khả năng  tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch: (1)
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đã
_______________________
(1) Thập tụng, nt., gọi  là yết-ma Tăng  sai “hành mãn  thủy bát nhân“, người  thực hiện nghi thức bát đầy nước. Tức Tăng sai tỳ-kheo đổi bát. Đưa bát phạm xả, vì là tốt nhất, cho Thượng tọa lớn nhất. Nếu Thượng tọa nhận bát mới này, lấy bát cũ của Thượng tọa  trao  cho vị Thượng tọa kế. Lần lượt  xuống  đến tối hạ tọa. Cho đến khi, trong chúng không ai muốn đổi nữa, thì lấy bát được đổi cuối cùng trao cho tỳ-kheo phạm xả. Pāli gọi đây là yết-ma Tăng sai người nhận bát để đổi (bhikkhu pattagāhāpako).

* Trang 301 *
device

bị bể dưới năm  chỗ  trám  không rỉ  chảy, lại  xin  bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trao bát cho tỳ-kheo có tên này. Đây là lời tác bạch.”
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đã bị bể dưới năm  chỗ  trám  không rỉ  chảy, lại  xin  bát mới, phạm xả đọa, đã xả cho Tăng. Nay Tăng trao bát lại cho tỳ-kheo  có  tên... này.  [623c] Các  trưởng  lão nào  chấp  thuận Tăng trao bát lại cho tỳ-kheo có tên là... này thì im lặng. Vị nào không đồng ý, xin hãy nói.”
Tăng đã đồng ý  trao bát lại cho tỳ-kheo có  tên... này rồi. Tăng chấp  thuận nên  im lặng. Việc này  tôi ghi nhận như vậy.”
Bát của tỳ-kheo kia nên đem  tác bạch rồi hỏi Tăng,  tác bạch như vầy:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận,  đem  bát  này  theo  thứ tự hỏi Thượng tọa. Đây là lời tác bạch.”
Bạch như vậy rồi nên đem  bát  trao cho Thượng tọa. Nếu Thượng tọa  muốn  nhận  bát  (mới)  này  thì  trao  cho, rồi lấy  bát  (cũ) của Thượng tọa trao cho vị kế. Nếu trao cho tỳ-kheo kia thì tỳ-kheo kia nên nhận. Không nên vì hộ  trì chúng Tăng mà không nhận. Cũng không nên vì nhân duyên này mà  thọ  trì bát tối hạ; nếu  thọ  trì  thì phạm đột-kiết-la. (1) Nếu vị Thượng tọa thứ hai lấy chiếc bát này  thì nên lấy chiếc bát của vị Thượng tọa thứ hai trao cho vị Thượng tọa
________________
(1) Văn hơi tối. Tham khảo Pāli: na ca  tassa anuddayatāya na gahetabbo. yo na gaṇheyya, āpatti dukkaṭassa, “(vị kế  tiếp) không nên vì sự  thương tưởng vị ấy (?) mà không nhận. Ai không nhận, phạm đột-kiết-la.” Câu văn Pāli cũng không rõ, vì đại từ tassa có thể chỉ tỳ-kheo phạm xả, cũng có thể chỉ cho vị Thượng tọa vừa đổi bát. Bản dịch Anh hiểu nghĩa thứ hai. Nhưng hiểu nghĩa thứ nhất, thì tỳ-kheo này không nhận bát, để cuối cùng tỳ-kheo phạm xả vẫn nhận được bát tốt như ý muốn. Vì vậy, tỳ-kheo nào không nhận vì lý do này phạm đột-kiết-la.

* Trang 302 *
device

thứ ba. Nếu  trao cho tỳ-kheo kia  thì tỳ-kheo kia  nên  nhận, không nên  vì hộ  trì  chúng Tăng mà  không  nhận,  và  không  nên  vì  nhân duyên này mà thọ trì bát xấu nhất; nếu thọ trì thì phạm đột-kiết-la.
Như vậy lần lượt cho đến vị hạ tọa. Hoặc đem bát của tỳ-kheo này trả lại cho tỳ-kheo này; hoặc đem bát vị tối hạ  trao cho. Khi  trao, nên bạch  nhị yết-ma  để  trao. Trong Tăng  nên  sai một vị  có  khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên, tác bạch như vầy:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng đem bát của vị tối hạ này trao cho tỳ-kheo có tên... thọ trì cho đến khi vỡ. Đây là lời tác bạch.”
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng đem cái bát của vị tối hạ này  trao cho tỳ-kheo có  tên...  thọ  trì cho đến khi vỡ. Các  trưởng  lão nào đồng ý Tăng  trao bát cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng  đã  đồng  tâm  ý  trao  bát  cho tỳ-kheo  này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.
Tỳ-kheo kia nên giữ gìn bát này không được để chỗ đá gạch có thể rơi, không được để dưới cây gậy dựng đứng và dưới con dao dựng đứng, không được để dưới vật treo, không được để giữa đường đi, không  được  để  trên  hòn  đá,  không  được  để dưới gốc  cây  có  trái, không được để chỗ đất không bằng phẳng.
Tỳ-kheo không được dùng một  tay mà nắm  hai  cái  bát,  trừ có kê ngón tay ở giữa. Không được dùng một tay cầm hai cái bát mà mở cửa, trừ phi có chú ý. Không được để trong ngưỡng cửa, dưới cánh cửa.  Không  được  để dưới  giường  dây,  giường gỗ,  trừ  để tạm. Không [624a1] được để trung gian giữa giường dây và giường gỗ. Không được để đầu góc của giường gỗ và giường dây,  trừ để tạm. Không được đứng mà lắc (1) bát cho đến đủ để khiến bát bị vỡ. Tỳ-
____________
(1) Hán: đảng: lắc qua lắc lại.

* Trang 303 *
device

kheo kia không được cố tâm làm cho bát hư hoại, không được cố ý khiến cho mất hoặc cố  làm cho hư hỏng. Không nên dùng  làm phi bát. (1) Xả  bát  ở  trong Tăng rồi, Tăng  không  hoàn lại,  phạm  đột-kiết-la.
Nếu ai bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu  làm tịnh  thí, hoặc sai cho người, hoặc cố  làm mất,  làm hỏng, dùng  làm  phi  bát  hay  dùng  thường  xuyên, (2) tất cả  đều  phạm  đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: năm chỗ trám bị rỉ chảy. Hoặc dưới năm chỗ trám mà rỉ chảy,  tìm cầu  bát mới. Hoặc đến xin nơi  thân  lý, nơi  người xuất gia, vì  người khác xin, người khác vì mình  xin. Hoặc không xin mà được. Hoặc họ cúng cho Tăng, theo thứ tự được. Hoặc mình có phương tiện mua để chứa. Tất cả không phạm. 
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới;  người  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
XXIII. XIN CHỈ SỢI (3)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử muốn may tăng-già-lê, nên vào  thành, đến nhà một cư sĩ, nói rằng: “Ông biết không? Tôi muốn may tăng-già-lê, nên cần chỉ sợi.” 
Cư sĩ liền cúng chỉ sợi. Bạt-nan-đà lại đến các nhà cư sĩ khác, cũng nói rằng: “Tôi muốn may tăng-già-lê, nên cần chỉ sợi.” 
Bạt-nan-đà  xin  khắp mọi nơi  như vậy,  thu  hoạch  được một số
______________
(1) Phi bát dụng 非缽用, sử dụng không đúng chức năng của bát.
(2) Cho chóng vỡ.
(3) Pāli, Nissaggiya 26: Suttaviññatti. Ngũ phần 4 (tr.29a28), ni-tát-kỳ 11. Tăng kỳ 11 (320b6), ni-tát-kỳ 26. Thập tụng 8 (tr.55a3), Căn bản 12 (tr.746b5), ni-tát-kỳ 23.

* Trang 304 *
device

lượng chỉ sợi rất nhiều nên nghĩ rằng: “Lúc khác, ở nơi khác, ta lại xin chỉ sợi nữa, để đủ may tăng-già-lê. Y phục của tỳ-kheo khó có được, ta nên sắm  luôn ba y. Nay ta nên đem số chỉ sợi này bảo thợ dệt, dệt ba y.” 
Nghĩ xong  liền đem chỉ đến chỗ thợ dệt, tự tay xe chỉ, tự đứng coi thợ dệt. Các cư sĩ thấy vậy cơ hiềm rằng: 
“Các ông xem kìa, Bạt-nan-đà Thích tử tự xe chỉ, tự đứng coi  thợ dệt dệt ba y.”
Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị  thiểu dục  tri  túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới  biết  tàm quý,  hiềm  trách Bạt-nan-đà: “Sao lại  tìm cầu nhiều chỉ sợi, rồi khiến thợ dệt dệt ba y; tự tay xe chỉ, tự đứng coi thợ dệt dệt ?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch  lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà:
[624b]“Việc  làm của ngươi  là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại tìm cầu nhiều chỉ sợi, tự tay xe sợi, tự đứng coi thợ dệt, dệt ba y?”
Đức Thế Tôn  dùng  vô số  phương  tiện  quở  trách, rồi bảo  các tỳ-kheo: “Đây  là  người  si,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự mình xin chỉ sợi, khiến thợ dệt không phải thân quyến (1) dệt làm ba y , ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
____________________
(1) Ngũ phần: thuê thợ dệt. Thập tụng, Căn bản: khiến thợ dệt không phải thân lý. Pāli:  tantavāyehi, bởi những người  thợ dệt, không phân biệt  thân  lý hay không thân lý.

* Trang 305 *
device

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tự mình xin: chính mình xin khắp nơi.
Chỉ sợi: có mười loại, (1)  như trên tức là chỉ dệt mười loại y như trên.
Thợ dệt  không  phải  thân  quyến,  người  cho  chỉ  chẳng  phải  thân quyến: không phải thân quyến (2) thì phạm. 
Thợ dệt  chẳng  phải  thân  quyến;  người  cho  chỉ  hoặc  thân  quyến, hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến thì phạm. 
Thợ dệt chẳng phải  thân quyến; người cho chỉ  là  thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến thì phạm. 
Hoặc thợ dệt là thân quyến, hoặc không phải thân quyến; người cho chỉ chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến thì phạm. 
Hoặc thợ dệt là thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến; người cho chỉ  hoặc  là  thân  quyến,  hoặc  chẳng  phải  thân  quyến:  chẳng  phải thân quyến  thì phạm. Hoặc thợ dệt  là  thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến; người cho chỉ chẳng phải  thân quyến: chẳng phải  thân quyến  thì phạm. Thợ dệt  là  thân quyến; người cho chỉ chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến thì phạm.
Thợ dệt  là  thân quyến; người cho chỉ hoặc  thân quyến hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến thì phạm.
Nếu tỳ-kheo tự mình  xin  chỉ  khiến  thợ dệt  y,  phạm xả  đọa. Nếu xem  thợ dệt dệt,  hoặc tự mình dệt,  hoặc tự mình  quay  chỉ,  đều phạm đột-kiết-la. Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một  người,  không  được xả  biệt  chúng. Xả  không  thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả,  đương sự  nên  đến  trong Tăng,  trống  vai  bên hữu, cởi bỏ dép, hướng  đến Thượng tọa,  kính lễ,  quỳ gối  bên hữu  chấm  đất, chắp tay thưa như vầy: 
_______________
(1) Pāli: sáu loại chỉ để dệt sáu loại y cho phép. Ngũ phần cũng không phân biệt.
(2) Các bản Tống-Nguyên-Minh không có câu lặp này.

