LOGO VNBET
CHƯƠNG IV
TỰ TỨ
 
1. Á pháp
[835c13] Một thời, đức Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. 
Bấy giờ có số đông tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la, hạ an cư nơi  trú xứ nọ, suy nghĩ rằng, “Làm cách nào chúng  ta sống an lạc, không vất vả  vì sự ăn uống?” Rồi họ bảo nhau, “Chúng  ta nên lập quy  chế. An cư, không nói chuyện với nhau. Không lễ bái, hỏi chào nhau. Ai vào tụ lạc khất thực trước và về trước, thì dọn dẹp chỗ ngồi ăn, trải tọa cụ, sửa soạn đồ đựng nước, đồ rửa chân, đồ đựng thức ăn. Mỗi người tự đem thức ăn đến để chỗ ngồi ăn. 
Nếu ai nhận được thức ăn nhiều, trước hết nên sớt bớt để lại, nhận đủ thì ăn. Ăn xong,  im lặng trở về phòng. Người kế tiếp vào tụ lạc khất thực; nhận được thức ăn rồi trở về, đem thức ăn đến chỗ ngồi ăn. 
Nhận được  thức ăn nhiều  thì  trước hết nên sớt bớt để lại, nhận đủ thì ăn. Nếu nhận được không đủ  thì lấy  thức ăn người  trước để lại đó mà ăn. Ăn xong, im lặng trở về phòng. Người sau cùng vào xóm khất  thực, được  thức ăn mang về, đem đến chỗ ngồi ăn. Nếu nhận được thức ăn nhiều thì trước hết nên sớt bớt để lại. Nếu nhận đủ thì ăn. Nhận không đủ để ăn  thì lấy  thức ăn của người  trước để lại đó mà ăn. Thức ăn dư thì cho người hành khất hoặc phi nhân. 
Trường hợp không có người để cho thì đem bỏ chỗ đất sạch, không có cỏ,  hoặc  để nơi vũng nước  không  có  trùng. Vị  ấy dọn dẹp  đồ đựng thức ăn để lại chỗ cũ, và ngọa cụ, đồ đựng nước, đồ rửa chân tọa cụ; tất cả đều để lại chỗ cũ. Dọn quét chỗ ngồi ăn. 
Nếu  thấy  [836a1]  đồ  đựng nước,  đồ rửa  chân  trống  không,  thì  đi xách. Nếu tự mình có  thể khiêng  trở về  thì tốt. Bằng không, dùng tay ngoắt bạn để cùng khiêng về chỗ cũ. Rồi  im lặng trở về phòng.

* Trang 1345 *
device

Chứ không vì  lí do nào mà nói bằng lời. Chúng ta lập quy chế như vậy, có thể sống an lạc, không vì sự ăn uống mà khổ sở.”(1)
Các tỳ-kheo  áp dụng  quy  chế  trên  trong  thời  gian  an cư. Tự tứ xong, họ đến chỗ đức Phật trong Kỳ-hoàn, nước Xá-vệ, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên.
Đức Thế Tôn ủy lạo các tỳ-kheo: “Các ông có an lạc chăng? Thức ăn uống có đủ chăng? Trụ chỉ có được hòa hợp chăng? Không vì thức ăn mà vất vả chăng?”
Các tỳ-kheo (2) bạch Phật: “Chúng con sống được an lạc. Đồ ăn  thức uống không  thiếu  thốn. Chúng con đều hòa hợp. Không vì đồ ăn thức uống mà phải khổ.”
Đức Phật hỏi các tỳ-kheo: “Nhờ phương  tiện nào mà các ông sống được an lạc, giữa các ông hòa hợp, không vì đồ ăn thức uống mà phải khổ?”
Các tỳ-kheo đem nhân duyên  trên bạch  lên đức Phật một cách đầy đủ, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các ông là những người si, tự cho đó là vui mà thật sự là khổ. Các ông  là  những  người  ngu  si, tự cho đó  là điều không  tai  hoạn, mà thật sự là đại hoạn. Các ông là những người ngu si, cùng ở với nhau như oan gia, như những  con cừu.
Tại  sao vậy? Ta đã dùng  vô số phương  tiện dạy bảo  các tỳ-kheo,  cùng dạy bảo  nhau,  cùng  nhau trao đổi, giác ngộ cho nhau. Các ông  là những người ngu si, đồng như ngoại đạo  thọ pháp câm. Các ông không được  làm  theo pháp câm như vậy. Nếu làm theo pháp câm, phạm đột-kết-la.” (3)
 _____________________
(1) Cf. Trung A-hàm, kinh 77 (Sa-kê-đế).
(2) Tăng kỳ  27,  tr.451a26:  ba tỳ-kheo A-na-luật, Kim-tì-lô, Bạt-đề lập ước  an cư như vậy, bị Phật khiển trách: “Chẳng khác nào kẻ thù sống với nhau.”  Trung A-hàm, ibid.: ba vị này được Phật khen.
(3) Thập tụng  23  (T23n1435  tr.165b11):  thâu-lan-giá.  Ngũ  phần  (T22n1421 tr.131a06): đột-kiết-la.

* Trang 1346 *
device

2. Cầu thính
Bấy giờ, nhóm  sáu tỳ-kheo nói  như vầy: “Đức Phật dạy,  ‘Các tỳ-kheo  phải  cùng dạy bảo  nhau,  cùng  nhau  trao  đổi,  giác  ngộ  cho nhau.’” Họ  liền cử tội tỳ-kheo  thanh tịnh.  Các tỳ-kheo  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được vô cớ cử tội người vô tội. Nếu muốn cử tội tỳ-kheo hữu sự thì trước hết phải nói cho biết, để vị ấy cầu thính, (1) sau đó mới cử.”
Nhóm sáu tỳ-kheo nghe Phật dạy: “Trước hết phải nói cho biết, để vị ấy cầu  thính, sau đó mới cử.” Tỳ-kheo  thanh tịnh  trước kia đến nhóm sáu tỳ-kheo cầu thính, nhóm sáu tỳ-kheo do hờn giận nên úp. Nay đến nhắc tỳ-kheo thanh tịnh cầu thính trở lại. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Tỳ-kheo  thanh tịnh  trước đó, không được đến nhóm  sáu tỳ-kheo cầu thính. Nhóm sáu tỳ-kheo không được vì hờn mà lại đến bảo tỳ-kheo  thanh tịnh cầu  thính. Từ nay về  sau cho phép người đủ năm pháp  sau mới  được cầu  thính: Biết  thời  chứ  không  phi  thời;  như thật  chứ  không hư dối;  có lợi  ích  chứ  không  [836b] lợi  ích; dịu dàng chứ không thô lỗ; từ tâm chứ không sân hận.”
Nhóm sáu tỳ-kheo bản thân không có năm pháp. Các tỳ-kheo thanh tịnh thì đầy đủ năm pháp. Các vị ấy đến nhóm sáu tỳ-kheo bảo cầu thính, họ không chịu cầu  thính. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép, khi tỳ-kheo đầy đủ năm pháp bảo cầu thính thì phải cầu thính.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo đến người cầu  thính rồi bỏ đi; hoặc cho người khác cầu  thính rồi lại rời  trú xứ.  Các tỳ-kheo  đem  việc  này  đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không  được cầu  thính nơi  người  được
_________________________                                        
(1) Cầu thính 求聽: “xin được nghe.” Cf. Ngũ phần 19 (tr.131a15), vấn thính 問聽: trước hết phải hỏi vị  ấy  có  chịu nghe  không. Nếu  chịu nghe  thì mới  được  chỉ điểm. Cầu thính hay vấn thính, đồng nghĩa với tự tứ. Chỉ có khác, tự tứ thực hiện bởi Tăng.

* Trang 1347 *
device

thính rồi lại bỏ  đi, cũng không được cho người cầu  thính rồi lại bỏ đi. Từ nay về sau, cho phép, đã hứa hẹn thì không được bỏ đi.”
Nhóm sáu tỳ-kheo hứa với người rồi tự ý bỏ đi, hoặc nhận lời hứa của người rồi cũng lại bỏ đi. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được hứa với  người rồi tự ý bỏ đi. Không được nhận lời hứa của người rồi lại tự ý bỏ đi. Từ nay về sau cho phép an cư rồi tự tứ. (1) Cho phép tự tứ khỏi phải cầu  thính. Tại sao vậy? Tự tứ tức là thính.”
3. Pháp thức tự tứ
1. Các tỳ-kheo nghĩ: ‘Phật cho phép các tỳ-kheo tự tứ.’ Các tỳ-kheo đồng  loạt tự tứ  gây  nên sự  ồn  ào. Các tỳ-kheo  đem  việc  này  đến bạch Phật. Đức Phật dạy:  “Không nên đồng  loạt tự tứ. Từ nay về sau cho phép tự tứ từng người một.”
Các tỳ-kheo  không  theo  thứ tự mà  tùy  ý tự tứ  khiến Thượng tọa mệt  nhọc.  Các tỳ-kheo  đem  việc  này bạch  Phật.  Đức  Phật dạy: “Không  được  tùy  ý tự tứ, mà  phải tự tứ từ nơi Thượng tọa. Cho phép sai người thọ tự tứ bằng bạch nhị yết-ma. Người có năm pháp sau đây không được sai  làm người thọ tự tứ: có ái, có nhuế, có bố, có  si, không biết tự tứ rồi  hay chưa. Người có năm pháp  sau đây nên  sai  làm  người  thọ tự tứ:  không  ái,  không  nhuế,  không bố, không  si,  biết  người tự tứ rồi  hay  chưa.  Pháp  thức  sai  như  sau: Người đủ điều kiện là Thượng tọa hoặc thứ tọa, tụng luật được hay không tụng luật được mà có khả năng bạch nhị yết-ma; dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp  thuận sai tỳ-kheo có  tên...  làm người thọ tự tứ. Đây là lời tác bạch!
________________                                        
(1) Ngũ phần, đã dẫn: Các tỳ-kheo nói, duy chỉ A-la-hán mới xứng đáng bảo cầu thính thôi. Nhân đó, Phật dạy pháp tự tứ.

