LOGO VNBET
CHƯƠNG V
DA THUỘC
 
I. NHÂN DUYÊN THỦ-LUNG-NA 
1. Hai bàn chân 
[843b12] Một thời, đức Thế Tôn ở tại thành Vương xá. Bấy giờ tại thành  Chiêm-ba (1) có  con  ông  đại  trưởng  giả, tự  là  Thủ-lung-na. (2) Cha mẹ của  Thủ-lung-na  chỉ  sanh  được một  con  nên rất  thương yêu. Từ nhỏ đến lớn quen sống vui sướng, chân chưa từng dẫm  lên đất để đi, dưới bàn chân mọc  lông. Vua nước Ma-kiệt (3) nghe  trong thành Chiêm-ba có con ông đại  trưởng giả, tự  là Thủ-lung-na. Cha mẹ của Thủ-lung-na chỉ sanh được một con nên rất thương yêu. Từ nhỏ đến lớn quen sống vui sướng, chân chưa từng dẫm  lên đất để đi, dưới bàn chân mọc  lông. Vua muốn được thấy, liền ra lệnh cho ông  chủ  thành  Chiêm-ba (4) bảo  các  trưởng  giả  đều  đem  con của mình  đến  chỗ  nhà  vua. Ông  chủ  thành Chiêm-ba  ra lệnh  các  ông trưởng giả đem con của họ đến chỗ vua Ma-kiệt. Khi đến nơi, họ đảnh lễ sát chân vua, rồi đứng qua một bên, tâu với vua:
“Đại vương  muốn  thấy  con của  các  đại  trưởng  giả  trong  thành Chiêm-ba.  Đây  là một  đứa từ  nhỏ  đến lớn  quen sống  sung
_______________________-
(1) Chiêm-ba 瞻婆. Pāli: Campā,  thủ phủ của nước Aṅga,  lân bang  thân  thiện với Magadha.
(2) Thủ-lung-na  守籠那. Pāli  (Vin.i.  179):  Soṇo-Koḷiviso  seṭṭhi-putto,  Soṇa-Koḷivisa, con trai của một nhà phú hộ. Ngũ phần 21: Thủ-lâu-na首樓那. TrungA-hàm,  kinh  123:  Sa-môn Nhị Thập Ức 沙門二十億. Bì  cách sự,  tr.1055c14: Câu-chi Nhĩ 俱胝耳; tr.1055c25: Ức Nhĩ 億耳. 
(3) Pāli, ibid., rājā Magadho Seniyo Bimbisāro.
(4) Thành chủ Chiêm-ba là vua nước Ương-già, không phải thần dân của vua nước Ma-kiệt. Nhưng Ma-kiệt và Ương-già có  thời liên kết. Vin.  ibid., Bimbisāra cai trị 80 ngàn thôn. Vua tập họp 80 ngàn thôn trưởng.

* Trang 1377 *
device

sướng, cha mẹ rất  thương  yêu, chân chưa từng dẫm  lên đất để đi, dưới bàn chân mọc lông. Xin vua cho phép dùng vải trải trên đất.”
Vua cho phép lấy vải trải trên đất. Con ông trưởng giả có tên Thủ-lung-na  liền dùng vải trải trên đất, bước đến chỗ vua, đầu mặt kính lễ. Vua  thấy dưới  bàn chân mọc  lông. Lòng vua rất hoan hỷ,  liền ban cho (1) những lợi ích trong đời hiện tại và nói: “Ta  đã  cho  các  ngươi  những lợi  ích  trong  đời  hiện tại. Đức Thế Tôn  hiện ở  trong  núi Kỳ-xà-quật,  thành Vương  xá. Các  ngươi  có thể đến đó để chiêm ngưỡng và lễ bái hỏi chào Ngài. Ngài sẽ cho ngươi những điều có lợi ích cho đời sau.”
Bấy giờ, chủ  thành Chiêm-ba  và các  trưởng giả  nghe  vua nói, rồi cùng  nhau  đến  trong  núi Kỳ-xà-quật. Lúc  ấy Trưởng  lão Ta-kiệt-đà (2) là thị giả của Phật, đang ngồi trên tảng đá lớn [843c] ở một chỗ nọ. Ông chủ thành Chiêm-ba đến chỗ trưởng lão Ta-kiệt-đà, hỏi: “Hiện nay đức Thế Tôn ở đâu? Chúng tôi muốn diện kiến đức Như Lai.”
Ta-kiệt-đà bảo: “Chờ một chút! Trưởng giả hãy để tôi bạch Phật.” 
Trưởng  lão  Ta-kiệt-đà  liền  biến mất  khỏi tảng  đá,  trong  khoảnh khắc như đại lực sĩ co duỗi cánh tay, đến trước đức Phật, bạch: “Trưởng giả Chiêm-ba muốn diện kiến đức Thế Tôn.”
Phật bảo: “Ông đến nơi nhà mát trải chỗ ngồi. Ta sẽ đến đó.”
Ta-kiệt-đà vâng lời dạy,  trải chỗ ngồi xong, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên bạch: “Con đã trải chỗ ngồi xong. Bây giờ là phải thời.”
Đức Thế Tôn từ  trong nhà bước  ra, đến ngồi vào chỗ ngồi đã  trải sẵn, bảo Ta-kiệt-đà: “Mời trưởng giả Chiêm-ba đến.”
Trưởng  lão Ta-kiệt-đà  liền biến mất  trước đức Phật,  trong khoảnh
____________________
(1) Pāli, cho 80 ngàn thôn trưởng.
(2) Ta-kiệt-đà 娑竭陀. Pāli: Sāgata. Truyện về vị  thị giả này, xem Phần  I, Ch. v, duyên khởi ba-dật-đề 51 (tỳ-kheo uống rượu).

* Trang 1378 *
device

khắc như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đã có mặt nơi tảng đá.    
Ông trưởng giả thấy liền khen: “Thật  chưa từng  có!  Đệ tử  đức  Thế  Tôn  thần  túc  còn  như  thế, huống là đức Như Lai.”
Ta-kiệt-đà nói: “Thưa Trưởng giả, bây giờ là phải thời.”
Ông chủ thành Chiêm-ba đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ rồi  lui ra ngồi một bên. Đức Thế Tôn  liền vì ông chủ  thành Chiêm-ba và các con  trưởng giả phương  tiện nói pháp. Ngài nói pháp về bố thí, về  trì giới, về  sanh  thiên (1). Họ  liền  ngay  trên chỗ ngồi mà được sự thanh tịnh của  con mắt  pháp,  thấy  pháp,  đắc  pháp,  đạt  được  quả chứng, không còn thối lui; bạch Phật rằng: “Đại Đức,  chúng  con từ  nay về  sau,  xin  quy  y Phật, Pháp, Tăng. Cúi xin đức Thế Tôn nhận chúng con làm người ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sanh, cho đến không uống rượu.” 
Con ông trưởng giả có tên Thủ-lung-na ngồi trong đám đông, nghĩ rằng:  “Ta  nghe lời  Phật dạy,  ở tại  gia  cùng vợ  con  khó  tu hạnh thanh tịnh. Nay  ta nên  theo Phật, xin cạo bỏ  râu  tóc, xuất gia  làm đạo.” Rồi có ý chờ mọi người giải tán. 
Bấy  giờ,  chủ  thành Chiêm-ba  nghe  đức Phật  phương  tiện  nói  các pháp,  sanh  tâm  đại  hoan hỷ,  liền rời  chỗ  ngồi  đứng dậy  làm lễ, nhiễu quanh đức Phật và cáo  lui. Con ông  trưởng giả  tên  là Thủ-lung-na  trở lại, đến chỗ đức Phật, đầu mặt  làm lễ, rồi  lui  ra đứng một bên, bạch đức Thế Tôn: “Con vừa  nghe Phật nói, nếu ở tại gia cùng vợ con khó có  thể  tu hạnh  thanh tịnh. Nay con muốn  theo đức Thế Tôn, xin cạo bỏ  râu tóc, cho con xuất gia làm đạo.”
Đức Phật hỏi Thủ-lung-na. “Cha mẹ ông đã cho phép chưa?”
Thủ-lung-na thưa: “Thế Tôn, cha mẹ con chưa cho phép.”
Đức Phât [844a1] dạy:  “Nếu cha mẹ con không cho phép, Như Lai không nhận con xuất gia.”
_____________________
(1) Bản Hán nhảy sót. Theo thường pháp, sau đó Phật nêu các tai hại của dục, tán thán sự xuất ly, và nói về bốn Thánh đế, bây giờ người nghe mới đắc pháp

* Trang 1379 *
device

Thủ-lung-na thưa: “Con sẽ tìm cách để cha mẹ con cho phép.”
Đức Phật dạy:  “Nay phải thời.”
Bấy giờ Thủ-lung-na trở lại thành Chiêm-ba, đến chỗ cha mẹ thưa: “Con vừa  nghe  Phật  nói, sống tại  gia  cùng vợ  con  không  thể  tu hạnh  thanh tịnh được. Nay con muốn  theo Phật cạo bỏ  râu  tóc để xuất gia hành đạo. Xin cha mẹ cho phép.”
Cha mẹ Thủ-lung-na nói: “Phép xuất gia quá khó. Làm sa-môn cũng không phải dễ. Chi bằng con sống tại gia, vui với ái dục,  tuỳ  ý  làm  việc  phước. Khỏi phải xuất gia.”
Thủ-lung-na nghe cha mẹ nói như vậy, vẫn cố xin lần  thứ hai, lần thứ ba như vậy, chứ không chịu  thôi. Thủ-lung-na ba lần  thưa xin cha mẹ như vậy, cha mẹ vẫn không cho. Bấy giờ, Thủ-lung-na  liền rời chỗ ngồi đứng dậy, rồi ngồi xuống đất và nói: “Từ nay trở đi, con không tắm rửa, không thoa hương thơm, không uống nước, không ăn. Hoặc chết, hoặc xuất gia.”
Một ngày không ăn, cho đến năm  ngày không ăn. Bà con, bạn bè của Thủ-lung-na nghe Thủ-lung-na muốn theo Phật cạo bỏ râu tóc, xuất gia  làm đạo mà cha mẹ không cho, đã không ăn cho đến năm ngày.  Các  bà  con  thân  quen của  Thủ-lung-na  bèn  đến  chỗ  Thủ-lung-na, nói:“Đứng dậy  đi,  Thủ-lung-na.  Hãy  đi tắm,  thoa hương  thơm,  ăn uống,  làm  việc phước đức  theo ý muốn. Chứ xuất gia không phải dễ. Làm sa-môn cũng rất khó. Thôi đi, đừng xuất gia nữa.”
Thủ-lung-na  nghe  các  bà  con  thân  quen  nói  như vậy, vẫn  giữ nguyên  ý  nguyện. Bấy  giờ  các bạn của Thủ-lung-na  đến  chỗ  cha mẹ của Thủ-lung-na nói: “Hãy cho Thủ-lung-na xuất gia  làm đạo. Nếu vui sống xuất gia  thì còn thường gặp. Nếu không vui xuất gia nữa, sẽ trở về lại. Chứ nếu để Thủ-lung-na chết thì làm sao?”
Cha mẹ Thủ-lung-na nghe xong liền nói: “Thôi thì tùy ý xuất gia.”
Thủ-lung-na nghe cha mẹ cho phép rồi, trong lòng tự nghĩ: “Nay ta gầy yếu thế này không kham ngày ăn một bữa. Cần phải bồi dưỡng