* Trang 306 *
device

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo  tên  là…, đã tự mình cầu  xin nhiều  chỉ sợi,  khiến  thợ dệt dệt  y,  phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch như vầy: 
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên là…, đã tự mình cầu  xin  nhiều  chỉ sợi  khiến  thợ dệt dệt  y,  phạm xả đọa,  nay xả  cho Tăng. Nếu  thời  gian  thích hợp  đối với
Tăng, Tăng  chấp  thuận,  tôi nhận sự  sám hối của tỳ-kheo này. [624c] Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi mới thọ sám, nên nói với tỳ-kheo rằng: 
Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa: 
“Xin vâng!”
Tăng  nên  hoàn  y lại  cho tỳ-kheo  này  liền, bằng bạch  nhị yết-ma như vầy: Trong  chúng  nên  sai một vị  khả năng  tác  pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã tìm cầu nhiều chỉ sợi khiến thợ dệt không phải  thân quyến dệt y, phạm xả đọa. Nay xả cho Tăng, nếu  thời gian  thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hoàn y lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã tìm cầu nhiều chỉ sợi, khiến thợ dệt chẳng phải thân quyến dệt y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có  tên…. này. Các Trưởng  lão nào chấp  thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên... này thì im lặng. Vị nào không đồng ý nên nói.”
Tăng đã chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này rồi. Tăng chấp  thuận nên  im lặng. Việc này  tôi ghi nhận như vậy.”
Đương sự đã xả  y giữa Tăng rồi, Tăng không  trả  y lại phạm đột-

* Trang 307 *
device

kiết-la. Nếu chuyển  làm tịnh  thí, hoặc sai cho người, hoặc tự mình làm ba y, hoặc  làm y ba-lợi-ca-la, hoặc  làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc  làm phi y, hoặc mặc  thường xuyên, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,  ni-tát-kỳ  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: thợ dệt là thân quyến, người cho chỉ là thân quyến. Hoặc tự mình dệt cái đãy đựng bát, đãy đựng dép, đựng kim, hoặc làm dây lưng ngồi thiền.
Hoặc  làm  dây lưng  thường,  hoặc  làm mão,  làm  bít tất,  làm  khăn trùm cho ấm, hoặc khăn gói. Tất cả không phạm. 
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới;  người  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. 
XXIV. CHỈ DẪN THỢ DỆT (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một  thời đức Thế Tôn ở  trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. 
Bấy giờ,  trong  thành Xá-vệ có một cư sĩ  là bạn quen  tri  thức của
Bạt-nan-đà Thích tử, đem chỉ tốt, bảo thợ dệt dệt chiếc y như vậy, như vậy để  cúng cho Bạt-nan-đà Thích tử. Cư sĩ đưa chỉ cho  thợ dệt rồi, có việc cần đi qua  thôn khác. Người  thợ dệt kia đến  trong
Tăng-già-lam nói với Bạt-nan-đà Thích tử rằng: 
“Đại đức, chưa từng có người nào được phước như ngài.”
Bạt-nan-đà hỏi:
“Chuyện gì mà biết tôi là người có phước đức?”
Ông thợ dệt nói: 
_____________________
(1) Pāli: Nissaggiya 27, Mahāpeskāra. Ngũ phần  (tr.29b17), ni-tát-kỳ 12. Tăng kỳ (tr.320c12), ni-tát-kỳ 27.

* Trang 308 *
device

“Người cư sĩ  có  tên mỗ  đem số  chỉ  này  đến  tôi,  nói:  ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen của tôi, ông vì tôi dệt [625a1] y như vậy, như vậy để cúng cho ngài’. Do đó  tôi biết Đại đức  là người có phước đức.”
Bạt-nan-đà lại hỏi: “Có thật như vậy không?”
Ông thợ dệt trả lời: “Thật như vậy.”
Bạt-nan-đà nói: 
“Nếu muốn dệt y cho tôi thì phải dệt cho rộng, dài, đẹp, bền chắc, tỉ mỉ, mới đúng  là  y  tôi  thọ  trì. Nếu không phải  là  thứ y mà  tôi cần thọ trì thì tôi không cần.”
Ông thợ dệt nói: 
“Loại y như Đại đức nói thì số chỉ này không đủ để dệt thành y.”
Bạt-nan-đà nói rằng: 
“Ông cứ dệt, tôi sẽ tìm thêm chỉ đem đến cho đủ.”
Sáng hôm ấy, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát đến nhà cư sĩ, ngồi  trên
chỗ ngồi dọn sẵn, rồi nói với vợ cư sĩ rằng: 
“Trước đây ông cư sĩ có đem chỉ đến thợ dệt bảo dệt y cho tôi, nay số chỉ ấy không đủ để dệt.”
Vợ cư sĩ nghe nói  liền đem cái rương đựng chỉ  ra và nói với Bạt-nan-đà rằng: “Cần nhiều hay ít tùy ý ngài cứ lấy.”
Bấy  giờ, Bạt-nan-đà lựa lấy  những  thứ  chỉ tốt  theo  ý  muốn của mình, rồi đem đến thợ dệt nói rằng: “Tôi đã cung cấp đủ số chỉ như đã hứa. Ông cứ dệt thành y cho tôi.”
Thợ dệt bảo rằng: “Nếu dệt theo kiểu y mà Đại đức nói, thì phải trả thêm tiền công cho tôi.”
Bạt-nan-đà nói: “Ông cứ dệt như vậy. Tôi sẽ trả thêm tiền công.”
Bấy giờ,  thợ dệt dệt y  xong, đem đến cho vợ cư sĩ. Cũng  lúc ấy, ông cư sĩ vừa từ nơi khác về, hỏi vợ rằng: 
“Trước đây tôi đưa chỉ cho thợ dệt, bảo dệt y cho Bạt-nan-đà Thích tử. Nay y ấy đã dệt xong chưa?”

* Trang 309 *
device

Người vợ bảo rằng: “Y ấy đã dệt xong rồi. Nó đây này.” 
Người  chồng bảo  đem  y  đến  xem.  Người vợ mở rương  ra  cho chồng xem. Ông chồng nói với vợ rằng: 
“Y này không phải là kiểu y mà trước đây tôi bảo thợ dệt dệt.”
Bà vợ bảo: “Chính y này đây.”
Ông chồng nói rằng: “Chỉ mà bữa  trước  tôi đưa bảo thợ dệt dệt y, thì đây không phải là y đó.”
Bấy giờ, bà vợ mới trình bày đầy đủ nhân duyên cho chồng. Hai vợ chồng mở y ra xem. Khi ấy, Bạt-nan-đà lại đến nhà cư sĩ, hỏi rằng: 
“Trước  đây  hai  ông  bà bảo  thợ dệt dệt  y  cho  tôi,  có  phải  cái  này không?”
“Vâng chính cái này đây.” 
“Như vậy có thể cho tôi nhận.”
Cư sĩ liền cơ hiềm rằng: 
“Sa-môn Thích tử  thọ nhận không biết nhàm  chán, không  biết hổ thẹn. Bên  ngoài tự  nói  ‘Tôi  biết  chánh  pháp.’ Nhưng  như vậy  thì làm  gì  có  chánh  pháp?  Đến nơi  người  xin  y,  tuy kẻ  cho  không nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ chứ! Cho đến chỗ vắng cũng không được nói năng.”
Bấy giờ, tỳ-kheo khất  thực nghe như vậy rồi, hiềm  trách Bạt-nan-đà Thích tử rằng: “Sao lại tham lam đi xin y nơi người?”
Hiềm  trách rồi về đến  [625b]  trong Tăng-già-lam, vị ấy đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo nghe vậy,  trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà: “Sao lại tham lam đi xin y nơi người?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một  bên,  đem  nhân  duyên  này  trình  bày  đầy  đủ với  đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn vì  nhân duyên  này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở  trách Bạt-nan-đà: “Việc  làm của ngươi  là sai quấy, chẳng phải oai nghi,

* Trang 310 *
device

chẳng  phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh tùy  thuận,  làm việc không nên  làm. Sao lại  tham  lam đi xin y nơi người?”
Dùng  vô số  phương  tiện,  đức Thế Tôn  quở  trách, rồi bảo  các tỳ-kheo: “Đây  là người ngu si,  là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới  này lần đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
Tỳ-kheo nào, có cư sĩ (1) hay vợ cư sĩ khiến thợ dệt vì tỳ-kheo dệt  làm y. Tỳ-kheo kia bèn đến nhà  thợ dệt nói rằng: ‘Ông biết chăng? Y này vốn làm cho tôi. Hãy dệt cho khéo, khiến cho rộng, dài, bền chắc, tỉ mỉ. Tôi sẽ trả công cho ít nhiều.’ Tỳ-kheo  kia  trả  công,  dù  chỉ  đáng  giá một bữa  ăn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề
Khi đức Thế Tôn, vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, có các cư sĩ cúng y cho tỳ-kheo với yêu cầu tùy ý, thưa: 
“Đại đức cần loại y nào?”
Các tỳ-kheo nghi, không dám trả lời. Đức Phật dạy: 
“Nếu trước đó họ yêu cầu tùy ý mà cúng y, thì nên tùy ý trả lời.”
Hoặc có cư sĩ muốn dâng y quý giá cho tỳ-kheo mà tỳ-kheo ấy là vị thiểu dục tri túc, muốn được y không quý giá, mà nghi không dám nói, đức Phật dạy: 
“Từ nay về sau cho phép vị  thiểu dục  tri  túc đòi hỏi y không quý giá theo ý muốn của mình.” 
Từ nay về sau sẽ nói giới như vầy: 
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, có cư sĩ hay vợ cư sĩ khiến  thợ dệt vì tỳ-kheo
__________________
(1) Thập tụng, Căn bản: cư sĩ  hay vợ cư sĩ  không  phải  thân  lý. Pāli:  aññātako gahapati, cư sĩ không phải bà con. Thập tụng, Căn bản: phi thân lý cư sĩ, cư sĩ phụ.

* Trang 311 *
device

dệt làm y. Tỳ-kheo kia trước không được yêu cầu tùy ý, mà lại đến chỗ  thợ dệt nói rằng:  ‘Ông biết chăng? Y này vốn làm  cho  tôi. Hãy dệt  cho  khéo,  khiến  cho rộng,  dài, bền chắc, tỉ mỉ. Tôi sẽ  trả  công  cho  ít nhiều.’ Tỳ-kheo  kia  trả công, dù chỉ đáng giá một bữa ăn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng như trên (1)
Tỳ-kheo  trước không được yêu cầu  tùy ý, (2) bèn đến  tìm cầu y; nếu được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không được y, [625c] đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la. 
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay, thưa: 
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo  tên là…,  trước đó không được yêu cầu  tùy ý, bèn đến  tìm cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết nên tác bạch như vầy: 
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên là…, trước đó không được nhận yêu cầu tùy ý bèn đến  tìm cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi,  sau  đó mới  nhận  sám.  Khi  nhận  sám  nên  nói với người kia rằng: “Hãy tự trách tâm ngươi!
_____________________
(1) Xem ni-tát-kỳ viii.
(2) Tự tứ thỉnh 自恣請. Pāli: pubbe pavārito, được yêu cầu nói sở thích.

