LOGO VNBET
CHƯƠNG XII
NGƯỜI (1)
 
1. Phú tàng
1.1. Hành ba-lợi-bà-sa
Thế Tôn ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo phạm tăng tàn mà che giấu. Vị kia nghĩ như vầy: 'Ta nên làm như thế nào?' Rồi bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng tùy theo ngày che giấu, trao cho tỳ-kheo kia pháp trị tội phú tang (2) bằng bạch tứ yết-ma."
Nên làm như vầy: tỳ-kheo [896c] kia nên đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối chấp tay, bạch những lời như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn (3) mà che giấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, tùy theo số ngày che giấu, (4) nay đến giữa Tăng xin yết-
_____________________
(1)  Tham chiếu Pāli, Cullavagga ii. Pārivāsikakkhandhakaṃ, Vin. ii. 31. Ngũ phần 23, Phần IV. Ch.ii. Pháp yết-ma; Tăng kỳ 26, Tạp tụng bạt cừ; Thập tụng 32, Tăng tàn sám hối.
(2)  Tùy theo số ngày phú tàng mà cho số ngày biệt trụ tương ứng. Xem Thập tụng 32 (tr.232c8); Vin.ii. 40; Ngũ phần 32 (tr.136c29).
(3)  Thập tụng, nói rõ tội danh: “Tôi tỳ-kheo Ca-lưu-đà-di, cố ý xuất tinh, phạm tăng-già-bà-thi-sa này một tội phú tàng.”
(4)  Trong văn thỉnh của Pāli, có nói rõ số ngày che giấu để xin. Nếu một ngày che giấu (Vin. ii. 40): (…) soha, bhante, sagha ekisā āpattiyā sañcetanikāya sukkavisaṭṭhiyā ekāhappaicchannāya ekāhaparivāsa yācāmi, “…Vì vậy, thưa các Đại đức, tôi xin Tăng một ngày biệt trụ cho một tội cố ý xuất tinh một ngày phú tàng.” Nếu năm ngày che giấu (Vin.ii. 42): … pañcāhappaic-channāya pañcāhaparivāsa yācāmi, “tôi xin năm ngày biệt trú cho năm ngày phú tàng.” Thập tụng 32 (tr.233a09): “… tuỳ theo số ngày phú tàng, xin Tăng pháp biệt trụ.” Ngũ phần 32 (tr.137a12): “… một đêm phú tàng, nay xin Tăng một đêm pháp biệt trụ.”

* Trang 1645 *
device

ma phú tàng. (1) Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày, từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo tên... kia đã phạm tội tăng tàn mà che giấu, tùy theo ngày che giấu đến giữa Tăng xin yết-ma phú tàng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng tùy theo số ngày. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng tàn. Tỳ-kheo tên là... kia đã phạm tội tăng tàn, tùy theo ngày che giấu đến Tăng xin yết-ma phú tàng. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... yết-ma phú tàng tùy theo số ngày. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo tên... yết-ma phú tàng tùy theo số ngày thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã đồng ý trao cho tỳ-kheo tên... yết-ma phú tàng tùy theo số ngày rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
1.2. Bản nhật trị
Tỳ-kheo kia khi hành phú tàng lại phạm tội chồng.1-2 Vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên như thế nào?" rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
_____________________
(1) Các luật đều nói: “xin biệt trú.” Tức xin thi hành ba-lợi-bà-sa 波利婆沙. Hành sự sao 8: “Ba-lợi-bà-sa, hoặc dịch là phú tàng.” Không đúng. Ba-lợi-bà-sa là phiên âm từ Skt. (Pāli): parivāsa. Từ này cũng áp dụng cho ngoại đạo xuất gia, gọi là “bốn tháng biệt trú” (Pāli: cattaro māse parivāso), không liên hệ gì đến ý nghĩa “phú tàng.” (Pāli: paticchādana; skt. Praticchādana)”

* Trang 1646 *
device

. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng vì tỳ-kheo kia tác pháp bản nhật trị (3) bằng bạch tứ yết-ma."
Nên bạch như vầy: tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tôi tỳ-kheo tên là... trong khi hành phú tàng, tái phạm tội cũ. (4) Tôi tỳ-kheo tên là... nay đến trước Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Cúi xin Tăng cho tôi tỳ-kheo tên là... yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng thưa xin như vậy.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma theo sự việc trên tác bạch như vầy:
_______________________
(1) Trùng  phạm 重犯,  phạm lại tội cũ. Tham  chiếu Pāli, Vin.ii.  43: Udāyī  đang hành biệt trụ vì 5 ngày phú tàng tội cố ý xuất tinh, lại tái phạm tội cũ mà không phú tàng. Tăng cho hành bản nhật trị không phú tàng. Sau đó (Vin.ii. 48), phạm tội cố ý xuất  tinh, nửa  tháng hành biệt  trụ vì 15 ngày phú tàng. Trong khi hành biệt trụ, lại tái phạm, lại phú tàng 5 ngày. Tăng hiệp cả hai lần phú tàng trước sau thành pháp hiệp nhất biệt trụ (samodhānaparivāsa).
(2) Thập tụng, đã dẫn: tái phạm tội cũ, một ngày không phú tàng, cho bản nhật trị. 
(3) Bổn nhật trị 本日治. Pāli: mūlāyapaṭikissanā, kéo trở lại gốc.
(4) Cf. Vin.ii. 43: tỳ-kheo đang hành biệt trụ về tội cố ý xuất tinh, tái phạm tội cũ, khi  xin yết-ma,  nói  rõ tội cũ:  (…)  sohaṃ  parivasanto  antarā  ekaṃ  āpattiṃ āpajjiṃ sañcetanikaṃ sukkavissaṭṭhiṃ appaṭicchanaṃ. Sohaṃ, bhante, saṅghaṃ antarā ekissā āpattiyā  sañcetanikāya  sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassanaṃ yācāmi’ti. “Tôi trong khi đang hành biệt trụ, trung gian phạm một tội có ý xuất  tinh, không che giấu. Nay  tôi,  thưa các Đại đức, xin Tăng cho  tôi bản nhật trị cho trung gian một tội cố ý xuất tinh không che giấu.”

