LOGO VNBET
     3. Chúng tán trợ : Còn gọi là chúng ảnh hưởng. Đây là những người đã ngộ, đã hiểu được giáo lý đó rồi, như các vị Bồ-tát chẳng hạn. Bài pháp đó họ đã nghe, đã tu, nhưng họ vẫn ngồi nghe để tán thán, trợ giúp cho buổi thuyết pháp và trợ giúp cho người nghe pháp.
     4. Chúng kết duyên : Chúng này không nghe được nhiều, vì họ chưa đủ trình độ để thu nhận. Nhưng trong khi ngồi nghe đó là một sự kết duyên, tạo công đức cho tương lai, gieo hạt giống cho tương lai, gặp Phật pháp sẽ mau chứng ngộ.
     Chúng hội làm những việc biểu lộ cả ba nghiệp : Cung kính cúng dường là thân nghiệp; tôn trọng là ý nghiệp; tán thán là khẩu nghiệp.
*
Đại thừa Vô lượng nghĩa
     Phật vì hàng Bồ-tát thuyết kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát được các đức Phật hộ niệm.
     Trong khi đại chúng vây quanh, đức Phật vì hàng Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa, là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát được chư Phật hộ niệm.
     Như trên đã nói, Phật vì hàng Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa. Tại sao Phật không nói vì các hạng người khác? Vì đây là thời thuyết kinh Đại thừa. Mặc dầu là chúng hội nhưng trình độ hiểu biết khác nhau nên Phật chỉ nói 

* Trang 107 *
device

cho hàng đương cơ. Kinh Đại thừa đó tên là “Vô lượng nghĩa”. Kinh này cũng là tên khác của  Pháp Hoa.
     Sao gọi là vô lượng nghĩa? Vì thoát ly nhất thiết nghĩa, siêu nhất thiết nghĩa, siêu nhất thiết tướng nên gọi là vô lượng nghĩa. Ví dụ : Đây là thỏi son. Nếu ai nói đó là cái bánh thì chúng ta không chấp nhận, vì khi nói thỏi son thì nó chỉ là một tướng, một nghĩa mà thôi. Nhưng nếu chúng ta hỏi thỏi son này vốn là gì, như vậy là ta muốn biết cái nghĩa gốc của nó. Nó vốn là các hợp chất cộng lại, nhưng rõ nhất vẫn là hóa tổng hợp. Và đã là hóa tổng hợp thì bản thân nó lại có rất nhiều tướng và rất nhiều nghĩa. Vì sao ? Vì hóa tổng hợp có thể làm ra rất nhiều vật thể khác nhau, như vậy là nó có rất nhiều tướng. Nhưng tướng ấy lại còn tùy thuộc vào căn cơ, trình độ nhận thức của mọi người mà có nhiều biến tướng nữa chứ không phải chỉ những tướng ấy mà thôi. Có vô lượng tướng tức là có vô lượng tính cách nên có vô lượng nghĩa. Đi vào thực tính của các pháp là vô tướng, mà vô tướng thời có vô lượng nghĩa. Kinh này nói về thực tính vô tướng nên gọi là Vô lượng nghĩa.
     Đức Phật đã ngộ được thực tánh, thực tướng vô lượng nghĩa này, nên Ngài đã tùy theo căn cơ của vô lượng chúng sinh mà nói ra vô lượng pháp : Người đa tham, Ngài nói nhiều về hạnh bố thí; người đa dục, Ngài nói quán bất tịnh; đa sân thì nói quán từ bi... Chúng sinh có vô lượng tướng, vô lượng tính cách thời Phật có vô lượng pháp, vô lượng nghĩa. Vì vậy mà có kinh Vô lượng nghĩa.

* Trang 108 *
device

     Vô lượng nghĩa là không thể suy lường được; không thể đem ý thức phân biệt để suy lường nghĩa, nên gọi là vô lượng nghĩa. Phải bằng cái trí chơn thật, trí Bát-nhã mới ngộ nhập được cái lý đó mà thôi, chứ không thể đem cái ý thức nhị biên mà so tính, suy lường ý nghĩa được.
     Đức Phật đã ngộ được thật tướng vô lượng nên Ngài thuyết 84000 pháp môn đối trị 84000 trần lao phiền não.
     Vô lượng nghĩa ở đây cũng có nghĩa:
     1. Chỉ về thật tướng vô tướng. Vì thật tướng vô tướng cho nên nó thành nhất thiết tướng, mà nhất thiết tướng tức là nhất thiết nghĩa. Mỗi tướng như vậy là mỗi tánh cách của các pháp. Chữ nghĩa là tánh cách. Tôi lấy một ví dụ khác. Ví dụ nói cái này là viên phấn, ai cũng nói và ai cũng công nhận nó là viên phấn. Nhưng ta thử hỏi: Viên phấn vốn là cái gì ? Vốn là… ! Vốn là của nó. Khi nói vốn là viên phấn thì lại có một ý nghĩa khác, viên phấn trở thành mong manh, trở thành một tướng giả tạm, chứ không phải nó vốn là, có ai nói viên phấn này vốn là viên phấn ? Cho nên khi muốn nói viên phấn ấy vốn là, là ta muốn tìm hiểu thật tướng của viên phấn là gì ? Khi nói viên phấn vốn là tức sẽ nói viên phấn vốn là đất. Ta tạm dừng lại và tạm chấp nhận đất vốn là của viên phấn. Hay nói cách khác, đất là thật tướng của viên phấn mà đất là thật tướng của viên phấn thì đất không phải chỉ làm ra viên phấn thôi, mà đất có thể làm ra cái chén, cái lu, cái tách, cái nồi... đất có thể làm đủ thứ, đủ vạn nghĩa, đủ vạn tướng. Vậy thì thật tướng đất đó không phải là tướng phấn mà 

* Trang 109 *
device

thành tướng phấn, không phải là tướng nồi mà thành tướng nồi... Như vậy nó vốn vô tướng mà thành vô lượng tướng (nhưng nên nhớ khi ta nói đất là thật tướng, đó là đứng trên mặt hiện tượng ta dừng lại và chấp nhận như vậy chứ thật tướng còn đi xa hơn nữa. Nếu hỏi đất vốn là gì ? Như vậy là đặt thêm một vấn đề nữa, đó là vấn đề khác, ở đây ta tạm ngừng lại đó và tạm chấp nhận để hiểu) mà thành nhất thiết tướng. Vô lượng tướng tức vô lượng nghĩa. Nói cái chén là một nghĩa, nói cái bình, cái nồi... là một nghĩa... và trở thành vô lượng nghĩa.
     2. Đức Phật đã ngộ nhập được thật tướng của vạn pháp là vô tướng cho nên Ngài tùy theo vô lượng căn cơ của chúng sanh mà thuyết giáo, thành ra giáo pháp của Phật cũng là vô lượng nghĩa. Chúng sanh vô lượng, có tâm tư vô lượng, dục lạc vô lượng, Phật tùy theo vô lượng tâm tư thuyết vô lượng pháp, pháp đó gọi là vô lượng.
     3. Vô lượng nghĩa lại cũng có nghĩa là không thể đo lường được, đó là cái ý thức phân biệt không thể đo lường được nên gọi là vô lượng nghĩa. Với thật tướng vô tướng như vậy mà ta đem cái ý thức phân biệt, bảo nó là như thế này, là như thế kia... Tất cả những tướng đó chang qua là tướng giả tướng do ý thức phân biệt mà ra thôi. Cho nên nếu đem ý thức mà bảo, đem ý thức mà phân biệt nọ, kia, thì không bao giờ phân biệt được, không bao giờ trắc lường được nên gọi là vô lượng.
     Mới bắt đầu vào kinh, Phật thuyết kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa. Có ý rằng những pháp mà Phật dạy trong 

* Trang 110 *
device

những thời trước, nhất là dạy cho hàng Nhị thừa là những pháp còn có thể lường, còn có thể đem ý thức mà phân biệt. Trong hội Pháp Hoa Phật nói pháp không thể bằng vào ý thức phân biệt trắc lường tới được mà chỉ bằng vào chân thật trí mới có thể ngộ nhập được.
     Pháp nói cho hàng Nhị thừa không khác nào như khi nói cần uống nước thì liền đưa cho chén nước, không cần hỏi chén nước vốn là gì. Vì trước đó đối với hàng Nhị thừa cần thoát ly sanh tử, đức Phật nói pháp để diệt khổ, không cần hỏi thật tướng làm gì, cũng như cần chén nước đưa chén nước uống không cần hỏi vốn nó là gì. Bây giờ trong hội Pháp Hoa, mới nói vốn nó là gì để đi vào thật tướng của những lời pháp mà đức Phật nói từ trước nên gọi là Vô lượng nghĩa. Pháp đó là pháp giáo hóa cho hàng Bồ-tát, chứ hàng Nhị thừa đem thức tâm phân biệt thì không thể phân biệt được và pháp đó đã là pháp cao siêu tuyệt đối, cho nên luôn luôn được chư Phật hộ niệm.
     Phật nói kinh này rồi ngồi kiết già, nhập vào định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động.
     Ở đây, chúng ta cần phải hiểu một số từ như:
     Tam-muội (định) có nghĩa là định vô lượng nghĩa xứ. Đây là định cực tướng tức là nhập vào định ly nhất thiết tướng thân và tâm bất động. Đức Phật nhập định để thuyết pháp. Thuyết pháp để nhập định. Định và Tuệ luôn luôn song hành. Có định mới có tuệ, có tuệ mới có định, định tuệ phải viên mãn.