* Trang 312 *
device

Vị tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên  trả lại y cho tỳ-kheo này  liền, bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy: 
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên là…, trước không được yêu cầu tùy ý, lại đến tìm cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu  thời gian  thích hợp đối với  Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này  tên là…, trước không  được  yêu cầu  tùy  ý,  bèn  đến  tìm cầu  được  y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng  trả lại y cho tỳ-kheo có tên này. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng trả y lại  cho tỳ-kheo này  thì  im lặng. Vị nào  không đồng  ý  xin nói.”
“Tăng  đã  chấp  thuận  trả  y lại  cho tỳ-kheo  này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo kia,  trong Tăng đã xả y rồi mà Tăng không hoàn lại, đột-kiết-la. Nếu  có  người bảo “đừng  trả”,  người  ấy  phạm  đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố  làm cho hư, hoặc đốt, hoặc  làm phi y, hoặc mặc thường xuyên, tất cả đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,  ni-tát-kỳ  ba-dật-đề.  Thức-xoa-ma-na,  sa-di,  sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm:  trước đã được yêu cầu  tùy ý đến  tìm cầu biết đủ, tìm cầu giảm  thiểu. Hoặc đến nơi  thân  lý  xin, hoặc không xin mà được thì không phạm. 
Người  không  phạm:  phạm  đầu  tiên  khi  chưa  chế  giới;  người  si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

* Trang 313 *
device

XXV. ĐOẠT LẠI Y (1)
A. DUYÊN KHỞI
[626a2] Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, người đệ tử của Tôn giả Nan-đà có khả năng khuyến hóa khéo léo, được Bạt-nan-đà bảo rằng: 
“Nay ông cùng tôi du hành trong nhân gian. Tôi sẽ biếu y cho ông.” 
Đệ tử của Tôn giả Nan-đà chấp  thuận. Bạt-nan-đà  liền  trao y cho. Sau đó, các tỳ-kheo khác nói với đệ tử của Tôn giả Nan-đà rằng: 
“Vì cớ gì mà ông cùng Bạt-nan-đà du hành  trong nhân gian? Bạt-nan-đà  là  người  si,  không  biết tụng  giới,  không  biết  thuyết  giới, không biết bố-tát, không biết yết-ma bố-tát.”
Tỳ-kheo kia liền đáp rằng:  
“Nếu thật vậy thì tôi sẽ không đi theo nữa.”
Sau đó, Bạt-nan-đà bảo rằng: 
“Ông cùng tôi du hành trong nhân gian.”
Đệ tử của A-nan-đà liền đáp: 
“Thầy tự đi. Tôi không thể đi theo thầy được.”
Bạt-nan-đà nói rằng: 
“Sở dĩ trước đây tôi cho ông y  là muốn ông cùng  tôi du hành nhân gian. Nay ông không đi thì trả y lại cho tôi.”
Tỳ-kheo nói rằng: “Đã cho rồi, không trả lại.”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà nổi giận, liền cưỡng đoạt để lấy lại y. Tỳ-kheo kia lớn tiếng bảo: “Đừng làm vậy, đừng làm vậy!” 
Các tỳ-kheo ở phòng gần nghe  tiếng kêu  la, đều tập  trung lại, hỏi tỳ-kheo này rằng: “Sao thầy la lớn tiếng?”
_____________________
(1) Ngũ  phần  (tr.29c17):  ni-tát-kỳ  13.  Tăng kỳ  (tr.318b28),  ni-tát-kỳ  24. Pāli, Nissaggiya 25, cīvara-acchindana.

* Trang 314 *
device

Khi ấy, tỳ-kheo mới đem nhân duyên này trình bày đầy đủ với các tỳ-kheo. Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh  đầu-đà,  ưa học  giới,  biết  tàm  quý,  hiềm  trách Bạt-nan-đà rằng: “Tại sao đã cho y tỳ-kheo rồi, vì giận hờn mà đoạt lại?”
Hiềm trách rồi, họ đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lại một cách đầy đủ lên  đức  Thế  Tôn. Đức Thế  Tôn tập họp Tăng tỳ-kheo  quở  trách Bạt-nan-đà: 
“Việc  làm của  các  ngươi  là  sai  quấy,  chẳng  phải  oai  nghi,  chẳng phải  pháp  sa-môn,  chẳng  phải tịnh hạnh,  chẳng  phải hạnh  tùy thuận,  làm  việc không nên  làm. Sao lại  vì giận hờn mà đoạt y đã cho người lại?”
Dùng vô số phương tiện quở trách rồi, đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Đây  là  người  si,  là nơi  trồng  nhiều  giống hữu lậu,  là kẻ phạm giới  này  ban đầu. Từ nay  trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp lâu dài.” 
Muốn nói giới nên nói như vầy: 
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào,  trước đã cho y cho tỳ-kheo khác; sau vì giận hờn tự mình đoạt hay sai người đoạt lại nói rằng: ‘Hãy trả y lại tôi, tôi không cho ngài.’ Nếu tỳ-kheo kia trả y, tỳ-kheo này nhận lấy, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên
Y: có mười loại, như trên đã nói.
Nếu tỳ-kheo nào  trước đó  [626b] đã cho y cho tỳ-kheo, sau đó vì giận hờn hoặc tự mình đoạt lại, hay sai người đoạt lại, lấy đem cất, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu đoạt lại mà không dấu cất, phạm đột-kiết-la. Nếu y được máng trên cây, để trên tường, trên rào, trên nọc, trên cọc ngà voi (1) , trên giá y, hoặc trên giường gỗ, giường dây, hoặc trên nệm nhỏ nệm lớn, trên ghế nhỏ; hoặc trải trên đất; lấy khỏi chỗ của
___________________
(1) Long nha dặc.

* Trang 315 *
device

nó, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Lấy mà không lìa khỏi chỗ, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đã cho y tỳ-kheo rồi, sau vì giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã cho y tỳ-kheo rồi, sau hối tiếc (1), vì giận hờn đoạt lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên bảo với người kia rằng:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả y lại cho tỳ-kheo này liền bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng nên lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã cho y tỳ-kheo rồi, sau vì giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận, nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên… Đây là lời tác bạch.”
__________________
(1) Hậu hối , có lẽ để bản chép dư chứ hối; mà trong giới văn không có.

* Trang 316 *
device

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã cho y tỳ-kheo, sau vì giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này, trưởng lão nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này thì im lặng. Vị nào không đồng ý nên nói.”
“Tăng đã chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu trong Tăng, đã xả y rồi mà Tăng không trả lại, đột-kiết-la. Nếu có ai bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc tự làm ba y, hoặc sai cho người, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc thường xuyên, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, [626c] ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: không vì giận hờn mà nói: “Tôi hối tiếc, không muốn cho y cho thầy, trả y lại cho tôi.” Nếu người kia cũng biết tâm người này có sự hối tiếc, liền trả y lại. Hoặc người khác nói:
“Tỳ-kheo này hối tiếc, nên trả y lại cho người ta.” Hoặc mượn y của người khác mặc; người khác mặc mà không hợp đạo lý đoạt lấy lại thì không phạm.
Nếu sợ mất y hoặc sợ hư hoại, hoặc người kia phá giới, phá kiến, phá oai nghi, hoặc bị cử tội, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng phải diệt tẫn, hoặc vì việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn; vì các trường hợp trên đoạt lấy lại mà không cất chứa. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. (1)
______________________________
(1)  Bản Hán, hết quyển 9.

* Trang 317 *
device

XXVI. THUỐC BẢY NGÀY (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo gặp gió mùa thu phát sinh bệnh, nên thân hình gầy còm, lại sinh ghẻ lở. Đức Thế Tôn ở nơi nhàn tịnh, nghĩ rằng: (2) “Hiện nay là mùa thu, các tỳ-kheo gặp phải gió độc sinh bệnh, thân hình gầy còm, lại sinh ghẻ dữ. Ta cần thích nghi khiến các tỳ-kheo được uống các loại thuốc, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống, như ăn cơm hay cơm khô, không nên để cho bày cái vẻ thô xấu ra.” (3)  Ngài lại nghĩ: “Hiện tại có năm thứ thuốc mà người đời biết như bơ, dầu, bơ đặc, mật, đường mía. (4)  Các tỳ-kheo được phép dùng năm thứ thuốc này, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống như cơm, cơm khô, không nên để cho hiện cái vẻ thô xấu ra.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nơi tịnh thất đi ra, vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
“Ta vừa ở nơi tịnh thất, khởi lên ý nghĩ: ‘Hiện nay là mùa thu, các tỳ-kheo gặp phải gió độc sinh bệnh, thân hình gầy còm, lại sinh ghẻ dữ. Ta cần thích nghi khiến các tỳ-kheo được uống các loại thuốc, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống, như ăn: cơm, cơm khô, không nên để cho thô hiện.’ Ta lại nghĩ: ‘Hiện tại có năm thứ thuốc mà người đời biết như bơ, dầu, [627a1] bơ đặc, mật, mật mía. Các tỳ-kheo được phép dùng năm thứ thuốc này, vừa là thức ăn mà vừa là
_______________________
(1) Pāli, Nissaggiya 23, bhesajja. Cf. Mahāvagga vi Bhessajja-kkhando, Vin.i.198. Ngũ phần 5 (tr.30c25), ni-tát-kỳ 15. Tăng kỳ 10 (tr.316b3), ni-tát-kỳ 23. Thập tụng (tr.60c18), Căn bản (tr.759b), ni-tát kỳ 30.
(2)  Xem Thập tụng 26, “Y dược pháp” (T23n1435, tr.184b). Pāli, Mahāvagga iv “Bhesajja-khandha,” Vin.i. 199.
(3)  Bất linh thô hiện 不令麤現. Pāli, Vin.i.198: na ca oḷāriko āhāro paññāyeyya, không thể quan niệm là thức ăn thô (=thực phẩm chính). Có lẽ bản Hán để rơi mất từ āhāra (thực phẩm) nên câu văn bất xác.
(4)  Tô, du, sanh tô, mật, thạch mật 酥油生酥蜜石蜜. Pāli, nt. sappi navanīta tela madhu phāita, bơ trong, bơ tươi, dầu ăn, mật, mật mía.

* Trang 318 *
device

thuốc uống như cơm, cơm khô, không nên để cho hiện cái vẻ thô xấu ra.’ Bởi vậy, cho nên cho phép các tỳ-kheo uống năm thứ thuốc khi có nhân duyên bệnh.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo nhận được các thức ăn ngon béo, hay nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời  (1)  huống chi năm thứ thuốc này làm sao kịp thời để uống? Do vậy, thuốc tuy chứa nhiều mà bệnh vẫn không thuyên giảm, hình thể vẫn gầy còm, lại
sinh các loại ghẻ lở.
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Tôn giả A-nan:
“Các tỳ-kheo này sao hình thể gầy còm, lại sinh các loại ghẻ lở?”
Tôn giả A-nan bạch Phật: “Các tỳ-kheo bệnh này tuy đã nhận được thức ăn ngon béo, được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời; huống chi năm thứ thuốc này làm sao kịp thời để uống. Do đó, thuốc tuy chứa nhiều mà bệnh vẫn không lành, cho nên hình thể
vẫn gầy còm, vẫn sinh ghẻ lở.”
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo vì bệnh duyên, dù thời hay phi thời, cũng được uống năm thứ thuốc này.”
Khi ấy, các tỳ-kheo bệnh nhận được đồ ăn thức uống ngon bổ, nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời, nên đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn no rồi nên không ăn nữa, đem thức ăn ấy bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn nên kêu la
inh ỏi. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi Tôn giả Anan: “Tại sao các loài chim kêu la như thế ?”
Tôn giả A-nan bạch Phật: “Các tỳ-kheo bệnh nhận được đồ ăn thức uống ngon bổ, nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời, nên đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn no rồi nên không ăn nữa, đem thức ăn ấy bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh
nhau ăn nên kêu la inh ỏi như thế.”
__________________
(1)  Thập tụng, ibid., Phật chưa cho phép ăn các thứ này sau ngọ.

* Trang 319 *
device

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: “Từ nay về sau cho phép thức ăn dư của bệnh nhơn, người nuôi bệnh dù đã ăn đủ no hay ăn chưa đủ no, được phép ăn theo ý mình.” (1)
Khi ấy, các tỳ-kheo buổi sáng thọ tiểu thực rồi vào thôn khất thực. Ăn đủ no rồi, trở lại trong Tăng-già-lam, đem thức ăn đã nhận khi sáng cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo vì đã ăn no rồi nên không ăn nữa, đem bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn kêu la. Bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi Tôn giả A-nan:
“Tại sao các loài chim kêu la như thế ?”
Tôn giả A-nan đem nhân duyên trên thưa đầy đủ lên đức Phật, vì vậy cho nên các loài chim kêu la.
Đức Phật dạy Tôn giả A-nan:
“Từ nay trở đi, nếu đã nhận thức ăn tiểu thực rồi, hoặc ăn no rồi, cho phép làm pháp dư thực để ăn.”
Làm pháp dư thực như sau:
“Bạch Đại đức, tôi đã ăn no rồi. Ngài xem cho, biết cho.”
Đó là cách tác pháp dư thực.
Vị kia nên nói rằng: “Hãy ngăn lòng tham của ngươi!”
Nên làm pháp dư thực như vậy rồi ăn. (Có những nhân duyên khác như trong ba-dật đề, nói về pháp dư thực giống nhau nên không chép ra). (2)
Lúc bấy giờ, Tôn giả [627b] Xá-lợi-phất bị bệnh phong. (3)  Thầy thuốc bảo dùng năm loại mỡ: mỡ gấu, mỡ cá, mỡ lừa, mỡ heo, mỡ cá ma-kiệt.(4)  Cho phép dùng năm loại mỡ này, thọ nhận đúng lúc, nấu đúng lúc, và lọc đúng lúc, uống như phép dùng dầu. Nếu nhận
___________________
(1)  Xem Tứ phần, ba-dật-đề 35, về phép tàn thực
(2) Tiểu chú trong bản Hán.
(3)  Xem cht. Phần iii, Ch.vii. Thuốc và các chú thích rải rác trong chương đó.
(4)  Ma-kiệt ngư 摩竭魚; một loại cá voi (Pāli: makara). Cf. Mahāvagga iv, Vin.i.200: sáu loại mỡ: gấu, cá, cá sấu, heo, lừa.