* Trang 1380 *
device

một chút.” Khi Thủ-lung-na có  ít nhiều sức khỏe,  liền đến chỗ cha mẹ thưa: “Nay con xin đi xuất gia.”
Cha mẹ nói:  “Nay hợp thời.”
Thủ-lung-na liền đến chỗ đức Thế Tôn trong núi Kỳ-xà-quật, thành Vương xá, đầu mặt kính lễ rồi đứng qua một bên, bạch Phật [844b] rằng:  “Cha mẹ con đã cho con xuất gia làm đạo. Cúi xin Phật độ cho con, được thọ đại giới.”
Đức Phật liền cho xuất gia thọ đại giới. 
Bấy  giờ  cha mẹ  Thủ-lung-na,  trong  khoảng  cách  giữa  hai  thành, thiết lập bảy trạm ngựa để mang thức ăn còn nóng đến Thủ-lung-na cho kịp thời. 
Đến  giờ,  Thủ-lung-na  đem  thức  ăn  này  cúng dường  các  Thượng tọa, rồi tự mình vào thành khất thực. Cha mẹ Thủ-lung-na nghe con mình đem thức ăn này dâng cúng cho các tỳ-kheo, rồi tự mình khất thực, nên từ đó về sau không đưa thức ăn nữa.
2. Giây đàn căng 
Rồi  thì, Thủ-lung-na đến ở bên sông Ôn  thủy,  trong rừng Thi-đà, (1) siêng năng  tinh tấn kinh hành, đến độ bàn chân rỉ máu, khiến chỗ kinh hành đất dính đầy máu như chỗ lò sát sanh. Thủ-lung-na ở chỗ vắng tư duy như vầy: “Nay ta siêng năng tinh tấn, trong hàng đệ tử của  đức  Phật  không  có  ai hơn. Tại  sao  không  được  vô lậu  giải thoát? Gia đình ta có của cải, có thể vui sống, tuỳ ý làm việc phước đức. Hay là ta xả giới về nhà, không tiếp tục làm đạo nữa.” 
Bấy giờ đức Thế Tôn biết tâm niệm đó của Thủ-lung-na nên  trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi tay, từ Kỳ-xà-quật đến rừng Thi-đà, thấy chỗ kinh hành đất dính máu như  lò sát sanh. Ngài biết mà vẫn hỏi các tỳ-kheo: “Ai  kinh  hành nơi  đây mà  đất  dính máu,  như  chỗ  lò  sát  sanh  thế này?”
_________________
(1) Thi-đà lâm尸陀林. Pāli: Sītavana, bãi tha ma ngoại thành Vương-xá. Chỗ thiêu vất xác người chết.

* Trang 1381 *
device

Các tỳ-kheo bạch Phật: “Tỳ-kheo Thủ-lung-na siêng năng  tinh tấn kinh hành, bàn chân rỉ máu, nên đất dính máu như vậy.”
Đức Phật bảo kêu Thủ-lung-na đến. Tỳ-kheo vâng lời dạy của đức Phật đến chỗ Thủ-lung-na nói: “Đức Thế Tôn bảo gọi thầy đến.”
Thủ-lung-na nghe đức Phật gọi  liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân Ngài rồi lui ra ngồi một bên. Đức Phật biết mà vẫn cố hỏi:
“Vừa rồi ở nơi chỗ vắng ông nghĩ như vầy: ‘Nay ta siêng năng tinh tấn, trong hàng đệ tử của đức Phật không có ai hơn. Tại sao không được vô lậu giải thoát? Gia đình ta có của cải, có thể vui sống, tuỳ ý  làm việc phước đức. Hay  là ta xả giới về nhà, không tiếp tục làm đạo nữa.’ Có thật vậy chăng?”
“Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn nói: “Nay Ta hỏi ông. Cứ  tuỳ ý mà  trả lời. Khi ông còn ở nhà, có hay chơi đàn không?”
“Bạch  đức  Thế  Tôn,  đúng  như vậy,  lúc  còn  ở  nhà  con  hay  chơi đàn.”
“Này Thủ-lung-na, khi dây đàn căng quá  thì âm  thanh có hay hay không?”
“Bạch Đức Thế Tôn, không.”
“Này  Thủ-lung-na,  khi  dây  đàn  chùng,  âm  thanh  có  hay  hay không?”
“Bạch Đức Thế Tôn, không.”
“Này Thủ-lung-na, khi dây đàn không chùng không căng quá,  thì âm thanh có tốt hay không?”
“Kính bạch Đức Thế Tôn, âm thanh hay.”
[844c] Đức Thế Tôn nói: “Cũng vậy, này Thủ-lung-na, nếu  tinh tấn quá  thì bị chao động.  Ít tinh tấn  thì  sanh  biếng  nhác.  Nên  tinh tấn vừa  phải  đối với  các căn.” (1)
________________________
(1) Cf.  Vin.i.  183:  accāraddhavīriyaṃ  uddhaccāya  saṃvattati,  atilīnavīriyaṃ

* Trang 1382 *
device

Thủ-lung-na nghe đức Phật lược nói giáo giới rồi, một mình ở nơi chỗ vắng siêng năng  tinh tấn,  tâm không phóng dật, đầu đêm, sau đêm cảnh  giác  lòng mình,  tu  hành  pháp  trợ  đạo, để  đạt mục  đích của người xuất gia, không bao  lâu đắc quả, ngay  trong đời này màchứng đắc vô  thượng tịnh hạnh, biết rằng,  ‘Sự  sanh đã dứt; phạm hạnh  đã vững;  điều cần  làm  đã  làm  xong;  không  còn  tái  sinh  đời sau nữa.’ Thủ-lung-na đắc quả A-la-hán.
3. Sáu tín giải
Khi Thủ-lung-na đắc đạo A-la-hán rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ  sát  chân,  đứng  qua một  bên bạch  Phật: (1) “Nếu  có tỳ-kheo  đạt được  A-la-hán rồi, dứt sạch  các hữu lậu, vị  ấy  an lạc  trong  sáu trường hợp: (2) an lạc với xuất ly, an lạc nơi sự không sân hận, an lạc nơi đời sống tịch tĩnh, an lạc nơi sự diệt tận ái dục, an lạc nơi sự diệt tận thủ uẩn, an lạc nơi sự không si. Nếu có tỳ-kheo đạt được A-la-hán, sạch các hữu lậu, vị ấy an lạc nơi sáu xứ này. Bạch đức Thế Tôn,  có  trường hợp  nào  không  y nơi  tín  mà  được  xuất  ly  hay chăng?”
“Không nên có ý nghĩ là không y trên tín mà có an lạc nơi sự xuất ly để đạt được đạo A-la-hán, dứt sạch hữu lậu, diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không còn nhuế, diệt tận si, vô si.”(3)
_____________________
kosajjāya saṃvattati…indriyānañca samataṃ paṭivijjha, “nỗ lực tinh tấn thái quá đưa đến  loạn động.  Ít gắng sức  tinh tấn  sinh  ra dã dượi. Hãy giữ các căn quân bình.” 
(1) Tham chiếu, Trung A-hàm 29 (T01, tr.611c), Tạp A-hàm 9 (T02, tr.62b), Tăng nhất 13 (T02, tr.162). Pāli, A. iii. 374 Soṇa-sutta.
(2) Cf.  Vin.ibid.,  chaṭṭhāni  adhimutto,  sáu  thắng  giải  hay  tín  giải  (xác  tín): nekkhamma,  xuất  ly  hay  thoát  ly  gia  đình;  paviveka,  viễn  ly  hay sống  ẩn dật; avyāpajja,  không  thù hận;  upādānakkhata,  đã sạch  các  thủ  (phiền  não); taṇhakkhaya, ái tận; asammoha, vô si.
(3) Tham chiếu, Pāli, Vin.i.ibid., “Chớ có quan điểm rằng,  tôn giả này duy chỉ y trên tín mà có tín giải về sự xuất ly... Y trên sự diệt tận của tham, do ly tham, có
tín giải về xuất ly. Y trên sự diệt tận sân, do vô sân, mà có tín giải xuất ly…”