* Trang 111 *
device

     Chữ Tam-muội có nghĩa là định, cái định vô lượng nghĩa xứ. Định này là định thật tướng. Chư pháp thật ướng, tức là nhập vào cái định duy nhất thiết tướng chư pháp thật tướng.
     Thiền định có ba giai đoạn: nhập định, trú định và xuất định.
     Nhập định là trú tâm vào một chỗ. An trú trong định ấy là trú định, một thời gian nào đó xả đi gọi là xuất định.
      Thân tâm bất động : Thân tâm bất động mới gọi là nhập định, là định thần. “Động tắc thuyết pháp độ sinh; tịnh tắc nhập định quán lý”. Động và tịnh của Phật đều ở trong tuệ cả. Định tuệ song hành. Có định mới có tuệ, có tuệ mới có định nên đức Phật thuyết pháp rồi, Ngài nhập định; xuất định rồi Ngài thuyết pháp. Bấy giờ, Ngài thuyết pháp xong, ngồi kiết già, nhập Vô lượng nghĩa xứ Tam-muội. Thuyết pháp là tuệ, nhập Vô lượng nghĩa xứ Tam-muội là định. Thuyết pháp là động: nhập định là tịnh.
     Đoạn này ý nói: Sau khi đức Phật nói kinh Vô lượng nghĩa rồi, Phật ngồi kiết già nhập vào định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động.
     1. Thuyết pháp rồi nhập định, có nghĩa là không có định thì không có tuệ, không có tuệ thì không có định. Thuyết pháp là tuệ, nhập định là định. Có tuệ mới có định, có định mới có tuệ, tịch chiếu song song mới thành được giáo pháp viên mãn.

* Trang 112 *
device

     2. Nhập định gọi là định Vô lượng nghĩa tức muốn hiểu kinh Vô lượng nghĩa thì phải ở trong định Vô lượng nghĩa mới hiểu được kinh, tức là phải ở trong định xa rời sự phân biệt trắc lường của ý thức, mới có thể hiểu được, ngộ được kinh vô lượng nghĩa.
     3. Để làm mô thức cho những người thuyết pháp (giáo), khi muốn thuyết pháp cho đúng thì luôn luôn tâm phải ở trong định. Nhập định đó có hai tác dụng :
     a. Tâm không rời pháp thật tướng.
     b. Quán căn cơ chúng sanh rồi mới thuyết pháp.
     Khi đức Phật nhập định thì cả thân và tâm không lay động. Ở trong định cả thân và tâm. Ngồi không phải là định mà phải cả thân và tâm không lay động mới là định.
     Khi Phật thuyết pháp thì:
     Lúc bấy giờ trời mưa hoa Mạn-đà-la, (hoa thích ý vừa lòng) hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa (hoa nhu nhuyến) hoa Ma-ha Mạn-thù-sa, mà rải trên Phật và đại chúng, khắp cả thế giới Phật đều có 6 cách rung động.
     Trước đức Phật nhập định, đến đây là trời mưa hoa. Sự nhập định của Phật, sự thuyết pháp của Phật, có sức rung động đến cả hàng chư thiên, có sức rung động đến quả đất. Bởi vì các pháp vô thượng vi diệu nên Phật nói ra làm rung động khắp cõi Ta-bà.
     Mạn-đà-la là hoa thích ý, vừa lòng. Còn hoa Mạn-thù-sa là hoa nhu nhuyến, mềm mại gọi là hoa trời. Ấn 

* Trang 113 *
device

Độ có tục rải hoa và đeo tràng hoa. Có lẽ phong tục đẹp này do ảnh hưởng từ trong kinh này ?
     Khắp các thế giới chư Phật, sáu cách rung động.
     Tức khắp các thế giới chư Phật có sáu cách rung động. Rung động này có hai hình thái : Về hình và về thanh.
     1. Rung động về hình có ba: Động : Hình tướng rung rinh; Dũng : Trồi lên, trụt xuống; khởi : Vọt hẳn lên.
     2. Rung động về thanh có ba: Chấn : rung lên; khấu: gầm lên; kích : tiếng đánh mạnh.
     Sáu cách rung động này cũng có một cách giải thích nữa là : nổi lên ở phía đông thì lặn qua phía tây, nổi lên ở phía nam thì lặn qua phía bắc, nổi lên ở bốn phía lặn vào trung ương, nổi lên ở trung ương lặn ra bốn phía, đủ sáu cách như vậy.
     Sáu cách rung động này mới nghe thì có vẻ huyễn hoặc, nhưng xét ra thì không có gì huyễn hoặc cả. Bởi vì, như ta ném một hạt sỏi vào mặt biển rộng lớn, mặt nước của đại dương có sự rung động, nhưng vì nhỏ quá nên mắt ta không thể thấy được. Một hạt sỏi nhỏ bé mà còn làm cho đại dương rung động, huống gì một cảnh tượng hy hữu xảy ra trên cuộc đời này, thì làm sao thế giới không rung động được ! Suy nghĩ cho cùng, thì sự rung động này cũng ở trong lý Duyên khởi mà thôi. Người xưa đã nói : “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn tán bang” (Một lời nói làm hưng thịnh xứ sở; một lời nói làm tan nát xứ sở). Một lời nói mà còn như thế, huống gì cảnh tượng hy

* Trang 114 *
device

hữu trên. Thành ra, sự rung động sáu cách trên đó chỉ là một hiện tượng tự nhiên trong cái lý trùng trùng Duyên khởi. Hiện tượng hy hữu lớn lao chừng nào thì sự rung động lớn lao chừng đó. 
     Trong kinh Đại Bát Niết-bàn (Trường Bộ III) có đoạn: Khi Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, lông tóc dựng ngược, sấm trời vang động. Khi ấy A-nan-da liền bạch Thế Tôn: Bạch đức Thế Tôn, tại sao có sự chấn động như vậy. Thế Tôn nói: Này A-nan-da, có 8 nguyên nhân khiến đại địa chấn động: 1. Đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì  quả đất rung động; 2. Khi có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có đại thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư thiên có đại thần thông, có đại uy lực, những vị này quán địa tánh có hạng, quán thủy tánh vô lượng, các vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chấn động mạnh; 3. Khi vị Bồ-tát ở cõi trời Đâu-suất từ bỏ thân, chánh niệm tỉnh giác nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh; 4. Khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác ra khỏi mẫu thai thì quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh; 5. Khi Như Lai chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác thì quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh; 6. Khi Như Lai chuyển bánh xe pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh; 7. Khi Như Lai chánh niệm tỉnh giác từ bỏ không duy trì mạng sống, thì quả đất 

* Trang 115 *
device

rung động, chuyển động, chấn động mạnh; 8. Khi Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn, thì quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
     Việc cõi đất sáu cách rung động... nếu không khéo suy nghĩ thì cơ hồ như là một chuyện hoang đường không thật. Nhưng phải chăng sự Thành Đạo của đức Phật đã không làm rung động đến ta ngày hôm nay đó sao ? Sự Thành Đạo của đức Phật dưới cội cây Bồ-đề đã rung động hơn hai ngàn năm trăm năm nay, mà không những chỉ rung động riêng xứ Ấn Độ huyền bí mà còn rung động cả nhân loại trên thế giới ! Một người thường khởi lên ác tâm hoặc câu nói độc còn có thể làm chuyển động cả hoàn cầu khiến bao nhiêu triệu người chết, ruộng đồng thành hoang địa, huống chi một vị đại Giác ngộ, đại Từ bi lại không thể làm quả đất rung động, lòng người rung động quay về đường giác, được an lạc ?
     Bấy giờ trong chúng hội, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni... được điều chưa từng có, hoan hỷ chấp tay nhất tâm ngưỡng xem Phật.
     Qua những sự hiện điềm lành đó, bây giờ bốn chúng thấy việc chưa từng có nên ai cũng vui mừng hớn hở chấp tay nhất tâm xem Phật. Chấp tay là nói về thân ; nhất tâm là nói về tâm. Chấp tay là để chứng tỏ thân hướng về nơi Phật chứ không đâu khác. Nhất tâm cũng là để chứng tỏ tâm hướng về Phật.
     Lúc bấy giờ Phật phóng hào quang từ tướng lông trắng ở giữa chân mày, chiếu về phương Đông, một vạn 

* Trang 116 *
device

tám ngàn thế giới đều khắp cả, dưới từ địa ngục A-tỳ, trên đến A-ca-ni-sắc thiên.
     Bấy giờ đức Phật phóng hào quang từ tướng lông trắng ở giữa chân mày và chiếu về phương Đông... Hào quang đức Phật chiếu từ tướng lông trắng ở giữa chân mày cũng để tiêu biểu ý nghĩa trung đạo thật tướng, cũng để tiêu biểu ý nghĩa rằng trong kinh Pháp Hoa, đức Phật cốt khai thị ngộ nhập tri kiến Phật. Tri kiến đó tức là trung đạo thật tướng, ly hết tướng nhị biên, cho nên ở giữa chân mày Phật phóng ra hào quang và chiếu về phương Đông. Vì sao lại chiếu về phương Đông ? Bởi phương Đông là gốc của các phương, phương Đông là gốc của ánh sáng, mặt trời mọc từ phương Đông. Như vậy, phương Đông đây cũng để tiêu biểu cho thật tướng. Thật tướng cũng là gốc của tất cả tướng. Phật phóng hào quang về phương Đông tức trí tuệ tri kiến Phật chiếu vào thật tướng.
     Tóm lại, đoạn trên đây ta thấy Phật thuyết pháp, nhập định, phóng hào quang, đó là ba hình thức thuyết pháp, ba hình thức giáo hóa bằng khẩu, bằng thân, bằng tâm.
     Thuyết pháp là khẩu nghiệp, nhập định là ý nghiệp, phóng quang là thân nghiệp. Ba phương pháp đó đều nhằm vào sự lợi lạc chúng sanh. Đó gọi là tam mật lợi ích. Để hiểu ý nghĩa biểu trưng trong kinh điển Đại thừa, ta hiểu xuyên qua câu nói của ngài Lâm Tế. Ngài Lâm Tế có lối truyền thiền đặc biệt, đó là lối bổng hát.