* Trang 1348 *
device

“Đại  đức Tăng  xin lắng  nghe! Tăng  sai tỳ-kheo  có  tên... làm  người  thọ tự tứ.  Các  trưởng  lão  nào  đồng  ý Tăng [836c] sai tỳ-kheo có  tên...  làm người  thọ tự tứ  thì  im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. 
“Tăng đã chấp thuận sai tỳ-kheo có tên... làm người thọ tự tứ rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.” 
2.  Có  các tỳ-kheo  ngồi tại  chỗ tự tứ.  Các tỳ-kheo  đem  việc  này bạch với Phật. Đức Phật dạy: Không được ngồi tại chỗ mà tự tứ. Phải rời chỗ ngồi, và quỳ để tự tứ.”
Bấy giờ, Thượng tọa rời chỗ ngồi để tự tứ. Tất cả Tăng lại ngồi tại chỗ mà tự tứ. Đức Phật dạy: “Nếu Thượng tọa rời chỗ ngồi và quỳ thì tất cả Tăng cũng phải rời chỗ ngồi và quỳ.”
Thượng tọa tự tứ rồi vẫn quỳ, chờ tất cả Tăng tự tứ xong. Thượng tọa bị mỏi mệt. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Tự tứ xong, cho phép tùy ý ngồi.”
3. Nhóm sáu tỳ-kheo nghĩ: “Chúng ta lén nói tự tứ. Nếu không, tỳ-kheo kia hoặc có thể vì tác yết-ma ngăn ta tự tứ.” Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Không được có ý nghĩ  lén nói tự tứ, sợ tỳ-kheo khác vì mình  tác yết-ma hoặc ngăn mình tự tứ. Phải nói tự tứ một cách rõ ràng, đầy đủ, khiến cho người khác nghe được.”
Nhóm sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta nên tự tứ nhanh. Nếu không, tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma ngăn tự tứ.” Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không  được  có  ý  nghĩ,  ta  nên tự tứ  nhanh; nếu  không, tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn ta tự tứ. Từ nay về sau cho phép an cư rồi thong thả tự tứ.
Nhóm  sáu tỳ-kheo  có  ý  nghĩ:  “Ta  nên  nói tự tứ một lần. Nếu không, tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.” Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được có ý nghĩ: Ta nên nói tự tứ một lần. Nếu không, tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ nhắm đến ta.”

* Trang 1349 *
device

Nhóm sáu tỳ-kheo tự nghĩ: “Ta phải nói lại tự tứ, sợ tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.” Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Không được có ý nghĩ:  ta phải nói lại tự tứ, sợ tỳ-kheo khác vì  ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ. Từ nay về sau cho phép tỳ-kheo nói tự tứ ba lần.”
Nhóm sáu tỳ-kheo lật ngược y tự tứ, quấn y nơi cổ tự tứ, trùm trên đầu tự tứ, phủ cả hai vai tự tứ, mang dép tự tứ, hoặc ngồi nơi đất tự tứ, hoặc [837a1] ngồi trên giường tự tứ. Các tỳ-kheo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Không được lật ngược y, quấn y nơi cổ, trùm trên đầu, phủ cả hai vai, mang dép, ngồi nơi đất, ngồi  trên giường để tự tứ. Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo  trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, cùng quỳ chắp tay, tác bạch như sau:
“Hôm nay Đại đức chúng Tăng tự tứ, tôi Tỳ-kheo... cũng tự tứ. Nếu thấy, nghe, nghi tôi có tội, xin Đại đức Trưởng lão thương xót chỉ bảo tôi. Nếu tôi thấy có tội sẽ như pháp sám hối.”  
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy.
Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh,  trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, quỳ gối, chấp tay trong thời gian  lâu nên bệnh tăng thêm. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép tỳ-kheo bệnh với bất cứ hình thức nào mà thân được an, thì thọ tự tứ.”
4. Bấy giờ có  trú xứ nọ, tỳ-kheo tự tứ, có tỳ-kheo ở ngoài  thuyết giới đường. Các tỳ-kheo tự tứ rồi đi ra ngoài, tỳ-kheo ấy hỏi:“Các trưởng lão đi đâu? Không tự tứ hay sao?”
Các tỳ-kheo kia trả lời: “Tôi tự tứ rồi. Thầy từ đâu đến?
Vị kia nói: “Tôi ở ngoài thuyết giới đường.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về  sau, khi tự tứ không được ở ngoài  thuyết giới đường. Tỳ-kheo ngồi gần nên biết vị ấy có đến hay không. Tác bạch trước rồi sau mới tự tứ.” 

* Trang 1350 *
device

Văn tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Hôm nay chúng Tăng tự tứ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hòa hợp tự tứ. Đây là lời tác bạch.” 
Bạch như vậy rồi tự tứ.
Nhóm  sáu tỳ-kheo tự tứ  phi  pháp  biệt  chúng, tự tứ  phi  pháp  hòa hợp chúng, tự tứ pháp biệt chúng. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không  được tự tứ  phi  pháp  biệt  chúng, tự tứ  phi  pháp  hòa hợp chúng, tự tứ pháp biệt chúng.” 
Có bốn loại tự tứ: tỳ-kheo tự tứ phi pháp biệt chúng, tự tứ phi pháp hòa hợp, tự tứ như pháp biệt chúng, tự tứ như pháp hòa hợp. Nếu tỳ-kheo tự tứ phi pháp biệt chúng, tự tứ phi pháp hòa hợp, tự tứ như pháp biệt chúng, như vậy là không thành tự tứ. Tự tứ như pháp hòa hợp là đúng pháp tự tứ. Đó là pháp tự tứ mà Ta dạy.
5. Bấy giờ, khi tự tứ, nơi  trú xứ nọ, người  tiền an cư, hậu an cư ở chung, không biết nên tự tứ theo tiền an cư hay hậu an cư. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Tùy theo Thượng tọa ở nơi đó mà tự tứ. Thượng tọa có tiền an cư, có hậu  an cư  thì  nên  theo vị cựu  trú mà tự tứ. Vị cựu  trú  [837b] cũng có tiền an cư, có hậu an cư thì nên theo số đông mà tự tứ.”
Các tỳ-kheo muốn tự tứ  vào  ngày mười bốn  hay rằm. Đức  Phật dạy:  “Cho phép tự tứ như vậy. Nếu  vua có  thay  đổi  ngày  thì  nên tùy theo đó.”
Các tỳ-kheo không biết nên tự tứ ngày hôm nay hay để ngày mai. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép vào bữa đại thực hay tiểu thực, Thượng tọa xướng: Hôm nay chúng Tăng tự tứ.”
Các tỳ-kheo không biết nên vào  lúc nào. Đức Phật dạy: “Cho phép báo hiệu bằng cách đánh kiền chùy hay thổi ốc, đánh trống, hay un khói, hoặc dựa theo bóng, xướng rằng: Giờ tự tứ đến!”
Nhóm  sáu tỳ-kheo  nghe  Phật  cho  phép tự tứ  liền  ở  trong  phòng

* Trang 1351 *
device

riêng cùng những vị đồng Hòa thượng, A-xà-lê quen biết, đồng học và ăn  ý với  nhau,  riêng rẽ  tác pháp tự tứ. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức  Phật dạy:  “Không  được  ở  trong  phòng  riêng  cùng  những vị đồng Hòa  thượng, A-xà-lê  quen  biết,  đồng học  và  ăn  ý với  nhau riêng rẻ  tác pháp biệt bộ tự tứ. Từ nay về sau hòa hợp lại một chỗ để tự tứ.”
Các tỳ-kheo lại  không  biết tự tứ ở  chỗ  nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tự tứ nơi thuyết giới đường.”
6. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo, ngày tự tứ, nơi chẳng phải  thôn, a-lan-nhã, chỗ chưa kết giới, ngay trên đường đi, suy nghĩ: ‘Đức Phật
dạy  chúng  ta  hòa hợp tự tứ. Bây  giờ  chúng  ta  nên  làm  thế  nào?’ Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu có số đông tỳ-kheo, đến ngày tự tứ, nơi chẳng phải phải thôn, a-lan-nhã, chỗ chưa kết giới, ngay trên lộ trình, nếu các tỳ-kheo hòa hợp được tự tứ là tốt, bằng không thể hòa hợp được, tùy theo đồng Hòa thượng, A-xà-lê, quen biết đồng ý với nhau dời đến chỗ khác, kết tiểu giới để tác pháp tự tứ, bằng pháp bạch nhị yết-ma. Pháp kết tiểu giới như sau:  Sai một vị có khả năng yết-ma, hoặc Thượng tọa hay thứ tọa, hoặc tụng luật được hay không tụng luật được, miễn có khả năng yết-ma tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Chỗ ngồi các tỳ-kheo vừa đủ kín.  Trong  vòng  chỗ  các tỳ-kheo  ngồi  đó, nếu  thời  gian thích hợp  đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận, Tăng kết  tiểu giới. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Chỗ ngồi các tỳ-kheo vừa đủ kín. Trong  vòng  chỗ  các tỳ-kheo  ngồi, Tăng kết  tiểu  giới nơi đây. Các  trưởng  lão nào đồng ý  trong giới hạn chỗ các tỳ-kheo ngồi, Tăng kết tiểu giới nơi đây, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. 
“Tăng đã đồng ý  trong giới hạn chỗ tỳ-kheo ngồi, kết  tiểu giới rồi, Tăng  chấp  thuận  nên  im lặng.  Việc  này  tôi  ghi nhận như vậy.”

