LOGO VNBET
 Tất cả những điều nói trên có lẽ đều là những nghi vấn rất đáng nêu lên để các nhà sử học tiếp tục quan tâm làm rõ.
 Nhưng chúng ta hãy tạm gác lại nghi vấn này để chờ đợi may ra sẽ có thêm những chứng cứ, những tư liệu mới có thể giúp giải quyết được vấn đề. Bây giờ, quay sang với bài tựa của Đàn Kinh, chúng ta sẽ tìm hiểu xem người xưa đã xây dựng những huyền thoại gì quanh sự ra đời của Lục Tổ Đại sư trên đất nước Việt Nam.
Huyền thoại về Lục Tổ Đại sư
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, (1) ngày mùng tám tháng hai, (2)năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. (3) Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà.
__________________
(1) Giờ tý là vào giữa khuya, từ 12 giờ khuya cho đến 2 giờ sáng.
(2) Ngày mùng 8 tháng 2 là ngày vía Phật Thích-ca xuất gia, một trong các ngày lễ lớn của Phật giáo.
(3) Tức là năm 638, đời Đường Thái Tông.

* Trang 27 *
device

 Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
 Cha ngài hỏi: “Vì sao đặt tên là Huệ Năng?” Hai vị tăng đáp: “Huệ, nghĩa là đem Pháp mà bố thí cho chúng sanh; Năng, nghĩa là đủ sức làm nên Phật sự.”
 Hai người nói rồi ra đi, chẳng biết đi đâu!
 Ngài không dùng sữa mẹ, đêm đêm có thần nhân hiện đến nuôi bằng nước cam-lộ.
 Khi lớn lên, năm 24 tuổi ngài nghe kinh Kim Cang chợt có chỗ bừng sáng, mới đến núi Hoàng Mai (1) cầu đạo, được Ngũ Tổ nhận cho là được. Ngũ Tổ nhận biết ngài là bậc pháp khí, liền trao y bát và truyền pháp, nối làm Tổ đời thứ sáu. Lúc ấy là năm đầu niên hiệu Long Sóc. (2)
_______________
(1) Núi này ở phía tây bắc huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc ngày nay, là nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng pháp.
(2) Tức là năm 661, Tân Dậu, đời vua Đường Cao Tông.

* Trang 28 *
device

 Ngài theo lời dạy của Ngũ Tổ mà đi về phương Nam ẩn náu trong 16 năm, mang hình tướng của người thế tục. Qua năm đầu niên hiệu Nghi Phụng, (1) nhằm ngày mùng tám tháng giêng, Ngài gặp pháp sư Ấn Tông cùng luận bàn những ý nghĩa cao siêu huyền diệu. Pháp sư Ấn Tông nghe qua tỉnh ngộ, hiểu được nghĩa lý trong lời dạy của ngài, liền bái phục. Bảy ngày sau, tức ngày rằm tháng giêng, pháp sư Ấn Tông nhóm họp bốn chúng, (2) làm lễ xuống tóc cho ngài. (3)
 Ngày mùng tám tháng hai, Pháp sư lại nhóm họp các vị danh đức, làm lễ truyền giới cụ túc. (4) Các vị truyền giới có ngài Trí Quang Luật sư ở Tây Kinh (Trường An) làm Thọ giới sư, ngài Huệ
______________
(1) Tức là năm 676, Bính Tý, cũng đời vua Cao Tông nhưng sửa đổi niên hiệu.
(2) Bốn chúng gồm: Xuất gia hai chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo ni; tại gia hai chúng: cư sĩ nam, cư sĩ nữ.
(3) Lục Tổ tuy được truyền y bát làm Tổ thứ sáu nhưng chưa từng xuất gia, thọ giới cụ túc. Phải đến nay mới chính thức làm một vị tăng. Đây cũng là một trong những điểm chưa từng thấy trong lịch sử truyền thừa của chư Tổ.
(4) Là 250 giới của vị tỳ-kheo.