* Trang 1647 *
device

"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng tàn [897a1] đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Vị kia khi hành pháp phú tàng, lại tái phạm tội cũ. Nay đến giữa Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho tỳ-kheo tên là... yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Đây là lời tác bạch."
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo này đã phạm tội tăng tàn, tùy theo ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết- ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng lại tái phạm tội cũ. Tỳ-kheo kia đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ- kheo... yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã đồng ý trao cho tỳ-kheo... yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
1.3. Ma-na-đỏa
Tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng tác pháp sáu đêm ma-na-đỏa (1) cho tỳ-kheo kia bằng bạch tứ yết-ma."
__________________
(1) Ma-na-đỏa 摩那埵. Pāli: mānatta; PTS Dict. nói, từ nguyên không rõ. Giả thiết do māna “đo lường,” nên có thể có nghĩa “thi hành biện pháp.” Từ nguyên, theo BSK: mānāpya, “làm cho hài lòng.” Hán dịch thông dụng là ý hỷ.

* Trang 1648 *
device

Nên trao cho như vầy: tỳ-kheo kia đến giữa Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tôi trong khi hành phú tàng, tái phạm tội cũ, đến trước Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tăng đã cho tôi yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tôi là tỳ-kheo tên... đã hành pháp bản nhật trị của pháp phú tàng xong, nay đến giữa Tăng xin yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma theo sự việc như trên tác bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn, tùy theo ngày che giấu, đã đến tăng xin yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái phạm tội cũ. [897b] tỳ-kheo... này đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành pháp bản nhật trị của phápphú tàng rồi, nay đến trước Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng

* Trang 1649 *
device

tàn, tùy theo ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành pháp bản nhật trị của pháp phú tàng rồi, nay đến trước Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
1.4. Xuất tội
Vị kia đã hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng cho tỳ-kheo kia pháp xuất tội (1) bằng bạch tứ yết-ma."
Nên xuất tội như vầy: tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, đã đến tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu. Tôi trong khi hành phú tàng, tái phạm tội cũ, đến trước Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng.
___________________
(1) Xuất tội 出罪. Ngũ  phần, Tăng-kỳ:  a-phù-ha-na 阿浮呵那. Pāli:  abbhāna, sự  phục hồi.

* Trang 1650 *
device

Tăng đã cho tôi yết-ma bản nhật trị của phú tàng. Tôi là tỳ-kheo... đã hành bản nhật trị của phú tàng rồi, đến Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Tôi là tỳ-kheo tên... hành sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
[897c] Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn, tùy theo ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành pháp bản nhật trị của pháp phú tàng rồi, đến trước Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này đã hành sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Nay đến trong Tăng xin yết-ma xuất tội. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo... tác pháp yết-ma xuất tội. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội tăng tàn mà che giấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn, tùy theo ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng theo số ngày che giấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này, đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma bản nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành pháp bản nhật trị của pháp phú tàng rồi, đến trước Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm.

* Trang 1651 *
device

Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này đã hành sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Nay đến trong Tăng xin yết-ma xuất tội. Nay Tăng vì tỳ-kheo tác pháp yết-ma xuất tội. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận vì tỳ-kheo... tác pháp yết-ma xuất tội rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
2. Không phú tàng
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà không che giấu, suy nghĩ: "Ta nên như thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa bằng
pháp bạch tứ yết-ma."
Cách trao như sau: Tỳ-kheo kia đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
"Đại [898a1] đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng tàn mà không che giấu. Nay đến giữa Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Cúi xin Tăng cho tôi sáu đêm ma-na-đỏa. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong chúng nên sai một vị có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn mà không che giấu. Nay đến trước Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa. Đây là lời tác bạch.

* Trang 1652 *
device

"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... đã phạm tội tăng tàn không che giấu. Nay đến trước Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa. Các Trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Vị kia trong thời gian hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ. Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: 'Ta nên làm sao đây?' Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp bản nhật trị của ma-na-đỏa bằng bạch tứ yết-ma."
Cách trao như sau: tỳ-kheo kia nên đến trước Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng tàn không che giấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng đã trao tội sáu đêm ma-na-đỏa. Trong khi hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, nay đến Tăng xin pháp yết-ma bản nhật trị ma-na-đỏa. Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma ma-na-đỏa của bản nhật trị. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
 Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn không che giấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia khi hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, đến Tăng xin yết-