* Trang 1352 *
device

Bấy giờ,  [837c] các tỳ-kheo bỏ đi mà không xả giới. Các tỳ-kheo không vui, liền đến bạch Phật. Đức Phật dạy:  “Không được bỏ đi mà không xả giới, nên xả giới rồi sau đó mới đi.” Pháp thức xả bằng bạch nhị yết-ma như sau: sai một vị có khả năng hoặc thượng tọa hay  thứ tọa, hoặc tụng  luật được hay không, miễn có thể tác yết-ma, tác bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Trong vòng chỗ các tỳ-kheo ngồi, nếu  thời gian  thích hợp đối với Tăng, Tăng giải  tiểu giới này, đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Trong vòng chỗ các tỳ-kheo ngồi, Tăng giải tiểu giới nơi đây. Các truởng lão nào đồng ý trong giới hạn chỗ các tỳ-kheo ngồi, Tăng giải tiểu giới, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. 
“Tăng đã đồng ý  trong giới hạn chỗ các tỳ-kheo ngồi, giải tiểu giới rồi. Tăng đã đồng ý nên  im lặng. Việc này  tôi ghi nhận như vậy.” (1)
Bấy giờ, đến ngày tự tứ,  trú xứ chỉ có một tỳ-kheo ở. Vị ấy nghĩ: ‘Đức Thế Tôn dạy  hòa hợp một chỗ cùng nhau tự tứ. Nay  ta nên làm  thế nào?’ Vị ấy  liền bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Ngày tự tứ, trú xứ chỉ có một tỳ-kheo ở, vị kia nên đến chỗ thuyết giới  lau quét, trải tọa cụ, chuẩn bị đồ đựng nước, đồ rửa chân, đốt đèn, sắp xá-la, chờ khách tỳ-kheo đến. Nếu khách tỳ-kheo đến năm người (2) hay hơn năm người thì nên tác bạch yết-ma, sai người thọ tự tứ.”
Nếu chỉ bốn người,  thì cùng tự tứ lẫn nhau, nói: ‘Hôm nay chúng Tăng tự tứ,  tôi tỳ-kheo  tên  là... cũng  thanh tịnh tự tứ.’ Lần  thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy. 
Nếu có ba người, hai người cũng tự tứ như vậy. Nếu có một người thì tâm niệm, miệng nói: [838a1] ‘Hôm nay chúng Tăng tự tứ, tôi
____________________
(1) Bản Hán, hết quyển 37.
(2) Năm người, kể luôn tỳ-kheo trú xứ.

* Trang 1353 *
device

tỳ-kheo  tên  là... cũng  thanh tịnh tự tứ.’ Lần  thứ hai,  thứ ba cũng nói như vậy.
Nếu có năm người, một người thọ dục, thì không được bạch yết-ma sai  người  thọ tự tứ. Nếu có bốn người, không được nhận dục của người  thứ năm, (1) lại cùng tự tứ lẫn nhau.(2) Nếu có ba người, không được nhận dục của người thứ tư, lại cùng tự tứ lẫn nhau. Nếu có hai người không được nhận dục của người  thứ ba, ngoài  ra hai người lại  cùng tự tứ lẫn  nhau. Nếu  có một  người  không  được  nhận dục của người thứ hai để tâm niệm tự tứ.
4. Chúc thọ tự tứ
Bấy  giờ,  đến  ngày tự tứ,  chúng Tăng tập hợp  để tự tứ,  đức  Phật bảo, “Các tỳ-kheo hãy tĩnh lặng, hôm nay chúng Tăng tự tứ.” Các tỳ-kheo khác bạch Phật: “Có tỳ-kheo bệnh không đến được.” Đức Phật dạy: “Cho phép gởi tự tứ, cho phép chúc thọ tự tứ.”
Người bệnh gởi dục như sau:  ‘Tôi gởi tự tứ cho  thầy.’ Hoặc nói: ‘Tôi xin nói tự tứ với  thầy.’ Hoặc nói:  ‘Xin  thầy nói tự tứ giùm tôi.’ Hoặc dùng thân cử động để ra dấu hiệu tự tứ, hoặc nói đầy đủ việc tự tứ. Như vậy gọi  là gởi tự tứ. Nếu không cử động thân hoặc không nói bằng lời thì không thành gởi tự tứ, nên gởi tự tứ lại. (3)
Tỳ-kheo  chúc  thọ  đến  chỗ  người bệnh rồi mạng  chung,  hoặc  ra khỏi giới, hoặc thôi tu, đến nơi trú xứ ngoại đạo, hoặc hùa vào với đồng bọn phá Tăng, hay đến trên giới trường, hay khi dấu hiệu bình minh xuất hiện, hoặc tự nói phạm biên tội, hoặc phạm tỳ-kheo-ni, hoặc  vào  đạo với tặc  tâm,  hoặc từ  ngoại  đạo  trở lại,  hoặc  huỳnh môn,  hoặc  giết  cha mẹ,  hoặc  giết A-la-hán,  hoặc  phá Tăng,  hoặc
___________________
(1) Bốn người hiện  diện,  không  được nhận dục  để  báo  có  người  thứ năm nhưng vắng mặt.
(2) Cf. Pāli, Vin.  i.  163: Ở  đó  có  5 tỳ-kheo,  không  được nhận tự tứ dục (ekassa pavāraṇaṃ  āharitvā)  để  tác Tăng pháp tự tứ (saṅghe  pavāretabbaṃ). Có bốn, không được nhận dục một người để tác đối thủ tự tứ.
(3) Các quy tắc gởi dục tự tứ cũng đồng với gởi dục thuyết giới.

* Trang 1354 *
device

với  ác  tâm  làm  thân  Phật  ra máu,  hoặc  là  phi  nhân,  hoặc  là  súc sanh, hoặc hai căn, hoặc bị người cử, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng diệt tẫn.(1) Nếu gởi cho những hạng người như vậy  thì không  thành chúc thọ tự tứ, nên gởi lại người khác. 
Hoặc trên đường đi, hoặc đến  trong Tăng có sự việc như vầy phát sinh: bị Tăng  tác yết-ma bất kiến tội, hoặc  tác yết-ma không  sám hối tội, hoặc tác yết-ma không xả ác kiến; thì không thành chúc thọ tự tứ. Nên gởi lại cho người khác. 
Nếu  (người  nhận  chúc  thọ)  vì  ngủ mà  quên  nói;  hoặc  nhập  định; hoặc nhầm lẫn quên;  hoặc không cố  ý  làm; đến  chỗ tự tứ  thì vẫn gọi là vì chúc thọ tự tứ mà đến. 
Nếu (người nhận chúc thọ) cố ý không nói, phạm đột-kết-la. 
(Đối với người bệnh) nếu có thể làm (những việc như trên) như vậy thì tốt, bằng không  thể  làm được  thì vị kia nên dìu người bệnh đi, hay dùng giường dây, giường cây, hoặc xếp y lại khiêng đến chỗ tự tứ. Nếu  [838b] tỳ-kheo  kia  nghĩ rằng,  chúng  ta  dìu  đến sợ bệnh càng tăng, hoặc có thể đưa đến sự chết, thì chúng Tăng nên đến hết nơi chỗ người bệnh để tác yết-ma tự tứ. Nếu có nhiều tỳ-kheo bệnh tập  trung lại một  chỗ  thì tốt, bằng  không  thì  các tỳ-kheo  nên  ra ngoài giới để tác yết-ma tự tứ, chứ không được biệt chúng tự tứ. 
Có tỳ-kheo nhận chúc thọ tự tứ rồi mạng chung, hoặc thôi tu, hoặc đến  trên giới  trường, hoặc khi dấu  hiệu bình minh  xuất hiện. Các tỳ-kheo  nghĩ:  “Như vậy  có mất  chúc  thọ tự tứ  hay  không?” Đức Phật dạy: “Mất.”
Có tỳ-kheo chúc thọ tự tứ rồi, trên đường đi bị trở ngại, bị nạn giặc, hổ  lang, sư tử, nước lụt,  trong cương giới đường bị đứt không  thể đến, mang  chúc  thọ tự tứ  đến  ngoài  giới. Các tỳ-kheo  nghĩ:  “Có mất chúc thọ tự tứ hay không ?”
________________
(1) Trong gởi dục thuyết giới có thêm chi tiết: hoặc bằng thần túc mà trong hư không, hoặc rời xa chỗ thấy và nghe.

* Trang 1355 *
device

Đức Phật dạy:  “Không mất.” (1)
“Từ nay về  sau, tỳ-kheo nhận chúc  thọ tự tứ, gặp phải mạng nạn, phạm hạnh nạn,  trong cương giới không có đường đi, cho phép từ ngoài giới mang chúc  thọ tự tứ đến,  trường hợp  đó Ta nói không mất chúc thọ.”
Các tỳ-kheo nhận chúc thọ tự tứ của một người, e ngại không dám nhận  chúc  thọ tự tứ  người  thứ  hai,  bèn  đến bạch  Phật.
Đức  Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Tỳ-kheo  nhận  hai  người  chúc  thọ tự tứ,  e  ngại  không  dám  nhận chúc thọ tự tứ người thứ ba, bèn đến bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Tỳ-kheo nhận ba người chúc thọ tự tứ, e ngại không dám nhận bốn người chúc thọ tự tứ, liền bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Cho phép  nhận  nhiều  hay  ít  theo khả năng có  thể  nhớ được  tên. Nếu nhớ hết được  tên  thì  nói  tên, bằng không  nhớ hết  tên  thì  nói họ, hoặc nói tướng mạo, hoặc nói  ‘Tôi nhận một số đông tỳ-kheo chúc thọ tự tứ, các vị ấy, Tăng sự như pháp xin gởi dục nói tự tứ.”
Tỳ-kheo  tuổi  nhỏ  không  biết tự tứ,  báo  cáo  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, Hòa thượng, A-xà-lê nên dạy bảo. Nếu dạy mà họ ưa  quên  không  nhớ,  nên  khiến  người  thọ tự tứ dạy. Nếu họ vẫn quên, nên đọc từng câu một.”
Tỳ-kheo nhận chúc thọ tự tứ rồi, có công việc xảy đến. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau cho phép chuyển dục cho các người khác như sau: ‘Tôi  đã nhận  chúc  thọ tự tứ  cho số  đông Tỳ-kheo. Nay  tôi bận việc,  tôi gởi dục cho các vị kia và  tôi gởi  luôn dục của  tôi. Tăng sự như pháp gởi dục nói tự tứ.’”
Tỳ-kheo kia gởi dục rồi, công việc xong, trở về. Vị ấy e ngại rằng,
_________________
(1) Xem Chương Thuyết giới, mục “Dữ dục.”