* Trang 29 *
device

Tĩnh Luật sư ở Tô Châu làm Yết-ma, ngài Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu làm Giáo Thọ, ngài Kỳ-đa-la Luật sư ở Trung Thiên Trúc (1) làm Thuyết Giới, ngài Mật-đa Tam Tạng ở nước Tây Trúc (2) làm Chứng Giới.
 Giới đàn này là do ngài Cầu-na Bạt-đà-la Tam Tạng hồi triều Lưu Tống (3) sáng lập, có dựng bia đề rằng: “Sau này sẽ có vị Bồ Tát hiện thân người phàm (4) mà thọ giới nơi đây”.
 Lại nữa, năm đầu niên hiệu Thiên Giám nhà Lương,(5) Trí Dược pháp sư từ nước Tây Trúc vượt biển sang đây, mang theo một cây Bồ-đề bên xứ ấy mà trồng kế bên đàn này, cũng có nói rằng: “Về sau, khoảng 170 năm nữa, (6) sẽ có vị Bồ Tát hiện thân người phàm mà khai diễn pháp
_________________
(1) Trung Thiên Trúc tức là miền Trung Ấn Độ.
(2) Tây Trúc cũng là một tên gọi khác của Ấn Độ.
(3) Tức vua Tống Lưu Dụ (420-478)
(4) Nguyên văn là “nhục thân Bồ Tát”
(5) Tức là năm 502, đời vua Lương Võ Đế.
(6) Khoảng thời gian tiên đoán này là từ năm 502, ứng đến năm 676 quả đúng như thật.

* Trang 30 *
device

Thượng thừa (1) dưới cội cây này, độ cho vô số chúng sanh, là vị Pháp chủ chân truyền tâm ấn của Phật vậy.”
 Trong pháp hội này, Ngài chính thức cạo bỏ râu tóc, thọ giới tỳ-kheo, và vì bốn chúng mà khai thị pháp Đại thừa Đốn giáo, mọi việc đều đúng như những lời dự báo từ trước
 Mùa xuân năm sau, Ngài từ giã bốn chúng mà về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê. Ấn Tông pháp sư và cả hai giới tăng tục theo tiễn chân có tới trên ngàn người, thẳng đến tận Tào Khê.
 Khi ấy, Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu với vài trăm người tu học cùng về nương theo ngài.
 Ngài đến chùa Bảo Lâm, Tào Khê, thấy nhà cửa thấp hẹp, chẳng đủ cho bốn chúng ăn ở. Muốn mở rộng ra, Ngài liền đến gặp một người trong làng là Trần Á Tiên mà nói rằng: “Lão tăng muốn đến thí chủ, cầu xin một chỗ đất để trải cái tọa cụ, không biết có được chăng?”
________________
(1) Pháp Thượng thừa, tức là pháp Đại Thừa. Ở đây chỉ cho pháp môn Đốn ngộ mà Lục Tổ về sau xiển dương.

* Trang 31 *
device

 Á Tiên hỏi: “Tọa cụ (1) của Hòa thượng rộng chừng nào?” Tổ Sư đưa tọa cụ ra cho xem. Á Tiên đồng ý.
 Tổ Sư lấy tọa cụ giũ ra một cái, tỏa rộng phủ hết cả vùng Tào Khê, có bốn vị Thiên vương hiện thân ngồi nơi bốn góc. Ngày nay, ở cảnh chùa ấy có núi Thiên Vương, là nhân chuyện này mà đặt tên.
 Á Tiên nhìn thấy liền nói: “Nay tôi được biết pháp lực của Hòa thượng thật là rộng lớn; có điều, mồ mả tổ tiên nhà tôi từ trước đến nay đều ở tại đất này. Nếu về sau có cất chùa dựng tháp, xin đừng hủy hoại, còn ngoài ra xin cúng dường cả để mãi mãi dùng làm ngôi Tam Bảo. Nhưng đất này là mạch đến của sanh long, bạch tượng, (2) chỉ có thể làm bằng bên trên, chứ không nên làm bằng phía dưới.” (3)
______________
(1) Tấm vải nhỏ may lại dùng để ngồi thiền, các thiền sư đi đâu cũng mang theo.
(2) Chỉ địa thế núi Nam Hoa, cánh phía nam huyện Khúc Giang 60 dặm, chạy dài đến Tào Khê.
(3) Nguyên văn là chỉ nên “bình thiên”, không nên “bình địa”.