* Trang 1383 *
device

“Bạch Đức Thế Tôn, có  trường hợp nào, không y  vào  trì giới mà được an lạc nơi sự không sân nhuế hay chăng?”(1)
“Không nên có ý nghĩ  là không y vào  trì giới mà có an lạc nơi sự không  sân  nhuế  để  đạt  được  đạo A-la-hán, dứt sạch hữu lậu,  diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không còn nhuế, diệt tận si, vô si.”
“Bạch Thế Tôn, có trường hợp nào, không đoạn các lợi dưỡng mà có an lạc nơi sự tịch tĩnh (2) hay chăng?” (3)
“Không nên có ý nghĩ là không đoạn lợi dưỡng mà có an lạc sự tịch tĩnh để đạt được đạo A-la-hán, dứt sạch hữu lậu, diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không còn nhuế, diệt tận si, vô si. 
“Vị kia do có sự an lạc nơi ái tận, an lạc nơi sự diệt tận thủ uẩn, an lạc nơi vô si mà đạt được đạo A-la-hán, dứt sạch hữu lậu, diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không còn nhuế, diệt tận si, vô si. 
“Tỳ-kheo  như vậy  tâm  giải  thoát hữu lậu,  đối với sắc  được  nhận thức  nhiều bởi  con mắt,  huệ  giải  thoát,  tâm  giải  thoát, cả  hai  đều không nhiễm ô. Thức không cùng với tạp sắc, trú thiền thứ tư. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy.
“Bạch  Thế  Tôn, cũng  như  núi  đá lớn  nguyên vẹn,  không bị sứt, không không bị  thủng, không kẽ nứt. Nếu từ phương đông có  trận mưa  to gió lớn đưa đến  thì núi  này không bị di  chuyển, không bị lay động. Từ phương nam,  tây, bắc cũng như vậy. Cũng vậy, bạch đức Thế Tôn, nếu tỳ-kheo được đạo A-la-hán, tâm được giải thoát, dứt sạch  các hữu lậu,  đối với sắc  được  nhận  thức  nhiều bởi  con mắt, huệ giải thoát, tâm [845a1] giải thoát, cả hai đều không nhiễm ô,  thức  không  cùng với tạp sắc,  trú  thiền  thứ tư.  Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy.”
____________________
(1) Tham chiếu Pāli, ibid., “Đừng nên có quan điểm rằng, tôn giả này tin giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa) là tối thắng, do đó mà có tín giải nơi sự không não hại.”
(2) Tịch tĩnh; Pāli: paviveka: viễn ly, sống xa lánh, ẩn dật.
(3) Tham chiếu Pāli, ibid., “Đừng có quan điểm rằng, tôn giả này vì tham trước lợi dưỡng mà có tín giải nơi sự viễn ly.”

* Trang 1384 *
device

Nói như vậy rồi nói kệ:
Người tin tưởng xuất ly,
Tỳ-kheo ưa vắng lặng,
Ưa thích không sân nhuế,
An lạc nơi ái tận,
An lạc không thủ uẩn, 
Tâm không còn ngu si,
Xét biết không khởi nữa;
Từ đây được giải thoát.
Chính nhờ giải thoát này
Liền được tâm tĩnh lặng.
Đã đạt được vô quán,
Không còn gì phải làm.
Thí như hòn núi lớn
Gió không thể hoại được.
Sắc, thanh cũng như vậy,
Cùng hương, vị, xúc, pháp;
Đối với pháp thiện ác,
Kẻ trí không dao động
Tâm an trụ giải thoát,
Mà quán sự diệt tận.(1)
Thủ-lung-na sau khi nói bài kệ như vậy, được đức Phật ấn chứng, rời chỗ ngồi đứng dậy, đến  trước đức Phật kính lễ sát chân rồi cáo lui. 
Thủ-lung-na ra đi không lâu, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Nên tự  ghi  nhận  như vầy về sự  đắc  đạo. Chỉ  nói về  nghĩa,  chứ không nói thẳng là đã đắc. Đừng nên như những tỳ-kheo ngu si kia hoan hỷ tự ghi nhận, rồi sau không có sở đắc, luống tự khổ nhọc.”
Một hôm, Thủ-lung-na đến chỗ đức Phật, đảnh lễ  sát chân rồi  lui
____________________
(1) Tham  chiếu Pāli,  ibid.,  ṭhitaṃ  cittaṃ  vippamuttaṃ,  vayañcas-sānupassatīti, Tâm đã giải thoát, an trụ; vị ấy quan sát sự chìm xuống của nó.

* Trang 1385 *
device

ngồi qua một bên, đức Phật bảo Thủ-lung-na: “Bình sanh của ông quen sung sướng, không quen đi bộ. Cho phép ông ở trong chùa mang dép một lớp.”
Thủ-lung-na liền bạch Phật: “Con  đã xả bỏ năm cỗ  voi  chúa,  xuất  gia  làm  đạo. Nay nếu  con mang giày một lớp không khỏi có người cười rằng, Thủ-lung-na bỏ năm cỗ voi chúa, xuất gia  làm đạo, lại  tham dép một lớp. Nếu đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo dùng thì con mới dùng.”
Đức Phật  im lặng chấp nhận và do nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, vì các tỳ-kheo tùy thuận nói pháp, dùng vô số phương tiện khen ngợi hạnh đầu đà, thiểu dục tri túc, ưa xuất ly, rồi bảo các tỳ-kheo:“Vì hộ  thân, hộ  y, hộ  ngọa cụ,  cho  phép  khi  ở  trong  chùa  được mang dép một lớp.”
Bấy giờ các tỳ-kheo mang dép một lớp, không bao  lâu bị lủng hư. Đức Phật cho dùng vỏ cây hoặc da vá lại, dùng chỉ để may. Nếu bị đứt thì nên dùng gân hay  lông may lại. Bấy giờ cần dùi để dùi, tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật cho phép sử dụng dùi để dùi. (1)
II. NHÂN DUYÊN ỨC NHĨ
1. Tăng-già biên địa
[845b7]Bấy giờ Đại Ca-chiên-diên ở trong sườn núi Câu-lưu Hoan hỷ (2) tại nước A-bàn-đề, (3) cùng với Ức Nhĩ  ưu-bà-tắc, (4) có cả  người
________________
(1) Bản Hán, hết quyển 38.
(2) Câu-lưu Hoan hỷ sơn khúc 拘留歡喜山曲. Pāli, Vin.i. 194: Kuraraghare papāte pabbate, trên sườn núi Papāta, thị trấn Kuraraghara. Ngũ phần 21 (tr.144a13): A- thấp-ba A-vân-đầu  quốc  Ba-lâu-đa sơn 阿濕波阿雲頭國波樓多山.  Thập tụng 25: A-thấp-ma-già A-bàn-đề quốc 阿濕摩伽阿槃提國. 
(3) A-bàn-đề quốc, 阿槃提國. Pāli, Vin.i. 194, Avantī.
(4) Ức Nhĩ ưu-bà-tắc億耳優婆塞. Ngũ phần 21, ibid., cư sĩ tên là Sa-môn Ức Nhĩ 沙門億耳. Pāli, Vin.i. 194, Soṇa Kuṭikaṇṇa. Tăng kỳ 23:  trưởng giả Thát-bà 闥 婆, người ở nước Thâu-na 輸那國土. Bấy giờ Phú-lâu-na 富樓那 đang du hóa ở đây.

* Trang 1386 *
device

sai khiến. (1)  Bấy giờ, Ức Nhĩ lòng tự nghĩ rằng: “Như lời Phật dạy, nếu  ta sống tại gia cùng với vợ con, không  thể tu hạnh thanh tịnh được. Ta hãy cạo bỏ râu tóc xuất gia làm đạo.”
Ức Nhĩ liền đến chỗ Đại Ca-chiên-diên thưa: “Con nghe lời Phật dạy, nếu sống tại gia cùng với vợ con, không thể  tu hạnh  thanh tịnh được. Cúi xin Đại đức cho con xuất gia  thọ đại giới.”
Ca-chiên-diên nói: “Xuất gia  là việc rất khó. Làm sa-môn cũng không phải  là dễ. Ông nên sống tại gia, hộ trì Phật giới, tùy theo thời tu hành theo lời Phật dạy.”
Ức Nhĩ  thưa xin ba lần. Đại Ca-chiên-diên  thấy Ức Nhĩ ân cần ba phen, bèn cho xuất gia, nhưng đến ba năm (2) mới được  thọ đại giới. Tại sao vậy? Bởi vì không đủ Tăng gồm mười vị. Ức Nhĩ  thọ giới chưa  bao  lâu  liền  đắc  đạo A-la-hán. Tự  ghi  nhận sự  đắc  đạo  như trước đã nói.
Bấy  giờ  Ức  Nhĩ  nghe  đức  Phật  có  công  đức tướng hảo  trang nghiêm, các căn tịch tịnh, vô  thượng điều phục, như tượng vương, như vực suối trong vắt, người nghe đều hoan hỷ. Ức Nhĩ muốn đến yết kiến đức Phật nên đến chỗ Ca-chiên-diên thưa: “Con nghe công đức của Phật như vậy, muốn đến yết kiến Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác.”
Ca-chiên-diên nói: “Công đức của Phật như lời ông nói.”
Ca-chiên-diên nói tiếp: “Ông nhân danh  tôi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ  sát chân,  thăm hỏi Thế  Tôn:  ‘Thế  Tôn  đi  đứng  khỏe mạnh  không?  Ít bệnh,  an lạc không?’ Rồi ông đem năm việc sau đây đến bạch đức Thế Tôn: “1. Tại nước A-thấp-bà A-bàn-đề  ít tỳ-kheo, nên  thọ đại giới khó khăn,  ba năm mới tổ  chức  được. Tại  sao  như
_________________
(1) Hán: sử nhân  câu 使人俱. Cf. Pāli,  ibid.,  Soṇo  upasako Kuṭikaṇṇo  āyasmato Mahā-Kaccānassa  upaṭṭhako hoti, ưu-bà-tắc Soṇa Kuṭikaṇṇa  là người  phục vụ cho Trưởng  lão Đại Ca-chiên-diên. Bản Hán hiểu upaṭṭhako, người phục vụ,  là nhân vật thứ ba; không phải là từ đồng cách với Soṇo.
(2) Ngũ phần 21: hành sa-di 6 năm. Tăng kỳ 23: Thát-bà hành sa-di 7 năm.