* Trang 1356 *
device

tôi [838c] đã chuyển chúc thọ tự tứ rồi, không biết nên như thế nào. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Việc xong nên đến. Không đến, như pháp trị.”
5. Phá tự tứ
Nhóm sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: ‘Ta không nên đến chỗ tự tứ. Vì ta sợ bị  tác yết-ma  hoặc ngăn tự tứ.’(1) Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được  nói có ý  nghĩ:  ‘Ta không  nên đến  chỗ tự tứ, sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.’”
Nếu vì tri thức thân hậu không đến chỗ tự tứ cũng như vậy.
Nhóm sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: ‘Ta đến chỗ tự tứ nhưng không ngồi, sợ các tỳ-kheo vì  ta  tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.’ Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không  được  nói  có  ý  nghĩ:  đến  chỗ tự tứ  nhưng  không  ngồi, sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.”
Nếu vì tri thức quen biết cũng như vậy.
Có vị tự  nghĩ:  ‘Nếu  ta  đến  đó  nhưng  không  nói tự tứ, sợ  các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.’ Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được có ý nghĩ: ta đến đó nhưng không nói tự tứ, sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.”
Nếu vì tri thức thân hậu cũng như vậy.
Bấy giờ, ngày tự tứ đến, có  trú xứ nọ chúng Tăng hòa hợp, chuẩn bị tự tứ, nghe có giặc đến; họ sợ hãi nên rời chỗ ngồi bỏ đi, không tự tứ. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu có tám nạn sự xảy đến thì cho phép nói lược tự tứ. Trong đó, tám nạn và sự  là: nạn vua, nạn giặc, nạn lửa, nạn nước, nạn bệnh, nạn người, nạn phi nhân, nạn độc trùng. 
___________________
(1) Cf. Vin. i. 170: Phật quy định tác bạch ngăn không cho tỳ-kheo phạm tội tự tứ (pavāranaṃ ṭhapetuṃ).

* Trang 1357 *
device

Trong  đó, sự  là,  chúng Tăng  đông  mà  chỗ  ngồi  chật hẹp,  hoặc nhiều vị bị bệnh  thì nên nói lược tự tứ. Nếu chúng Tăng đông mà phòng  xá  nhỏ, hoặc  trời mưa  thì  nên  nói lược tự tứ. Hoặc bố-thí (1) mà đêm đi qua đã  lâu, hoặc có sự đấu  tranh, hoặc  luận bàn A-tỳ-đàm, hay đoán sự Tỳ-ni,  thuyết pháp mà đêm đã  lâu, chúng Tăng chưa đứng dậy, tướng bình minh chưa xuất hiện  thì nên yết-ma tự tứ. (2)
Nhận sự chúc  thọ của người khác, không được để đến tướng bình minh xuất hiện. Nếu đến khi tướng bình minh xuất hiện  thì không được yết-ma tự tứ.
Các tỳ-kheo nói như vầy: “Vì nạn sự nên nói lược tự tứ. Nếu nạn sự còn xa, chúng ta có đủ thì giờ để nói tự tứ đầy đủ.” Các tỳ-kheo nên nói tự tứ đầy đủ. Nếu không nói tự tứ đầy đủ thì sẽ như pháp trị. 
Các tỳ-kheo  [839a]  nói  như vầy:  “Vì nạn sự  nên lược  nói tự tứ. Nay nạn sự  không  còn  xa. Chúng  ta  không  nói  đủ  tam  ngữ tự tứ được nên chỉ nói hai lần tự tứ.” Tỳ-kheo nên nói hai lần tự tứ. Nếu không nói hai lần tự tứ thì sẽ như pháp trị. 
Các tỳ-kheo nói: “Vì nạn sự nên lược nói tự tứ. Nay nạn sự đã gần, chúng ta không thể nói hai lần tự tứ được. Có thể chỉ nói một lần tự tứ.” Tỳ-kheo nên nói một lần tự tứ. Nếu không nói sẽ như pháp trị. 
Các tỳ-kheo lại nói: “Vì nạn sự nên lược nói tự tứ. Nạn sự quá gần, không đủ thì giờ nói một lần tự tứ. Chúng ta có thể đủ thì giờ tất cả
________________
(1) Để bản chép  là bố-tát. nên sửa lại  là bố  thí; xem Thập tụng 23,  tr. 171a28 và cht. 13 dưới.
(2) Tăng kỳ 27, tr.452c14: Nếu đại chúng nhiều một vạn , hai vạn, tất cả tập họp tại một chỗ… Những người khác có  thể  làm các công việc khác như đại  tiểu v.v., suốt cả ngày  luôn đêm, chưa rời chỗ ngồi, không ngồi cách xa nhau,  trước khi minh tướng xuất, ở  trong phạm vi đó mà tự tứ. Cf. Thập tụng 23  tr.171a15: về nhất  thuyết tự tứ, tại  trú xứ khi Tăng tập hội quá đông;… hoặc vua, v.v. muốn nghe pháp cho đến quá khuya;… hoặc bố thí lớn, kéo dài đến quá khuya… Bấy giờ bạch yết-ma để nhất thuyết tự tứ, vì nói ba lần không đủ thời gian, trước khi minh tướng xuất hiện.

* Trang 1358 *
device

đồng  loạt  nói  tam  ngữ tự tứ.” Trường hợp  này văn  tác bạch  như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng  chấp  thuận,  nay Tăng  đồng  loạt  nói  tam ngữ tự tứ. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi đồng loạt nói tam ngữ tự tứ. 
Đồng loạt nói hai lần, nói một lần, cũng vậy. 
Các tỳ-kheo lại  nói:  “Vì nạn sự  nên đồng  loạt nói  tam  ngữ tự tứ. Nạn sự gần, không thể nói đồng loạt tam ngữ tự tứ, cũng không thể tác bạch.” Tỳ-kheo vì nạn sự này nên ra đi.
6. Già tự tứ
Bấy  giờ  có  trú xứ, tỳ-kheo  phạm tăng  tàn, vị  kia  không  biết  nên làm  thế nào, nên báo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu tỳ-kheo nơi  trú xứ nào đó có phạm Tăng  tàn, tỳ-kheo đó cần được cho phú tàng thì phải trao phú tàng. Trao yết-ma phú  tàng rồi mới tự tứ. Cần  trao cho bổn nhật  trị  thì phải  trao bổn nhật  trị. Trao yết-ma bổn nhật  trị rồi mới tự tứ. Cần  trao ma-na-đỏa  thì phải  trao ma-na-đỏa. Trao yết-ma ma-na-đỏa rồi mới tự tứ. Cần  trao pháp xuất tội  thì phải  trao pháp xuất tội. Trao yết-ma xuất tội rồi mới tự tứ.”
Bấy giờ, đến ngày tự tứ, một trú xứ nọ có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề. Có vị  nói  phạm  ba-dật-đề;  có vị  nói  phạm  ba-la-đề  đề-xá-ni. Các tỳ-kheo ở đó nói, ‘Chúng ta nên như thế nào?’ Liền báo cáo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu  ngày tự tứ,  trú xứ  nào  đó  có tỳ-kheo  phạm  ba-dật-đề. Tỳ-kheo nơi đó hoặc nói phạm ba-dật-đề, hoặc nói phạm ba-la-đề đề-xá-ni. Nếu  biết vị  ấy  phạm  ba-dật-đề  thì  nên  đưa  người  này  đến một nơi, rồi khiến người nói vị ấy phạm ba-la-đề đề-xá-ni thì ở chỗ mắt  [839b]  thấy  tai không nghe;  sau đó hướng dẫn tỳ-kheo phạm sám hối. Rồi đến chỗ tỳ-kheo cho rằng vị ấy phạm ba-la-đề đề-xá-ni nói: ‘Tỳ-kheo phạm tội, tôi đã bảo sám hối rồi.’ Nên phương tiện tác pháp như vậy rồi tự tứ.

* Trang 1359 *
device

Bấy giờ, ngày tự tứ, trú xứ nọ có tỳ-kheo phạm thâu-lan-giá. Trong các tỳ-kheo, vị  thì nói phạm  thâu-lan-giá, vị  thì nói phạm ba-la-di. Những vị nói phạm thâu-lan-giá đều  là hàng đa văn, thông suốt A-hàm, A-tỳ-đàm, trì Luật, thuộc hạng tỳ-kheo có nhiều quen biết với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di,  hoặc  vua,  hoặc  đại  thần, hoặc các hàng ngoại đạo, sa-môn, phạm-chí. Tỳ-kheo nói phạm ba-la-di cũng  là  hàng  đa văn,  thông  A-hàm,  A-tỳ-đàm,  trì  Luật, lại cũng thuộc hạng có nhiều tri thức với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni... cho đến sa-môn,  phạm-chí. 
Các tỳ-kheo  nói,  “Nếu tự tứ  hôm  nay,  có  thể chúng Tăng có sự  tranh cãi. Có  thể Tăng bị vỡ. Hoặc sanh  ra  trần cấu ô nhiễm cho Tăng, khiến chúng Tăng chia rẽ. Vậy chúng ta nên làm thế nào?” Họ liền báo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu ngày tự tứ, trú xứ nào đó có tỳ-kheo phạm  thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo, người  thì nói phạm  thâu-lan-giá, kẻ thì nói phạm ba-la-di. Tỳ-kheo nói phạm thâu-lan-giá là hạng đa văn, thông A-hàm, A-tỳ-đàm,  trì Luật, có nhiều  tri  thức với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hoặc  vua,  hoặc  đại  thần,  hoặc  các  hàng  ngoại  đạo,  sa-môn, phạm-chí. Tỳ-kheo nói phạm ba-la-di cũng  thuộc về hàng đa văn,  thông  A-hàm,  A-tỳ-đàm,  trì  Luật,  có  nhiều  tri  thức với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni...  cho  đến  sa-môn,  phạm-chí. 
Các tỳ-kheo  nói, ‘Nếu tự tứ  hôm  nay,  có  thể  chúng Tăng  có sự  tranh  cãi.  Có  thể Tăng bị vỡ. Hoặc sanh ra trần cấu ô nhiễm cho Tăng, khiến chúng Tăng chia rẽ.’ Nếu sợ Tăng bị vỡ thì không nên tự tứ liền ngày hôm đó mà nên đình lại thời gian rồi sẽ tự tứ.”
Khi tự tứ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép ngăn tự tứ, (1) liền  ngăn tỳ-kheo  thanh tịnh  không  cho tự tứ. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Không  được  ngăn tỳ-kheo  thanh tịnh tự tứ. Nếu  ngăn  thì  giống như không ngăn. Nếu ngăn mà không có căn cứ,
__________________
(1) Già tự tứ 遮自恣. Ngũ phần 19, tr.131c28: trụ tự tứ 住自恣.