* Trang 1653 *
device

ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho tỳ-kheo... yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! [898b] tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn không che giấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này khi hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, đến Tăng cầu xin yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa của bản nhật trị. Các Trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Vị kia hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo, các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng vì tỳ-kheo kia xuất tội bằng pháp bạch tứ yết-ma."
Nên xuất như sau: tỳ-kheo kia phải đến trước Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm tội
tăng tàn không che giấu, đã đến trong Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Khi tôi hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, đã đến trước Tăng xin bản nhật trị của ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Tôi là tỳ-kheo tên... đã hành bản nhật trị của ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội, cúi xin Tăng cho tôi yết-ma xuất tội. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:

* Trang 1654 *
device

"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn không che giấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia khi hành pháp sáu đêm ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Tăng đã cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Vị kia đã hành ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo... xuất tội, đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn không che giấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na- đỏa. Tăng đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Vị kia khi hành pháp ma-na-đỏa lại phạm trọng tội, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị [898c] của ma-na-đỏa. Tăng đã cho yết-ma bản nhật trị của ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này đã hành pháp bản nhật trị của ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nay Tăng cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội. Các Trưởng lão nào đồng ý nay Tăng cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng chấp thuận cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
3. Tổng hợp tăng tàn
1. Bấy giờ, có một tỳ-kheo phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc phạm rồiche giấu một đêm, hoặc phạm rồi che giấu hai đêm, như vậy cho đến che giấu mười đêm. Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: "Ta làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia, gộp lại làm mười ngày phú tàng cho nhiều tội tăng tàn đã phạm, (1) bằng pháp bạch tứ yết-ma."
__________________
(1) Thập tụng 32 (tr.236b22): “Lần thứ nhất, cố ý xuất tinh, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đêm phú  tàng. Thứ hai, xúc nữ  (tăng  tàn 2), hai đêm phú  tàng,  thứ

* Trang 1655 *
device

Cách trao cho như sau: tỳ-kheo kia đến trong Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc đã che giấu một đêm, hoặc đã che giấu hai đêm cho đến che giấu mười đêm. Nay đến trước Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm. Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm, từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng thưa xin như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc đã che giấu một đêm cho đến mười đêm. Nay đến trong Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc đã che giấu một đêm cho đến mười đêm. Nay đến trước Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm. Trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói."
__________________
ba… cho đến, lần  thứ 13, lệ ngữ  (tăng tàn 13), 13 đêm phú  tàng. Cho người đó 13 đêm biệt  trụ.” Nghĩa  là, chọn ngày phú  tàng lớn nhất cho tất cả các tội phú tàng, chứ không phải làm phép toán cộng. Tăng kỳ 26 (tr.436c26): phạm tội thứ nhất 10 đêm phú tàng, tội thứ hai 10 đêm, cho đến tội thứ mười 10 đêm phú tàng. Họp lại làm thành 10 đêm biệt trụ. Ngũ phần 22 (tr.157c04): “Phạm 1 đến nhiều tội tăng-già-bà-thi-sa, phú tàng từ 2 đến nhiều đêm; chỉ tính số đêm phú tàng lâu nhất. Theo số đó mà cho biệt trụ.”

* Trang 1656 *
device

Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng từ một đêm cho đến mười đêm rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này [899a1] tôi ghi nhận như vậy."
Tỳ-kheo kia hành phú tàng rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa bằng pháp bạch tứ yết-ma."
Tỳ-kheo kia nên đến trước Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm nhiều tội tăng tàn, đã che giấu một đêm hoặc hai đêm, cho đến mười đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm, Tăng đã cho tôi yết-ma phú tàng. Tôi tỳ- kheo... hành phú tàng rồi, nay đến xin Tăng sáu đêm ma- na-đỏa. Cúi xin Tăng cho tôi sáu đêm ma-na-đỏa. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này, đã phạm nhiều tội tăng tàn, đã che giấu một đêm, hoặc hai đêm cho đến mười đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, và Tăng đã cho tỳ-kheo... này yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo này đã hành phú tàng rồi, nay đến xin Tăng sáu đêm ma-na-đỏa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma- na-đỏa. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo này đã phạm nhiều tội tăng tàn, đã che giấu một đêm, hoặc hai đêm cho đến mười đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, và Tăng đã cho yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo kia đã hành mười đêm phú tàng xong, nay đến Tăng xin ma-na-

* Trang 1657 *
device

đỏa sáu đêm. Nay Tăng cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Các Trưởng lão nào chấp thuận Tăng cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất."
Lần thư hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na- đỏa rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Vị kia thi hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp xuất tội bằng bạch tứ yết-ma."
Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm nhiều tội tăng tàn, che giấu một đêm hoặc hai đêm cho đến mười đêm, đã đến trong Tăng xin [899b] yết-ma phú tàng mười đêm, Tăng đã cho tôi yết-ma phú tàng mười đêm. Tôi đã hành phú tăng tàn xong, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, và Tăng đã cho tôi sáu đêm ma-na-đỏa. Tôi đã hành sáu đêm ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nguyện Tăng cho tôi yết-ma xuất tội. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc che giấu một đêm hoặc hai đêm cho đến mười đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, Tăng đã cho vị kia yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ- kheo... kia đã hành pháp mười đêm che giấu rồi, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, và Tăng đã cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo đã hành pháp sáu đêm ma- na-đỏa rồi, nay đến trước Tăng xin yết-ma xuất tội. Nếu thời