* Trang 1387 *
device

vậy? Vì  không  đủ Tăng mười vị. Từ  nay về  sau,  cúi  xin  đức Thế  Tôn  phương  tiện khai cho thế nào để nước A-thấp-bà A-bàn-đề được thọ đại giới dễ
dàng.
“2. A-thấp-bà A-bàn-đề nhiều  [845c] gai gốc, sỏi đá; dép một lớp dễ bị hư rách. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép mang dép hai lớp.
“3. A-thấp-bà A-bàn-đề  người  đời  ưa tắm. Cúi  xin  đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo thường thường tắm rửa.
“4. Như các phương khác có những  loại ngọa cụ tốt như y-lê-diên-đà, mạo-la, mạo-mạo-la, cù  lâu (1) như vậy. Nước A-thấp-bà A-bàn-đề cũng dùng da làm ngọa cụ như da sơn dương, da cừu, da hươu. (2) Cúi xin đức Thế Tôn cho phép được dùng ngọa cụ bằng da.
“5. Có tỳ-kheo  đến  địa  phương  khác. Sau  đó,  trú xứ cũ  được  y, (3) không  dám  nhận;  vì sợ  phạm  ni-tát-kỳ.  Cúi  xin  đức  Thế  Tôn phương tiện khai cho được nhận.”
Tỳ-kheo Ức Nhĩ  nghe Đại Ca-chiên-diên  nói,  im lặng  thọ  trì, rời chỗ  ngồi  đứng dậy,  đầu mặt  kính lễ,  nhiễu  quanh rồi  cáo  lui. Ức Nhĩ  nghe  đức Thế Tôn ở  trong  núi Kỳ-xà-quật,  thành Vương  xá. Ức Nhĩ mang  đầy  đủ  ba  y  và  bát  đến  chỗ  đức  Phật,  đảnh lễ  sát chân, rồi ngồi qua một bên, đức Phật liền ủy lạo bằng cách hỏi: “Các ông sống có được an lạc hay không? Có vất vả vì sự ăn uống không ?”
_________________
(1) Hành sự sao tư trì ký 3 ( T40 tr. 373b16):Y-lê-diên-đà 伊梨延陀, tên hươu chúa; đây chỉ loại da hươu); mạo-la và mạo-mạo-la 耄羅耄耄羅, hai loại thú, hình trạng như loại cọp beo; da dày, lông mềm, ngồi êm). Cù  lâu氍氀, nhất thiết kinhm nghĩa 63 ( T54 tr. 730a18) đọc là cù-số, một loại vải dệt bằng lông thú. Tham chiếu, Pāli (Vin.i. 195): eragū, moraguū, majjhāruū, jantū, Sớ giải nói, đây là các loại cỏ ( imā catassopi tiṇaātiyo). Thập tụng: ma nhục phú (phủ đệm gai), mao nhục phú (phủ đệm lông), hoa y nhục phú (phủ đệm áo bông) 麻褥覆毛褥覆花衣褥覆.
(2) Cổ dương, bạch dương, lộc  羖羊白羊鹿. Pāli:  eḷakacamma,  ajacamma, migacamma. 
(3) Y được dành cho tỳ-kheo vắng mặt tại trú xứ cũ.

* Trang 1388 *
device

Ức Nhĩ bạch Phật, đời sống được an lạc, không bị vất vả bởi  thức ăn. Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: “Sửa soạn chỗ cho khách tỳ-kheo nghỉ.”
Tôn giả A-nan tự biết, theo thường pháp của đức Thế Tôn, là muốn cho  khách tỳ-kheo  cùng  nghỉ với  Ngài,  nên mới bảo  A-nan sửa soạn.  Tôn  giả  vâng lời  Phật dạy,  vào  trong  phòng nơi  đức  Phật nghỉ, sửa soạn một chỗ ngồi đối diện với chỗ ngồi của Phật. Rồi trở lại  chỗ  Phật,  đảnh lễ  sát  chân,  đứng  qua một  bên, bạch  đức Thế Tôn: “Con đã sửa soạn chỗ cho khách tỳ-kheo nghỉ xong. Con xin phép được mời khách vào.”
Đức Thế Tôn liền đứng dậy vào phòng, đến chỗ ngồi. Ức Nhĩ cùng vào phòng với đức Phật, ngồi vào chỗ ngồi đối diện. Đức Thế Tôn ngồi tĩnh lặng trong giây lát, rồi bảo Ức Nhĩ: “Ông có thể nói pháp không?”
Ức Nhĩ nghe lời Phật dạy, bèn ở trước đức Phật, nói “Mười sáu cú nghĩa“, (1) không  thêm, không bớt, không hoại, âm  thanh  trong  trẻo, chương cú  thứ tự  rõ ràng có  thể hiểu được. Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ:  ‘Hay  thay, tỳ-kheo  này  nói  kinh  pháp mười  sáu  cú  nghĩa, không tăng, không giảm, không hư hoại, âm thinh trong trẻo, thứ tự chương cú rõ ràng, có thể hiểu được.’ Đức Phật hỏi Ức Nhĩ: “Trước đây ông làm gì?”
Ức Nhĩ thưa: “Từ  lâu, con  thấy dục  là  tai hại. Nhưng  thọ giới  được  thì rất khó. Phải đợi đến ba năm. Vì sao vậy? Vì không đủ chúng mười vị.”
Ức Nhĩ nghĩ rằng nay đã đúng  lúc bạch  lên đức Thế Tôn năm việc mà Hòa thượng Ca-chiên-diên dặn.
____________________
(1) Thập lục cú nghĩa 十六句義. Ngũ phần, ibid., Thập lục nghĩa phẩm kinh 十六 義品 經. Thập tụng 25  (tr.181b25): Ba-la-diên-tát-giá-đà-xá-tu-đố-lộ 波羅延薩 遮陀舍修妒路. Pāli, Vin.i.  196,  Aṭṭhakavaggikāni,  được  hiểu  là Nghĩa  phẩm, hay Bát kệ phẩm, gồm 16 kinh, 210 kệ, Phẩm thứ tư thuộc bộ Suttanipāta.

* Trang 1389 *
device

Ức Nhĩ bạch Phật: “Hòa  thượng Ca-chiên-diên của  con dặn  con  nhân  danh  người  đê đầu đảnh lễ sát chân đức Thế Tôn và xin được vấn an sức khỏe Thế Tôn: Thế Tôn đi đứng khỏe mạnh không?  Ít  [846a1] bệnh, an lạc không?”
Rồi Ức Nhĩ trình bày năm việc như trên lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn chấp thuận bằng sự im lặng. 
Sáng sớm hôm sau, đức Phật vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo,  vì  các tỳ-kheo  tùy  thuận  nói  pháp,  dùng  vô số  phương  tiện khen ngợi hạnh đầu đà, oai nghi tề chỉnh,  thiểu dục  tri  túc, ưa nơi không nhàn, và bảo các tỳ-kheo:
“Cho phép nước A-thấp-bà A-bàn-đề có người thứ năm là người trì luật (1) thì được  thọ đại giới. Các nơi khác gặp  trường hợp  như vậy cũng  cho  phép. Nơi  khác  là:  phương Đông  có nước  tên  là Bạch mộc điều; (2) ngoài nước ấy  thì được phép. Phương Nam có  tháp tên là Tĩnh  thiện, (3) ngoài  tháp  ra  thì được phép. Phương Tây có Quốc sơn tên là Nhất-sư-lê Tiên nhân chủng, (4) ngoài núi ra thì được phép.
_______________________
(1) Trì  luật  ngũ  nhân 持律五人. Nên  hiểu,  thứ năm  là  người  trì  luật. Tăng năm người, có một người  trì luật. Không đòi hỏi tất cả năm vị đều là  trì luật. Do đó không  nên  hiểu  nhóm từ  Hán  này  là  “Năm  người  trì  luật.”  Thập tụng  25 (tr.181c29): trì luật đệ ngũ 持律第五. Cf. Vin.i. 197: vinayadharapañcamena.
(2) Bạch mộc  điều  白木調.  Hán dịch  này  phù hợp Pāli:  Setakaṇṇika;  nhưng Vin.i.197 nói  thị  trấn này ở về  phía nam, gần với Thập tụng,  ibid.,  trung nam phương, Bạch mộc tụ lạc 白木聚落. Lấy đây làm mốc. Qua khỏi đây, được xem là biên địa. Bì cách sự, tr.1053a9: phía đông qua khỏi sông Bôn-trà 奔荼, rừng Bôn-trà, là biên địa.
(3) Tĩnh  thiện 靜善. Không tìm thấy tương đương  trong Thập tụng và Pāli. Tham chiếu, Thập tụng: phương đông có tụ lạc bà-la-môn tên là Già-lang 伽郎. Tương đương Pāli: Kajaṅgala, thị trấn nhỏ ở về phía đông. Bì cách sự, tr.1053a10: phía nam qua khỏi nước Nhiếp-phạt-la-phật-để 攝伐羅佛底.
(4) Nhất-sư-lê Tiên nhân chủng 一師梨仙人種. Có lẽ Thập tụng nói  là Ưu-thi-la sơn 優尸羅山, ở  phương bắc; Tương  đương Pāli: Usīraddhaja, về  phía bắc. Bì cách sự: phía tây qua khỏi nước Tốt-thổ-nô 窣吐奴. 

* Trang 1390 *
device

Phương Bắc có nước tên là Trụ, (1) ngoài ra thì được phép. Ngoài các nơi như  trên nếu có người  thứ năm  là người  trì  luật  thì được phép thọ giới. 
“Cho phép nước A-thấp-bà A-bàn-đề mang dép hai lớp. 
“Cho phép nước A-thấp-bà A-bàn-đề thường xuyên được tắm rửa. 
“Cho phép nước đó  trải da của  loài sơn dương, cừu, da hươu  làm ngọa cụ. 
“Cho  phép  các tỳ-kheo  nhận  được  y  đủ mười  ngày. Quá hạn  nên xả. Xả rồi sám hối.”
2. Những quy định về da thuộc   
2.1. Quy định chung về dép
Bấy giờ, có tỳ-kheo nhận được đôi dép vá bằng da; khi ở cách Phật không xa, bèn xé lột ra cho hư hoại, vì sợ phạm mang dép hai lớp. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo ấy: “Sao ông xé đôi dép cho hư hoại?”
Vị tỳ-kheo thưa: “Vì con sợ phạm giới mang dép hai lớp.”
Đức Phật dạy: “Dép bị lủng hư, được phép vá hai lớp.”
Các tỳ-kheo nhận được loại da chưa thuộc. Đức Phật dạy: “Cho  phép  thuộc  da  cho mềm.  Hoặc tự mình  làm  cho  nó mềm, hoặc nhờ người làm cho mềm rồi mới cắt làm dép một lớp.”
Cần  dao,  Phật  cho  phép  chứa  dao. Cần  ván,  Phật  cho  phép  chứa ván. Cần gân, cần  lông, cần chỉ da... đức Phật đều cho phép chứa. Cần kéo, đức Phật cho phép chứa kéo. Dao lụt, cho phép mài, cho phép chứa đá mài. 
Bấy  giờ,  các tỳ-kheo  để rải  rác  dao,  dùi,  gân,  lông,  chỉ  da,  kéo, không có chỗ cất. Đức Phật dạy: “Cho phép  làm cái  túi để đựng.
___________________
(1) Trụ 柱. tên nước. Thập tụng: phương tây có tụ lạc bà-la-môn tên là Trụ 住婆羅 門聚落. Pāli: về phía tây có ngôi  làng bà-la-môn  tên là Thūna, mà hai bản Hán đều đọc là Thāna. Bì cách sự: phía bắc qua khỏi núi Ôn-thi-la 嗢尸羅.