* Trang 32 *
device

Theo lời Á Tiên, mọi sự kiến thiết, xây dựng về sau đều tuân thủ như vậy.
 Một hôm, Tổ Sư đi dạo chơi đến một chỗ cảnh vật tốt tươi, có suối nước, non cao, liền dừng nghỉ lại đó, bèn thành một nơi lan-nhã. (1) Có cả thảy 13 cảnh như vậy, ngày nay gọi là Hoa Quả Viện. Còn tên gọi đạo tràng Bảo Lâm là do ngài Trí Dược Tam Tạng ở nước Tây Trúc đặt. Khi ngài từ Nam Hải qua cửa Tào Khê, lấy tay vốc nước uống thấy thơm và ngon, lấy làm lạ mà bảo môn đồ rằng: “Nước này với nước bên Tây Thiên (2) không khác gì. Trên nguồn suối này ắt có thắng địa, cất chùa lên rất tốt.” Liền lần theo dòng suối mà đi lên nguồn, thấy bốn bề non nước quanh co,
______________
Nghĩa là cất nhà lựa theo thế núi: nếu cất ở chỗ cao thì làm thấp xuống, cất ở chỗ thấp thì làm cao lên, khiến cho phần nóc bằng nhau ở phía trên, chứ không xẻ núi đánh đá cho bằng nhau ở phía dưới nền đất được, vì sợ động đến long mạch của núi.
(1) Lan-nhã, phiên âm tiếng Phạn, viết trọn chữ là A-la-nhã (Àrinya), cũng viết: Lan thất, tức là nơi yên vắng, thanh tịnh, chỉ cảnh chùa chiền nói chung.
(2) Tây thiên, cũng là tên khác chỉ Ấn Độ.

* Trang 33 *
device

đèo động tốt lạ, khen rằng: “Thật không khác gì núi Bảo Lâm bên Tây Thiên!” Liền nói với cư dân thôn Tào Hầu rằng: “Nơi đây nên cất một ngôi chùa. Sau này chừng một trăm bảy mươi năm nữa, sẽ có pháp bảo vô thượng được diễn giảng ở đây, kẻ đắc đạo nhiều vô kể, nên đặt hiệu là Bảo Lâm.” (1)
 Quan Mục Thiều Châu thuở ấy là Hầu Kính Trung đem lời đó soạn tờ biểu tâu lên triều đình. Nhà vua chuẩn lời xin, ban cho tấm biển đề là Bảo Lâm Tự. Bởi đó mà thành một ngôi chùa. Việc ấy bắt đầu từ năm thứ 3 niên hiệu Thiên Giám.(2)
 Trước chùa có hồ lớn, thường có một con rồng nổi lên, thân hình to lớn quấn quanh, làm hại cây cối trong rừng. Một ngày kia, nó hiện hình rất lớn, quẫy đạp sóng dậy tràn lên, mây mưa mù mịt, khiến tăng chúng đều sợ hãi.
 Tổ Sư ra nạt con rồng rằng: “Ngươi chỉ hiện được hình lớn, chẳng hiện được hình nhỏ. Nếu là
_______________
(1) Bảo Lâm: khu rừng quý, ý nói người đắc đạo sẽ nhiều như cây trong rừng cây.
(2) Tức là năm 504, đời vua Lương Võ Đế.

* Trang 34 *
device

 
Lục Tổ Đại Sư Con Người & Huyền Thoại