* Trang 117 *
device

     Bổng là cây sào và có nghĩa là đánh. Hát là hét. Nếu có ai đến vấn, ngài hỏi một câu là phải trả lời ngay không được do dự suy nghĩ. Nếu dụ dự suy nghĩ không đáp ngay là ngài hét rầm lên hoặc đánh cho một gậy.
      Để hiểu hào quang của Phật xuyên qua cách nói của ngài Lâm Tế. Trong tiếng Hát ngài Lâm Tế có nói :
     - Hữu thời nhất hát như Kim cang vương bảo kiếm.
     - Hữu thời nhất hát như cứ địa Kim mao sư tử.
     - Hữu thời nhất hát như thám cang ảnh thảo. (Thám cang ảnh thảo là phương thức bắt cá. Thám cang là bó lông chim đề hô (tức chim bồ hồng ở nước) vào đầu cây sào rồi cặm xuống nước, dò sâu cạn cho cá tụ lại rồi dùng lưới bắt. Ảnh thảo là trải cỏ trên mặt nước cho cá tụ lại núp bóng rồi dùng lưới bắt. Thiện tri thức dùng phương thức dò căn cơ để khai hóa học trò cũng giống như thế).
    - Hữu thời nhất hát bất tác nhất hát dụng.
    Nghĩa là :
     - Có lúc tiếng hét này như gươm báu của Kim cang vương.
     - Có lúc tiếng hét này như Sư tử lông vàng ngồi chổm.
     - Có lúc tiếng hét này như cây sào quơ trên ngọn cỏ.
     - Có lúc tiếng hét này không có tác dụng gì hết.
     Xuyên qua ý nghĩa tiếng hét của Lâm Tế mà ta hiểu hào quang của Phật. Cho nên nói hào quang không chỉ giới 

* Trang 118 *
device

hạn trong hào quang, cũng như tiếng hét không phải chỉ là tiếng hét mà là tiếng gươm báu của Kim cang vương, có nghĩa là tất cả bị nó phứt hết. Tất cả tâm niệm phân biệt, suy lường đều bị phứt hết. Hoặc tiếng hét đó như Sư tử lông vàng ngồi chổm, uy nghiêm vô cùng, thấy nó là khiếp đảm. Hoặc tiếng hét đó như cây sào quơ trên ngọn cỏ, đó là tiếng hét dò xem căn cơ người học đạo mà có khi tiếng hét không có tác dụng gì hết. Xuyên qua đó ta hiểu ý nghĩa hào quang của đức Phật. Hào quang của Phật phóng ra đó là tiêu biểu trung đạo thật tướng, tiêu biểu Phật tri kiến phát hiện mà đức Phật đã thành tựu.
      Để nói lên kiến tánh đó, trung đạo thật tướng đó chúng sanh đều có. Nhưng vì chúng sanh mê mờ không nhận biết được mà phải bằng vào lời dạy (Thánh giáo lượng) của Phật mà hiểu. Thánh giáo lượng tức cảnh giới ta không thể đạt được mà phải bằng vào cái lượng của Thánh giáo, lấy sự chỉ bày của Thánh giáo làm thước đo. Nhưng hiểu lời Phật dạy có ba:
     1. Bằng vào Thánh giáo lượng, đức Phật dạy như vậy, tin vào lời dạy về sự giác ngộ độ sanh của Phật.
     2. Phải giàu lòng tưởng tượng, so sánh, tỷ lượng.
     3. Nhưng cứu cánh nhất là phải hiểu được rằng pháp môn Phật nói ra nhằm gạt bỏ bao nhiêu nếp phân biệt suy tư cố hữu theo vọng tưởng của chúng sanh để đưa chúng sanh nhập vào cảnh giới viên dung vô ngại, như cảnh giới Phật đã chứng thành, tức là hiểu bằng hiện lượng thật chứng.

* Trang 119 *
device

     Trong khoảng thời gian này, Phật làm ba việc : Thuyết pháp, nhập định và phóng quang. Chúng hội vây quanh Phật thì cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán. Trời thì mưa hoa... 
     Phật thuyết pháp có hai lối :
     1. Mật thuyết : Thuyết không lời.
     2. Hiển thuyết : Dùng lời mà thuyết.
     Trong trường hợp này Phật nhập định cũng là thuyết pháp; phóng quang cũng là thuyết pháp. Như vậy, thuyết pháp cũng là nhập định, cũng là phóng quang. Thế nên, thân, miệng, ý của Phật đều phóng quang, nhập định, thuyết pháp cả. Phóng quang là thân nghiệp tự tại; nhập định là ý nghiệp tự tại; thuyết pháp là khẩu nghiệp tự tại. Thân, miệng, ý của Phật âm thầm làm việc để làm lợi cho chúng sinh, nên gọi là Tam mật lợi ích.
     Sự thuyết pháp này là do trong định mà phát ra. Pháp nói ra là do trí tuệ Bát-nhã mà phát xuất chứ không phải do vọng tâm phân biệt nói ra, nên nó có một sức mạnh. Điều này cũng dễ hiểu. Nếu ta nói một điều gì với một định tâm, thì câu nói ấy chính đáng và có sức mạnh; nếu không định tâm thì câu nói ấy không chính đáng và không có sức mạnh.
     Trong kinh Đại thừa, giữa Pháp hội của Phật, mật thuyết và hiển thuyết đan xen và bổ túc cho nhau. Vì đạo lý thâm thúy nên có khi Ngài thuyết bằng lời, có khi vì chúng hội đương cơ không thấu triệt nên Phật 

* Trang 120 *
device

dùng mật thuyết để bổ sung, làm cho thính chúng được khai ngộ.
     Như trước đã nói, có sáu điềm lành hiện ra trong cõi Ta-bà này trước khi đức Phật nói kinh Pháp Hoa.
     1. Phật thuyết pháp.
     2. Phật nhập định.
     3. Trời mưa hoa.
     4. Quả đất rung động.
     5. Chúng hoan hỷ.
     6. Phật phóng quang.
     Trước khi thuyết kinh Pháp Hoa, đức Phật phóng quang và các điềm lành như vậy là có 2 ý nghĩa: 1. Để Chúng hội chuẩn bị tinh thần : tập trung tư tưởng, phát tâm cung kính, gợi cho Chúng hội có sự thắc mắc, nghi vấn để Phật trả lời các nghi vấn ấy; 2. Không những ngày hôm nay, nơi cõi Ta-bà này, đức Phật Thích-ca thuyết kinh Pháp Hoa, mà ở mười phương các đức Phật cũng nói kinh Pháp Hoa.
     Trong trường hợp này, Phật dùng mật thuyết vì mật thuyết là lối thuyết pháp ẩn mật có ý nghĩa rất sâu sắc, chỉ những kẻ có căn tánh rất lanh lợi mới thấu hiểu được. Ở đây Ngài dùng lối ẩn mật mục đích để làm cho Chúng hội tập trung tư trưởng, phát tâm kính ngưỡng, mà nhất là để đánh thức sự nghi ngờ của Chúng hội. Nghi ngờ điều gì ? Nghi ngờ từ trước đến nay Phật nói đạo lý tam thừa, ai cũng nghĩ rằng, hễ tu theo pháp Tứ đế thì 

* Trang 121 *
device

được Niết-bàn, tu theo pháp 12 Nhân duyên thì ngộ Bích-chi Phật, tu Bồ-tát hạnh thì ngộ Phật; tu theo pháp nào thì có kết quả của pháp ấy, không thể xen lẫn được. Bây giờ Phật muốn nói hiển tam quy nhất thì Chúng hội cũng khó mà tin được, cho nên Phật phải đánh thức sự nghi ngờ đó, để khi Phật thuyết pháp Chúng hội có thể thu nhận được.
     Sáu điềm lành ấy hiện ra trong Chúng hội, báo trước Phật sẽ nói kinh Pháp Hoa.
     Ở tại thế giới này mà thấy khắp lục thú chúng sanh ở cõi nước đó. Lại thấy và nghe các đức Phật hiện tại ở các cõi đó thuyết pháp, thấy các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di, những người tu hành đắc đạo ở cõi nước kia. Lại thấy các hàng đại Bồ-tát hành đạo Bồ-tát, tùy từng nhân duyên, theo từng chỗ tín giải, theo từng tướng mạo của mỗi người. Lại thấy các đức Phật nhập Niết-bàn. Lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn rồi xây tháp bảy báu cúng dường Xá-lợi Phật.
     Ở đây, tôi xin cắt nghĩa một số từ:
     Ư thử thế giới tận kiến bỉ độ lục thú chúng sinh.
     Ư thử thế giới: là ở thế giới Ta-bà này, tại núi Kỳ-xà-quật, nơi Phật và chúng hội đang ngồi đây.
     Tận kiến bỉ độ : Tức ngàn vạn thế giới phương Đông mà Phật chiếu ánh sáng tới đó. Khi Phật chiếu ánh sáng như thế, người ngồi ở thế giới Ta-bà mà thấy rõ hết lục 

* Trang 122 *
device

thú chúng sinh nơi những thế giới phương Đông kia; đó là điềm lành thứ nhất.
     Điềm lành thứ hai là : Như người ở thế giới Ta-bà cũng thấy chư Phật hiện tại ở các cõi kia và nghe chư Phật ấy thuyết pháp. Cũng thấy các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di ở các cõi nước kia. Những người tu hành đắc đạo và các hàng Bồ-tát.
     1. Thấy lục thú chúng sinh : Trời, người, A-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục.
     2. Thấy chư Phật ở cõi đó.
     3. Nghe các đức Phật ấy đang thuyết pháp ở cõi đó.
     4. Thấy bốn chúng đang tu hành (Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di)
     5. Thấy các Bồ-tát theo chủng chủng nhân duyên, chủng chủng tín giải, chủng chủng tướng mạo hành Bồ-tát đạo.
     6. Thấy đức Phật nhập Niết-bàn và sau khi đức Phật nhập Niết-bàn rồi, được Chúng hội xây tháp cúng dường Xá-lợi.
     Chủng chủng nhân duyên (tùy từng nhân duyên) : Nhân là căn tánh bên trong, là nội nhân; duyên là cảnh ngộ bên ngoài, là ngoại duyên. Ai cũng có căn tánh cả, nhưng sâu, cạn, dày, mỏng là tùy theo mỗi người. Mỗi người xuất gia đều có căn tánh làm nhân, nhưng mỗi người có mỗi cái duyên khác nhau. Có người gặp thuận cảnh mà đi tu; có người gặp nghịch cảnh mà đi tu. Có khi 