* Trang 320 *
device

không đúng lúc, nấu không đúng lúc, lọc không đúng lúc mà sử dụng thì trị như pháp. (1)
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, từ nước Xá-vệ, du hành trong nhân gian cùng đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo.
Bấy giờ là lúc lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó khăn, lại có năm trăm người hành khất đi theo sau đức Thế Tôn.
Khi đức Thế Tôn an tọa dưới một gốc cây, có tượng sư Tư-ha Tỳ- la-trà (2)  chở năm trăm chiếc xe đường thỏi đen (3) từ con đường kia đi lại. (4)  Bấy giờ, tượng sư thấy trên đường có dấu chân với bánh xe nghìn nan hoa của đức Như Lai, hiện rõ ra tướng ánh sáng trong sạch đẹp đẽ, đầy đủ. Thấy vậy, tượng sư theo dấu chân tìm đến. Từ xa trông thấy đức Thế Tôn an toạ dưới bóng cây, dung nhan đoan chánh, các căn tịch định, đã hoàn toàn được chế ngự, như voi chúa đã thuần thục; cũng như suối nước trong veo sạch sẽ, trong ngoài đều thanh tịnh. Thấy vậy, tượng sư phát lòng hoan hỷ, đến chỗ đức Như Lai, trước mặt ngài, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện vì tượng sư nói pháp vi diệu khiến cho tượng sư sinh tâm hoan hỷ. Ông cúng dường các tỳ-kheo mỗi vị một bát đường thỏi (5) . Các tỳ-kheo không dám thọ nhận:
“Đức Như Lai chưa cho phép các tỳ-kheo thọ nhận đường thỏi đen.”
_____________________
(1) Pāli, op.cit., vikāle… dukkaṭā, phi thời, phạm đột-kiết-la; tức không được quá ngọ.
(2) Tư-ha Tỳ-la-trà tượng sư 私訶毘羅嗏象師; phiên âm từ Skt. Siha-Vairāa. Đồng nhất với Pāli, Belaṭṭha Kaccāna, người buôn đường, chuyển kể, Mahāvagga iv, Vin. i. 224f. Cf. Thập tụng 26 (T. 1435, tr.189a): chuyện tượng sư (người huấn luyện voi, hay nài voi) Tỳ-la-tra.
(3)  Hắc thạch mật 黑石蜜. Pāli: gua, đường (cát) đen; đường mía chưa tinh luyện.
(4) Đi từ Rājagaha đến Andhakavida, ngược chiều với Phật.
(5) Thạch mật 石蜜 , đây chỉ hắc thạch mật; xem cht. Trên.

* Trang 321 *
device

Và các Tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn bảo:
“Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận đường mía đen.”
Đức Phật nói với tượng sư:
“Chỉ cần một chum đường cũng đủ cho các tỳ-kheo.” (1)
Tượng sư phụng hành lời dạy của Như Lai, đem một chum đường phân phát cho các tỳ-kheo rồi, số đường vẫn còn dư. Đức Phật bảo tượng sư:
“Ông cứ tùy ý tiếp tục phân phối đầy đủ cho đến ba lần.”
Bấy giờ, tượng sư vâng lời Phật dạy, phân phối đầy đủ ba lần, nhưng vẫn dư. Đức Phật bảo tượng sư:
“Ông có thể đem số đường còn thừa cho những người hành khất.”
Tượng sư liền đem cho họ mà vẫn còn. Đức Phật bảo nên cho họ đến ba lần. Tượng sư cho họ ba lần mà vẫn cứ còn thừa. Đức Phật bảo tượng sư:
“Nay ông đem số đường mía thừa này đổ nơi tịnh địa, trong nước không có trùng. Tại sao vậy? Vì ta không thấy chư Thiên, Ma, Phạm, sa-môn, [627c] bà-la-môn và người đời nào ăn loại đường dư này mà có thể tiêu hoá được, chỉ trừ một người là Như Lai.”
Tượng sư liền đem đường mía dư để nơi tịnh địa, trong nước không có trùng. Khi đổ vào trong nước, nước chấn động thành âm thanh, phát sinh khói như đốt lửa, giống như nung một cục sắt đỏ rồi bỏ vào trong nước. Đường mía dư đổ vào nước, có âm thanh chấn động và phát sinh ra khói, cũng giống như vậy.
Tượng sư mục kích sự biến động lạ thường như vậy, lông trong người đều dựng ngược lên, trong lòng sợ sệt, liền đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên vừa rồi bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
____________________
(1) Số tỳ-kheo được kể là 1250 vị.

* Trang 322 *
device

Đức Thế Tôn thấy tượng sư sợ sệt, liền vì ông mà nói pháp vi diệu, nói về phước của bố thí, trì giới, và sinh thiên, chỉ trích dục là bất tịnh, khen ngợi sự xuất ly. Tượng sư liền từ chỗ ngồi dứt sạch các trần cấu, đạt được pháp nhãn tịnh, kiến pháp, đắc pháp, chứng được quả, rồi bạch Phật rằng:
“Từ nay trở đi con xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Cúi xin đức Thế Tôn cho con làm người ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sinh, cho đến không uống rượu.”
Bấy giờ, tượng sư nghe nói pháp, mọi trói buộc được khai giải, sinh lòng hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ dưới chân Phật, nhiễu ba vòng rồi cáo lui.
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo vào trong thôn khất thực, thấy người ta làm đường mía có trộn tạp vật vào, nên nghi, không dám ăn khi phi thời. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Cho phép dùng phi thời. Vì cách làm đường nó như vậy.”
Các tỳ-kheo nhận được loại đường mía chưa thành, nghi. Phật dạy:
“Cho phép dùng.” Nhận được loại đường mía lỏng, đường mía đặc, Phật đều cho phép dùng. Loại đường trắng, Phật cũng cho dùng. Đường mía pha nước, Phật cũng cho dùng. Nước mía chưa đun chín cho uống. Đun chín rồi, không cho uống, nếu uống trị như pháp. Được mía cây, Phật cho dùng đúng thời.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn du hành trong nhân gian từ biên giới nước Ma-kiệt-đà, đến thành La-duyệt.
Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta (1) có nhiều người quen ở trong thành này và có nhiều đồ chúng. Khi nhận được nhiều phẩm vật cúng dường như bơ, dầu, bơ đặc, mật, đường mía, đều cho các đệ tử. Các đệ tử được thầy cho, chứa đầy cả lu lớn, bình, bát lớn, bát nhỏ, trong đãy đựng bát, đãy lọc nước v.v… đem treo lên trụ cây, trên móc áo, nơi cửa sổ, treo khắp các nơi, rỉ chảy lung tung, khiến phòng xá bị hôi thối.
__________________
(1)  Tất-lăng-già-bà-ta 畢陵伽婆蹉. Pāli: Pilindavaccha. Chuyện kể Tất-lăng-già-bà-ta trong Ngũ phần 5 (tr.30c25) và Pāli (Vin.iii. 248) giống nhau.

* Trang 323 *
device

Bấy giờ, các trưởng giả đến thăm, vào phòng thấy dồn chứa, tích trữ các loại thuốc nhiều một cách bừa bãi như vậy, đều hiềm trách rằng: “Sa-môn Thích tử không biết dừng nghỉ, cầu nhiều [628a1] không nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là ta biết Chánh pháp. Nhưng như vậy thì làm gì có Chánh pháp! Dồn chứa nhiều loại thuốc, như kho tàng của vua Bình-sa không khác.”
Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầuđà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách đệ tử của Tất-lăng-già-bàta:
“Sao lại dồn chứa, tích trữ các loại thuốc nhiều một cách bừa bãi như vậy?”
Hiềm trách rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách đệ tử của Tất-lăng-già-bà-ta
rằng: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại dồn chứa nhiều loại thuốc đến rỉ chảy lung tung như kho đồ chứa của Vua Bình-sa không khác?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào có bệnh, các loại thuốc dư tàn (1) như tô, dầu,
___________________
(1)  Hán: tàn dược 殘藥. Pāli: paisāyanīyāni bhesajjāni, các loại thuốc được uống như ăn. Căn bản: chư dược tùy ý phục thực 諸藥隨意服食, ‹các loại thuốc được tuỳ ý uống hay ăn.› Ngũ phần, Thập tụng: hàm tiêu dược 含消藥, thuốc như thức ăn loại mềm (không cần nhai).

* Trang 324 *
device

sinh tô, mật, đường thỏi, (1) được dùng trong vòng bảy ngày. Nếu quá bảy ngày mà còn dùng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Bệnh: được thầy thuốc bảo phải uống thứ thuốc nào đó.
Thuốc: bơ, dầu, bơ đặc, mật, đường mía.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất được thuốc, chứa cất. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư cho đến ngày thứ bảy được thuốc, chứa cất. Ngày thứ tám, khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong bảy ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. (2)
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai không nhận được thuốc. Ngày thứ ba nhận được thuốc, ngày thứ tư nhận được thuốc, như vậy cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong sáu
ngày đều ni-tát-kỳ. Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến bảy ngày không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy). (3)
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được thuốc. Ngày thứ tư nhận được thuốc, cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong năm ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được thuốc. Ngày thứ năm nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
________________
(1) Ngũ phần: Thập tụng, Căn bản, kể bốn: tô (gồm cả thục tô và sanh tô), du, đường, mật. Đường được giải thích là đường cát (sa đường). Tăng kỳ: tô, du, mật, thạch mật, sanh tô, chi 酥油蜜石蜜生酥脂.
(2) Tăng-kỳ: trong vòng 7 ngày, không tác định, được phép dùng. Quá 7 ngày, thước chưa được tác tịnh, nếu dùng , phạm ni-tát-kỳ.
(3) Tiểu chú trong bản Hán. Dưới đây cũng vậy.

* Trang 325 *
device

Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được thuốc. Ngày thứ năm nhận được thuốc, cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám [628b] khi bình minhxuất hiện, số thuốc nhận được trong bốn ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được thuốc. Ngày thứ sáu, ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong ba ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được thuốc. Ngày thứ bảy nhận được (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày
thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được thuốc. Ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong hai ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được, cho đến ngày thứ bảy không nhận được. Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong một ngày, ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, không tịnh thí. Ngày

* Trang 326 *
device

thứ hai được thuốc tịnh thí. Ngày thứ ba được thuốc, cho đến ngày thứ bảy được thuốc không tịnh thí. Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc không tịnh thí. Ngày thứ hai được thuốc, ngày thứ ba được thuốc tịnh thí, ngày thứ tư được thuốc không tịnh thí (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ bảy được thuốc tịnh thí, không tịnh thí, đặt câu văn cũng như
trên). Sai cho người (đặt câu văn cũng như trên).
Hoặc mất, hoặc cố làm hư hoại, hoặc làm phi dược, hoặc tác ý là thân hậu lấy, hoặc quên đi (xây dựng câu văn cũng như trên) đều ni-tát-kỳ.
Nếu thuốc phạm xả đọa mà không xả, lại đem đổi lấy thuốc khác thì phạm một ni-tát-kỳ, một đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người. Không được xả biệt chúng. (1) Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là…, đã cố ý chứa thuốc dư quá bảy ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước phải tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã cố ý chứa thuốc dư quá bảy ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên… này. [628c] Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi sau đó mới thọ sám, nên bảo người kia rằng:
____________________
(1) P āli: xả cho Tăng, hoặc biệt chúng, hoặc cá nhân ( saṅghassa vā gaṇassa vā puggalassa  vā).