* Trang 1658 *
device

gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này, đã phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc che giấu một đêm, hoặc hai đêm cho đến mười đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, Tăng đã cho yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo... kia đã hành pháp mười đêm phú tàng rồi. Đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, và Tăng đã cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia hành pháp ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nay Tăng cho tỳ-kheo... kia yết- ma xuất tội. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ- kheo kia yết-ma xuất tội thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất"
Lần thứ hai, lần thư ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... kia yết-ma xuất tội rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
2. Bấy giờ, có một tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều che giấu, chỉ nhớ một tội, không nhớ một tội. Tỳ-kheo kia tùy theo chỗ nhớ được, tùy theo ngày che giấu, đến trước Tăng xin yết-ma theo ngày che giấu, và Tăng đã cho tỳ-kheo kia yết-ma tùy theo chỗ nhớ, tùy theo ngày che giấu. Tỳ-kheo kia khi thi hành pháp phú tàng nhớ tội thứ hai, không biết nên làm thế nào? Bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu của tội thứ hai đã nhớ."
Bấy giờ có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn [899c] đều che giấu cả hai, một tội có nghi ngờ, một tội không nghi ngờ. Vị kia đối với tội không nghi ngờ, tùy theo ngày che giấu, đến trong Tăng xin yết-ma ngày che giấu, và Tăng đã cho tỳ-kheo kia yết-ma tùy theo ngày che giấu. Khi tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng, đối với tội có nghi ngờ kia không còn nghi ngờ nữa, tự nghĩ: "Ta nên làm thế nào?"

* Trang 1659 *
device

Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng cho yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu."
Bấy giờ có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn cả hai đều che giấu; biết một tội, không biết một tội. Vị kia đối với tội đã biết đến Tăng xin yết-ma phú tàng, và Tăng đã cho yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Vị kia khi hành pháp phú tàng liền biết trở lại tội thứ hai, tự nghĩ: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng vì tỳ-kheo kia tùy theo chỗ biết tội thứ hai, với số ngày che giấu cho yết-ma phú tàng."
Bấy giờ có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn cả hai đều che giấu. Khi vị kia xin tội che giấu, chỉ nói một tội, che giấu một tội. Vị kia tùy theo tội được nói đến Tăng xin yết-ma phú tàng, và Tăng đã cho yết-ma phú tàng. Vị kia thi hành pháp phú tàng, đối với tội phạm thứ hai, tâm tàm quý sanh, tự nghĩ: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Tăng nên cho yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che giấu của tội phạm thứ hai." Đức Phật bảo tiếp: "Các ông hãy lắng tai nghe cho kỹ, trường hợp nếu tỳ-kheo nào phạm hai tăng tàn, cả hai đều che giấu. Chỉ nhớ một tội, không nhớ một tội. Tỳ-kheo kia đối với tội nhớ và tội không nhớ, đem cả hai đến Tăng xin yết-ma phú tàng, và Tăng cũng cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng cho cả hai tội. Khi vị kia hành pháp phú tàng, có khách tỳ-kheo đến, biết pháp, biết luật, biết Ma-di. Khách tỳ-kheo kia hỏi cựu tỳ-kheo:"Này Trưởng lão, tỳ-kheo này phạm tội gì? Tại sao hành pháp phú tàng?
"Cựu tỳ-kheo trả lời: "Thưa Trưởng lão, tỳ-kheo này phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều che giấu. Chỉ nhớ một tội, không nhớ một tội. Đem cả hai đến Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng cho cả hai tội. Cho nên, tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng.
"Tỳ-kheo khách kia nói: "Này Trưởng lão, yết-ma phú tàng cho tỳ- kheo kia là bất thành. Tại sao vậy? Yết-ma phú tàng cho tội mà tỳ-kheo kia nhớ thì đúng. Yết-ma phú tàng đối với tội mà tỳ-kheo kia

* Trang 1660 *
device

không nhớ là không đúng, phi pháp; yết-ma bất thành. Chúng Tăng nên tác sám đột-kiết-la. Vị kia nên trao cho ma-na-đỏa." [900a1]
Nghi, không nghi; biết, không biết; cũng như vậy.
3. Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà che giấu hai tháng. Vị kia chỉ nhớ một tháng, một tháng không nhớ. Vị kia theo chỗ nhớ một tháng, đến Tăng xin yết-ma phú tàng; Tăng cho yết-ma phú tàng một tháng. Vị kia khi hành pháp phú tàng, nhớ lại tháng thứ hai, tự nghĩ: "Ta nên thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo chỗ nhớ tháng thứ hai."
Nghi, không nghi, cũng như vậy. Biết, không biết, cũng như vậy. Khi xin pháp phú tàng, che giấu một tháng phát lồ một tháng cũng như vậy.
Đức Phật nói: "Các tỳ-kheo, hãy lắng nghe! Trường hợp nếu có tỳ- kheo phạm tội tăng tàn che giấu hai tháng, chỉ nhớ một tháng, không nhớ một tháng; đem cả hai đến Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng cũng cho vị kia yết-ma phú tàng hai tháng. Khi vị kia hành pháp phú tàng, có khách tỳ-kheo đến, biết Pháp, biết Luật, biết Ma-di. Tỳ-kheo khách hỏi cựu tỳ-kheo: 'Này Trưởng lão, vị kia phạm tội gì? Tại sao hành phú tàng?'
"Cựu tỳ-kheo đáp: 'Tỳ-kheo này phạm tội tăng tàn che giấu hai tháng. Nhớ một tháng, không nhớ một tháng. Vị kia đem cả hai,nhớ và không nhớ, đến Tăng xin yết-ma hai tháng che giấu. Tăng cũng tùy theo vị kia cho yết-ma hai tháng che giấu, cho nên tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng.'
"Tỳ-kheo khách kia nói với cựu tỳ-kheo rằng: 'Cho phép phú tàng không đúng. Tại sao vậy? tỳ-kheo kia nhớ một tháng thì cho pháp phú tàng là đúng. Còn một tháng không nhớ mà cho pháp phú tàng là không đúng, phi pháp; yết-ma không thành tựu. Tăng nên tác pháp sám đột-kiết-la. Nên trao ma-na-đỏa cho tỳ-kheo kia.'
"Nghi, không nghi; biết, không biết; cũng vậy."