* Trang 1391 *
device

Hoặc lấy  tre đan  thành lồng; hoặc lấy vỏ cây  làm  thành cái lồng. Cho phép dùng đãy bằng  lông bọc bên ngoài. Có thể dùng một trong mười loại vải để làm cái đãy.
Các tỳ-kheo dùng da để làm. Đức Phật dạy:  “Không được dùng da làm.”
Các tỳ-kheo  để  y mới  trên  dép  da rồi  ngồi,  làm bẩn  y. Đức Phật dạy: “Không  được  để  y mới  lên  trên  dép  da rồi  ngồi  lên  trên. Các tỳ-kheo cũng  không  được  ngồi  trên  da. Trừ nước A-thấp-bà A-bàn-đề.”
Các tỳ-kheo đem [846b] dép da để ở trước rồi ngủ, chó ngậm đem đi. Đức Phật dạy: “Không được để dép da ở  trước rồi ngủ. Nên lấy cỏ phủ lại. Hoặc úp hai đế lại với nhau rồi để dưới ni-sư-đàn.”
Tỳ-kheo đem dép da để một bên rồi ngủ. Khi lăn qua, nằm trên dép da, với tâm cẩn thận, vị ấy sợ phạm tội nằm ngủ trên da. Đức Phật dạy: “Không phạm.”
Có tỳ-kheo  đem  dép  da  để  trong  bình  bát rồi mang  đi. Tỳ-kheo khác thấy, nhờm gớm. Đức Phật dạy: “Không nên để dép da trong bình bát. Nên giữ bát cho sạch sẽ.”
Có tỳ-kheo một tay cầm cả dép da và bình bát. Tỳ-kheo khác thấy, nhờm gớm. Đức Phật dạy: “Không được một tay cầm cả dép da và bình bát. Nên một tay cầm bình bát, một tay xách dép.”
Các tỳ-kheo lội qua nước bùn, vén y không được. Y rớt trong nước bùn. Đức Phật dạy: “Cho phép dùng ngón tay móc dép. Bình bát để trong bàn tay. Một tay vén y.”
2.2. Các loại da        
Các tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la, du hành  trong nhân gian. Đến nơi thôn  không  có  trú xứ tỳ-kheo. Nghỉ  đêm tại  nhà  ông  thợ  làm  đồ gốm, gần bên chỗ nhồi bùn có da  thú. Tỳ-kheo ngủ bên  trên, sáng ngày mới thấy, sợ phạm ngủ trên da.
Đức Phật dạy: “Không phạm.”

* Trang 1392 *
device

Nhóm sáu tỳ-kheo  tích  trữ  loại da lớn (1) như sư tử, cọp, beo,  rái cá, mèo rừng, ca-la, (2) cáo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được chứa tất cả da lớn.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo ngồi  trên giường cao lớn, hoặc ngồi một mình trên giường dây, giường cây, giường ngà voi, trải bằng da ngựa, da voi; đệm bông, ngọa cụ tạp sắc, cù  lâu, (3) dùng các  loại  lông con rái cá độn làm nệm. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được ngồi  trên giường cao lớn, cho đến dùng  lông con rái cá độn làm nệm.”
Các tỳ-kheo đến nhà bạch  y. Họ  trải giường cao rộng tốt đẹp cho tỳ-kheo, mời tỳ-kheo ngồi. Các tỳ-kheo nói: “Đức Phật không cho phép chúng tôi ngồi trên giường cao lớn.”
Các bạch y thưa: “Chúng con đâu có cái giường nào khác.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho  phép  ngồi. Trừ  loại  giường bằng vật  báu, ngoài  ra, nơi  nhà bạch y, được phép ngồi.”
Các tỳ-kheo  đến  nhà bạch  y. Họ  vì tỳ-kheo  trải  giường bằng  da, giường đơn. (4) Các tỳ-kheo e ngại không dám ngồi, nghĩ rằng: ‘Đức Phật không cho chúng  ta ngồi  trên da  thú,  trừ tại nước A-thấp-bà A-bàn-đề.’ Các bạch y thưa: “Chúng con không có cái giường nào khác.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép nơi nhà bạch y được ngồi.”
_____________________
(1) Đại bì 大皮; Cf. Thập tụng 25  (tr.182a 23), da của năm loại thú gọi  là da lớn (kích cỡ): sư tử, cọp, beo, rái cá và chồn.
(2) Ca-la 迦羅. không biết con gì. Có lẽ Pāli (Vin.i.186): kāḷaka, con sóc (?). Hoặc Skt. kālaka, một loại rắn nước (Wogihara: hắc long).
(3) Cù-lâu 氍氀; chưa rõ. Có lẽ như cù-du氍毹, Skt. citrāstaraṇa, đệm hay  thảm nhiều màu. Xem cht. 31 Ch. vi: Y ở sau. Tham chiếu Trương A-hàm 3, kinh số 2. Du hành, T01, tr. 23b.
(4) Độc tọa sàng 獨坐床. Xem Phần I, ch. v, ba-dật-đề 18 & cht. 116; Phần II, tỳ- kheo-ni, ba-dật-đề 83, cht. 900.

* Trang 1393 *
device

Các tỳ-kheo đến nhà bạch  y. Họ  trải giường dây, giường cây dài. Các tỳ-kheo e ngại không dám ngồi vì Phật không cho phép họ và thượng tọa cùng ngồi trên một giường. Các bạch y [846c] thưa:
“Chúng con không đủ chỗ cho mỗi vị ngồi riêng một giường.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép nơi nhà bạch y được ngồi chung.”
Các tỳ-kheo đến nhà bạch y. Họ trải đãy bằng da. Tỳ-kheo có tâm e
ngại, nghĩ rằng: ‘Đức Phật không cho phép ngồi trên da.’
Các cư sĩ thưa: “Chúng con không có chỗ ngồi nào khác.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép nơi nhà bạch y được ngồi.”
Bấy  giờ, Bạt-nan-đà  Thích tử  có  đàn-việt  là một  người  chăn  bò. Sáng sớm, Bạt-nan-đà khoác y đến nhà đàn-việt, trải chỗ ngồi. Lúc đó, người chăn bò đến ngồi nghe pháp. Bạt-nan-đà Thích tử khéo léo vì ông nói pháp, dùng mọi phương tiện khuyến hóa người đàn-việt khiến rất hoan hỷ, nên hỏi: “Đại đức cần gì?”
Bạt-nan-đà nói:
“Thôi. Tôi không cần gì. Như thế là cúng dường rồi.”
Người đàn-việt lại thưa: “Xin thầy cần gì cứ nói.”
Bạt-nan-đà nói: “Thôi,  tôi  không cần  gì. Tôi  có  nói  ra cũng  không  đáp ứng  được đâu!”
Người đàn-việt nói: “Đại đức cứ nói, con sẽ dâng cúng.”
Cách đó không xa có một con bê khoang, Bạt-nan-đà nói: “Tôi cần loại da đó.”
Người đàn-việt thưa: “Xin ngài đợi một chút, để con giết nó đã.”
Người ấy  liền giết con bê, lột da cúng cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà nhận được da rồi, rời chỗ ngồi đứng dậy mang đi. Con bò mẹ rống la  thống  thiết,  đi  theo Bạt-nan-đà  đến cửa Kỳ-hoàn.
Các tỳ-kheo thấy hỏi:  “Con bò này tại sao rống la và đi theo thầy?”

* Trang 1394 *
device

Bạt-nan-đà nói:  “Đây là da của con nó. Tôi mang về nên nó đi theo.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Không được xin da sống. Nếu xin, sẽ như pháp trị.”
2.3. Các vật dụng bằng da
1. Các tỳ-kheo e ngại không dám đeo phao nổi qua sông. Đức Phật dạy: “Được phép.”
Các tỳ-kheo nắm đuôi bò lội qua sông. Khi qua khỏi sông mới biết là trâu cái nên e ngại. Đức Phật dạy: “Không phạm. Tuy nhiên, từ nay về sau, không nên nắm đuôi  trâu cái qua sông.”
Các tỳ-kheo không dám ngồi  trên  thảm bằng da để qua sông. Đức Phật dạy: “Được phép ngồi.”
Các tỳ-kheo  e  ngại  không  dám  ngồi  trên  thuyền bằng  da  để  qua sông. Đức Phật dạy: “Cho phép được ngồi  trên  thuyền bằng da để qua sông. Hoặc ngồi hay nằm tùy ý.”
2. Các tỳ-kheo dùng da  làm đãy đựng dao, không dùng vật gì bao phủ  dao lại  nên bị hư. Đức  Phật dạy:  “Nên  dùng  lông mịn  hoặc kiếp-bối hay da lớn bao phủ dao lại.”
Các tỳ-kheo chứa dép da hai lớp. Đức Phật dạy: “Không được chứa dép da hai lớp.”
Các tỳ-kheo chứa dép da ca-na-phú-la. (1) Đức Phật dạy: “Không được chứa dép da ca-na-phú-la.”
Tỳ-kheo  cùng với bạch  [847a1]  y nước  Câu-tát-la  cùng  đi  trên đường, bị vật nhọn đâm chảy máu dưới chân rất trầm trọng, không thể đi được. Bạch y thấy vậy  liền đưa dép mình mang cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo e ngại phạm xử dụng dép da ca-na-phú-la nên không dám
_________________
(1) Ca-na-phú-la 迦那富羅. Phiên Phạn ngữ 10 (T54n2130, tr.1052a9): ca-na-phú-la迦那腹羅, một loại giày ống có tai? (ca-na: lỗ tai); Skt. karṇapūla? Xem Phần I, Ch. vii chúng học, điều 65, cht. 1, tr.745.