* Trang 1360 *
device

không  tác nhân, (1) đó gọi  là không  ngăn tự tứ. Nếu ngăn có căn cứ, có  tác nhân, đó mới gọi là ngăn tự tứ. Nếu ngăn không căn cứ, không tác nhân hữu dư, (2) đó không gọi  là ngăn tự tứ. Nếu ngăn có căn cứ, có  tác nhân hữu dư, (3) [839c]  đó gọi  là  ngăn tự tứ. Nếu  ngăn  không căn cứ, không tác nhân vô dư, đó không gọi là ngăn tự tứ. Nếu ngăn có căn cứ, có tác nhân vô dư, đó gọi là ngăn tự tứ. 
Nếu ngăn khi chưa nói tam ngữ tự tứ, gọi  là không ngăn tự tứ. Nói tam  ngữ tự tứ rồi mà  ngăn tự tứ, cũng  không gọi  là  ngăn tự tứ. Ngay khi nói  tam ngữ tự tứ nếu ngăn tự tứ mới gọi  là ngăn tự tứ. Nói một lần, nói hai lần, cũng như vậy.  Người  ngăn tự tứ, nếu  thân  nghiệp  mà  không  thanh tịnh,  khẩu không  thanh tịnh,  ý  nghiệp không  thanh tịnh, không có  trí, khôngphân minh, không biết hỏi, không biết  trả lời. Các tỳ-kheo nên nói với tỳ-kheo này: ‘Thôi đi,  trưởng  lão khỏi phải khởi  lên việc  tranh cãi.’ Rồi không nghe theo tỳ-kheo đó, mà nên tự tứ. 
Nếu  người  ngăn tự tứ mà  thân  nghiệp  thanh tịnh,  nhưng  khẩu,  ý nghiệp  không  thanh tịnh,  không  có  trí,  không  phân minh,  không biết hỏi,  không  biết  trả lời. Các tỳ-kheo  nên  nói với tỳ-kheo  này rằng:  “Thôi  đi,  trưởng  lão  khỏi  phải  khởi  lên  tránh sự  này.” Rồi không nghe theo tỳ-kheo đó, mà nên tự tứ.
Nếu  người  ngăn tự tứ mà  thân,  khẩu  nghiệp  thanh tịnh,  nhưng  ý nghiệp  không  thanh tịnh,  không  có  trí,  không  phân minh,  không biết hỏi, không biết trả lời, thì các tỳ-kheo nên nói với tỳ-kheo này rằng:  “Thôi  đi,  trưởng  lão  khỏi  phải  khởi  lên  tránh sự  này.” Rồi không nghe theo tỳ-kheo đó, mà nên tự tứ.
__________________
(1) Vô căn, bất tác 無根不作. Cf. Pāli, Vin.i. 170: avatthusmiṃ akāraṇe, không có cơ sở (căn), không có lý do (tác). Thập tụng 23, tr. 170c27: bốn tường hợp già tự tứ bất  thành  (phi pháp): già vì lý do phá giới, phá chánh kiến, phá chánh mạng, phá oai nghi, tất cả đều không căn cứ (vô căn già). Ngũ phần 19, như Thập tụng.
(2) Hữu dư bất tác 有餘不作. Không có lý do, chưa đầy đủ.
(3) Hữu dư tác 有餘作. Có lý do tuy chưa đầy đủ.

* Trang 1361 *
device

Nếu  người  ngăn tự tứ mà  thân,  khẩu,  ý  nghiệp  thanh tịnh,  có  trí, phân minh, có khả năng hỏi và  trả lời,  thì các tỳ-kheo nên hỏi tỳ-kheo này rằng: “Vì sao mà  thầy ngăn tỳ-kheo này tự tứ? Vì phạm giới nên thầy ngăn? Hay vì phá kiến mà ngăn? Hay vì thầy này phá oai  nghi mà  thầy  ngăn?” Nếu vị kia  trả lời:  “Vì  phá giới cho nên ngăn”  thì  nên hỏi  phạm  những  giới  nào?
Nếu  nói  phạm  ba-la-di, tăng  tàn,  thâu-lan-giá, đó gọi  là phạm giới. Nếu nói không  vì phá giới mà ngăn mà vì phá kiến nên ngăn thì nên hỏi: “Phá kiến nào?” Nếu nói sáu mươi hai kiến, các tà kiến, đó gọi là phá kiến. 
Nếu nói không vì phá kiến mà ngăn, mà vì phá oai nghi nên ngăn thì hỏi: “Phá oai nghi nào?” Nếu nói phạm ba-dật-đề, ba-la-đề đề-xá-ni, đột-kết-la, ác  thuyết, đó gọi  là phá oai  nghi. Nên hỏi  thêm: “Do sự (1) gì mà ngăn người khác tự tứ ? Vì  thấy, nghe hay nghi mà ngăn?” 
Nếu  trả lời vì  thấy  thì nên hỏi: “Thấy việc gì? Thấy như  thế nào? Bởi nguyên nhân nào mà  thấy? Tỳ-kheo kia lại vì nguyên nhân gì khiến  cho  thầy  thấy? Thầy  [840a1] ở tại  chỗ  nào? Thầy  kia ở tạichỗ nào? Thấy việc gì mà nói là phạm ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề, ba-la-đề đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kết-la, ác thuyết?” 
Nếu  nói  không  thấy,  nhưng  do  nghe  thì  nên hỏi:  “Nghe  việc  gì? Nghe như thế nào? Nghe từ ai? Nghe từ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,  ưu-bà-di? Nghe  phạm  việc  gì:  ba-la-di, tăng  tàn,  cho  đến  ác thuyết chăng?” 
Nếu nói không nghe mà do nghi,  thì hỏi: “Nghi việc gì? Nghi như thế  nào? Nghe từ  ai mà  sanh  nghi: từ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di chăng? Nghi  việc gì:  ba-la-di, tăng  tàn... cho đến ác thuyết chăng?”
Nếu  người  ngăn tự tứ  không  thể  trả lời. Nếu  người  ấy  có  trí mà dùng ba-
____________________
(1) Sự 事, trên kia nói là căn 根 (Pāli: vatthu) tức cơ sở nêu tội để ngăn tự tứ.

* Trang 1362 *
device

la-di để  ngăn  thì phải  trao cho người ấy tội tăng  tàn, (1) rồi Tăng mới tự tứ. Nếu vị dùng tội tăng tàn để ngăn, thì phải trao cho tội ba-dật-đề, (2) rồi Tăng mới tự tứ. Nếu người ấy dùng tội ba-dật-đề để  ngăn  thì  phải  trao  cho  các tội  khác, (3) rồi Tăng mới tự tứ. Nếu người ấy dùng các tội khác để ngăn  thì nên như pháp  trị, rồi Tăng mới tự tứ. 
Nếu người ngăn tự tứ có trí, có thể trả lời. Nếu ngăn vì phạm ba-la-di  thì nên diệt tẫn, (4) rồi Tăng tự tứ. Nếu ngăn vì phạm tăng  tàn,  thì nên  trao  cho  ba-lợi-bà-sa  hay bổn  nhật  trị,  hoặc ma-na-đỏa,  hay xuất tội, rồi tự tứ. Nếu ngăn vì phạm ba-dật-đề, thì cho sám hối, rồi tự tứ. Nếu dùng các việc khác để ngăn  thì nên như pháp  trị rồi tự tứ. (5) Bấy giờ, có trú xứ, đến ngày tự tứ, tỳ-kheo bệnh ngăn tỳ-kheo bệnh tự tứ. Vị kia không biết  làm  thế nào,  liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu có trú xứ nào, ngày tự tứ, tỳ-kheo bệnh ngăn tỳ-kheo bệnh tự tứ, thì tỳ-kheo kia nói với tỳ-kheo này rằng,  đức  Phật dạy  như vầy:  ‘Hiện  đang bệnh,  không  được ngăn. Phải đợi bệnh  lành đã. Trưởng  lão nên nói như pháp. Vị kia cũng sẽ nói như pháp.’ Tác pháp như vậy rồi sau đó tự tứ.”
Bấy  giờ,  có  trú xứ,  đến  ngày tự tứ, tỳ-kheo bệnh  ngăn tỳ-kheo không bệnh tự tứ. Tỳ-kheo kia nên nói với tỳ-kheo này rằng: ‘Này trưởng  lão, đức Phật có nói như vầy: ‘Phải đợi bệnh  lành đã. Ngài nên nói như pháp. Vị kia cũng nói như pháp.’’ Tác pháp như vậy rồi, sau đó tự tứ.
Bấy  giờ,  có  trú xứ,  đến  ngày tự tứ, tỳ-kheo  không bệnh  ngăn
_________________
(1) Xem Phần  I, Ch.  ii. tăng-già-bà-thi-sa  8:  vô căn  ba-la-di báng;  và  9:  giả căn báng. 
(2) Xem Phần I, Ch. v. ba-dật-đề 80: vô căn tăng-già-bà-thi-sa pháp báng.
(3) Đột-kiết-la hoặc ác thuyết.
(4) Đối với tỳ-kheo phạm tội bị ngăn tự tứ có căn cứ.
(5) Tuỳ ý sự  (tr.1047b15): nếu phạm ba-la-thị-ca  thì tẫn xuất. Nếu phạm tăng già-phạt-thi-sa, thì tạm gác đó chờ tự tứ xong sẽ  trị tội. Các tội khác, sám hối xong mới tự tứ.