* Trang 1661 *
device

4. Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn. Cả hai đều che giấu. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, đối với hai tội đã che giấu (trước kia), tự nghĩ: "Ta nên làm như thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che giấu cả hai. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, đối với hai tội đã che giấu, Tăng nên tùy theo số ngày che giấu đã phạm trước kia, và số ngày che giấu sau, trao cho yết-ma phú tàng. Cho yết-ma phú tàng xong, cho ma-na-đỏa."
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều che giấu. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi phát lồ hai tội. Tăng nên tùy theo [900b] số ngày che giấu trước kia của tỳ-kheo mà trao cho yết-ma phú tàng. Trao cho yết-ma phú tàng rồi, trao cho ma-na-đỏa.
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều không che giấu. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, che giấu hai tội. Vị kia tự nghĩ: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều không che giấu. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi che giấu hai tội. Tăng nên tùy theo số ngày che giấu sau của tỳ-kheo kia trao cho yết-ma phú tàng. Sau đó mới trao cho pháp ma-na-đỏa."
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều khôngche giấu. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi phát lồ hai tội. Tăng nên trao cho hai tội ma-na-đỏa.
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che giấu một tội, không che giấu một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, trước kia chỉ phát lồ một tội, sau lại che giấu cả hai. Vị kia nghĩ: "Ta nên như thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che giấu một tội, không che giấu một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, trước kia chỉ phát lồ một tội, sau lại che giấu cả hai. Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma

* Trang 1662 *
device

tùy theo ngày, một tội đã phạm mà trước sau đều che giấu; và một tội sau mới che giấu."
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che giấu một tội, phát lồ một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, tội trước kia che giấu, sau cũng che giấu. Tội trước kia phát lồ, sau cũng phát lồ. Tăng nên tùy theo tội mà trước sau đều che giấu trao cho yết-ma phú tàng, tội thứ hai không che giấu nên trao cho pháp ma-na-đỏa. Có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che giấu một tội, phát lồ một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, tội trước kia che giấu, sau lại phát lồ. Tội trước kia phát lồ, sau lại che giấu. Tăng nên trao cho vị kia tùy theo một tội trước kia che giấu trao cho yết-ma phú tàng, và theo tội thứ hai mà sau che giấu, trao cho yết-ma phú tàng.
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che giấu một tội, phát lồ một tội. Vị kia thôi tu, [900c] rồi trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, cùng với tội trước kia che giấu, sau cả hai đều phát lồ. Tăng nên trao cho yết-ma phú tàng cho tỳ-kheo kia tùy số ngày của một tội phạm mà trước kia che giấu. Cho pháp ma-na-đỏa cho cả hai, kể luôn tội thứ hai.
Nhớ một tội, không nhớ một tội, tạo thành bốn vế; cũng như vậy.
Nghi một tội, không nghi một tội, tạo thành bốn vế; cũng lại như .
Biết một tội, không biết một tội, tạo thành bốn vế; cũng lại như vậy.
Khi xin tội phú tàng, che giấu một tội, phát lồ một tội, tạo thành bốn vế; cũng lại như vậy.
(Trong đây, từ che giấu của một tội, không che giấu một tội, cho đến đây, có tất cả năm nhóm. Mỗi nhóm đều có bốn vế, như che một không che một thành bốn vế. Tổng cộng thành hai mươi vế).
Khi hành pháp phú tàng, hai mươi vế; cũng lại như vậy. Hành pháp

* Trang 1663 *
device

phú tàng rồi, hai mươi vế; cũng lại như vậy. Khi hành pháp ma-na-đỏa, hai mươi vế; cũng như vậy. Hành pháp ma-na-đỏa rồi, hai mươi vế; cũng lại như vậy.
Làm sa-di rồi trở lại thọ đại giới, một trăm vế; cũng lại như vậy. Điên cuồng, một trăm vế; cũng lại như vậy. Thống não, một trăm vế; cũng lại như vậy. Tăng trao cho pháp bất kiến tội cử, một trăm vế; cũng lại như vậy. Không sám hối tội cử, một trăm vế cũng lại như vậy. Ác kiến bất xả tội cử, một trăm vế cũng lại như vậy.
5. Bấy giờ, có tỳ-kheo đang hành phú tàng thì bãi đạo. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, vị kia tự nghĩ: "Ta nên như thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Tỳ-kheo đang hành phú tàng, bãi đạo, rồi trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, nên nối lại số ngày đã hành trước kia, rồi tiếp tục hành phú tàng số ngày còn lại."
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo đáng cho bản nhật trị. Tỳ-kheo kia bãi đạo rồi trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, Tăng nên tác pháp bản nhật trị cho tỳ-kheo kia, bằng pháp bạch tứ yết-ma.
Bấy giờ, có tỳ-kheo hành phú tàng xong rồi, bãi đạo. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa bằng pháp bạch tứ yết-ma.
Bấy giờ, có tỳ-kheo đang hành ma-na-đỏa, bãi đạo. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, tỳ-kheo kia đã hành bao nhiêu ngày ma-na-đỏa rồi mới nghỉ, còn số ngày chưa hành nên tiếp tục hành.Bấy giờ, có tỳ-kheo hành ma-na-đỏa xong rồi, bãi đạo. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, Tăng nên trao cho vị kia pháp xuất tội bằng pháp bạch tứ yết-ma.
Trường hợp trở lại làm Sa-di, năm vế cũng như vậy. Điên cuồng, năm vế cũng như vậy. Loạn tâm, năm vế cũng [901a1] như vậy. Thống não, năm vế cũng như vậy. Tăng trao cho các pháp yết-ma bất kiến tội cử, bất sám hối tội cử, ác kiến bất xả cử, mỗi tội cử năm vế cũng như vậy.