* Trang 1395 *
device

nhận. Đức Phật dạy:  “Có nhân duyên như vậy thì cho phép thọ dụng.”
Nhóm sáu tỳ-kheo chứa dép da bằng sừng xoay. (1) Đức Phật dạy: “Không được chứa dép bằng sừng xoay.”
Các tỳ-kheo chứa dép bằng sừng nai. Đức Phật dạy: “Không được chứa dép bằng sừng nai.”
Các tỳ-kheo chứa dép a-la-lê. (2) Đức Phật dạy: “Không được chứa như vậy.”
Nhóm sáu tỳ-kheo dùng da nhiều màu  làm dây cột dép. Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo  dùng bố bằng lụa  làm  dây cột  dép. Đức  Phật
dạy: “Không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo chứa dép phú-la-bạt-đà-la. (3) Đức Phật dạy:
“Không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép chân-thệ-lê. (4) Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
___________________________
(1) Tuyền  giác  cách tỷ 旋角革屣. Không hiểu  “sừng  xoay”  là cái gì. Đoạn tương đương trong Mahāvagga v (Vin.i.186): meṇḍavisāṇavaddhika (có mõm giày làm bằng sừng con cừu), ajavisāṇavaddhika (có mõm giày làm bằng sừng hươu). Thiện kiến 17 ( T24, tr. 793c120): dép sừng hươu, khắc lên da thành hình sừng hươu.
(2) A-la-lê cách tỷ 阿羅梨革屣. Phiên phạn ngữ 10 (tr.1052a10): a-la-lê dịch là cỏ 草. Skt. alāri? Thiện kiến 17, ibid: dép a-la-lê, dùng lông voi đặt ở mép dép.
(3) Phú-la-bạt-đà-la 富羅跋陀羅. Pāli,  ibid.,  puṭabaddha, một  loại  giày  ống,  cao đến đầu gối. Phiên phạn ngữ 10 (tr.1052a11): phú-na bạt-đà-la thảo tỷ腹羅跋陀 羅草屣; nên đọc  là đâu-la-bạt-la, dây  làm bằng sợi gòn. Tức  loại dép cỏ có dây buộc làm bằng gòn.  Thiện kiến 17, ibid: dép phúc-la-bạt-đà-la, dùng bông gòn và các tạp vật may chung với da, khiến cho ở giữa nổi cộm lên.
(4) Chân-thệ-lê 真誓梨. Phiên phạn ngữ 10 (tr. 1052a12): chân-thệ-lê thảo tỷ真誓 梨草屣; chân-thệ-lê dịch là tế thanh 細聲, Skt. Tittiri, chim chá cô? Thiện kiến 17, ibid. dép chân-thệ-lệ, làm bằng có bện. Có lẽ Pāli: tittirapattika, Sớ giải: tittirapattasadisā vicittavaddhā, nhuộm nhiều màu như lông chim chá-cô.

* Trang 1396 *
device

Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép bện mép. (1) Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép có nhiều dây. (2) Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép hình cuốn. (3) Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép bằng da lớn, da sư tử, da cọp, da beo, da rái cá, da mèo rừng, da nhiều màu, da cáo. Đức Phật dạy: “Tất cả loài da đó không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo dùng da lớn viền dép hoặc dùng  làm dây, hoặc
dùng để vá. Đức Phật dạy: “Không được dùng để viền hay làm dây hoặc vá.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép màu xanh. Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo  dùng màu  xanh  viền  dép,  hoặc  dùng  làm  dây
hay vá. Đức Phật dạy:“Không được dùng màu xanh viền dép, hoặc làm dây hay vá.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép màu vàng. Đức Phật dạy: “Không được mang.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép viền màu vàng, hoặc làm dây cột hay
vá. Đức Phật dạy: “Không được dùng dép da, hoặc dây cột vá có viền màu vàng.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép màu đỏ. Đức Phật dạy: “Không được mang dép màu đỏ, dây cột và vá cũng như vậy.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép da màu trắng. Đức Phật dạy: “Không
_____________-
(1) Biên biên cách tỷ 編邊革屣. Thiện kiến 17, ibid: dùng lông chim công bện vào mép.
(2) Thiện kiến 17, ibid: “ đa đái cách tỉ   , không có giải thích”.
(3) Quyển hình cách tỷ 捲形.

* Trang 1397 *
device

được mang dép da màu trắng, dây cột viền, đường vá viền cũng như vậy.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo mang  dép  da  giống  như  lông  công. Đức  Phật dạy: “Không được như vậy.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép da màu gấm. (1) Đức Phật dạy: “Không được dùng như vậy.”
Tỳ-kheo kia nhận được dép màu gấm đã làm thành. Đức Phật dạy: “Không được chứa; nếu làm mất màu thì được phép chứa.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo mang  dép  độn bằng  loại  lông mịn. Đức  Phật dạy: “Không được [847b] chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mang dép độn bằng kiếp-bối. (2) Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Nhóm sáu tỳ-kheo dùng tơ lụa độn dép. Đức Phật dạy: “Không được chứa dùng.”
Nhóm sáu tỳ-kheo dùng cỏ bẹ, cỏ bà-sa, cỏ xá-la, cỏ hán-đà-la (3) độn dép. Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
“Này  nhóm  sáu tỳ-kheo,  các ông  là  những  người  si. Điều  này Ta ngăn cấm, lại  làm các điều khác. Từ nay về sau, tất cả  loại dép có độn đều không được chứa để dùng.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo gặp  trời mưa  bùn bẩn chân, bẩn tọa cụ, bẩn thân ngọa cụ. Đức Phật cho phép vì hộ thân, hộ tọa cụ, trong Tăng-già-lam  được mang  dép bằng cỏ bồ  để rửa  chân. Khi mang  dépbằng cỏ bồ để rửa chân rồi, nước vào  trong dép bẩn chân, bẩn tọa cụ, bẩn thân, bẩn ngọa cụ. Đức Phật cho phép dùng vỏ cây, hoặc da đóng dưới gót.
___________________
(1) Cẩm sắc 錦色; nên hiểu là “được thêu màu.” Pāli: citrā upaāhanaā, dép thêu.
(2) Tức bông gòn.
(3)  Bà-sa 婆娑, Pāli (Vin.i. 189): pabbaja, một loại cỏ lau (cỏ tim đèn). Hán-đà-la 漢陀羅; Pāli: hintāla,  giống  cây  chà-là; một  loại  cây cọ. Xá-la 舍羅. Chưa  rõ loại cỏ này; hoặc Pāli: sara, cỏ lau.

* Trang 1398 *
device

3. Bấy giờ,  trong nước Xá-vệ, nhóm sáu tỳ-kheo mang guốc bằng
khâm-bà-la. (1) Đức Phật dạy: “Không được dùng guốc cỏ (2) như vậy và không được mang.”
Bấy giờ đức Phật ở tại  thành Vương xá, nhóm  sáu tỳ-kheo lột vỏ cây  đa-la (3) để  làm  guốc,  nên  cây bị  khô  héo. Các cư sĩ  thấy  cùng nhau cơ  hiềm:  ‘Sa môn Thích tử  không  biết hổ  thẹn,  đoạn mạng sống mà tự nói  tôi biết chánh pháp. Lột vỏ cây đa-la để  làm guốc khiến cho cây bị khô chết. Như vậy có gì  là chánh pháp?’ Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Bấy giờ Thế Tôn ở tại nước Câu-thiểm-di, nhóm sáu tỳ-kheo mang guốc bằng gỗ đi như ngựa, âm  thanh rối  loạn các vị tọa thiền. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được mang guốc gỗ.”
Các tỳ-kheo  e  ngại  không  dám mang  guốc  vào  nhà  đại  tiểu  tiện, không dám mang guốc để rửa chân. Đức Phật dạy: “Trừ mang đi đường. Các trường hợp trên được mang.”
Thế Tôn ở tại nước Ta-kiệt-đề. Bấy  giờ, tỳ-kheo Tỳ-xá-ly Bạt-xà Tử (4) mang guốc bằng vàng, guốc bằng bạc. Đức Phật dạy: “Không được mang.”
Ông ta lại mang guốc bằng lưu ly. Đức Phật dạy: “Không được dùng.”
Ông ta tự làm và mang guốc bằng vật báu. Đức Phật dạy: “Không được mang.”
Sau đó ông lại mang guốc gỗ quí. Đức Phật dạy: “Không được mang.”
_______________________-
(1) Khâm-bà-la 欽婆羅, vải dệt bằng lông thú. Pāli (Vin. i. 190): kambala.
(2) Bốn loại guốc bằng cỏ  kể trên: bằng cỏ bẹ. cỏ bà-sa, cỏ hán-đà-la và cỏ xá-la.
(3) Đa-la 多羅. Pāli (Vin.i. 189): tālataruṇa, tāla non hay chồi cây tāla; loại cây lá hình quạt; loại cây cọ.
(4) Tỳ-xá-ly Bạt-xà Tử 毘舍離跋闍子. Người họ Bạt-xà  (Pāli: Vajjiputta) ở Tỳ-xá-ly (Pāli: Vesāli).