* Trang 1363 *
device

[840b] tỳ-kheo bệnh tự tứ. Tỳ-kheo  kia  nên  nói với tỳ-kheo  này rằng,: ‘Đức Phật dạy như vầy:  ‘Phải đợi bệnh  lành đã. Trưởng  lão nên nói như pháp. Vị kia cũng nói như pháp.’’ Tác pháp như vậy rồi, sau đó tự tứ.
7. Hạn kỳ tự tứ
1. Bấy  giờ,  có  trú xứ,  có số  đông tỳ-kheo  an cư  tinh tấn  tu  hành chứng  đặng tăng  thượng  quả,  quý vị  khởi  lên  ý  nghĩ:  “Hôm  nay chúng  ta tự tứ. Nếu di chuyển đến các  trú xứ khác, sợ không được pháp lạc như vầy. Chúng  ta nên  làm  thế nào?” Các vị  liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: “Nếu trú xứ có số đông tỳ-kheo an cư tinh tấn tu hành chứng đặng tăng thượng quả. Các tỳ-kheo có ý nghĩ: ‘Hôm nay chúng  ta tự tứ. Nếu  di  chuyển  đến  các  trú xứ  khác, sợ  không  được  pháp lạc  như vầy.’ Các tỳ-kheo nên tác bạch tăng ích tự tứ.” 
Văn tác bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp  thuận hôm nay không tự tứ. Đủ bốn tháng sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch.” 
Nên tác bạch như vậy rồi sau đó đủ bốn tháng mới tự tứ.
2. Bấy giờ có trú xứ, có số đông tỳ-kheo cùng sống với nhau. Ngày tự tứ, các tỳ-kheo nghe các tỳ-kheo nơi trú xứ kia đấu tranh không hòa hợp, muốn đến nơi đây tự tứ. (1) Các vị không biết  làm  thế nào, liền  báo  các tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo  đến bạch  Phật. Đức  Phật dạy: “Nếu  trú xứ nào có số đông tỳ-kheo cùng sống với  nhau, ngày tự tứ, nghe các tỳ-kheo  trú xứ khác đấu  tranh không hòa hợp, muốn đến đây tự tứ, thì tỳ-kheo kia nên tự tứ trước hai, ba ngày. Nếu tự tứ vào ngày mười lăm thì nên tự tứ ngày mười bốn. Nếu ngày mười bốn tự tứ  thì nên tự tứ ngày mười  ba. Nếu nghe họ đến vào ngày hôm nay thì nên tập Tăng tự tứ gấp. Nếu nghe họ đã đến trong giới
_________________
(1) Ngũ phần 19 (tr.133c03): sợ các tỳ-kheo kia sẽ đến ngăn trú xứ này tự tứ.

* Trang 1364 *
device

thì nên ra ngoài giới tự tứ. Nếu nghe họ đã đến  trong chùa  thì nên sửa soạn nước rửa, nước tắm, ghế ngồi tắm, bình nước rửa, dụng cụ cào  đất,  đồ  đựng  bùn,  tháo  đậu, dược  thảo, rồi bạch Thượng tọa nhen lửa,  thỉnh Tăng  vào  nhà  để tắm. Các cựu Tăng tỳ-kheo  nên kín  đáo từ  nhà tắm mọi  người  ra  ngoài  giới tự tứ. Nếu  khách tỳ-kheo kêu bảo tự tứ thì nên trả lời: ‘Chúng tôi tự tứ rồi.’ Nếu cựu tỳ-kheo tự tứ rồi, khách tỳ-kheo ngăn tự tứ thì không được ngăn. (1) Khi khách tỳ-kheo đang tự tứ, cựu tỳ-kheo ngăn thì được ngăn. Nếu có thể tạo phương tiện như vậy để tác pháp thì tốt, bằng không tỳ-kheo kia nên tác bạch tăng thượng tự tứ. (2) [840c] Văn bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hôm nay Tăng không tự tứ, đến ngày  thứ mười lăm  không  trăng sẽ tự tứ.  Đây  là lời  tác bạch.”
Nên  tác bạch tăng thượng tự tứ như vậy. Nếu khách tỳ-kheo ở cho đến ngày thứ mười lăm không trăng, cựu tỳ-kheo nên tác bạch tăng thượng tự tứ lần thứ hai. Văn bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hôm nay Tăng không tự tứ, đến ngày  thứ mười lăm  có  trăng  sau sẽ tự tứ. Đây  là lời  tác bạch.”
Nếu  tác bạch tăng  thượng tự tứ lần  thứ hai như vậy mà khách tỳ-kheo không đi, cựu tỳ-kheo nên như pháp, như  luật cưỡng hòa hợp tự tứ.
3. Bấy giờ có trú xứ, đến ngày tự tứ, khi tự tứ không biết tội, không biết người. Tự tứ rồi biết tội  biết người. Các tỳ-kheo kia tự nghĩ, chúng ta nên làm thế nào? Các vị liền báo với các tỳ-kheo. 
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:  “Trú xứ  nào, khi tự tứ không
______________
(1) Cf.  Vin.i.  không  được  ngăn  (phủ  nhận) tự tứ  đối với  người  đã tự tứ (na…pavāritamapi pavāraṇā ṭhapetabbā).
(2) Tăng thượng tự tứ 增上自恣, chồng thêm ngày tự tứ.

* Trang 1365 *
device

biết tội, không  biết người, tự tứ rồi biết tội  biết người; nếu tự tứ rồi, không được đem  những  việc đã qua của người cử tội lại.” 
Trú xứ nào, khi tự tứ không biết tội, biết người. Tự tứ rồi biết tội, biết người. Nếu tự tứ rồi, thì không được đem những việc trước của người mà cử tội lại. 
“Trú xứ nào, khi tự tứ có biết tội, không biết người. Tự tứ rồi biết tội, biết người. Nếu tự tứ rồi thì không được đem những việc trước của người cử tội lại. 
4. Có trú xứ, ngày tự tứ của khách tỳ-kheo đến  là ngày mười bốn, còn cựu tỳ-kheo  ngày mười lăm. Các tỳ-kheo  không  biết  nên  thế nào, nên báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. 
Đức Phật dạy: Nếu có  trú xứ nào, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng  ít. Khách tỳ-kheo ngày mười bốn (tự tứ), cựu tỳ-kheo ngày mười lăm. Khách tỳ-kheo nên tùy theo. Không theo, nên như pháp trị. 
Có trú xứ khi tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng bằng nhau cựu Tỳ-kheo. Khách tỳ-kheo  ngày mười bốn tự tứ, cựu tỳ-kheo  ngày mười lăm.  Khách tỳ-kheo bằng  nhau  đó  nên  theo cựu Tỳ-kheo. Không theo, sẽ như pháp trị. 
Khi tự tứ,  có  trú xứ,  khách tỳ-kheo  đến  đông. Khách tỳ-kheo  thì ngày mười bốn tự tứ, còn cựu tỳ-kheo ngày mười lăm. Cựu tỳ-kheo ít, nên cùng khách tỳ-kheo cầu hòa hợp. 
Nếu cùng hòa hợp thì tốt. Bằng không hòa hợp, cựu tỳ-kheo nên ra ngoài giới tự tứ. 
Ngày tự tứ, [841a1] có trú xứ, khách tỳ-kheo đến ít. Khách tỳ-kheo ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo ngày mười bốn. Khách tỳ-kheo đến  ít nên  theo cựu tỳ-kheo cầu hòa hợp, nếu cùng hòa hợp  thì tốt, bằng không, khách tỳ-kheo nên ra ngoài giới tự tứ. 
Ngày tự tứ,  có  trú xứ,  khách tỳ-kheo  đến số lượng bằng cựu tỳ-kheo. Khách tỳ-kheo ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo ngày mười bốn. Khách tỳ-kheo bằng  nên  theo cựu tỳ-kheo cầu hòa hợp, cùng hòa

* Trang 1366 *
device

hợp thì tốt, bằng không, khách tỳ-kheo nên ra ngoài giới tự tứ.     
Ngày tự tứ,  có  trú xứ,  khách tỳ-kheo  đến  nhiều.  Khách tỳ-kheo ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo  ngày mười bốn. Cựu tỳ-kheo  ít  nên theo khách tỳ-kheo cầu hòa hợp, theo được thì tốt, bằng không, như pháp  trị.  Khách tỳ-kheo  ngày mười  sáu, cựu tỳ-kheo  ngày mười lăm cũng như vậy. 
5. Ngày tự tứ, có trú xứ cựu tỳ-kheo tập hợp muốn tự tứ. Khi tự tứ, khách tỳ-kheo  đến. Tỳ-kheo  kia  nghĩ:  chúng  ta  nên  làm  thế  nào? Họ liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
Nếu ngày tự tứ, trú xứ nào cựu tỳ-kheo tập hợp muốn tự tứ. Khi tự tứ, khách tỳ-kheo đến  ít. Khách tỳ-kheo nếu  là cấp  thượng tọa  thì tùy theo cấp thượng tọa mà thứ tự tự tứ. Nếu cấp hạ tọa thì theo cấp hạ tọa mà thứ tự tự tứ. 
Nếu  đã  nói tự tứ  xong, cả  chúng  chưa  đứng dậy,  hay  phần  đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với số ít, nên công bố sự thanh tịnh. Nếu không công bố thì sẽ như pháp trị. 
“Ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo muốn tự tứ. Có khách tỳ-kheo đến với số lượng ngang bằng, cựu tỳ-kheo nên cùng tự tứ. Nếu không tự tứ, sẽ như pháp  trị. Tự tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hay hầu hết chưa  đứng dậy,  hoặc  đều  đã  đứng dậy,  khách tỳ-kheo  đến với sốlượng  ngang bằng,  nên  tiếp tục tự tứ  cho  khách tỳ-kheo. Nếu không, sẽ như pháp trị. (1)
“Ngày tự tứ,  trú xứ cựu tỳ-kheo sắp sửa tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số  nhiều. Cựu tỳ-kheo  nên tự tứ lại, nếu  không tự tứ sẽ  như pháp trị. Nếu tự tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông
____________________-
(1) Thập tụng 23 (No.1435, tr.167b7): “Các tỳ-kheo ấy nên tự tứ lại, tỳ-kheo trước đó đã tự tứ như vậy, không có tội.” Cf. Pāli, Vin.  i. 165: Trong khi đang tự tứ, khách tỳ-kheo đến, đông hơn; các tỳ-kheo  trú xứ tự tứ lại (tehi bhikkhūhi puna pavāretabbaṃ). Khách tỳ-kheo với số lượng bằng, hay ít hơn, ai đã tự tứ là tự tứ tốt.  Ai  chưa tự tứ  thì tự tứ. (pavāritā  suppavāritā,  avasesehi  pavāretabbaṃ). Những người đã tự tứ, không có tội (pavāritānam anāpatti).