* Trang 1664 *
device

6. Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo khi hành pháp phú tàng, trung gian phạm tội, biết số ngày mà che giấu. Vị kia tự nghĩ rằng: "Ta nên như thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu khi hành phú tàng, trung gian lại phạm tội, biết số ngày mà che giấu. Tăng nên tùy theo trung gian phạm tội mà trao cho yết- ma phú tàng. Cho yết-ma phú tàng rồi trao cho bản nhật trị. Hành bản nhật trị của phú tàng rồi, trao cho ma-na-đỏa. Trao cho ma-na-đỏa rồi, nên xuất tội cho người đó."
Không biết số ngày che giấu cũng như vậy. Biết số ngày che giấu, không biết số ngày che giấu cũng như vậy. Hành phú tàng rồi, cũng như vậy.
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo đang hành ma-na-đỏa, trung gian phạm tội, biết số ngày, không che giấu. Vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo trong khi hành ma-na-đỏa, trung gian lại phạm chồng, biết số ngày, không che giấu. Tăng nên trao cho pháp ma-na-đỏa. Trao ma-na-đỏa rồi, nên trao cho pháp bản nhật trị của ma-na-đỏa. Hành bản nhật trị ma-na-đỏa rồi, nên trao cho yết-ma xuất tội."
Không biết số ngày, không che giấu; cũng như vậy. Biết số ngày, không biết số ngày, không che giấu; cũng như vậy. Hành ma-na-đỏa rồi, biết số ngày, không che giấu; cũng như vậy. Biết số ngày, không biết số ngày, không che giấu; cũng như vậy.
7. Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, che giấu, không che giấu, che giấu hoàn toàn, không che giấu hoàn toàn, một tội danh, nhiều chủng loại, tự tánh, phi tự tánh; chỗ trú khác nhau. Vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao yết-ma phú tàng cho tỳ-kheo kia tùy theo ngày che giấu."
Nên trao như vầy: tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm

* Trang 1665 *
device

đất, chấp tay thưa rằng:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, che giấu, không che giấu, che giấu hoàn toàn, không che giấu hoàn toàn, một tội danh, nhiều chủng loại, tự tánh, phi tự tánh; chỗ trú khác nhau. Tùy theo ngày che giấu, đến bên Chúng Tăng xin yết-ma phú tàng. Cúi xin Tăng cho tôi [901b] yết- ma phú tàng tùy theo ngày che giấu Từ mẫn cố!"
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo này tên... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, che giấu, không che giấu, che giấu hoàn toàn, không che giấu hoàn toàn, một tội danh, nhiều chủng loại, tự tánh, phi tự tánh; chỗ trú khác nhau. Vị kia tùy theo ngày che giấu, đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo kia tên... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Vị kia tùy theo ngày che giấu, đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Nay Tăng cho tỳ-kheo tên... yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Các Trưởng lão nào chấpthuận Tăng trao cho tỳ-kheo... kia yết-ma tùy phú tàng theo ngày che giấu thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Vị kia đang hành pháp phú tàng, trung gian lại tái phạm tội, biết số ngày che giấu, vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép

* Trang 1666 *
device

Tăng trao cho tỳ-kheo kia bạch tứ yết-ma bản nhật trị đối với trung gian phú tàng của tội trước."
Nên trao như vầy: tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tôi tùy theo số ngày che giấu đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng; Tăng đã cho tôi yết-ma phú tàng. Tôi tỳ-kheo... khi hành pháp phú tàng phạm tội trở lại, biết số ngày che giấu, đến bên Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Cúi xin Tăng trao cho tôi yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Từ mẫn cố."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo này tên là... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo này đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Tỳ-kheo này khi hành pháp phú tàng, trung gian phạm [901c] tội, lại biết số ngày che giấu, nay đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho tỳ-kheo này yết-ma tội phạm trước, trung gian tái phạm phú
tàng bản nhật trị. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo này tên là... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo này tùy theo ngày che giấu đã đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng, Tăng đã trao cho tỳ-kheo này yết-ma tùy theo ngày che giấu. Tỳ-kheo này khi hành