* Trang 1399 *
device

Đức Phật dạy tiếp: “Ông  là người si. Ta cấm thứ này, ông lại vội sắm các thứ khác để mang. Từ nay về sau, không được mang tất cả loại guốc.”
4. Thế Tôn ở tại nước Tỳ-xá-ly. Bấy  giờ  nhóm  sáu tỳ-kheo  cùng đức Phật đi kinh hành mà mang dép. Phật bảo các tỳ-kheo: “Đệ tử  thọ học với  các  công xảo sư ở  bên  ngoài  còn  có sự  cung kính đối với  thầy. Còn nhóm sáu tỳ-kheo này  là những người ngu si, mới mang dép [847c] cùng Phật đi kinh hành.” Đức Phật dạy tiếp: “Từ nay về sau, không được mang tất cả mọi thứ dép như vậy.”
Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo  đối với Hòa  thượng,  đồng  hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê, mà kinh hành nơi chỗ tốt, còn đồng hàng Hòa thượng kinh hành nơi chỗ xấu. Mình kinh hành nơi chỗ cao, còn đồng hàng Hòa thượng kinh hành nơi chỗ thấp. Mình đi  trước,  còn  đồng  hàng Hòa  thượng  đi  sau.  Cùng  nói với  đồng hàng Hòa  thượng, cùng kinh hành, lật ngược y, y quấn cổ, y  trùmđầu, trùm hai vai, mang dép. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:“Không được để Hòa  thượng, đồng hàng Hòa  thượng, hoặc A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê kinh  hành nơi chỗ xấu mà mình kinh  hành nơi chỗ tốt, cho đến mang dép, tất cả đều không được.”
Nhóm  sáu tỳ-kheo đối  trước Hòa  thượng, đồng hàng Hòa  thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê mà phủ y  lên hai vai, mang dép, hoặc có việc trao hay nhận, không trống vai bên hữu, không cởi bỏ dép. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được như vậy.”
Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, khi đối  trước Hòa thượng đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê phải trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, khi có việc trao hay nhận.”
Các tỳ-kheo ở tại nhà bạch y đối trước Hòa thượng đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê  đồng  hàng A-xà-lê,  có  việc  trao  hay  nhận,  trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, nên bị lộ hình. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Tại nhà bạch y, đối trước Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê khỏi phải trống vai bên hữu, khỏi phải cởi bỏ dép, khi có việc trao hay nhận.”

* Trang 1400 *
device

Bấy giờ, có tỳ-kheo cùng tỳ-kheo khác cùng đi trên đường. Một tỳ-kheo  đến tỳ-kheo  khác  xin nước.  Các tỳ-kheo  nghĩ: ‘Đức  Phật không cho phép mang dép khi có việc trao hay nhận.’ Tỳ-kheo kia liền cởi bỏ dép để lấy nước, nên bị mất dép. Các tỳ-kheo bạch Phật.Đức  Phật dạy:  “Cho  phép  trên  đường  đi,  tùy  ý mang  dép  khi  có việc trao hay nhận.”
Có tỳ-kheo,  lúc xẩm tối, đến tỳ-kheo khác  xin nước. Vị kia nghĩ: ‘Đức Phật  không  cho  phép mang  dép  khi  có  việc  trao  hay  nhận.’ Bấy  giờ,  trú xứ nọ lại  cách  xa  chỗ lấy nước,  tuy sợ  độc  trùng, nhưng tỳ-kheo kia vẫn cởi bỏ dép, đến đó để lấy nước, nên bị độc trùng cắn chân đau nhức, không an lạc. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Sau khi mặt  trời lặn mà phải đi xa lấy nước, vì sợ độc  trùng nên được phép mang dép, khi có việc trao hay nhận.”
Nhóm sáu tỳ-kheo thấy Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê mà không đứng dậy đón rước. Các  [848a1] tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Nên đứng dậy  chào  tiếp. Trừ khi ăn hoặc khi  làm pháp dư  thực, hay khi bệnh  thì nói: ‘Đại đức biết cho, tôi vì nhân duyên như vậy nên không đứng dậy chào đón được.’”
Hòa thượng là người trao giới cho mình. Đồng hàng Hòa thượng là những vị đã đủ mười hạ. 
A-xà-lê có năm hạng: xuất gia A-xà-lê,  thọ giới A-xà-lê, giáo  thọ
A-xà-lê, dạy kinh A-xà-lê, y chỉ A-xà-lê. 
Xuất gia A-xà-lê là người hướng dẫn mình xuất gia.
Thọ giới A-xà-lê là vị làm yết-ma khi mình thọ giới.
Giáo thọ A-xà-lê là vị dạy mình oai nghi.
Dạy kinh A-xà-lê là từ nơi vị đó mình được học kinh, đọc kinh, noi theo đường  tu hành, hoặc  thuyết nghĩa cho đến một câu  trong bốn câu của bài kệ.
Y chỉ A-xà-lê  là vị ấy mình nương vào để sống, dù chỉ  trong một đêm. 

* Trang 1401 *
device

Đồng hàng A-xà-lê là những vị đã đủ năm tuổi. Trừ y chỉ A-xà-lê. (1)
5. Phòng ở của tỳ-kheo này nên  lau quét. Lau quét rồi mà còn bụi thì dùng nước bùn  trét  lên  trên. Trét bùn rồi mà còn bẩn  thì lấy đồ trải  lên. Đồ  trải  đó  hoặc  là  y-lê-diên-đà, mạo-la, mạo-mạo-la,  cù lâu, hoặc một trong mười loại y.
Các tỳ-kheo không rửa chân mà đi trên đồ trải. Đức Phật dạy: “Bên cửa nên để đồ chùi chân. Nếu vẫn không sạch,  thì ngoài cửa nên để nước rửa chân.”
Tỳ-kheo rửa chân rồi, khi chân chưa khô, bước lên trên đồ trải, nên đồ trải bị hư mục. Đức Phật dạy: “Chân chưa khô, không được bước lên trên đồ trải. Nếu có việc gấp thì lấy chân chùi  trên đầu gối, hoặc chùi nơi  lòng bàn chân, hoặc lấy tay chùi, hoặc dùng vật xấu chùi.”
Các tỳ-kheo vì Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê  trao  hay  nhận  điều  gì,  phải rửa  chân mãi cực  nhọc, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay về sau, nếu vì Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê cần trao hay nhận điều gì cho phép dùng cái mâm đồng, cái khay, cái kỷ. Tất cả vật cần dùng hay thức ăn đều để hết lên trên đó, rồi trao một lần.”Có tỳ-kheo dưới chân bị  thủng, gặp  lúc  trời mưa. Các tỳ-kheo dìu đến nơi  nhà vệ  sinh bị  ngã, nằm  trên bùn rất khổ sở. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:“Cho phép vì hộ  thân, hộ y, hộ ngọa cụ,  trong Tăng-già-lam được mang dép một lớp.”
Các tỳ-kheo trên đường đi với Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê,  đồng  hàng  A-xà-lê  [848b]  có  việc  trao  hay  nhận,  phải trống  vai  bên hữu, cởi bỏ  dép mệt  nhọc. Các tỳ-kheo bạch  Phật. Đức Phật dạy: “Nếu trên đường đi mà có việc trao hay nhận, nên đưa lên trên đầu hoặc  trên  vai  để  trao  hay  nhận với Hòa  thượng,  đồng  hàng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê.”
_______________
(1) Chưa đủ 10 tuổi hạ, không được làm y chỉ.

* Trang 1402 *
device

6. Phật ở nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo mang dép vào tụ lạc. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm nói: ‘Sa-môn Thích tử tự nói mình biết  chánh  pháp. Nhưng  vào tụ lạc mà mang  dép,  giống  như  vua hay đại  thần của vua. Như vậy có gì  là chánh pháp?’ Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được mang dép vào tụ lạc.”
Các tỳ-kheo bệnh, với tâm e ngại không dám mang dép vào tụ lạc. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép các tỳ-kheo bệnh mang dép vào tụ lạc.”
Nhóm sáu tỳ-kheo mượn cớ bệnh mang dép vào tụ lạc. Các tỳ-kheo thấy nói: ‘Đức Phật đâu cho phép mang dép vào tụ lạc?’
Vị kia nói: “Tôi bị bệnh.”
Các tỳ-kheo hỏi: “Bệnh gì?”
Vị kia nói: “Thưa trưởng lão, đức Phật há không nói, nếu có người nào đó chỉ trong chốc lát mà không an lạc, thì gọi là bệnh hay sao? Vì vậy cho nên chúng tôi mượn cớ bị bệnh.”
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được mượn cớ bệnh để mang dép vào tụ lạc.”
Bấy  giờ,  trưởng  lão Tất-lăng-già-bà-ta  có  gót  chân bị  đau, cần mang  dép  trùm  ngoài  gót  chân. Các tỳ-kheo bạch  Phật,  đức  Phật cho phép mang dép  trùm ngoài gót chân. Trưởng  lão Tất-lăng-già-bà-ta  trên  đường  đi, mắt bị mờ,  ngón  chân bị  thương  tích bởi  đá sỏi. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép mang dép trùm ngoài ngón chân.”
Tất-lăng-già-bà-ta  có  nhiều  thân hữu,  trên  đường  cùng  đi,  nhận được nhiều đại mạch, tiểu mạch, đậu ban, gạo tẻ. Các tỳ-kheo nghi không dám nhận, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Các tỳ-kheo nhận rồi không biết để đâu, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép đựng trong cái đãy hay cái khăn.”
Trưởng  lão Tất-lăng-già-bà-ta,  trên  đường  đi,  nhận  được bơ, dầu,mật, mật mía.  Các tỳ-kheo  không  dám lấy bạch  Phật.  Đức  Phậtdạy: “Cho phép nhận lấy.”