* Trang 123 *
device

nghịch cảnh lại là một cái duyên rất tốt, vì Phật dã dạy : “Có khổ mới ngộ”.
     Chủng chủng tín giải (theo từng chỗ hiểu biết): Tu như vậy nhưng tin hiểu thì mỗi người mỗi khác, không ai giống ai.
     Chủng chủng tướng mạo : Nhân duyên tín giải là cái ẩn bên trong, tướng mạo là cái hiện ra bên ngoài. Tùy theo tín giải mà có tướng mạo khác nhau. Thâm tín thì tướng mạo thâm tín, mà tin hiểu lơ sơ thì tướng mạo cũng lơ sơ.
     Hành Bồ-tát đạo : Có nhiều cách như tụng kinh, gánh nước, chẻ củi, thuyết pháp, tham thiền …. Như trong kinh Pháp Hoa, Ngài Thường Bất Khinh luôn xưng tán mọi người; đó cũng là một cách hành Bồ-tát đạo. Thường là hành Bồ-tát bằng lục độ vạn hạnh : bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, tinh tấn. Hành bố thí ra sao, nhẫn nhục, tinh tấn, trí tuệ như thế nào thì có tướng mạo cũng như thế ấy.
     Hào quang của Phật phóng ra thế giới nào thì ở thế giới đó đều hiện rõ trước mắt đại chúng, nhờ đó đại chúng thấy cả lục đạo chúng sanh ở trong đó, tạo nghiệp nhân phiền não như thế nào, chịu kết quả như thế nào ở các thú. Đó là thấy về mặt nhiểm ô. Lại còn thấy về những điều thanh tịnh như thấy đức Phật hiện tại nơi cõi kia và nghe được pháp đức Phật nói.
     Mỗi vị tu hành như thế nào thì đắc đạo như thế đó, mà không những thấy hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thôi, mà 

* Trang 124 *
device

còn thấy các hàng Bồ-tát, đại Bồ-tát với từng nhân duyên mỗi người đều khác nhau, tín giải mỗi người đều khác nhau, tướng mạo mỗi người đều khác nhau mà thực hành hạnh Bồ-tát.
     Nhân duyên (cách thức) khác nhau, mỗi người đi tu như chúng ta mỗi người có mỗi nhân duyên khác nhau. Nhân là gì ? Là thiện căn có sẳn của mỗi người gọi là nhân ; duyên mỗi người đi tu cũng khác. Người thì gặp thầy mến thầy rồi đi tu, người nghe thích tiếng tụng kinh rồi đi tu, người thì gặp đạo lý mà đi tu ; tức mỗi người đều có các thứ nhân duyên và các thứ tín giải. Khi đi tu như vậy mỗi người có lòng tin, mức độ tin khác nhau, mỗi người có trình độ hiểu biết khác nhau. Người độn căn thì thiên về lòng tin, người lợi căn thì thiên về hiểu biết. Và các thứ tướng mạo, do trình độ tin tưởng, hiểu biết khác nhau cho nên trong sự tu hành mỗi người lại hiện ra tướng mạo dáng dấp khác nhau. Có người hành Bồ-tát đạo bằng cách tụng kinh thuyết pháp ; có người hành Bồ-tát đạo bằng cách bửa củi, gánh nước... nghĩa là trong việc làm với tâm niệm thượng cầu hạ hóa đều gọi là hành Bồ-tát đạo, đó là những tướng mạo hiện ra bên ngoài.
     Thấy đức Phật Niết-bàn, và thấy sau khi đức Phật Niết-bàn, Xá-lợi được dựng tháp cúng dường. Chừng ấy câu mà ta thấy trong kinh đã diễn tả trọn cả một thời giáo hóa của đức Phật, thấy cả y báo chánh báo của cả lục phàm, tứ thánh.

* Trang 125 *
device

     Từ lúc còn là một chúng sanh, ra đời, tu hành thành Phật, thuyết pháp... đến khi Phật Niết-bàn..., tức cả một dòng thời gian dài, nhờ hào quang của đức Phật mà thấy suốt tất cả. Việc đó nói lên rằng chính ngay trong hào quang trung đạo thật tướng, hiện đủ tất cả các tướng nhiễm và tịnh của chúng sanh và chư Phật một cách bình đẳng. Từ chúng sanh... đến chư Phật Niết-bàn cùng ở trong hào quang đó, ý nói rằng trong tự tánh thanh tịnh tâm bình đẳng cũng hiện đủ tất cả các việc nhiểm tịnh như vậy.
     Lúc bấy giờ Di Lặc Bồ-tát nghĩ rằng, nay đây, đức Thế Tôn hiện tướng thần biến như vậy, vì nhân duyên gì mà có điềm lành tốt đó ? Đức Thế Tôn nay vào nơi Tam-muội, việc bất khả tư nghì, hy hữu hiện ra này, thì sẽ hỏi ai đây, ai đáp được việc này ?
     Đây là đoạn ngài Di Lặc nghi, thấy những cảnh như vậy, ngài Di Lặc không biết vì nhân duyên gì mà đức Phật hiện ra các điềm lành hy hữu như vậy và ai là người có thể giải quyết mối nghi ấy ? Đức Phật nhập định Tam-muội rồi thì làm sao mà hỏi ? Không thể hỏi Phật, vậy sẽ hỏi ai ? Ngài Di Lặc đang băn khoăn trong tâm.
     Lại nghĩ rằng Văn-thù-sư-lợi là vị pháp vương tử đã từng thân cận cúng dường vô lượng các đức Phật quá khứ, chắc đã thấy được tướng hy hữu này, vậy ta nay nên đến hỏi.
     Di Lặc là một vị Bồ-tát, Văn-thù cũng là một vị Bồ-tát. Văn-thù là tiêu biểu cho đại trí, căn bản trí. Còn Di 

* Trang 126 *
device

Lặc đang dùng Duy thức quán phân biệt mà tu hành. Cảnh giới ngài Di Lặc đang đối diện đây phải dùng đại trí, căn bản trí như Văn Thù mới chứng nhập được, đem phân biệt trí như Di Lặc thì không thể hiểu.
     Di Lặc là biểu thị cho tâm tư phân biệt, ý thức phân biệt, đang còn thức chứ chưa phải trí. Bởi Di Lặc còn tu Duy thức quán mà cảnh giới này không thể dùng thức để vào được và Di Lặc chỉ có thể hỏi Văn Thù chỗ nghi của mình.
     Lúc bấy giờ các hàng Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di và các hàng thiên long quỷ thần... đều nghĩ rằng tướng hào quang thần thông quang minh đức Phật phóng ra đó, nay đây sẽ hỏi ai?
     Đây là đoạn đại chúng nghi. Ngài Di Lặc mà còn nghi huống hồ tứ chúng Tỳ-kheo... làm sao không nghi được !
     Phật từ Tam-muội, thân tâm bất động mà phóng ra hào quang, là cốt khiến cho chúng sanh bỏ vọng về chơn, chuyển thức thành trí. Ngặt vì hàng nhị thừa còn mang bệnh chấp chặt tam thừa là thật, chưa tin nỗi đạo lý tam thừa là quyền mà nhất thừa mới thật, nên Phật phóng hào quang làm phát khởi tâm nghi rồi Di Lặc mới hỏi, nhờ Văn Thù giải quyết.
      Lúc bấy giờ Di Lặc Bồ-tát muốn tự quyết nghi, lại quán xét tâm niệm của bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di, và các hàng trời rồng, quỉ thần... mà hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng : Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này? Phật phóng ánh sáng lớn soi 

* Trang 127 *
device

khắp một vạn tám ngàn cõi ở phương Đông, khiến chúng đều thấy quốc độ trang nghiêm của các đức Phật kia ?
     Bấy giờ Di Lặc Bồ-tát muốn lặp lại nghĩa này mà dùng kệ hỏi rằng : Văn-thù-sư-lợi, đấng Đạo sư, vì cớ gì mà hào quang lớn từ lông trắng ở giữa chân mày chiếu khắp ? Trời mưa hoa Mạn-đà, hoa Mạn-thù-sa, gió thơm mùi Chiên đàn, làm vui đẹp lòng của chúng hội. Do nhân duyên đó, quả đất đều nghiêm tịnh mà thế giới này có sáu cách rung động. Bấy giờ bốn bộ chúng, thảy đều rất vui mừng, thân ý thơ thới được việc chưa từng có. Ánh sáng giữa chân mày, chiếu suốt thẳng phương đông, một vạn tám ngàn cõi, thảy đều trở thành ra sắc vàng, từ A-tỳ địa ngục đến Hữu-đảnh thiên. Trong các thế giới đó, lục đạo chúng sanh sanh tử đến nơi này nơi kia và các nghiệp duyên thiện ác của họ và quả báo họ chịu hoặc tốt hoặc xấu, thảy đều trông được cả. Lại thấy các đức Phật, Thánh chúa sư tử diễn nói kinh điển vi diệu đệ nhất. Tiếng các Ngài trong trẻo, buông ra những lời rất dịu ngọt, dạy vô số ức vạn, các Bồ-tát, phạm âm thâm diệu, khiến người vui nghe, đều ở nơi các thế giới diễn nói chánh pháp, với nhiều nhân duyên và vô lượng thí dụ, để soi sáng Phật pháp, khai ngộ cho chúng sanh. Nếu người vì gặp khổ, nhàm chán sự già bệnh chết, thời Ngài vì họ nói cảnh Niết-bàn, để dứt hết các khổ.
     Trong bài kệ hỏi này có hai mặt: 1. Hỏi vì lý do gì mà đức Phật phóng hào quang, có mưa hoa và đất rung động; 2. Nói tới cảnh giới phương Đông mà đức Phật phóng quang cho chúng hội thấy.