* Trang 1667 *
device

pháp phú tàng, trung gian lại tái phạm biết số ngày che giấu, nay đến Tăng xin yết bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo này yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo tên... yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã đồng ý trao cho tỳ-kheo tên là... yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Tỳ-kheo hành pháp phú tàng, trung gian lần thứ hai tái phạm, cũng như vậy. Tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi bạch Phật. Đức Phật dạy: "Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo này sáu đêm ma-na-đỏa bằng bạch tứ yết-ma."
Nên trao cho như vầy: tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tùy theo ngày che giấu, đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Tăng đã cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Khi tôi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu, đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tôi yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nhưng khi tôi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che

* Trang 1668 *
device

giấu, đến bên Tăng xin yết bản nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tôi yết-ma bản nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tôi tỳ-kheo tên là... đã hành pháp phú tàng rồi, nay đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, từ mẫn cố."
[902a1] Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo này tùy theo ngày che giấu, đã đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng đã cho tỳ-kheo này yết-ma phú tàng. Tỳ-kheo này khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo này yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nhưng tỳ-kheo này khi hành pháp phú tàng lại trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che giấu, đã đến bên Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước.Tăng đã trao cho tỳ-kheo này yết-ma bản nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi, nay đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa. Đây là lời tác bạch.
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tùy theo ngày che giấu, đến bên Tăng xin yết- ma phú tàng. Tăng đã cho tỳ-kheo này yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Khi tỳ-kheo này hành pháp phú tàng,

* Trang 1669 *
device

trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nhưng tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi, nay đến xin sáu
đêm ma-na-đỏa. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa, các trưởng lão nào chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất."
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
"Tăng đã đồng ý trao cho tỳ-kheo.... sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Bấy giờ, tỳ-kheo kia hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. [902b] Đức Phật dạy: "Tăng nên trao cho tỳ-kheokia pháp xuất tội bằng bạch tứ yết-ma, như trên. Nên xuất tội như vầy."
Khi Chúng Tăng xuất tội cho tỳ-kheo kia mà không như pháp, đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Hãy lắng nghe kỹ: Nếu tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu, Tăng trao cho yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Vị kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu. Vị kia đến bên Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nhưng tỳ-kheo kia khi hành pháp phú

* Trang 1670 *
device

tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tỳ-kheo kia tưởng là đúng, hành pháp phú tàng rồi đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa phi pháp. Tỳ-kheo kia tưởng là đúng, hành ma-na-đỏa xong, đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng cho tỳ-kheo kia xuất tội phi pháp, Ta nói tỳ-kheo này không thanh tịnh, tội không khỏi.
"Trường hợp có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia tùy theo ngày che giấu đã đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ- kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng trung gian trùng phạm. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của phú tàng trung gian trùng phạm. Nhưng tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia
yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước như pháp. Nhưng tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng trao cho tỳ- kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa không như pháp. Tỳ-kheo kia tưởng là như pháp, hành ma-na-đỏa rồi, đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng trao cho tỳ-kheo kia xuất tội phi pháp. Ta nói tỳ-kheo kia không thanh tịnh, tội không [902c] khỏi.
"Trường hợp có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia tùy theo ngày che giấu đã đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu, đã

* Trang 1671 *
device

đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng trung gian trùng phạm. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của phú tàng trung gian trùng phạm. Nhưng tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước như pháp. Tỳ-kheo kia hành phú tàng xong, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa như pháp. Tỳ-kheo kia hành ma-na-đỏa rồi, đến tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng trao cho tỳ-kheo kia xuất tội phi pháp. Ta nói người này không thanh tịnh, tội không khỏi."
Trong đây, biết số ngày, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số che giấu, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số ngày, che giấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số ngày, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số ngày, che giấu, không che giấu; ba bế cũng như vậy. Biết số ngày, không biết số ngày, che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số ngày, không biết số ngày, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số ngày, không biết số ngày, che giấu, không che giấu, ba vế; cũng như vậy.
"Trong đây, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia tùy theo ngày che giấu đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng, Tăng đã trao cho tỳ-kheo
kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che giấu. Tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che giấu, đã đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo này yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm. Nhưng tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che giấu, đến Tăng xin yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai. Tăng trao cho tỳ-kheo kia [903a1] yết-ma bản nhật trị của phú tàng đối với trung

* Trang 1672 *
device

gian trùng phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tỳ-kheo kia hành phú tàng xong, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa như pháp. Tỳ-kheo kia hành ma- na-đỏa rồi, đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia xuất tội như pháp. Ta nói tỳ-kheo này thanh tịnh không phạm, tội được khỏi."
Biết số, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số, che giấu, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số, che giấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số, che giấu, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số, không biết số, che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số, không biết số, không che giấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số, không biết số, che giấu, không che giấu, ba vế cũng như vậy.
8. Lúc bấy giờ, trú xứ nọ có hai tỳ-kheo phạm tội tăng tàn. Tỳ-kheo kia trong ngày rời khỏi trú xứ và nói: "Nếu gặp được tỳ-kheo thanh tịnh tôi sẽ sám hối." tỳ-kheo thứ nhất khi bắt đầu đi, lại che giấu. Tỳ-kheo thứ hai khi gặp tỳ-kheo khác bèn che giấu. Như vậy cả hai đều che giấu. Vị thứ nhất nhớ tội. Vị thứ hai không nhớ tội. Vị kia nhớ mà che giấu là phú tàng. Vị không nhớ, chẳng phải phú tàng. Vị thứ nhất nghi, vị thứ hai không nghi. Vị nghi mà che giấu tức là không phú tàng. Vị không nghi mà che giấu tức là phú tàng. Vị thứ nhất biết, vị thứ hai không biết. Vị biết mà che giấu tức là phú tàng. Vị không biết mà che giấu tức là không phú tàng.
9. Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, mà bảo là phạm ba-la-di che giấu. Vị kia nghĩ rằng: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
"Nếu tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà bảo là ba-la-di che giấu, nên trao cho pháp sám đột-kiết-la, sau đó trao cho ma-na-đỏa."
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, mà bảo là phạm ba-dật-đề, ba-la-đề đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết che giấu, vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà gọi là ba-dật-đề cho đến ác thuyết che giấu, dạy họ tác pháp