* Trang 327 *
device

“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa:
“Xin vâng!”
Tăng nên trả thuốc lại cho tỳ-kheo kia. Vật sở hữu quá bảy ngày của tỳ-kheo kia như bơ, dầu thì nên thoa vào cửa, nơi bị kêu; (1) mật, thạch mật thì cho người giữ vườn. (2) Hoặc đến ngày thứ bảy, xả cho tỳ-kheo. (3) Tỳ-kheo kia nên lấy ăn. Nếu dưới bảy ngày (4)  thì nên trả lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma (5) như vầy: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã cố ý chứa thuốc dư, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, hoàn thuốc lại cho Tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã cố ý chứa thuốc dư (6) , phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng nay hoàn lại thuốc cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng hoàn thuốc lại cho tỳ-kheo có tên… này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trả lại thuốc cho tỳ-kheo có tên… này rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo này lấy thuốc lại rồi nên dùng thoa gót chân, hoặc dùng để
__________________
(1)  Hộ hưởng 戶響, tiếng kêu nơi cửa; bôi dầu cho trơn để khỏi kêu.
(2) Ngũ Phần: Tăng xả cho bạch y hay sa-di, hoặc dùng đốt đèn, bội chân. Tỳ-kheo không được ăn.
(3)  Trước khi hết thời hạn, mật mía hay đường có thể mang cho tỳ-kheo khác.
(4)  Nguyên hán: nhược giảm thất nhất 若減七日.
(5) Nguyên Hán có thể nhảy sót. Các bộ trên đại thể giống nhau: thuốc quá 7 ngày, xả cho tăng, hoặc nhiều người, hoặc cá nhân. Sau đó thuốc được hoàn lại cho tỳ kheo xả.
(6) Nguyên Hán có thể nhảy sót: “thuốc dư quá bảy ngày”.

* Trang 328 *
device

đốt đèn. Đã xả cho Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có vị nào bảo “đừng trả”, vị ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người khác, hoặc cố làm hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi dược, hoặc uống thường xuyên, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu thuốc quá bảy ngày kia là bơ, là dầu, dùng thoa cửa, chỗ có tiếng kêu. Nếu là mật, đường mía, cho người giữ vườn dùng, hoặc đến ngày thứ bảy xả cho tỳ-kheo dùng. Nếu chưa đủ bảy ngày, hoàn lại cho tỳ-kheo kia dùng thoa gót chân, hoặc đốt
đèn thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XXVII. Y TẮM MƯA (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu  (2)  thỉnh Phật và Tăng tỳ-kheo ngày mai thọ thực. Liền trong đêm đó, bà sửa soạn đầy đủ các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ. Sáng sớm, sai tỳ nữ đến trong Tăng-già-lam thỉnh
Phật và Tăng đã đến giờ phó trai.(3)
Hôm ấy nhằm ngày trời mưa như trút nước.(4) Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: “Ngày hôm nay, các ông ra hết ngoài mà tắm
___________________
(1)  Pāli, Nissaggiya 24, vassikasāikā. Ngũ phần (tr.32b08), ni-tát-kỳ 17. Tăng kỳ (tr.319c1), ni-tát-kỳ 25. Thập tụng 8 (tr.58c28), Căn bản 24 (tr.757a3), ni-tát-kỳ 28.
(2)  Tỳ-xá-khư Mẫu 毘舍佉母, xem cht. chương 3, Bất-định 1.
(3)  Chuyện kể, xem Mahāvagga viii,Vin. i. 291ff. Cf. Thập tụng 27, “Y pháp” (tr.195b11).
(4)  Hán: như tượng niệu há 如象尿下, “như voi đái.”

* Trang 329 *
device

mưa. Trận mưa ngày hôm nay là cuối mùa. Như bây giờ Diêm phù đề đang mưa, nên biết trong cả bốn thiên hạ cũng vậy.”
[629a1] Các tỳ-kheo nghe đức Phật dạy rồi, đều lõa hình mà ra khỏi phòng để tắm.
Khi ấy, tỳ nữ đến ngoài cửa Tăng-già-lam, nhìn vào thấy các tỳ- kheo đều đang lõa hình tắm, bèn nghĩ: “Nơi đây không có sa-môn, mà tất cả đều là loã hình ngoại đạo.” Tỳ nữ chạy về báo cáo với Tỳ-xá-khư Mẫu:
“Đại gia nên biết, ở trong Tăng-già-lam, tất cả đều là ngoại đạo lõa hình chứ không có sa-môn.”
Tỳ-xá-khư Mẫu là người nữ thông minh trí tuệ, liền nghĩ: “Vừa rồi trời mưa. Có lẽ các tỳ-kheo thoát y, loã hình tắm dưới mưa. Tỳ nữ không biết nên báo cáo như vậy.” Tỳ-xá-khư Mẫu sai tỳ nữ trở lại nơi Tăng-già-lam, bạch các tỳ-kheo là: “Đã đến giờ rồi.” Tỳ nữ liền trở lại bên ngoài Tăng-già-lam, nhìn vào không thấy vị nào cả. Vì lúc ấy, các tỳ-kheo tắm đã xong, mặc y, vào phòng tĩnh tọa tư duy. Tỳ nữ đứng bên ngoài cửa, thấy Tăng-già-lam vắng vẻ, không người. Lại nghĩ: “Hiện tại Tăng-già-lam trống vắng không có tỳ-kheo.” Liền trở về thưa với Tỳ-xà-khư Mẫu rằng:
“Đại gia nên biết, trong Tăng-già-lam trống vắng, không có vị tỳ-kheo nào cả.”
Tỳ-xá-khư Mẫu là người trí tuệ thông minh, liền nghĩ rằng: “Chư tỳ-kheo tắm xong, chắc các ngài vào tịnh tọa tư duy. Tỳ nữ không biết nên nói là trong Tăng-già-lam trống vắng, không có vị tỳ-kheo nào.” Do vậy, Tỳ-xá-khư Mẫu lại bảo tỳ nữ chạy vội lại trong Tăng-già-lam, cao tiếng thưa:
“Đã đến giờ rồi.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ trong tịnh thất bước ra, nói với tỳ nữ rằng:
“Ngươi về trước. Ta sẽ đến ngay bây giờ.”
Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo, giờ đã đến rồi, nên đắp y, bưng bát. Các tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, thảy đều đắp y, bưng bát. Đức Thế

* Trang 330 *
device

Tôn cùng đại Tăng tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, như lực sĩ co duỗi cánh tay, từ Kỳ-hoàn tinh xá hốt nhiên biến mất, và xuất hiện nơi nhà của Tỳ-xá-khư Mẫu, an tọa nơi chỗ ngồi, y phục không ướt, tất cả đều như vậy.
Sau đó, tỳ nữ mới về đến nhà, thấy đức Thế Tôn và Tăng tỳ-kheo đã đến nhà trước, chỗ ngồi đã ổn định, y phục không ướt. Thấy vậy liền khởi lên ý nghĩ: “Đức Thế Tôn thật là kỳ diệu đặc biệt, có đại thần lực; đi sau mà lại đến trước mình.”
Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu dùng các đồ ăn thức uống ngon bổ cúng dường Phật và Tăng tỳ-kheo. Ăn xong, cất dọn bát, Tỳ-xá-khư Mẫu đặt ghế thấp ngồi phía trước, bạch Phật rằng:
“Cúi xin đức Thế Tôn cho phép con được thỉnh nguyện.”
Đức Phật [629b] nói với Tỳ-xá-khư Mẫu:
“Như Lai không cho mọi người quá điều thỉnh nguyện.” (1)
Tỳ-xà-khư Mẫu lại bạch Phật rằng:
“Bạch Đại đức, nếu nguyện thanh tịnh và khả thi, xin ban cho con.”
Đức Phật dạy: “Tùy ý.”
Tỳ-xà-khư Mẫu bạch đức Thế Tôn rằng:
“Hoặc có các tỳ-kheo khách nào từ phương xa đến chưa biết nơi chốn. Nguyện Thế Tôn cho phép con được cúng dường thức ăn cho tỳ-kheo khách; trọn đời cung cấp.” (2)
_____________________
(1)  Hán: Như lai bất dữ nhân quá nguyện 如來不與人過願. Cf. Pāli (Vin.i. 192): atikkantavārā kho … thāgatā, “Các đức Như lai siêu quá các ước nguyện.” Nghĩa là chỉ hứa khả những thỉnh nguyện không phi pháp. Câu Phật thường xuyên trả lời khi có người thỉnh nguyện. Ngũ phần: “Phật đối với thế gian các nguyện đã mãi mãi xa lìa.” Xem Thập tụng 27, (tr.195c17) “Các Như Lai… đã vượt qua các ước nguyện (Hán: dĩ quá chư nguyện 已過諸願).”
(2)  Thập tụng, ibid.: “sau khi đã quen nơi chốn, tỳ-kheo ăn đâu, tùy ý.” Pāli, Vin.i. 192: icchāmi saghassa yāvajīva āgantikabhatta dātu, “Con muốn trọn đời dâng cúng thực phẩm cho tỳ-kheo khách Tăng.”

* Trang 331 *
device

Lại bạch Thế Tôn: “Tỳ-kheo muốn đi xa, có thể vì sự ăn mà không theo kịp đồng bạn. (1) Nguyện Thế Tôn cho phép con cúng thức ăn cho tỳ-kheo đi xa; trọn đời cúng dường.”
“Các Tỳ-kheo bệnh, nếu không được thức ăn hợp với chứng bệnh thì có thể mạng chung. Nếu được thức ăn hợp với bệnh thì sẽ được lành bệnh. Nguyện Thế Tôn cho phép con trọn đời được cúng dường thức ăn cho các vị tỳ-kheo bệnh.”
Lại bạch Thế Tôn:
“Các tỳ-kheo bệnh, nếu không có thuốc hợp với bệnh thì có thể mạng chung. Nếu được thuốc hợp với bệnh thì bệnh sẽ được lành. Nguyện Thế Tôn cho phép con trọn đời được cúng dường thuốc trị bệnh cho các tỳ-kheo bệnh.”
“Các tỳ-kheo nuôi bệnh, lại tự mình đi khất thực nên không chu toàn việc chăm sóc người bệnh. Nguyện Thế Tôn cho phép con trọn đời được cúng dường thức ăn cho người nuôi bệnh.”
“Đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo nước A-na-tần-đầu (2)  được ăn cháo. (3) Nếu đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo đó ăn cháo thì con xin nguyện trọn đời được cúng dường cháo.”
“Sáng nay, con sai tỳ nữ đến trong Tăng-già-lam để bạch đến giờ thọ thực. Các tỳ-kheo đều lõa hình tắm trong mưa. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép con trọn đời được cung cấp áo tắm mưa (4)  cho các tỳ-kheo.”
Lại bạch Thế Tôn: “Con có chút nhân duyên, đến bên bờ sông A-di-la-bạt-đề, (5)  thấy các tỳ-kheo-ni lõa hình mà tắm. Khi ấy có các tặc nữ, dâm nữ, đến chỗ các tỳ-kheo-ni nói rằng: “Các cô tuổi nhỏ,
____________________
(1)  Thập tụng, ibid., “vì vậy (vì đi một mình) có thể đi lạc vào đường hiểm.”
(2)  A-na-tần-đầu 阿那頻頭國. Xem chương v. ba-dật-đề 32. Pāli:
Andhakavindaka. Cf. Vin.i. 220 (Bhesajja-kkhandha).
(3)  Hán: chúc 粥. Pāli: yāgu: cháo gạo hay cháo sữa.
(4)  Vũ dục y 雨浴衣; xem giải thích đoạn sau.
(5)  A-di-la-bạt-đề 阿夷羅跋提. Pāli: Aciravatī.