* Trang 128 *
device

     Đức Phật dùng nhiều nhân duyên để giáo hóa. Đối với người nào gặp khổ, nhàm chán sanh lão bệnh tử thì Ngài nói cảnh giới Niết-bàn an lạc cho họ. Đây là cảnh giới của hàng Thanh Văn. Hàng Thanh Văn tu hành mong cầu thoát ly sanh lão bệnh tử, cho nên đức Phật nói pháp Niết-bàn để họ tu hành dứt hết các khổ.
     Còn nếu người có chút phước, từng cúng dường đức Phật, chí cầu thắng pháp, thì Ngài vì họ nói pháp Duyên Giác.
     Hàng Thanh Văn quán về Khổ đế, trước hết dùng Khổ đế làm đối tượng quán để tu hành giải thoát, cho nên Thanh Văn thừa bằng vào sự nhàm chán sanh lão bệnh tử mà tu. Còn Duyên Giác thừa, duyên vào Đạo đế để tu, bởi Duyên Giác thừa không bằng vào sự nhàm chán sanh lão bệnh tử mà bằng vào lý nhân duyên của vạn pháp. Thí dụ: Thấy một ngọn lá rơi, một dòng nước chảy, một ánh sao băng... mà biết rằng tất cả sự vật là vô thường là nhân duyên sanh mà ngộ đạo.
     Hoặc có hàng Phật tử, tu bao nhiêu hạnh để cầu vô thượng huệ thì Ngài vì họ nói Thanh tịnh đạo.
     Ở đây phải biết thế nào là Phật tử ? Kinh Trường A-hàm nói : “Tùng Phật khẩu sinh, tùng pháp hóa sinh, thiệu long Phật chủng, thị danh Phật tử”. Nghĩa là : Từ miệng Phật sinh, từ pháp Phật hóa ra, có khả năng tu hạnh cầu đạo Vô thượng, làm rạng rỡ giòng giống của Phật, đó gọi là Phật tử.

* Trang 129 *
device

     Chữ “cầu đạo Vô thượng” nói lên hạnh Bồ-tát. Phật vì họ nói đạo thanh tịnh. Tịnh đạo này có hai nghĩa: 1. Bồ-tát đạo so với Thanh văn thì gọi là Tịnh đạo; 2. Bồ-tát tu hành lục độ, mà lục độ tức là trừ lục tệ : bố thí trừ xan tham; trì giới trừ phá giới; nhẫn nhục trừ sân nhuế; tinh tấn trừ giải đãi; thiền định trừ tán loạn; trí tuệ trừ ngu si. Trong lục độ không có sáu tệ đó nên gọi là tịnh đạo.
     Hàng Thanh Văn và Duyên Giác chỉ nhằm vào mục đích hoặc là quán Khổ đế hoặc là quán Đạo đế mà tu hành. Bồ-tát thì đa hạnh nên trong kinh gọi là chủng chủng (các thứ) hạnh. Hàng Bồ-tát cầu vô thượng huệ, cho nên đức Phật nói về Thanh tịnh đạo. Bởi vì đạo Bồ-tát so với đạo Thanh Văn là thanh tịnh, nên gọi là Thanh tịnh đạo.
     Thưa Văn-thù-sư-lợi, tôi ở nơi đây thấy nghe việc như thế, và muôn ngàn việc khác như vậy rất nhiều. Nay tôi sẽ lược nói : Tôi thấy ở cõi nước kia, hằng sa Bồ-tát, bằng bao nhiêu nhân duyên để cầu Phật đạo. Hoặc có người tu hạnh bố thí, đem vàng bạc, san hô, chơn châu, ma ni, xa cừ, mã não, kim cương, và các đồ trân bảo, nô tỳ, xe cộ, nghiêm sức châu báu, hoan hỷ bố thí hồi hướng đến Phật đạo, nguyện được thừa này là đệ nhất trong tam giới, được các đức Phật tán thán. Hoặc có hàng Bồ-tát dùng xe báu tứ mã, và lan thuẩn, tràng hoa và đồ trang sức để bố thí.
     *. Đây là tu về Bố thí Ba-la-mật:

* Trang 130 *
device

     Bố thí là một trong các nhân duyên tu Bồ-tát đạo. Đoạn kinh trên đây là nói về việc bố thí ngoại tài, tức tài sản ngoài thân thể như vàng bạc châu báu... dùng để hồi hướng Phật đạo, mà hồi hướng Phật đạo tức hồi hướng một thừa pháp đệ nhất trong tam giới. Đó là điều đức Phật tán thán.
     Lại thấy hàng Bồ-tát dùng thân, thịt, tay chân, vợ con bố thí để cầu vô thượng đạo. Lại thấy hàng Bồ-tát vui vẻ bố thí cả đầu mắt thân thể để cầu trí tuệ Phật.
     Đây là bố thí nội tài. Nội tài gồm hai phần : Thân và mạng. Đoạn kinh trên là nói về bố thí thân như xẻo thịt, cắt tay... chứ chưa chết. Ví như trong kinh nói về tiền thân của đức  Phật đã từng cân thịt mình để chuộc mạng cho một con bồ câu. Đó là bố thí thân. Còn bố thí mạng, như trong kinh nói đức Phật đã từng xả thân mình để cứu bầy cọp đói. Bố thí thân mạng là một việc khó làm, tuy nhiên cũng có thể thực hiện được. Ví như có người cần một ít máu để sống, ta đem cho họ, đó cũng là một cách bố thí thân mạng. Đoạn trên là nói về bố thí Ba-la-mật.
     Thưa Văn-thù-sư-lợi, tôi thấy các vua ở nước đó, đi đến chỗ các đức Phật, hỏi đạo vô thượng, liền bỏ cõi nước sung sướng, cung điện tôi hầu, cắt bỏ râu tóc mà mặc pháp phục.
     *. Đây là tu về Trì giới Ba-la-mật.
     Hoặc thấy hàng Bồ-tát làm Tỳ-kheo, ở riêng một mình nơi nhàn tịnh vui ưa đọc tụng kinh điển.

* Trang 131 *
device

     *. Đây là tu về hạnh Nhẫn nhục Ba-la-mật.
     Lại thấy hàng Bồ-tát dũng mảnh tinh tấn, vào nơi núi sâu suy nghĩ về Phật đạo.
     *. Đây là tu về hạnh Tinh tấn Ba-la-mật.
     Lại thấy hàng Bồ-tát ly dục, thường ở chỗ nhàn tịnh tu tập về thiền định, được năm thứ thần thông.
     *. Đây là tu về Thiền định Ba-la-mật.
     Lại thấy hàng Bồ-tát an thiền chấp tay, dùng trăm ngàn bài kệ, tán thán đấng Pháp vương.
     - Đây cũng là tu về Thiền định Ba-la-mật.
     Lại thấy hàng Bồ-tát trí tuệ sâu xa, ý chí bền chắc năng hỏi các đức Phật, nghe rồi thọ trì.
     *. Đây là tu về Trí tuệ Ba-la-mật.
     Lại thấy hàng Phật tử, Định Tuệ đầy đủ, dùng vô lượng thí dụ, vì chúng giảng pháp, vui vẻ diễn bày, giáo hóa các Bồ-tát, phá trừ chúng ma binh mà đánh trống pháp.
     Trước đây cũng tu hành Lục độ nhưng còn có tính cách tự lợi. Ở đây hướng về lợi tha. Trong kinh Phật dùng rất nhiều thí dụ để chứng minh. Trong 12 bộ kinh cũng có một bộ gọi là thí dụ, dùng để giúp người ta hiểu giáo pháp một cách cụ thể rõ ràng hơn. Đoạn này là nói Định Tuệ đầy đủ, đánh lên tiếng trống pháp cho các hàng Bồ-tát nghe. Đây là nói về hạnh lợi tha.

* Trang 132 *
device

     Các đoạn trên diễn tả pháp tu Lục độ. Tu Lục độ có 2 lối: 1. Thứ để tu hành Lục độ là theo thứ lớp mà tu như: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ; 2. Vô phương hành Lục độ: Là gặp đâu hành đó không theo thứ lớp.
     Lại thấy các hàng Bồ-tát tịch nhiên yên mặc, được trời rồng cung kính mà không cho là vui mừng.
     Đây là nhập về xả thiền, trong khi tịch mặc như vậy được hàng trời rồng đến cúng dường, không chấp theo sự cúng dường đó mà vui mừng tức là xả.
     Lại thấy hàng Bồ-tát ở trong rừng phóng quang để cứu giúp các sự khổ ở khắp các địa ngục, khiến họ được vào Phật đạo.
     Đây là nhập về Bi thiền, tức nhập vào thiền định với tâm bi phóng hào quang đến chỗ u tối ở địa ngục mà cứu vớt chúng sanh nơi đó.
     Lại thấy hàng Phật tử, chưa từng ngủ nghỉ, kinh hành ở núi rừng, siêng năng cầu Phật đạo.
     Tu hạnh lục độ có hai cách: Đoạn trước là nói về thứ đệ hành lục độ, nghĩa là hành lục độ theo thứ lớp, từ bố thí trì giới... cho đến trí tuệ. Đoạn này cũng nói về lục độ nhưng lục độ đây là vô phương hành lục độ, tức cần trì giới thì trì giới, cần nhẫn nhục thì nhẫn nhục... không theo thứ tự trước sau.
     Lại thấy hàng Phật tử, đầy đủ giới đức oai nghi không khuyết, thanh tịnh như châu báu để cầu Phật đạo.