* Trang 1367 *
device

chưa  đứng dậy,  hay  đều  đã  đứng dậy,  khách tỳ-kheo  đến với số lượng nhiều, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ như pháp trị. 
Trú xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đang ngồi sắp sửa tự tứ, cựu tỳ-kheo đến với số ít. Nếu cựu tỳ-kheo là hàng Thượng tọa thì theo chỗ hàng Thượng tọa tự tứ. Nếu là hạ tọa theo chỗ của hạ tọa tự tứ. Nếu tự tứ  đã  xong, cả  chúng  chưa  đứng dậy,  hoặc số  đông  chưa [841b] đứng dậy, hay đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số  ít, nên nói thanh tịnh tự tứ. Nếu không nói, sẽ như pháp trị.
Trú xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đang ngồi sắp sửa tự tứ, cựu tỳ-kheo đến với số lượng bằng nhau. Khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Nếu  không, sẽ  như  pháp  trị. Nếu tự tứ  đã  xong, cả  chúng  chưa đứng dậy,  hay  phần  đông  chưa  đứng dậy,  hoặc  đều  đã  đứng dậy, cựu tỳ-kheo  đến với số lượng bằng,  khách tỳ-kheo  nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ như pháp  trị. Trú xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đang ngồi sắp tự tứ, cựu tỳ-kheo đến với số nhiều. Khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Không tự tứ, sẽ như pháp  trị. Nếu tự tứ đã xong, cả chúng  chưa  đứng dậy,  hoặc số  đông  chưa  đứng dậy,  hay  đều  đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số nhiều. Khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Không vậy, sẽ như pháp trị. 
Cựu tỳ-kheo tự tứ, cựu tỳ-kheo đến cũng như vậy. Khách tỳ-kheo tự tứ, khách tỳ-kheo đến cũng như vậy.
8. Khách tự tứ
1. Có một  trú xứ,  ngày tự tứ,  khách tỳ-kheo  đến. Khách tỳ-kheo biết cựu tỳ-kheo chưa đến, nói: “Chúng ta có năm người, hoặc hơn năm người, có thể  tác yết-ma tự tứ.” Bèn tác yết-ma tự tứ. Khi  tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo nghĩ: 
“Ta  nên  làm  thế  nào?” Họ  liền  báo với  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu  ngày tự tứ  trú xứ nào có khách tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo biết có cựu tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‘Chúng ta có năm người, hay hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.’ Vị ấy  liền tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến với số ít. Cựu tỳ-kheo

* Trang 1368 *
device

là hàng thượng tọa thì tỳ-kheo theo thứ tự của thượng tọa tự tứ. Hạ tọa theo thứ tự của hạ tọa tự tứ. Nếu tự tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hay hầu hết chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số lượng  ít. Cựu tỳ-kheo nên nói  thanh tịnh tự tứ. Nếu không, sẽ như pháp trị. 
Trú xứ nào ngày tự tứ khách tỳ-kheo đến, khách tỳ-kheo biết cựu tỳ-kheo  chưa  đến,  nhưng  nói:  ‘Chúng  ta  có năm  người  hay hơn năm người có  thể  tác yết-ma tự tứ.’ Họ  liền  tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến với số lượng ngang bằng. Khách tỳ-kheo  nên tự tứ lại, nếu  không sẽ  như  pháp  trị. Tự tứ rồi, cả chúng chưa đứng dậy, hay phần đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số lượng bằng, khách tỳ-kheo nên tự tứ lại, nếu không sẽ như pháp trị. 
[841c] Trú xứ nào, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo biết cựu tỳ-kheo  chưa  đến,  nhưng  nói:  ‘Nếu  chúng  ta  có năm người, hay hơn năm người, có thể cùng tác yết-ma tự tứ.’ Các vị ấy liền  tác yết-ma tự tứ. Khi  tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến với số lượng nhiều. Khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không, sẽ như pháp trị. Nếu tự tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc hầu hết chưa đứng dậy,  hay  đều  đã  đứng dậy, cựu tỳ-kheo  đến với số  đông, khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không, sẽ như pháp trị. 
Trú xứ nào, ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Cựu tỳ-kheo biết khách tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‘Nếu chúng ta có năm người hay hơn năm người có thể tác yết-ma tự tứ.’ Khi tác yết-ma tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng  ít. Khách tỳ-kheo cấp Thượng tọa  thì  theo cấp Thượng tọa mà tự tứ, hạ tọa thì theo thứ tự hạ tọa tự tứ. Nếu tự tứ rồi, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông chưa đứng dậy, hay đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với số ít, nên nói thanh tịnh tự tứ, nếu không nói sẽ như pháp trị. 
Trú xứ nào ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Cựu tỳ-kheo biết khách tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói:  ‘Nếu chúng  ta có năm  người, hay hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.’ Khi tác yết-ma tự tứ, khách tỳ-kheo  đến với số lượng bằng. Cựu tỳ-kheo  nên  tác  pháp tự tứ lại.

* Trang 1369 *
device

Bằng không, sẽ như pháp  trị. Tự tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy,  hay hầu hết  chưa  đứng dậy,  hoặc  đều  đã  đứng dậy, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không, sẽ như pháp trị. 
Trú xứ nào ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Cựu tỳ-kheo biết khách tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói:  ‘Nếu chúng  ta có năm  người, hay hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.’ Khi tác yết-ma tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng đông hơn, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không sẽ như pháp trị. Nếu tự tứ rồi, cả chúng chưa đứng dậy, hay số đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với số lượng nhiều hơn, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ như pháp trị. 
Khách tỳ-kheo tự tứ, khách tỳ-kheo đến cũng như vậy. Cựu tỳ-kheo tự tứ, cựu tỳ-kheo đến cũng như vậy. 
2. Hoặc  nói  nên tự tứ, (1) hoặc  nói  không  nên tự tứ. Nếu  có  người không đến, bèn nói rằng, ‘Hãy biến mất đi! Hãy diệt mất đi!’ Muốn làm mọi phương tiện, để phá hoại người khác, bèn tác yết-ma tự tứ. Nếu kia  tác yết-ma, tỳ-kheo kia không  thành tựu pháp  tác yết-ma, mắc tội thâu-lan-giá.”
Bấy giờ  vào ngày tự tứ, nếu khách tỳ-kheo đến  [842a1]  thấy dấu hiệu của cựu tỳ-kheo như treo giường dây, trải giường cây, phu cụ, nệm  lông, gối,  chỗ rửa  chân. Thấy dấu  hiệu rồi,  không  tìm  kiếm, bèn tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo tự nghĩ:  ‘Ta nên  làm  thế nào?’ Các vị ấy  liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu  ngày tự tứ, có khách tỳ-kheo đến,  thấy có dấu hiệu của cựu trú tỳ-kheo như treo giường dây, trải giường cây, phu cụ, nệm lông, gối,  chỗ rửa  chân. Thấy  có dấu  hiệu mà  không  tìm  kiếm  liền  tác yết-ma tự tứ. Nếu tác yết-ma tự tứ như vậy, thì không thành yết-ma tự tứ, lại có tội.
Thấy dấu  hiệu rồi  tìm  kiếm. Tìm mà  không  được,  nên gọi. Nếu
_____________
(1) Xem Ch.ii. Thuyết giới, mục III. 6. Phá yết-ma.

* Trang 1370 *
device

không gọi mà tác yết-ma tự tứ, không thành yết-ma tự tứ, lại có tội. 
Thấy có dấu hiệu rồi liền tìm kiếm. Tìm không được, bèn nói: ‘Hãy biến mất đi! Hãy diệt mất đi!’ Dùng nhiều phương  tiện muốn phá hoại người khác, bèn tác yết-ma tự tứ. Sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, mắc thâu-lan-giá. 
Thấy dấu hiệu  liền tìm. Tìm không được, bèn kêu. Kêu rồi tác yết-ma tự tứ. Sự yết-ma của tỳ-kheo  kia  tuy  không  phạm tội  nhưng không thành tựu.
Thấy rồi liền tìm. Tìm được, hòa hợp yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không mắc tội.” 
Thấy nhưng nghi cũng như vậy. 
Có trú xứ, ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến thấy dấu hiệu khách tỳ-kheo như y bát, tọa cụ, ống đựng kim, chỗ rửa chân, mà không tìm kiếm, bèn  tác yết-ma tự tứ,  thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo  kia  không thành tựu, mắc tội.
Thấy dấu hiệu  liền  tìm. Tìm không được nên kêu. Nếu không kêu mà tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ không thành tựu, lại có tội. 
Thấy có dấu hiệu rồi liền tìm kiếm. Tìm không được, bèn nói: ‘Hãy biến mất đi! Hãy diệt mất đi!’ Dùng nhiều phương  tiện muốn pháhoại người khác, bèn tác yết-ma tự tứ. Sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, mắc thâu-lan-giá.
Thấy dấu hiệu rồi  liền  tìm. Tìm không được, bèn kêu. Kêu rồi,  tác yết-ma tự tứ. Yết-ma của tỳ-kheo kia  tuy không  thành tựu, nhưng không phạm tội. 
Thấy dấu hiệu rồi tìm kiếm. Tìm được, hòa hợp yết-ma tự tứ. Yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không mắc tội.”
Thấy nhưng nghi cũng như vậy. 
Ngày tự tứ,  có  trú xứ  khách tỳ-kheo  đến  nghe  tiếng cựu tỳ-kheo kinh  hành,  tiếng tằng hắng,  tiếng tụng kinh,  tiếng bàn  luận. Nghe [842b] mà không tìm kiếm, liền tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến; vị kia không biết nên như thế nào, liền báo các