* Trang 332 *
device

dung mạo xinh đẹp, dưới nách chưa có lông. Bây giờ đến tuổi trẻ khoẻ, sao không tập chuyện ái dục. Hãy để tuổi già sẽ tu tập phạm hạnh. Như vậy, cả hai đều được cả.” Trong số các tỳ-kheo-ni trẻ tuổi này có vị liền sinh tâm không vui. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép con trọn đời được cung cấp áo tắm cho tỳ-kheo-ni.”
Lúc bấy giờ, đức Phật nói với Tỳ-xá-khư Mẫu:
“Bà vì mục đích gì mà thỉnh nguyện tám điều như vậy?”
Tỳ-xá-khư Mẫu bạch Phật rằng:
“Nếu có tỳ-kheo từ phương xa đến, bạch Thế Tôn rằng: ‘Có tỳ-kheo tên như vậy đã qua đời. Vị ấy sinh về chỗ nào?’ Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền ký thuyết cho rằng, trong bốn đạo quả [629c] ắt sẽ chứng hoặc quả Tu-đà-hoàn, hoặc quả Tư-đà-hàm, hoặc quả A-na- hàm, hoặc quả A-la-hán. Và con sẽ thưa hỏi: ‘Vị tỳ-kheo qua đời kia đã từng đến nước Xá-vệ này chưa?’ Nếu con được nghe biết là vị ấy đã từng đến. Con lại khởi lên ý nghĩ, ‘Vị khách tỳ-kheo ấy đã từng nhận đồ ăn do con cúng dường các tỳ-kheo khách mới đến.’”
“Hoặc các tỳ-kheo sắp đi xa nhận thức ăn. Hoặc các tỳ-kheo bệnh nhận thức ăn. Hoặc các tỳ-kheo bệnh nhận thuốc. Hoặc người nuôi bệnh nhận thức ăn. Hoặc người nhận cháo. Hoặc nhận y tắm mưa. Khi con nghe những lời (ký thuyết) như vậy liền phát tâm hoan hỷ. Khi đã phát tâm hoan hỷ rồi, con liền xả bỏ các thân (1) ác. Khi thân ác đã trừ bỏ liền được thân lạc. Do đã được thân lạc, tâm của con được chánh định. Khi tâm được chánh định liền có khả năng chuyên tâm tu tập căn, lực, và giác ý.”
Đức Thế Tôn khen:
“Lành thay, lành thay! Tỳ-xá-khư Mẫu, những điều này là sự thật.
Tại sao vậy? Bà là đàn-việt thông minh trí tuệ, thâm tín.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn vì bà Tỳ-xá-khư Mẫu nói bài tụng:
___________________
(1)  Để bản: thân. Có bản đọc là chúng.

* Trang 333 *
device

Hoan hỷ cúng ẩm thực;
Đệ tử Phật trì giới.
Bố thí cho mọi người,
Hàng phục tâm keo kiết.
Nhân vui thọ báo vui,
Hằng được vui an ổn.
Được xứ sở thiên thượng;
Đạt Thánh đạo vô lậu.
Tâm vui với phước đức,
Khoái lạc không thể ví.
Được sinh nơi thiên thượng
Sống lâu thường an lạc!
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện nói pháp cho Tỳ-xá-khư Mẫu, khuyến khích khiến cho bà được hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi trở về trong Tăng-già-lam. Vì nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, nói pháp tùy thuận, dùng vô số phương tiện khen ngợi hạnh đầu-đà trang nghiêm tốt đẹp, khen ngợi vui xuất ly, và bảo các tỳ-kheo khác rằng: “Từ nay trở đi, Ta cho phép thức ăn cho các tỳ-kheo khách đến, thức ăn cho tỳ-kheo sắp đi xa, (1) thức ăn cho tỳ-kheo bệnh, thuốc cho tỳ-kheo bệnh, thức ăn cho người nuôi bệnh, (2) cho phép ăn cháo, cho phép nhận y tắm mưa cho tỳ-kheo và y tắm cho tỳ-kheo-ni.”
Tỳ-xá-khư Mẫu nghe đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo được thọ dụng như vậy rồi, bà liền cung cấp trọn đời từ thức ăn cho tỳ-kheo khách, cho đến, y tắm cho tỳ-kheo-ni. Xá-khư Mẫu sau khi nghe đức Phật cho phép rồi liền may sắm nhiều y tắm mưa, sai người
mang đến trong Tăng-già-lam dâng cúng các tỳ-kheo. Các [630a1]tỳ-kheo bèn phân chia. Đức Phật dạy:
__________________
(1)  Nghĩa là, được phép để dành làm lương thực đi đường, để dọc đường, những chỗ lạ, khỏi phải đi khất thực.
(2)  Đây là những trường hợp tỳ-kheo được phép để dành thức ăn.

* Trang 334 *
device

“Không nên phân chia. Tùy thứ tự, từ trên Thượng tọa trở xuống mà trao. Nếu trao chưa đủ thì nhớ theo thứ tự để sau trao tiếp. Kỳ sau nhận được y thì theo thứ tự đó trao tiếp cho đủ.”
Có thí chủ đem y quý giá đến, cũng theo thứ tự mà trao. Đức Phật dạy: “Không nên như vậy. Phải theo thứ tự từ trên Thượng tọa trở xuống mà hỏi. Nếu vị thượng tọa ấy không cần thì mới theo thứ tự mà trao. Nếu không đủ thì lấy phần y trong Tăng có thể phân chia
được, đem phân chia cho đủ.”
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo, khi nghe Phật cho phép tỳ-kheo chứa y tắm mưa, nên suốt cả năm, xuân, hạ cũng như đông, thường cầu y tắm mưa. Họ không xả y tắm mưa mà đem dùng vào việc khác. Hiện có y tắm mưa, nhưng họ vẫn lõa hình mà tắm. Các tỳ-kheo nghe thấy, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Tuy đức Như Lai đã cho phép tỳ-kheo chứa y tắm mưa, nhưng sao trong suốt năm, xuân, hạ cũng như đông, các thầy lại luôn luôn tìm cầu y tắm mưa? Không xả y tắm mưa, lại đem dùng vào việc khác; hiện có y tắm mưa tại sao vẫn loã hình mà tắm?”
Các tỳ-kheo quở trách rồi, họ đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại suốt năm tìm
cầu y tắm mưa?”
Dùng vô số phương tiện quở trách lục quần rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:

* Trang 335 *
device

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, mùa xuân còn một tháng có thể tìm cầu y tắm mưa; còn lại nửa tháng, có thể dùng. Nếu tỳ-kheo quá trước một tháng tìm cầu y tắm mưa, dùng quá trước nửa
tháng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y tắm mưa: (1) y dùng tắm trong khi mưa.
Y: có mười loại như đã nói trước.
Từ mười sáu tháng ba, (2)  tỳ-kheo nên tìm cầu y tắm mưa. Từ mồng một tháng tư (3)  nên dùng. Nếu tỳ-kheo trước ngày mười sáu tháng ba tìm cầu y tắm mưa, trước mồng một tháng tư sử dụng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la. Khi muốn xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng về Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay [630b] thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, quá trước một tháng tìm cầu y tắm mưa, dùng quá trước nửa tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, quá
__________________
(1)  Vũ dục y 雨浴衣. Pāli: vassikasāikā, khăn quấn để tắm khi trời mưa. Khác với udakasāikā, dục y 浴衣, khăn tắm để tỳ-kheo-ni quấn người khi tắm sông.
(2)  Tính theo lịch Trung Quốc. Đây chỉ 1 tháng trước an cư mùa hạ. Cách tính tháng trong luật, bắt đầu ngày 16 trăng tròn kể là ngày thứ nhất đầu tháng, cho đến ngày 15 trăng tròn theo đó là hết tháng. Bốn tháng như vậy là một mùa. Căn bản 24 (tr.757a13): “Xuân tàn còn một tháng, chỉ một tháng trước an cư, tức từ 16 tháng Tư đến 15 tháng Năm.”
(3)  Ngày và tháng ở đây tính theo lịch Trung Quốc. Tăng kỳ: nửa tháng Tư thọ dụng, đến 15 tháng Tám xả.

* Trang 336 *
device

trước một tháng tìm cầu y tắm mưa, dùng quá trước nửa tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo kia. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với người kia rằng:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả y tắm mưa lại cho tỳ-kheo kia bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một người có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo dự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, quá trước một tháng tìm cầu y tắm mưa, sử dụng quá trước nửa tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo có tên… này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, quá trước một tháng tìm cầu y tắm mưa, sử dụng quá trước nửa tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo có tên… này. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo có tên… này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã đồng ý trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo này rồi. Tăng chấp nhận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy. “
Đã xả y tắm mưa cho Tăng rồi, Tăng không trả lại, (Tăng) phạm đột-kiết-la. Khi trả, có người nào bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc dùng thường xuyên, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

* Trang 337 *
device

Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: ngày mười sáu tháng ba tìm cầu, mồng một tháng tư sử dụng. Hoặc xả y tắm mưa rồi mới dùng làm các vật dụng khác. Hoặc mặc y tắm mà tắm. Hoặc không có y tắm mưa. Hoặc làm y tắm. Hoặc giặt nhuộm. Hoặc đưa đến chỗ nhuộm.Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XXVIII. Y CẤP THÍ (1)
A. DUYÊN KHỞI
Lúc bấy giờ, đức Phật hạ an cư ở tại Tỳ-lan-nhã. (2)  Đức Phật bảo A-nan: “Ông đến nói với bà-la-môn Tỳ-lan-nhã rằng: ‘Như Lai đã
nhận lời thỉnh của ông, an cư mùa hạ đã xong rồi, [630c] nay muốn du hành trong nhân gian.’”
Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy đến chỗ bà-la-môn Tỳ-lan-nhã nói với bà-la-môn rằng:
“Như Lai nói với ông, ‘Như Lai nhận lời thỉnh của ông, an cư mùa hạ đã xong, nay muốn du hành trong nhân gian.’”
Bấy giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhã nghe Thế Tôn nói như vậy, liền nhớ lại: “Không có lợi, không có thiện lợi gì cho ta! Ta không được gì, không điều lành nào được cả! Tại sao vậy? Vì ta đã thỉnh sa-môn Cù-đàm và chư Tăng an cư trong chín mươi ngày vừa xong mà ta đã không cúng dường.”
Bấy giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhã cùng A-nan đến chỗ đức Thế Tôn, kính lễ dưới chân Phật, đứng lui qua một bên. Đức Thế Tôn tuần tự
_______________
(1)  Pāli, Nissaggiya 28 accekacīvara. Ngũ phần (tr.33b14), ni-tát-kỳ 18. Thập tụng (tr.57c11) ni tát kỳ 27. Căn bản (tr.750c27), ni-tát-kỳ 26.
(2)  Xem cht. Chương 1, ba-la-di 1.