* Trang 133 *
device

     Lại thấy hàng Phật tử, trú trong sức nhẫn nhục, bị những người tăng thượng mạn đánh đập mắng nhiếc, thảy đều hay nhẫn chịu, để cầu Phật đạo.
     Nói về lực nhẫn nhục, tức là sức mạnh của sự nhẫn nhục, kinh A-hàm có nói : “Con nít lấy tiếng khóc làm sức mạnh; phụ nữ lấy giận dỗi làm sức mạnh; vua chúa lấy kiêu căng làm sức mạnh; A-la-hán lấy tinh tấn làm sức mạnh; chư Phật lấy từ bi làm sức mạnh; Tỷ-kheo lấy nhẫn nhục làm sức mạnh.
     Lại thấy hàng Bồ-tát xa lìa đùa giởn và quyến thuộc ngu si, mà thân cận kẻ trí, nhất tâm trừ loạn, nhiếp niệm trong rừng sâu để cầu Phật đạo.
Hý tiếu : Sự đùa cợt vô bổ, gây tai hại cho kẻ khác. Trong kinh Bảo Tích, Ngài Đại Ca-diếp nói có bốn việc phải tránh xa khoảng 100 do tuần : 1. Lợi dưỡng, 2. Bạn ác, 3. Chúng hội xấu, 4. Người cùng ở ưa đùa cợt.
     Xa lìa quyến thuộc ngu si : Quyến thuộc ngu si đối với ta không có lợi gì cả. Trong kinh Pháp cú, Phật dạy : “Nếu không gặp được người hơn mình để kết bạn, không gặp được người ngang mình để kết bạn, thì thà sống một mình còn hơn kết bạn với người ngu”. Chữ “ngu” này rất rộng nghĩa : tham lam, bỏn xẻn, sân hận... cũng thuộc về ngu.
     Duyên của thiền định là xa lìa sự chơi giỡn, chơi giỡn làm loạn tâm khó mà nhập định. Si quyến thuộc tức quyến thuộc dắt vào đường sai trái mê lầm, đồng thời phải thân cận kẻ trí thì tâm mới khỏi loạn động để nhập định.

* Trang 134 *
device

     Hoặc thấy hàng Bồ-tát dùng những món ăn ngon lành, trăm thứ thuốc thang để cúng Phật và Tăng. Hoặc dùng danh y thượng phục giá trị ngàn vạn, hoặc là y vô giá để cúng Phật và Tăng. Hoặc dùng trăm ngàn ức thứ chiên đàn, nhà báu và những ngọa cụ tốt đẹp để cúng Phật và Tăng.
     Đây là nói về tứ sự cúng dường.
     Lấy món ăn ngon, y phục tốt, vườn rừng, ao tắm... Người nào cúng dường cũng đều như nhau nhưng tùy theo chí nguyện mà có khác nhau. Ở đây nói Bồ-tát cúng dường khác với những người khác là khác ở chí nguyện. Cũng là đồ ăn, đồ mặc, vườn cây, thuốc men, nhưng với chí nguyện cầu đạo Vô thượng nên sự cúng dường ấy là  hạnh Bồ-tát.
     Lại dùng vườn rừng thanh tịnh, hoa quả tươi tốt suối trong tắm rửa, để cúng Phật và Tăng.
     Những sự bố thí nhiệm mầu như vậy mà vẫn luôn luôn hoan hỷ không nhàm chán để cầu vô thượng đạo.
     Hoặc có hàng Bồ-tát nói pháp tịch diệt, dùng bao nhiêu lời để giáo huấn vô số chúng sanh.
     Đây là phần thuyết Bát-nhã nói về pháp tịch tịnh. Pháp tịch tịnh này tức là cái pháp bất sinh diệt, cái pháp ly tướng, pháp bất khả phá hoại, như trong kinh Pháp Hoa sau này có đoạn : “Chư pháp thường tịch tịnh, chư pháp tùng bổn lai thường tự tịch tịnh, Phật tử hành đạo dĩ hậu thế thành Phật đạo”.

* Trang 135 *
device

      Đây là pháp không thể lý luận, ly ngôn tuyệt tướng, ly tâm duyên tướng. Pháp mà còn đem ra phân chia được, đem ra nói thực thì không gọi là tịch tịnh pháp. Như Lão Tử nói : “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh”. Đạo có thể đem ra nói được thì không phải là đạo chơn thường. Pháp tịch tịnh cũng như vậy, lìa ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên. Pháp như vậy, tại sao Bồ-tát lại nói được ? Đó là vì Bồ-tát thiện xảo phương tiện, cũng như đức Phật ở trong pháp bất khả thuyết mà thuyết. Vì vậy trong kinh cũng có nói  “Thuyết bất khả thuyết pháp” (Nói cái pháp không thể nói). Kinh 42 chương nói : “Ngôn vô ngôn ngôn, hành vô hành hành, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng”.
     Khi chứng ngộ là chứng ngộ tịch tịnh pháp, là theo cái trí căn bản, tùy duyên chúng sinh mà nói là theo trí sai biệt, cho nên hai trí ấy luôn luôn đi cùng với nhau, đi chung với nhau. Nếu có trí căn bản mà không có trí sai biệt thì cũng không thuyết pháp được. Nếu có trí sai biệt mà không có trí căn bản thì trở thành ngu dốt. Trường hợp này là Bồ-tát tu Bát-nhã độ mà nói pháp tịch tịnh để dạy chúng sinh.
     Tịch diệt pháp tức pháp đưa về tịch diệt, pháp đưa về giải thoát, pháp làm cho chúng sanh xả trừ phiền não đưa về vắng lặng.
     Hoặc thấy hàng Bồ-tát, quán các pháp tánh, không có hai tướng, giống như hư không.
     Đó là hành Bát-nhã. Quán tức là hành. Tu hành bằng cách quán. 

* Trang 136 *
device

     Trong Phật pháp có hai lối tu : Hành và quán. Bố thí, trì giới thuộc về hành; thiền định thuộc về quán. Ở đây nói quán các pháp tánh. Các pháp tánh ấy như thế nào ? Các pháp tánh ấy không có hai tướng, mà nhất tướng vô tướng. Pháp ấy chỉ có một tướng mà thôi, mà tướng đó cũng không có tướng gì cả. Khi đã đạt được cái nhất tướng vô tướng ấy rồi thì ta sẽ thấy tất cả pháp đều bình đẳng. Vì sao ? Vì các pháp tự nó vô tướng. Sở dĩ nó có tướng này tướng khác là vì do tâm của chúng sinh phân biệt mà ra. Nếu không đạt được pháp tánh đến chỗ vô tướng tức là luôn luôn ở trong nhị tướng. Ở trong nhị tướng tức là có vị kỷ, có đấu tranh, có phiền não v.v... Giờ đây Bồ-tát tu trí Bát-nhã, quán các pháp tánh, thấy rõ các pháp không có hai tướng mà là nhất tướng vô tướng, giống như hư không. Vì hư không, không có tướng gì cả, nên nó có thể dung chứa được hết thảy tướng; pháp xuất nhập được tự tại trong hư không ấy. Khi ngộ được nhất tướng vô tướng thì tâm ấy có thể xuất nhập được các pháp tự tại. Nên sách xưa có câu : “Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh; nhạn độ hàn đàm, nhạn quá nhi đàm vô lưu ảnh. Thị cố, quân tử sự lai nhi tâm tùy hiện, sự khứ nhi tâm tùy không”. Nghĩa là: Gió thổi qua bờ tre, gió qua rồi tre không lưu tiếng vang của gió; nhạn bay qua đầm lạnh, nhạn không lưu ảnh trên mặt đầm. Vì thế người quân tử khi việc đến thì tâm hiện ra, việc qua rồi thì tâm cũng không luôn”.
     Như vậy để thấy rõ một tâm trạng được tự tại, ly nhị biên, ly nhị tướng thì cái tâm an tịnh như hư không.

* Trang 137 *
device

     Thứ hai là phần quán Bát-nhã, tức quán vô hữu nhị tướng.
     · Hựu kiến Phật tử tâm vô sở trước.
     Đây là đạt được một mức cao hơn : Tâm không vướng mắc. Đến đây mới gọi là sự chứng đắc, được chánh kiến. Tâm vô sở trước là ở một mức cao hơn. Thuyết tịch tịnh quán cũng gọi là Bát-nhã; quán pháp vô nhị tướng cũng gọi là Bát-nhã, mà tâm vô sở trước cũng là đạt được về sự tu quán ấy. Tu quán đến mức không còn vướng mắc một tướng nào nữa, là tầng thứ ba về Bát-nhã độ.
      Quán pháp tánh không có hai tướng tức là thật tướng vô tướng. Như đã nói, nếu cứ chấp từng tướng như cái tướng viên phấn, tướng cái nồi... thì những tướng đó sẽ chướng ngại nhau. Nhưng nếu từ các tướng sai biệt mà nhận thấy được thật tướng vô tướng đó là đất thì nó không chướng ngại nhau. Đất không chướng ngại cái chén, cái chén không chướng ngại viên phấn đó là thật tướng vô tướng, nhất như bình đẳng. Sở dĩ chúng ta không dựa vào tướng giả dối để mà nhận ra thật tướng vô tướng, cho nên tâm cứ dấy lên những phân biệt, những phiền não, không vượt qua được những giả tướng đó.
      Quán các pháp tánh không hai tướng giống như hư không, vì hư không bình đẳng, hư không không hai, cho nên hư không không đối chọi, cái gì cũng có thể hiện ra trong hư không hết mà hư không không hề chướng ngại.