* Trang 1403 *
device

Nhận lấy rồi không biết để đâu bạch Phật. Đức Phật dạy: “Dùng  cái  bát cạn  cho  vào  trong  cái  bát  nhỏ  hay  cái  bát vừa  để nhận. Cái bát cạn để vào  trong cái bát nhỏ, cái bát nhỏ để vào cái bát vừa, cái bát vừa để vào trong cái bát lớn.”
Các tỳ-kheo không biết cái bát cạn để trong cái bát nhỏ, cái bát nhỏ để  vào  trong  cái  bát vừa,  thì  cái  bát vừa  phải tịnh  thí  [848c]  hay không, (1) bạch Phật. Đức Phật dạy: “Khỏi phải tịnh thí.”
7.  Trưởng  lão Tất-lăng-già-bà-ta  già yếu  không  thể  đi bộ  được, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép dùng cái xe kéo bộ hay cái kiệu, hoặc xe ngựa. Nhưng không được kéo bởi người nữ, trâu bò cái, ngựa cái, không được sử dụng.”
Tất-lăng-già-bà-ta, trên đường đi có người cúng loại xe kéo, (2) không dám nhận, bạch Phật. Phật cho phép nhận. 
Lại  có  người  cúng  loại  xe  kéo bằng  da,  không  dám  nhận, bạch Phật. Phật cho phép nhận, rồi dùng một trong mười loại vải phủ lên trên chỗ da. 
Lại có người cúng  loại xe kéo được bện bằng da, không dám nhận, bạch  Phật. Phật  cho  phép  nhận, với  điều  là bỏ  loại  dây bằng  da, bằng tóc, còn các loại dây khác thì không sao.
Các tỳ-kheo cần cái càng xe, bạch Phật; đức Phật cho phép làm.
Các tỳ-kheo cần  dây cột  xe, bạch  Phật. Đức  Phật  cho  phép  làm. Nếu dây thừng bị đứt thì cho phép làm bằng da.
Nếu khiêng xe, vai bị đau; cho phép  làm gối để  lót. Nếu phía sau đau, cũng cho phép làm cái gối để lót. Bấy giờ không biết nên để ai khiêng, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép tỳ-kheo, hoặc người giúp việc trong Tăng-già-lam, hoặc ưu-bà-tắc hay  sa-di. Nếu  nhận được  xe  thì cũng  như vậy. Nếu  xe bằng  da  thì  nên  dùng một  trong mười  loại vải  phủ  chỗ  da lại rồi dùng. Nếu được xe bện bằng da thì 
___________________
(1) Tác tịnh, vì sợ phạm súc trưởng bát; ni-tát-kỳ 21.
(2) Liễn 輦; xe do người kéo.

* Trang 1404 *
device

trừ  loại dây bằng da, bằng  tóc, ngoài  ra được dùng.” Các vị không biết nên để ai kéo, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Cho phép tỳ-kheo, hoặc người giúp việc trong Tăng-già-lam, hoặc ưu-bà-tắc hay sa-di kéo.”
Trưởng  lão Tất-lăng-già-bà-ta nhận được người coi Tăng-già-lam. Đức Phật dạy: “Được phép nuôi.”
8. Bấy  giờ,  nhóm  sáu tỳ-kheo  làm  giường bằng  da,  giường  đơn bằng da. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Họ lại  làm nệm  da, gối  da,  ngọa cụ  da,  đồ  trải dưới  đất bằng  da. Khi  trải dưới đất bị  sanh  trùng, đem  vào phòng, hôi  thối. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Bấy giờ, có bà-la-môn xuất gia làm đạo, đem da y-sư (1) làm vật chùi chân, để trong cửa. Đức Phật dạy: “Cho phép chứa.”
Các tỳ-kheo  xách nước,  dây  xách nước  thường bị  đứt. Đức  Phật dạy: Cho phép dùng da  làm dây để xách. Nếu gàu bị hư, Phật cho phép dùng da để làm. Dây bị đứt, Phật cho phép làm bằng da. 
Dây cửa  ngõ  thường bị  đứt, Phật  cho  phép  làm bằng  da. Khi mở cửa, đóng cửa đau tay, Phật cho phép dùng miếng da lớn trùm lên. 
Chốt cửa không xoay được, đức Phật cho phép để miếng da. Trên cái chốt bị hư, Phật cho phép dùng da xâu lại. Nếu bị kêu cũng vậy. 
Chân giường dây, giường cây bị hư, Phật cho phép dùng da xâu lại.
Có các tỳ-kheo bị đau chân, Phật cho phép dùng miếng da lớn phủ lên trên cho [849a1] chỗ đau lành. Sau đó, bỏ đi. 
Tỳ-kheo dùng dây lợp lại nhà bị đứt, Phật cho phép dùng da  làm. Dây cửa sổ  thường bị  đứt, Phật  cho  phép  dùng cước  hay  lông  để làm.
9. Nhóm  sáu tỳ-kheo chứa đãy đựng bình  bát, đãy đựng dép, đãy
________________
(1) Y-sư bì 伊師皮.

* Trang 1405 *
device

đựng kim chỉ bằng da. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được chứa như vậy.”
Bấy giờ có người  thợ mộc  xuất gia  làm Tỳ-kheo, chứa đãy da để đựng đồ nghề. Đức Phật dạy: “Không được chứa.”
Thợ mộc  xuất  gia  làm Tỳ-kheo, tất cả  đồ  nghề  không  được cất chứa. Chúng Tăng được gỗ  làm đồ dùng, bạch Phật. Đức Phật cho phép chứa. Không biết dùng đựng vật gì. Đức Phật dạy: “Mười loại vải, tùy ý chứa đựng.”
Bình đựng dầu, bơ của tỳ-kheo để không kín đáo. Đức Phật dạy: Cho phép dùng da ướt phủ lên. Nếu bị trùng cắn lủng thì dùng bùn trét lên. 
Tỳ-kheo nhận được đồ đựng dầu bằng da có hình hoa, e ngại không dám chứa. Đức Phật cho phép chứa.
Tỳ-kheo  nhận  được  đồ  đựng dầu bằng sừng,  e  ngại  không  dám chứa. Đức Phật cho phép chứa. Nếu phía  trên, phía dưới  hay  bên hông bị lủng thì dùng da ràng lại.
10. Khi đức Thế Tôn ở tại  thành Vương xá, bấy giờ có tỳ-kheo bị cây  nhọn  đâm  vào  chân bị  thương, cần  dép mềm. Đức  Phật  cho phép sử dụng. 
Bấy  giờ,  đức  Phật  cùng Tôn  giả A-nan  đi  đến rừng Thi-đà,  cách chỗ gò mả không xa, thấy có đôi giày hai lớp quý giá. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-nan: “Tại sao ông không lấy đôi giày ấy?”
Tôn giả A-nan thưa: “Sợ phạm phải điều dùng giày hai lớp.”
Đức Phật dạy: “Xem đó như vật phấn tảo thì được lấy.”
Có tỳ-kheo trên đường đi, cách chỗ gò mả không xa, thấy da người chết dày, được xâu nơi cây gỗ, bèn lột lấy đem về phòng cắt  làm đôi giày một lớp. Trong phòng có mùi thối. Các tỳ-kheo khác hỏi: “Tại sao trong phòng có mùi hôi thối?”
Tỳ-kheo  kia  trình  bày sự  việc với  các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không được chứa da người. Nếu chứa, phạm

* Trang 1406 *
device

thâu-lan-giá. Ngoài  ra, các thứ da bất tịnh khả ố khác cũng không được chứa, nếu chứa  phạm đột-kết-la.”
11. Bấy giờ, có tỳ-kheo từ nước giá lạnh (1) đến, chân bị nứt, đến chỗ  đức Phật, đảnh lễ sát chân rồi đứng  lui qua một bên. Đức Phật biết  mà vẫn hỏi: “Tại sao chân ông bị nứt?”
Vị ấy bạch Phật: “Con từ xứ lạnh đến nên bị nứt.” 
Đức Phật hỏi tỳ-kheo ấy: “Nước đó họ mang bằng thứ gì?”
Vị tỳ-kheo ấy thưa:  “Mang dép da phú-la-am-đề.” (2)
Đức Phật dạy:
“Cho phép mang như vậy. Nếu cần dùng tất thì cho phép dùng bít  tất (vớ). Cho phép đến nơi cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải bà con để xin.
Không được dùng vào việc khác. Nếu dùng vào việc khác, sẽ như  pháp [849b] trị.”
Nhóm sáu tỳ-kheo dùng da làm dây lưng. Đức Phật dạy:
“Không được dùng da làm dây lưng, dây thiền.” (3)
Tỳ-kheo chứa đồ bằng da. Đức Phật dạy:  “Không được chứa.”
Tỳ-kheo dùng da làm mão. Đức Phật dạy:  “Không được dùng như vậy.”
____________________
(1)  Hàn tuyết quốc 寒雪國.Bách nhất yết-ma 5 (T24 tr. 478a10), Ưu-ba-li hỏi Phật, như thế nào được gọi là xứ tuyết lạnh; Phật nói: “ Xứ có sương tuyết, nước trong bình chứa đóng băng”
(2)  Phú-la-am-đề 富羅菴鞮. Cf. Bì cách s (T23, tr.1059b1): tại vùng có tuyết lạnh, cho dùng giày phú-la. Xem thêm Ngũ phn 21 (T22n1421 tr.146c24) Có lẽ là một loại giày ống. Wogihara, Skt. pūla: loại giày có dây đai. Mahāvyutpatti, 272 (21): pūlā, hữu đái ngoa 有帶靴, phú-la 富羅. Nht thiết kinh âm nghĩa (T54n2128 tr.740b07): phúc-la 腹羅, cũng viết là 福羅; hoặc nói là phú-la 富羅, chính xác nói là b-la 布羅; dịch là đon áo ngoa 短靿靴, loại giày ống cổ ngắn (?). Phiên dch danh nghĩa (T54n2131, tr.1108b17): phú-la 富羅, chính xác là phúc-la 腹羅, dịch là đoản áo ngoa 短靿靴. Không rõ Pāli tương đương.
(3) Thiền đái 禪帶, không rõ.

* Trang 1407 *
device

Tỳ-kheo làm khẩn-thù-thán (1) bằng da. Phật dạy: “Không được.”
Tỳ-kheo không lau chùi dép nên bẩn chân, bẩn ngọa cụ. Đức Phật dạy: “Phải lau chùi dép.”
Tỳ-kheo rửa chân chưa khô mang dép nên dép bị hư mục. Phật dạy: “Không được như vậy.”
Tỳ-kheo không thường giặt vật lau chân. Các tỳ-kheo thấy bẩn gớm. Đức Phật dạy: “Nên giặt.”
Vị ấy giặt rồi không vắt không phơi, bị sanh trùng. Phật dạy: “Nên giặt rồi vắt, hong cho khô.”
 
_____________________
(1) Khẩn-thù-thán 緊殊炭. Chưa rõ cái gì.

* Trang 1408 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)