* Trang 338 *
device

vì bà-la-môn Tỳ-lan-nhã nói pháp vi diệu. Bà-la-môn phát tâm hoan hỷ, liền bạch đức Phật rằng:
“Cúi xin đức Thế Tôn và Tăng tỳ-kheo ở lại Tỳ-lan-nhã thêm chín mươi ngày nữa theo lời thỉnh mời của con.”
Đức Phật nói với bà-la-môn:
“Như Lai đã nhận lời thỉnh của ông, an cư mùa hạ chín mươi ngày xong rồi. Nay muốn du hành trong nhân gian.”
Bà-la-môn lại bạch:
“Nguyện đức Thế Tôn và Tăng nhận lời mời thọ thực của con vào sáng mai.”
Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Bà-la-môn biết đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ dưới chân Phật, nhiễu ba vòng, cáo lui trở về nhà.
Trong đêm ấy sắm sửa đầy đủ mọi thức ăn ngon bổ. Sáng hôm sau, đến bạch Phật ‘đã đến giờ.’
Đức Thế Tôn cùng Tăng gồm năm trăm vị tỳ-kheo đắp y, bưng, bát đến nhà kia, an tọa nơi chỗ ngồi. Bà-la-môn bưng thức ăn ngon bổ đến dâng cúng Phật và Tăng tỳ-kheo, khiến cho tất cả đều đầy đủ.
Thọ thực xong, mỗi vị đều tự thâu bát. Bà-la-môn dùng ba y dâng cúng đức Phật, và dâng cúng cho mỗi Tăng tỳ-kheo hai y gọi là y an cư mùa hạ. Khi ấy, các tỳ-kheo không dám nhận và nói với thí chủ rằng: “Đức Thế Tôn chưa cho phép nhận y mùa hạ.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Phật. Phật bảo các tỳ-kheo: “Cho phép nhận y mùa hạ.”
Nhóm sáu tỳ-kheo nghe Thế Tôn cho phép nhận y mùa hạ, bèn suốt cả năm, ba mùa xuân, hạ và đông thường cầu xin y. An cư chưa xong cũng cầu xin y, cũng nhận y.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử an cư trong một trú xứ xong rồi, nghe tin nơi trú xứ khác tỳ-kheo hạ an cư xong nhận được nhiều y lợi dưỡng, liền đến nơi trú xứ ấy, hỏi các người rằng:
“Y nhận được trong mùa an cư đã chia chưa?”

* Trang 339 *
device

Đáp: “Chưa chia.”
Nói: “Chưa chia thì chia phần cho tôi với!”
Bạt-nan-đà lại đến các trú xứ khác. Như vậy chẳng phải một chỗ, cũng đều hỏi rằng:
“Y nhận được trong mùa an cư, ngài đã chia chưa?”
Đáp: “Chưa chia.”
Nói: “Chưa chia thì chia phần cho tôi với!”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà [631a1] nhận phần y nhiều chỗ, được rất nhiều phần y, đem vào trong tinh xá Kỳ-hoàn. Các tỳ-kheo thấy hỏi Bạt-nan-đà rằng:
“Đức Thế Tôn cho phép chứa ba y, ngoài ba y không được chứa y dư. Vậy y này là y của ai?”
Bạt-nan-đà trả lời: “Nhiều trú xứ nhận được y mùa an cư và tôi đã nhận được phần từ các nơi đó mang lại.”
Các tỳ-kheo nghe vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Này Bạt-nan-đà Thích tử, tại sao đức Như Lai chỉ cho phép nhận y an cư mùa hạ mà lại suốt năm, ba mùa xuân, hạ và đông lúc nào cũng xin y? An cư chưa xong cũng xin y, cũng nhận y?”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử an cư chỗ này, lại nhận y chỗ khác.
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng nhiều cách quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Này Bạt-nan-đà Thích tử, Ta chỉ cho phép tỳ-kheo nhận y mùa an cư, tại sao ông suốt năm xuân, hạ và đông lúc nào cũng cầu xin y? An cư chưa xong cũng xin y, cũng nhận y? Ông có an cư chỗ này lại thọ y chỗ khác không?”
Đức Thế Tôn dùng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà Thích tử trong

* Trang 340 *
device

nhóm sáu tỳ-kheo, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Không được suốt mọi mùa xuân, hạ và đông lúc nào cũng tìm cầu y, cũng không được an cư chưa xong cầu xin y hay nhận y, không được an cư chỗ này, nhận phần y an cư chỗ khác.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nước Xá-vệ. Khi ấy, trong quốc nội có kẻ phản nghịch, vua Ba-tư-nặc sai hai vị Đại thần tên là Lỵ-sư-đạt-đa và Phú-na-la (1) đi chinh phạt. Hai vị Đại thần khởi lên ý nghĩ:
“Nay chúng ta đi chinh phạt, chưa biết có trở về được hay không. Theo thường lệ, khi chúng Tăng an cư xong, chúng ta cúng dường thức ăn và dâng cúng y. Nhưng nay an cư chưa xong, không biết có nên sửa soạn thức ăn và các y vật như pháp an cư mà dâng cúng chư Tăng hay không?”
Các trưởng giả này đích thân đến trong Tăng-già-lam, bạch với các tỳ-kheo như vầy:
“Sáng mai, chúng tôi muốn dọn thức ăn và y an cư (2)  để dâng cúng.
Xin các ngài chiếu cố.”
Các tỳ-kheo trả lời với các trưởng giả rằng:
“Chỉ nên cúng thức ăn, khỏi phải dâng y. Tại sao vậy? Vì hạ an cư chưa xong nên không được phép nhận y, không được xin y.”
Các trưởng giả bạch rằng: “Nay chúng tôi vì vua Ba-tư-nặc sai đi chinh phạt. Chúng tôi [631b] tự nghĩ chưa biết có trở về được hay không. Chúng tôi muốn như pháp trước đây, khi hạ an cư xong được dâng cúng thức ăn và y cho chúng Tăng, nên nay chúng tôi thiết lập thức ăn và y để dâng cúng.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đem vấn đề này bạch lên đức Phật. Đức Phật
_________________
(1)  Lỵ (Lợi)-sư-đạt-đa và Phú-la-na 利師達多富羅那. Pāli: Isidatta Purāa, hai quan nội giám của vua Pasenadi. Vin. iii. 260: Có một vị Đại thần nọ (không nói tên). Tăng kỳ: Tiên Nhân Đạt-đa 仙人達多.
(2)  An cư y 安居衣. Pāli: vassāvāsika. Căn bản: hạ nội phần y 夏內分衣, y cúng trong thời gian đang an cư mùa hạ. Thập tụng: hạ an cư y.

* Trang 341 *
device

dạy rằng: “Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo nhận y cấp thí.”(1)
“Các tỳ-kheo, nếu biết là y cấp thí thì nên nhận. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, mười ngày nữa mới mãn ba tháng hạ an cư, (2) các tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí, có thể thọ nhận, thọ xong có thể chứa cất cho đến thời của y; nếu chứa quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y cấp thí: thọ thì được, không thọ thì mất. (3)
Y: có mười loại như trên.
Thời của y: (4) tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có
thọ y ca-thi-na thì năm tháng.
Còn mười ngày nữa tự tứ, nếu tỳ-kheo nhận được y cấp thí, biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa mười ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng.
Nếu còn chín ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí. Tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa chín ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm một ngày.
_________________
(1)  Y cấp thí 急施衣; y được cúng trong lúc khẩn cấp. Pāli: acceka-cīvara.
(2)  Pāli: 10 ngày trước ngày trăng tròn tháng ca-đề (kattikā), tức trước tự tứ 10 ngày.
(3)  Vin. 111. 261: accekacīvara, y được bố thí do quan tướng sắp ra trận, người sắp đi xa, người đang mang thai, người trước không tín tâm nay vừa phát tín tâm.
(4) Y thời 衣時, thời của y, thời gian cho phép tỳ-kheo sắm y. Pāli: cīvarakālasamaya.

* Trang 342 *
device

Nếu còn tám ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa tám ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm hai ngày.
Nếu còn bảy ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa bảy ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm ba ngày.
Nếu còn sáu ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa sáu ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm bốn ngày.
Nếu còn năm ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa năm ngày.
[631c] Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm năm ngày.
Nếu còn bốn ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa bốn ngày.
Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm sáu ngày.
Nếu còn ba ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa ba ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm bảy ngày.
Nếu còn hai ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa hai ngày. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm tám ngày.
Nếu sáng ngày tự tứ, tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí thì có thể nhận. Nhận rồi có thể chứa trong ngày đó. Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na thì một tháng; có thọ y ca-thi-na thì năm tháng, lại tăng thêm chín ngày. Nếu tỳ-kheo

* Trang 343 *
device

được y cấp thí quá hạn về trước, quá hạn về sau, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Y này nên xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Nếu muốn xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng lên Thượng tọa kính lễ, quỳ gối chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đã nhận được y cấp thí, hoặc quá hạn về trước, hoặc quá hạn về sau, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Người nhận sám trước hết phải tác bạch rồi sau mới nhận sám, tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe. Tỳ-kheo này tên là…, đã nhận được y cấp thí, hoặc quá hạn về trước, hoặc quá hạn về sau, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên là… Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nói với người kia rằng:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo kia thưa:
“Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo kia bằng bạch nhị yết-ma như vầy:
Trong chúng nên sai một vị có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã nhận được y cấp thí, quá hạn về trước, quá hạn về sau, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã nhận được y cấp thí, quá hạn về trước, quá hạn về sau, phạm xả đọa, nay [632a] xả cho Tăng. Nay Tăng trả lại y

* Trang 344 *
device

cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận hoàn y lại cho tỳ-kheo có tên... này, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã đồng tâm ý trả lại y cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đã xả y giữa Tăng rồi, Tăng không hoàn lại phạm đột-kiết-la. Vị nào bảo “đừng trả”, vị ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc thọ làm ba y và các y khác, hoặc sai cho người, hoặc mặc mãi, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nhận được y cấp thí không quá hạn về trước, không quá hạn về sau thì không phạm. Hoặc bị giặc cướp y, hoặc y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, quá hạn về trước không phạm. Hoặc khởi tưởng bị cướp đoạt, tưởng bị mất, tưởng bị cháy, tưởng bị nước cuốn trôi; hoặc dọc đường bị hiểm nạn không thông, nhiều đạo tặc, nạn ác thú; hoặc nước sông lớn, nhà vua bắt trói, nhốt, mạng nạn, phạm hạnh nạn; hoặc vị tỳ-kheo nhận gởi qua đời, hoặc đi xa, hoặc xả giới, hoặc giặc cướp, hoặc bị ác thú hại, hoặc bị
nước trôi, quá hạn về sau không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XXIX. A-LAN-NHÃ GẶP NẠN LÌA Y (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, các tỳ-kheo trú tại a-lan-nhã hạ an cư xong, một tháng Ca-
_________________
(1) Pāli, Nissaggiya 29 sāsasika. Ngũ phần (tr.31c20), ni-tát-kỳ 16. Tăng kỳ (tr.323a2) ni-tát-kỳ 29. Thập tụng (tr.57a14) ni-tát-kỳ 26. Căn bản 24 (tr.755a13), ni-tát-kỳ 27.

* Trang 345 *
device

đề sau đã đầy. (1) Bấy giờ, có nhiều bọn cướp (2) cướp đoạt y bát, tọa cụ, ống đựng kim, vật dụng của tỳ-kheo và đánh đập các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo hoảng sợ nên kéo nhau đến Kỳ-hoàn tinh xá cùng ở. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Tôn giả A-nan:
“Các tỳ-kheo này tại sao kéo nhau đến cư trú ở Kỳ-hoàn tinh xá?”
Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Các tỳ-kheo này trú tại A-lan-nhã hạ an cư xong, một tháng Ca-đề sau đã đầy, đã bị bọn cướp cướp đoạt y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đồ vật dụng, chúng lại đánh đập các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo hoảng sợ nên cùng nhau đến ở nơi Kỳ-hoàn tinh xá.”
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Từ nay trở đi, Ta cho phép các tỳ-kheo ở tại các trú xứ a-lan-nhã có sự nghi ngờ, nhiều kinh sợ; an trú chỗ a-lan-nhã như vậy, tỳ-kheo muốn [632b] gởi y thì được phép gởi một trong ba y nơi nhà người.”
Lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe Phật cho phép tỳ-kheo ở tại các trú xứ a-lan-nhã có sự nghi ngờ, kinh sợ; an trú chỗ như vậy, muốn gởi y thì được phép gởi một trong ba y nơi nhà người.
Họ liền đem y gởi nơi nhà người, dặn dò tỳ-kheo thân hữu rồi ra đi. Sau đó, tỳ-kheo thân hữu đem y ra phơi vào lúc giữa trưa. Các tỳ-kheo thấy vậy, hỏi nhau: “Đức Thế Tôn chế giới cho phép tỳ-kheo chứa ba y, không được dư. Đây là y của ai?”
Tỳ-kheo kia trả lời:
__________________
(1)  Hậu ca-đề nhất nguyệt mãn 後迦提一月滿; Pāli: cātumāsinī-kattikapuṇṇamā, ngày trăng tròn của tháng ca-đề sau, tức ngày trăng tròn đúng sau ngày tự tứ một tháng. Tức tháng thứ tư, tháng cuối cùng của mùa mưa (lịch Ấn Độ cổ).
(2)  Pāli gọi là kattikacorakā, bọn cướp ca-đề, vì chúng hoạt động vào tháng ca-đề, thường nhất là đêm có trăng. Chủ yếu cướp y các tỳ-kheo nhận được sau an cư. Ngũ phần: bát nguyệt tặc 八月賊, cướp tháng Tám, mùa bọn cướp bắt giết người để tế thân bảo trợ.