* Trang 138 *
device

     Lại thấy hàng Phật tử, tâm không chấp trước, bằng diệu huệ nầy để cầu vô thượng đạo.
     Thưa Văn-thù-sư-lợi, lại có hàng Bồ-tát, sau khi Phật diệt độ, cúng dường Xá-lợi Phật. Lại thấy hàng Phật tử tạo tháp miếu vô số hằng sa trang sức nơi cõi nước, tháp Phật rất cao đẹp, đến năm ngàn do tuần, rộng, ngang, cao bằng nhau tới hai ngàn do tuần, mỗi mỗi tháp miếu ấy đều có hàng ngàn phan cái và châu báu xen nhau lẫn lộn. Những linh báu rung lên, các hàng trời, rồng, thần, nhơn và phi nhơn, dùng hương hoa kỷ nhạc để cúng dường tháp Phật.
     Đoạn trước là các vị Bồ-tát tu lục độ trong khi đức Phật còn hiện thế. Còn từ nay trở đi là thấy có vị Bồ-tát tu lục độ sau khi đức Phật nhập diệt.
     Cúng dường Xá-lợi có hai cách : Một là lấy Xá-lợi để vào bình ngọc; hai là xây tháp để cúng dường.
     Thưa Văn-thù-sư-lợi, các Phật tử đó vì cúng dường Xá-lợi, nghiêm sức tháp miếu, cả cõi nước tự nhiên trở thành thù đặc tốt đẹp, giống như cây thiên thọ vương nở đầy hoa. Phật phóng một hào quang mà tôi và cả đại chúng thấy bao nhiêu điều thù diệu ở cõi nước đó.
     Phật phóng có một hào quang mà thấy đủ cả, như vậy hào quang đó là hào quang gì? Hào quang đó là hào quang Phật tri kiến, mà trong Phật tri kiến thì tất cả các tướng đều hiện ra bình đẳng, từ địa ngục A-tỳ cho đến trời Sắc cứu cánh ; từ việc chúng sanh tác thiện, tác ác, 

* Trang 139 *
device

cho đến việc Phật ra đời, thuyết pháp, giáo hóa, nhập Niết-bàn, xây tháp cúng dường... Tất cả mọi pháp đều từ nơi bản tánh hiện ra. Tất cả mọi pháp đều từ nơi một hào quang hiện ra. Một đối với nhiều kia, thành ra một này là thật tướng mà nhiều kia là sai biệt tướng. Ví dụ : Đất là một, còn bình, chén... là nhiều. Cái nhiều đó từ cái một mà ra, không ngoài một mà có nhiều, không ngoài một hào quang của Phật mà có các tướng kia hiện, không ngoài một nhất tâm của chúng sanh mà có các tướng nhiểm tịnh hiện ra. Nhưng tất cả các tướng từ nhất tâm hiện ra ấy vì sao Phật thấy được mà chúng ta không thấy được ? Bởi Phật thấy được tất cả các tướng từ nhất tâm hiện ra, cho nên, Phật có thể từ nơi tâm mà hiện ra đủ tất cả các pháp, còn chúng sanh vì không nhận được cái đó nên đắm vào trong từng tướng một rồi chấp từng tướng một mà không thấy được tất cả. Ví như, nếu ta chỉ thấy viên phấn là viên phấn, cái bình là cái bình, rồi chấp vào cái bình, viên phấn ấy, thì không thấy được thật tướng của cái bình, viên phấn là gì, và như vậy ta chỉ sống chết với cái bình, viên phấn mà thôi, không làm sao đem viên phấn mà làm cái chén, đem cái chén mà làm cái bình được. Nhưng khi đạt đến thật tướng của phấn, bình chỉ là đất thì bấy giờ ta đủ khả năng từ nơi đất nắn ra chén bình... Nhưng mà, khi đạt được thì mới như vậy, khi chưa đạt thì không như vậy, thành ra lý mê và ngộ giữa Phật và chúng sanh chỉ chừng ấy. Chúng sanh mê là mê cái điều Phật ngộ. Phật ngộ là ngộ cái điều chúng sanh mê. Mê là vì không đạt được thật tướng, cứ chấp vào tướng 

* Trang 140 *
device

bình, tướng phấn mà không thấy được bình hay phấn gì cũng từ nơi một thật tướng đất. Nên một hào quang, một này vô cùng ý nghĩa, một là vô lượng vậy. Phật chỉ phóng có một hào quang thôi mà ngài Di Lặc và đại chúng thấy khắp tất cả.
     Thần lực của các đức Phật, trí tuệ của các đức Phật quá hy hữu, chỉ phóng một hào quang thanh tịnh mà soi ra vô lượng quốc độ. Chúng tôi được thấy việc chưa từng có đó.
     Thưa Phật tử Văn Thù, xin hãy giải quyết điều nghi nan. Cả bốn chúng đều cung kính ngưỡng mong nhơn giả vì tôi nói rõ : Đức Thế Tôn vì cớ gì mà phóng hào quang ấy ?
     Thưa Phật tử Văn Thù, đã đúng thời nên đáp, để giải cái nghi cho chúng vui mừng. Có ích lợi gì mà đức Phật phóng ra hào quang đó, vì muốn nói pháp vi diệu mà đức Phật chứng được nơi đạo tràng, hay là Phật sắp thọ ký ? Việc hiện bày các cõi Phật và các châu báu trong sạch trang nghiêm và việc thấy các đức Phật như vậy, không phải là nhân duyên nhỏ. Văn-thù ngài nên biết, cả bốn chúng long thần đều chiêm ngưỡng và quán sát nhân giả, xin hãy nói cho biết những điều gì như thế ?
     Như chúng ta đã biết, hội Pháp Hoa này là lúc Phật sắp nhập Niết-bàn mới nói các pháp thâm diệu mà Ngài đã chứng ngộ nơi Bồ-đề tràng. Suốt 49 năm (theo Bắc tông là 49. Nam tông là 45) Ngài chưa từng nói. Bây giờ Ngài muốn nói hết các diệu pháp ấy, vì sao ? Vì như 

* Trang 141 *
device

chúng ta đã thấy: có một lần đi ngang qua rừng lá, Phật bức một nắm lá cầm trong tay và hỏi các đệ tử :
     - Lá ở trong tay Như Lai và lá ở trong rừng, nơi nào nhiều hơn ?
     - Lá trong tay Thế Tôn rất ít, còn lá trong rừng nhiều gấp vạn lần. Các đệ tử thưa.
     Phật dạy :
     - Cũng vậy. Pháp mà Như Lai chứng ngộ được thì nhiều như lá giữa rừng, còn các pháp mà Như Lai đem nói cho các ông như lá ở trong tay.
     Cho nên, chính đến thời điểm này, đức Phật mới nói đến các pháp thâm diệu ấy là theo ý đó.
     Phật phóng hào quang để chỉ rõ các đức Phật ở các cõi nước với các báu trang nghiêm thanh tịnh thì đó không phải là nhân duyên nhỏ.
     Bấy giờ ngài Văn-thù-sư-lợi nói với Di Lặc Bồ-tát Ma-ha-tát và các đại sĩ rằng : Các thiện nam tử, theo chỗ tôi suy nghĩ, nay đức Thế Tôn muốn thuyết đại pháp, mưa trận mưa đại pháp, thổi loa đại pháp, đánh trống đại pháp, diễn nghĩa đại pháp.
     Đây là Bồ-tát Văn Thù đáp lời Di Lặc và đại chúng rằng theo chỗ ngài nghĩ, đức Phật sắp nói đại pháp. (Đại pháp hay Đại thừa). Đại có bảy nghĩa :
     1. Cảnh đại : Cảnh giới của hàng Bồ-tát chứng ngộ là cảnh giới rộng lớn, tức là cảnh giới vô tướng thật tướng, cảnh ly nhị biên, vô ngã. Hàng nhị thừa chỉ biết     có

* Trang 142 *
device

 sanh không, đó là cảnh giới của họ. Còn nhị không chơn như là cảnh giới Đại thừa nên nói cảnh đại.
     Thế nào là cảnh ? Cảnh là nơi thân mình nương trên đó, bước đi trên đó, thân có chỗ đi thì tâm cũng có chỗ đi của tâm nên cũng gọi là cảnh. Chỗ đi của tâm nhị thừa là nhơn vô ngã, còn chỗ đi của tâm Đại thừa là pháp nhị không chơn như, chỗ đi của tâm chúng sanh là chấp Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, danh tướng. Hàng Bồ-tát thì đi trên cảnh giới vô tướng.
     2. Trí đại : Cảnh đã lớn thì trí phải lớn, cảnh đã vô ngã thì trí phải vô ngã.
     3. Hạnh đại : Trí đã lớn phát ra hạnh cũng phải lớn. Hạnh tự lợi, lợi tha.
     4. Tinh tấn đại : Sự tinh tấn bền vững, kiên cố. Tu một giờ cũng như tu một năm, cũng như tu ba A-tăng-kỳ không lay chuyển, không thối lui, không chán nản.
     5. Thiện xảo phương tiện đại : Tùy theo căn cơ, trình độ của chúng sanh mà làm việc, nói những pháp ích lợi để dẫn dắt họ một cách khéo léo.
     6. Chứng đại : (Cứu cánh đại). Do sự tu hành như trên mà đưa đến kết quả chứng ngộ căn bản thật trí.
     7. Nghiệp dụng đại : Do chứng đại mà kiến lập Phật sự lớn lao.
     Đức Thế Tôn thuyết đại pháp, đại pháp đó được ví như một trận mưa lớn. Trận mưa lớn đó sẽ làm tươi nhuận tâm niệm khô khan của hàng nhị thừa mà Đại thừa gọi họ là 

* Trang 143 *
device

“khôi thân diệt trí”, nghĩa là họ chỉ lo tự lợi, tâm từ bi khô khan, hạnh lợi tha hạn hẹp, như một chồi khô, bây giờ mưa một trận mưa đại pháp làm cho những ý chí khô này tươi lên, chí nguyện Đại thừa sống dạy, nứt chồi.
     Thổi loa đại pháp tức là gom tất cả chí nguyện về một mục đích duy nhất là Phật thừa đạo. Ví như thổi còi thì mọi người tập nhóm lại. Và đánh trống đại pháp, nghĩa là thúc chí nguyện lợi tha, chí nguyện hành Bồ-tát đạo ấy xông lên...
     Đoạn trên đây là ngài Văn-thù trả lời theo sự suy tư của ngài. Bây giờ ngài dẫn chứng.
     Các thiện nam tử, đối với quá khứ các đức Phật, tôi đã từng thấy các điềm lành đó. Sau khi phóng ra hào quang rồi tức thì Phật nói pháp lớn, thế cho nên tôi biết rằng đức Phật nay đây hiện phóng hào quang cũng lại như vậy. Phật muốn cho chúng sanh đều được nghe, được biết các pháp mà tất cả thế gian rất khó tin, cho nên hiện điềm lành này.
     Trong việc hiện điềm lành của đức Phật cũng có ý là khiến cho chúng hội phát khởi một lòng tôn trọng cung kính trước khi nghe Phật nói pháp. Vì sao ? Vì pháp mà Phật sắp nói đó là một pháp khó tin.
     Này các thiện nam tử, như quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì A-tăng-kỳ kiếp. Lúc bấy giờ, có đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hanh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô 