* Trang 1673 *
device


sám hối đột-kiết-la rồi trao cho ma-na-đỏa." Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề [903b] mà bảo là ba-la-di che giấu. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm ba-dật-đề mà bảo là ba-la- di che giấu, nên dạy họ sám đột-kiết-la rồi sau như pháp sám."
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề mà bảo là phạm tăng tàn, cho đến ác thuyết che giấu. Đức Phật dạy:
"Nên dạy họ sám đột-kiết-la rồi sau như pháp sám. ba-dật-đề, ba- la-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết cũng như vậy."
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, nếu tác ý tăng tàn phú tàng, thì nên dạy họ sám đột-kiết-la, sám rồi trao cho phú tàng. Phạm ba-dật-đề cho đến ác thuyết cũng như vậy.
10. Bấy giờ, nơi trú xứ nọ có tỳ-kheo phạm nhiều tội tăng tàn. Tỳ-kheo kia không nhớ số tội phạm, không nhớ số ngày. Vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, không nhớ số tội phạm, không nhớ số ngày, thì nên kể từ lúc thanh tịnh về sau là phú tàng. Nếu nhớ số tội phạm mà không nhớ ngày cũng nên kể từ lúc thanh tịnh về saulà phú tàng. Nếu nhớ số ngày mà không nhớ tội phạm nên tính theo ngày mà trao cho tội phú tàng.
"Nghi, không nghi; cũng như vậy. Biết, không biết; cũng như vậy." Tỳ-kheo kia hoặc nhớ số lượng một tội, hoặc không nhớ số lượng một tội, hoặc nhớ số ngày một tội, hoặc không nhớ số ngày một tội, nên kể từ ngày thanh tịnh về sau là che giấu. Nếu nhớ số lượng phạm hoặc nhớ số ngày phạm một tội, không nhớ số ngày phạm một tội, nên kể từ thanh tịnh về sau là che giấu. Nếu nhớ số ngày hoặc nhớ số tội phạm, hoặc không nhớ số tội phạm, nên tính ngày trao cho tội che giấu. Nghi, không nghi; cũng như vậy. Biết, không biết; cũng như vậy."
11. Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số lượng, không che giấu. Vị kia đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng trao cho vị kia sáu đêm ma-na-đỏa. Liền trong ngày ấy tái phạm, biết số lượng che giấu, vị kia nghĩ như vầy: "Ta nên làm thế nào?" Rồi bạch các tỳ-


* Trang 1674 *
device

kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: "Nếu tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số lượng, không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng trao cho sáu đêm ma-na-đỏa. Liền trong ngày ấy tái phạm, biết số lượng che giấu, Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia ma-na-đỏa và nói: 'Này tỳ-kheo, thầy nên hành lại pháp ma-na-đỏa.' Nếu hành pháp ma-na-đỏa một đêm, cho đến sáu đêm, trong thời gian ấy tái phạm, biết số lượng che giấu, Tăng [903c] nên trao cho tỳ-kheo này ma-na-đỏa. Trao cho ma-na-đỏa rồi, nên trao cho bản nhật trị của ma-na-đỏa. Hành bản nhật trị ma-na-đỏa rồi, nên cho pháp xuất tội."
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số lượng không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng trao cho vị kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia liền trong ngày ấy, trung gian tái phạm, không biết số lượng che giấu. Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa và nói: "Này tỳ-kheo, thầy nên hành ma-na-đỏa lại." Nếu hành một đêm, cho đến sáu đêm, trong thời gian ấy tái phạm, không biết số lượng che giấu. Tăng nên trao cho tỳ-kheo kiama-na-đỏa. Trao cho họ ma-na-đỏa rồi, nên trao cho ma-na-đỏa bản nhật trị, trao cho ma-na-đỏa bản nhật trị rồi, nên trao cho pháp xuất tội. Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng trao cho vị kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia liền trong ngày ấy tái phạm, biết số lượng, không biết số lượng che giấu. Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa và nói: "Này tỳ-kheo, thầy nên hành ma-na-đỏa lại." Nếu hành một đêm, cho đến sáu đêm, trong thời gian ấy tái phạm, biết số lượng, không biết số lượng, che giấu. Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Vị kia hành ma-na-đỏa rồi, nên trao cho bản nhật trị ma-na-đỏa, trao cho bản nhật trị ma-na-đỏa rồi, nên trao cho pháp xuất tội.
Không biết số lượng, không che giấu; cũng như vậy. Biết số lượng, không biết số lượng, không che giấu; cũng như vậy. (1)
_______________________
(1) Bản Hán, hết quyển 45.

* Trang 1675 *
device

* Trang 1676 *
device

 
Luật Tứ Phần ( Tập 1~4)