* Trang 346 *
device

“Nhóm sáu tỳ-kheo là thân hữu tri thức của tôi. Họ gởi y nơi đây, rồi đi du hành trong nhân gian cho nên chúng tôi đem phơi nắng.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo nghe vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo ở tại các trú xứ a-lan-nhã có sự nghi ngờ, kinh sợ, thì một trong ba y có thể gởi nơi nhà người.
Hiện tại sao các thầy đem gởi nhiều y nơi thân hữu tri thức để du hành trong nhân gian, mà ngủ lìa y?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ, Đức Thế Tôn liền vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao sáu tỳ-kheo này, Ta cho các tỳ-kheo ở tại trú xứ a-lan-nhã có sự nghi ngờ, kinh sợ, thì tỳ-kheo ở những chỗ như vậy, được phép một trong ba y có thể gởi nơi nhà người; nay các ông đem nhiều y gởi nơi thân hữu du hành trong nhân gian, mà ngủ lìa y?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ba tháng hạ đã xong, một tháng ca-đề sau cũng đã đầy, ở tại a-lan-nhã chỗ có sự nghi ngờ, có kinh sợ. Tỳ-kheo sống tại trú xứ như vậy, trong ba y, nếu muốn
có thể gởi lại một y trong nhà người. Các tỳ-kheo có nhân duyên được lìa y ngủ, cho đến sáu đêm; nếu quá, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

* Trang 347 *
device

A-lan-nhã (1) :[632c] là nơi cách thôn xóm năm trăm cung. Cung của nước Giá-ma-la, dài bốn khuỷu tay, dùng loại khuỷu tay trung bình để đo.
Chỗ có nghi ngờ: là nghi có giặc cướp. (2)
Kinh sợ: (3)  trong đó có giặc cướp khiến cho kinh sợ.
Trong nhà: trong thôn xóm.
Ba y: tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.
Y: có mười loại nói như trên.
Nếu tỳ-kheo có nhân duyên lìa y ngủ, sáu đêm rồi, đến đêm thứ bảy, trước khi bình minh chưa xuất hiện phải xả ba y, hoặc tay sờ đụng y, hoặc đến chỗ trong tầm đá liệng tới y. Nếu tỳ-kheo sáu đêm, đến đêm thứ bảy, trước khi bình minh chưa xuất hiện mà không xả ba y, tay không sờ đụng y, không đến chỗ đá liệng tới y, bình minh của đêm thứ bảy xuất hiện, phạm tội ngủ lìa y, tất cả đều ni-tát-kỳ. Trừ ba y, lìa các y khác, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Xả cho Tăng phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đầu gối bên hữu chấm đất, lễ dưới chân thượng tọa, quỳ gối chắp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đã ngủ lìa y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã ngủ lìa y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
_______________
(1)  Pāli: araññakāni, các khu rừng, cách thôn xóm 500 dhanu (cung).
(2)  Pāli: sāsaka, chỗ đang nghi ngờ, chỗ nguy hiểm, có thể trông thấy bọn cướp lai vãng.
(3)  Pāli: sappaibhaya, chỗ có sợ hãi, chỗ mất an ninh, nơi bọn cướp đang hoạt động.

* Trang 348 *
device

thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên… này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới thọ sám. Khi thọ sám phải nói với người này rằng:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả lại y cho tỳ-kheo kia bằng bạch nhị yết-ma như vầy:
Trong chúng nên sai một người có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã ngủ lìa y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo kia. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là đã ngủ lìa y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu tỳ-kheo xả y rồi mà Tăng không trả lại cho [633a1] tỳ-kheo ấy, (Tăng) phạm đột-kiết-la. Nếu có vị nào bảo “đừng trả”, vị ấy phạm đột-kiết-la. Nếu tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc thọ làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc lấy mặc mãi, tất cả đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: đã trải qua sáu đêm, đến đêm thứ bảy, trước khi bình minh chưa xuất hiện, đến chỗ để y, hoặc xả y, hoặc tay sờ đến y, hoặc đến chỗ đá liệng tới y thì không phạm. Hoặc tưởng y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi thì không xả y. Không sờ đến y, không đến chỗ đá liệng tới y vẫn không phạm. Hoặc thuyền đò

* Trang 349 *
device

không thông, đường xá bị hiểm nạn, nhiều giặc cướp, có ác thú, nước sông lớn, bị cường lực bắt, hoặc bị nhốt, bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không xả y, không rờ đến y, không đến chỗ đá liệng tới y, tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.
XXX. XOAY TĂNG VẬT VỀ MÌNH (1)
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử trước kia có một cư sĩ thường có tâm giúp đỡ, có ý muốn cúng dường đức Phật và Tăng tỳ-kheo một bữa cơm và dâng y tốt. Bạt-nan-đà Thích tử nghe người cư sĩ kia muốn cúng dường cơm và y tốt cho Phật cùng Tăng liền đến nhà cư sĩ kia, hỏi:
“Cư sĩ muốn cúng cơm và dâng y tốt cho Phật cùng Tăng phải không?”
Cư sĩ trả lời: “Đúng như vậy.”
Bạt-nan-đà liền nói với cư sĩ rằng:
“Chúng Tăng có thiện lợi lớn, có oai lực lớn, có phước đức lớn, người cúng dường cho chúng Tăng rất nhiều. Nay cư sĩ nên cúng dường cơm cho chúng Tăng mà thôi, còn y phục thì cho mình tôi.”
Cư sĩ nói: “Cũng được.”
Bấy giờ, ông trưởng giả không chuẩn bị y cụ cho Tăng nữa, chỉ lo sửa soạn các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ để cúng dường mà thôi.
Sáng ngày, cư sĩ thỉnh Phật và Tăng đã đến giờ. Chư Tăng tỳ-kheo khoác y bưng bát đến nhà cư sĩ, an tọa nơi chỗ ngồi.
_____________________
(1)  Pāli, Nissaggiya 30 pariṇata. Ngũ phần 5 (tr.30b7), ni-tát-kỳ 14. Tăng kỳ (tr.323c23 ) ni tát-kỳ 30. Thập tụng (tr.59a28) ni tát-kỳ 29. Căn bản, ni-tát-kỳ 29.

* Trang 350 *
device

Khi ấy, cư sĩ thấy trưởng lão tỳ-kheo đầy đủ oai nghi, liền lớn tiếng  nói: “Sao tôi chuẩn bị đầy đủ để cúng y chúng Tăng như vậy mà bị cản trở ?”
Các tỳ-kheo hỏi cư sĩ: “Tại sao lại nói như vậy”
Bấy giờ, cư sĩ đem sự thật mà trả lời.
Trong chúng lúc này có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Sao [633b] thầy cắt lợi dưỡng của chúng Tăng mà đem về cho mình?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn vì nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm  việc không nên làm. Sao ngươi cắt lợi dưỡng của chúng Tăng mà đem về cho mình?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà Thích tử, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm  giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cắt vật thuộc Tăng mà tự xoay về cho mình, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, các tỳ-kheo không biết là vật của Tăng hay là vật chẳng phải của Tăng; là vật đã hứa cho Tăng hay là vật không hứa cho Tăng. Sau họ mới biết đó là vật của Tăng, là vật đã hứa cho Tăng nên làm pháp ni-tát-kỳ ba-dật-đề sám hối, hoặc lấy làm hổ thẹn, đức Phật dạy:
“Không biết thì không phạm.”
Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

* Trang 351 *
device

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết đó là vật thuộc Tăng mà tự xoay về cho mình, ni-tát- kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Vật của Tăng : (1)  thí chủ vì Tăng đã cúng cho Tăng.
- Vật thuộc Tăng: đã hứa cho Tăng.
- Vì Tăng: họ vì Tăng chuẩn bị hay sắm cho Tăng mà chưa hứa cho Tăng.
- Đã cho Tăng: đã hứa cho Tăng và đã xả cho Tăng.
Vật: y, bát, tọa cụ, ống đựng kim cho đến đồ dùng để uống nước.
Nếu tỳ-kheo biết là vật thuộc Tăng mà tự xoay về cho mình, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu vật hứa cho Tăng mà chuyển cho tháp, phạm
đột-kiết-la. Vật hứa cho tháp mà chuyển cho Tăng cũng phạm đột-kiết-la. Vật hứa cho tứ phương Tăng mà chuyển cho hiện tiền Tăng, phạm đột-kiết-la. Vật hứa cho hiện tiền Tăng mà chuyển cho tứ phương Tăng cũng phạm đột-kiết-la. Vật hứa cho Tăng tỳ-kheo
mà chuyển cho tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni Tăng cũng phạm đột-kiết-la. Vật hứa cho tỳ-kheo-ni Tăng mà chuyển cho Tăng tỳ-kheo, đột-kiết-la. Vật hứa cho chỗ này đem cho chỗ khác, đột-kiết-la. Hoặc đã hứa, khởi tưởng hứa, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu đã hứa mà tâm nghi, đột-kiết-la. Nếu chưa hứa, khởi tưởng hứa, đột-kiết-la. Nếu chưa hứa, nghi, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không [633c] thành xả, phạm đột-kiết-la.
_______________
(1)  Hán: Tăng vật 僧物. Pāli: saṅghikaṃ labhaṃ, lợi dưỡng (sở đắc) thuộc Tăng. Ngũ phần: dữ Tăng vật 與僧物, vật (cúng) cho Tăng. Tăng kỳ, Thập tụng: vật hướng Tăng 物向僧, vật được nhắm để cho Tăng. Căn bản: tha dữ chúng vật 他 與眾物, vật mà người khác để dành cho chúng (Tăng). Pāli: saṅghikaṃ labhaṃ pariṇataṃ, lợi dưỡng đã được để dành cho Tăng.

* Trang 352 *
device

Muốn xả đương sự phải đến trong Tăng trống vai bên hữu, quỳ gối bên hữu chấm đất, lễ Thượng tọa, quỳ gối chắp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, biết vật này đã hứa cho Tăng mà xoay về cho mình, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Nên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã biết vật hứa cho Tăng mà xoay về cho mình, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên… này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với người kia:
“Hãy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn lại vật bị xả cho tỳ-kheo kia bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một người có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã biết vật hứa cho Tăng mà xoay về cho mình, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả lại vật bị xả cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đã biết là vật hứa cho Tăng mà xoay về cho mình, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả vật bị xả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng trả vật bị xả lại cho tỳ-kheo kia thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã chấp thuận trả vật bị xả lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng bằng lòng nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

* Trang 353 *
device

Xả cho Tăng rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la.
Nếu tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc thọ làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc dùng mãi, tất cả phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu không biết hoặc đã hứa mà tưởng rằng chưa hứa, hoặc họ hứa cho ít, khuyến khích họ cho nhiều, hoặc hứa cho ít người, khuyên cho nhiều người, muốn hứa cho thứ xấu, khuyên cho thứ tốt, hoặc nói đùa giỡn, hoặc nói nhầm, nói một mình, hoặc
nói trong giấc mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc kia thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. (1)

___________________
(1)  Bản Hán, hết quyển 10.

* Trang 354 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)