* Trang 1371 *
device

tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nếu ngày tự tứ, có trú xứ nào, khách tỳ-kheo đến nghe tiếng cựu tỳ-kheo đi kinh hành, tiếng tằng hắng,  tiếng tụng  kinh,  tiếng  bàn  luận.  Nghe  tiếng  mà không  tìm cầu  liền  tác yết-ma tự tứ,  thì không  thành tựu mà mắc tội.
“Từ ‘nghe rồi tìm’ cho đến ‘hòa hợp tự tứ‘ cũng như vậy. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy. 
Có  trú xứ  nào,  ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo lại,  nghe  tiếng  khách tỳ-kheo đến,  tiếng tụng kinh,  tiếng tằng hắng,  tiếng kinh  hành,  tiếng bàn  luận, tiếng đập dũ y. Nghe rồi mà không tìm  liền tác yết-ma tự tứ, yết-ma của tỳ-kheo kia không thành tựu, lại có tội. 
“Từ ‘nghe rồi tìm’ cho đến ‘hòa hợp tự tứ’ cũng như vậy. 
“Nghe, nghi cũng như vậy.” 
Có  trú xứ,  ngày tự tứ,  khách tỳ-kheo  đến,  thấy cựu tỳ-kheo  trên giới  trường mà không  tìm. Các tỳ-kheo  liền  tác pháp yết-ma tự tứ.
Các tỳ-kheo không biết thế nào liền bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Trú xứ  nào,  ngày tự tứ,  khách tỳ-kheo  đến,  thấy cựu tỳ-kheo  ở trên  giới  trường mà  không  tìm,  liền  tác yết-ma tự tứ. Yết-ma của tỳ-kheo kia tuy thành tựu nhưng có tội. 
Nếu thấy mà tìm. Tìm mà không kêu bèn tác yết-ma tự tứ. Yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia tuy thành tựu nhưng có tội. 
Nếu thấy mà tìm cầu, tìm cầu rồi kêu, tác yết-ma tự tứ, tỳ-kheo kia không phá yết-ma, không tội. 
Thấy nhưng nghi cũng như vậy. 
Trú xứ nào, ngày tự tứ cựu tỳ-kheo đến, thấy khách tỳ-kheo ở trên giới trường, thấy mà không tìm cầu. Các tỳ-kheo liền tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia tuy thành tựu, nhưng có tội. Nếu  thấy  liền  tìm cầu,  tìm cầu không được mà không kêu bèn  tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia  tuy  thành, nhưng có tội. 
Nếu  thấy mà  tìm cầu,  tìm cầu rồi kêu,  tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma của tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội.

* Trang 1372 *
device

Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
Khách tỳ-kheo nghe cựu tỳ-kheo cũng như vậy. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy. 
Cựu tỳ-kheo nghe khách tỳ-kheo cũng như vậy. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy.”
Có trú xứ ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu tỳ-kheo ở trong cương giới. Thấy mà không  tìm cầu,  liền  tác yết-ma  [842c] tự tứ. Khi tự tứ,  thấy cựu tỳ-kheo đến, không biết  làm  thế nào,  liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu có trú xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu tỳ-kheo ở  trong cương  giới,  thấy mà  không  tìm cầu  liền  tác yết-ma tự tứ, yết-ma của tỳ-kheo kia không thành tựu, có tội. 
Thấy mà tìm cầu, tìm cầu rồi gọi,  hòa hợp tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội. 
Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
 Nếu có trú xứ nào ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến, thấy khách tỳ-kheo ở  trong cương  giới,  thấy mà  không  tìm cầu  liền  tác yết-ma tự tứ,  thì yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, và có tội. 
Thấy mà tìm cầu, tìm cầu rồi không gọi bèn tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, và có tội. 
Thấy mà  tìm cầu,  tìm cầu rồi kêu hòa hợp  tác yết-ma tự tứ,  thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội.
Thấy nhưng nghi cũng như vậy.
Khách tỳ-kheo nghe cựu tỳ-kheo cũng như vậy. 
Nghe nhưng nghi cũng như vậy.
Cựu tỳ-kheo nghe khách tỳ-kheo cũng như vậy.
Nghe nhưng nghi cũng như vậy.”

* Trang 1373 *
device

Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: “Chúng  ta hãy từ nơi có trú xứ có tỳ-kheo đến nơi có  trú xứ không tỳ-kheo. Vì sợ các tỳ-kheo khác  vì  chúng  ta  tác yết-ma,  hoặc  ngăn tự tứ.”(1) Các tỳ-kheo  liền bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không nên có ý nghĩ như vậy.”
Từ nơi có trú xứ có tỳ-kheo đến nơi có trú xứ không tỳ-kheo, vì sợ các tỳ-kheo khác vì họ tác yết-ma, hoặc ngăn tự tứ. Vị kia nghĩ: ‘Ta hãy từ nơi  có  trú xứ  có tỳ-kheo  đến nơi  không  trú xứ  không Tỳ-kheo. Vì sợ  các tỳ-kheo  khác  vì  ta  tác yết-ma,  hoặc  ngăn tự tứ.’ Đức Phật dạy:  “Không nên có ý nghĩ như vậy.”
Từ nơi có trú xứ có tỳ-kheo đến nơi không trú xứ không tỳ-kheo, vì sợ các tỳ-kheo khác vì họ  tác yết-ma, hoặc ngăn tự tứ. Vị kia có ý nghĩ: ‘Ta hãy từ nơi có tỳ-kheo có trú xứ đến chỗ không tỳ-kheo có trú xứ, hay không trú xứ, hoặc ở trên giới trường. Vì sợ các tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma, hoặc ngăn tự tứ.’ Đức Phật dạy: “Không nên có ý nghĩ như vậy.” 
Từ nơi có tỳ-kheo có  trú xứ đến nơi không tỳ-kheo có  trú xứ hay không  trú xứ, hoặc  [843a1] ở  trên giới  trường với tỳ-kheo, sợ các tỳ-kheo khác vì họ tác yết-ma, hoặc ngăn tự tứ. Nếu không có Tăng cùng đi, không nạn sự mà đi thì mắc đột-kết-la. 
Từ nơi có tỳ-kheo không  trú xứ đến nơi không tỳ-kheo có  trú xứ cũng như vậy. 
Từ nơi có tỳ-kheo không  trú xứ đến nơi không tỳ-kheo không  trú xứ cũng như vậy. 
Từ nơi có tỳ-kheo không  trú xứ đến nơi không tỳ-kheo không  trú xứ, không trú xứ cũng như vậy. 
Từ nơi có tỳ-kheo có trú xứ, không trú xứ đến nơi không tỳ-kheo có trú xứ, cũng như vậy. 
Từ nơi có tỳ-kheo có trú xứ không trú xứ đến nơi không tỳ-kheo không trú xứ cũng như vậy. 
_________________-
(1) Xem Ch. ii. Thuyết giới, Mục iii. 7 Chuyển trú xứ.

* Trang 1374 *
device

Từ nơi có tỳ-kheo có  trú xứ, không  trú xứ đến nơi không tỳ-kheo có trú xứ, không trú xứ cũng như vậy. 
Vì thân hữu tri thức cũng như vậy.
3. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo-ni có ý như vầy: “Chúng  ta hãy đến trong chùa ngăn các tỳ-kheo đừng  tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối với nhóm sáu tỳ-kheo.” Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
 “Tỳ-kheo-ni không được có ý nghĩ như vầy: ‘Đến trong chùa ngăn các tỳ-kheo đừng  tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối với nhóm sáu tỳ-kheo.’ Không được trước tỳ-kheo-ni tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.”
Các tỳ-kheo-ni,  sai  thức-xoa-ma-na,  sa-di  ni  đến  trong  chùa  ngăn các tỳ-kheo  khác,  đừng  tác yết-ma  hoặc  ngăn tự tứ  đối với  nhóm sáu tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Tỳ-kheo-ni  không  được  sai  thức-xoa-ma-na,  sa-di-ni  đến  trong chùa ngăn các tỳ-kheo khác, đừng  tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối với nhóm sáu tỳ-kheo. Không được  trước thức-xoa-ma-na, sa-di ni tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.”
Các tỳ-kheo-ni lại có ý sai bạch y thân hữu đến trong chùa ngăn các tỳ-kheo,  đừng  tác yết-ma  hoặc  ngăn tự tứ  đối với  nhóm  sáu tỳ-kheo.  Các tỳ-kheo bạch  Phật.  Đức  Phật dạy:  “Tỳ-kheo-ni  không nên có ý nghĩ sai bạch y thân hữu đến trong chùa ngăn các tỳ-kheo khác, đừng  tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối với nhóm sáu tỳ-kheo. Không được trước bạch y tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.”
4. Bấy giờ vua Ba-tư-nặc sai quân đến hộ vệ cho chúng Tăng. Các tỳ-kheo nói với các binh lính rằng: 
“Quý vị đi ra ngoài một chút, chúng tôi muốn tác yết-ma tự tứ.”
Quân  lính nói: “Vua sai chúng  tôi  [843b] đến đây để hộ vệ chúng Tăng. Chúng tôi không dám đi chỗ khác.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nên nói một lần nữa, yêu cầu họ tránh đi chỗ khác. Nếu họ đi  thì tốt, bằng không đi tự mình nên đi đến chỗ không thấy không nghe tác yết-ma tự tứ, chứ không được ở  trước người chưa  thọ đại giới tác yết-ma tự tứ.”

* Trang 1375 *
device

5. Khi các  loại  trời rồng, dạ xoa đến nghe tự tứ. Tỳ-kheo có  thiên nhãn  thấy,  sanh  tâm  e  ngại,  vì  đức Phật  không  cho  phép tỳ-kheo trước người chưa  thọ đại giới tự tứ, nên  liền bạch Phật. Đức Phật dạy: “Trừ loài người chưa thọ đại giới, ngoài ra cho phép yết-ma tự tứ.” 
Có vị tự tứ rồi lại  thuyết giới  nên  ngồi  lâu mỏi mệt. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được tự tứ rồi lại thuyết giới. Tự tứ tức là thuyết giới.”
Đức Phật dạy như vậy.  

* Trang 1376 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)