* Trang 144 *
device

thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhơn sư, Phật, Thế Tôn, diễn nói Chánh pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý sâu xa, lời nói xảo diệu thuần nhất không tạp xen, đầy đủ tướng thanh bạch phạm hạnh.
     Trong kinh Đại thừa thường nói những con số : vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, vô số, A tăng kỳ... là vì sao ? Vì ở đây muốn nói cảnh giới thật tướng. Cảnh giới thật tướng thì đâu có giới hạn số, biên, lượng ? Mà đã có số, biên, lượng là có giới hạn, phân biệt, nhị biên, không phải thật tướng. Kinh Đại thừa muốn phát huy thật tướng nên cái gì cũng vô biên, vô lượng, không thể nghĩ bàn, là những con số vượt ra ngoài tính phân biệt vọng tưởng chấp trước của chúng sinh. Người có căn cơ, khi nghe những danh từ này cảm thấy lòng mình được mở mang ra, không còn bị hạn cuộc nữa. Những số từ này không khác gì những công án.
     Đây là đoạn ngài Văn Thù dẫn chứng đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong quá khứ vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp.
     Nên biết, trong kinh Đại thừa, nhãn quan về vũ trụ, không và thời gian là xứng tánh mà nói chứ không nói theo tướng phân biệt chấp trước của tâm lý thông thường, nên nói cái gì cũng là vô lượng vô biên. Bởi vì nói từ tâm niệm thì thật ra, ngay từ một tâm niệm mà cũng vô thỉ vô chung, ngay từ một tâm niệm mà cũng vô lượng vô biên...
     Vì sao thành thỉ ? Vì sao thành chung? Vì sao thành trước, sau... ? Nếu một cực vi là một cực vi thì chẳng có cái 

* Trang 145 *
device

nào trước cái nào sau. Nhưng chồng thêm trước một cực vi sau một cực vi thì tự nhiên cực vi này nằm giữa. Như vậy, không gian cực vi nằm giữa này có đúng là giữa hay không? Nếu chỉ có một cực vi thì có giữa hay không ? Thế nhưng, vì cái mê chấp của chúng sanh theo nghiệp thức mà nói có trước có sau. Nhưng sự thật của sự vật thì không trước không sau... Cho nên trong kinh nói không thỉ, không chung, không trungkhông biên cũng là để dạy chúng ta xả trừ tâm niệm chấp trước nhị biên.
     Mà chính ngay câu Quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì cũng là một công án thiền. Nếu ngay câu nói đó ta rời bỏ được tâm niệm nhị biên phân biệt thì cũng chính ngay lúc đó ta ngộ được thật tánh của vạn pháp không thỉ không chung vậy.
     Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tức là chỉ cái tự giác thanh tịnh tâm chiếu sáng khắp tất cả.
     Ánh sáng của thế gian không ngoài ba thứ : Mặt trời, mặt trăng và đèn. Ban ngày có mặt trời, ban đêm có mặt trăng và chỗ nào mặt trời, mặt trăng không chiếu sáng được thì có đèn. Ba thứ này là nguồn gốc của ánh sáng, ngoài ra không có gì tạo nên cái sáng được. Để nói rằng đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là nguồn gốc của ánh sáng, mà ánh sáng đây là ánh sáng của bản giác thanh tịnh diệu tâm, mà bản giác thanh tịnh diệu tâm này đâu có bị không gian, thời gian ràng buộc nên nói vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp.
     Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh có đủ 10 đức hiệu :

* Trang 146 *
device

     1. Như lai (Tathagata hay Tathata). Theo như trong kinh Thanh Tịnh tập 4, Trường Bộ (Dìgha Nikàya) có đoạn nói về hai chữ Như Lai như sau : “... Này Kinda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không có lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Kinda nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, không có lợi ích, thì Như Lai cũng không trả lời. Này Kinda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết, trả lời câu hỏi ấy một cách vắn tắt. (Pháp vị lai, hiện tại cũng vậy). Như vậy, này Kinda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị nói phải thời, nói chân chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng pháp, nói đúng luật. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Kinda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên... và loài Người những gì được thấy, nghe, cảm giác, phân biệt đạt đến, tìm cầu, suy đạt với ý, tất cả đều được Như Lai biết rõ. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Kinda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và đêm Như Lai nhập Vô-dư Niết-bàn giới, trong thời gian ấy những gì Như Lai nói, trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy không có gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai.
     Trong kinh Nikaya, Phật đã nói rất rõ ràng :
     Đoạn thứ nhất : Nói chơn chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng pháp, nói phải thời, nói đúng sự thật. Như vậy mới gọi là Như Lai.

* Trang 147 *
device

     Đoạn thứ hai : Biết rõ tâm tư, nguyện vọng, căn tính của chư thiên, ma vương, phạm thiên và loài người. Do vậy mới gọi là Như Lai.
     Đoạn thứ ba : Trong khoảng thời gian từ khi Thành đạo cho đến khi Niết-bàn, trong khoảng 45 năm đó, những gì đức Phật đã nói hay kể chuyện, tất cả như vậy là như vậy, không thêm không bớt, đó mới gọi là Như Lai.
     Trong Tăng Chi tập IIA trang 33 cũng có định nghĩa :
     Trong kinh Tăng Chi Bộ, tập 2 A có định nghĩa : “Trong toàn thế giới chư thiên, ma, phạm, loài người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn trí, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại. Do vậy được gọi là Như Lai”.
     Bậc chiến thắng không bị chiến bại, chiến thắng ai ? Đó là chiến thắng bốn thứ ma làm trở ngại con đường giải thoát giác ngộ : tử ma, thiên ma, phiền não ma và ngũ ấm ma. Bốn thứ ma này hay cản đường làm trở ngại việc tu học của chúng ta. Đó là theo kinh Nikàya, còn theo kinh Đại thừa thì thế nào ?
     Trí Độ Luận tập I, trang 51 cũng có định nghĩa :
     “Như pháp tướng (Như) mà hiểu (Lai) : Như pháp tướng (Như) mà giảng thuyết (Lai), như con đường an ổn của chư Phật (Như) mà đến (Lai) nên gọi là Như Lai. Hay nói gọn, Như Lai là đến như vậy, đi như vậy. (Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết, như chư Phật lai)”.

* Trang 148 *
device

     1. Như pháp tướng giải : Đúng như pháp tướng mà hiểu, là Như.
     2. Như pháp tướng thuyết : Đúng như pháp tướng mà thuyết giảng, là Lai.
     3. Như chư Phật lai : Các đức Phật quá khứ đến như thế nào thì Phật cũng đến như thế ấy, nên gọi là Như Lai.
     Thập Trụ Tỳ-bà-sa I nói về Như Lai như sau :
     “Như danh thật, Lai danh chí, chí chân thật (Niết-bàn) trung, cố danh Như Lai”. (“Như” là “Thật”, “Lai” là “Đến”. Đến trong như thật gọi là Như Lai).
     “Như danh bất hoại tướng (chư pháp thật tướng), Lai danh trí tuệ, đáo thật tướng trung thông đạt kỳ nghĩa, danh Như Lai”. (“Như” là “bất hoại tướng” (chư pháp thật tướng) ; “Lai” là “Trí tuệ”. Trí tuệ thông suốt thật tướng gọi là Như Lai).
     “Không, vô tướng, vô tác, danh Như ; chư Phật lai chí tam giải thoát môn, diệc linh chúng sanh đáo thử môn, danh Như Lai”. (Không, vô tướng, vô tác là          “Như”, đạt đến trong ba môn giải thoát và cũng khiến cho chúng sanh đạt đến ba môn giải thoát ấy gọi là “Như Lai”).
     “Như danh Tứ đế, lục độ, dĩ tứ lục pháp lai chí Phật địa, danh Như Lai”. (“Như” là Tứ đế, lục độ; dùng pháp Tứ đế, lục độ để chứng đắc địa vị Phật, gọi là “Như Lai”).
     Thành Thật Luận nói :
     “Thừa như thật đạo, lai thành Chánh giác”. (Nương vào đạo như thật (Như) chứng thành bậc Chánh giác (lai).

* Trang 149 *
device

     Trong luận Chuyển Pháp Luân nói :
     “Niết-bàn danh Như, Tri giải danh Lai, Chánh giác Niết-bàn, cố danh Như Lai”. (Niết-bàn là “Như”, Tri giải là “Lai”, Chánh giác Niết-bàn gọi là “Như Lai”).
     Kinh Thắng Man Bảo Khốt nói :
     “Thế Như nhi lai, như chư Phật lai”. (Thể theo “Như” mà đến (lai), giống như chư Phật mà đến “Lai”).
     Hành Tôn Ký Thượng nói :
     “Thừa như thật pháp xuất hiện lợi sanh, tức thừa Như nhi Lai”. (Nương vào thật pháp (Như) thị hiện ra đời thuyết pháp độ sanh (Lai). Tức thừa Như mà đến Lai).
     Câu “Thừa như thật đạo lai thành Chánh giác” là chỉ cho Báo thân Như Lai.
     Câu “Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết” cũng chỉ cho Báo thân Như Lai.
     Câu “Như chư Phật lai” chỉ cho Hóa thân Như Lai.
     Trong kinh Kim Cang cũng định nghĩa:
     “Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa”. (Như Lai là cái nghĩa như thật của các pháp).
      Hay câu : “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai”. (Như Lai là không từ đâu đến cũng không đi về đâu nên gọi là Như Lai).
     Hai câu trên chỉ cho Pháp thân Như Lai. Vì vậy nên trong kinh Kim Cang nói “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như 

* Trang 150 *
device

Lai”. (Nếu đem sắc tướng nhìn thấy Như Lai, hoặc đem âm thanh nhận thức Như Lai, thì những người ấy đã đi lạc đường, không còn thể nào thấy biết Như Lai - HT.Trí Quang dịch). Đó là Như Lai pháp thân. Bởi Như Lai pháp thân thì ly tướng, Như Lai không ở nơi âm thanh, sắc tướng mà chúng sanh chấp vào âm thanh, sắc tướng để cầu được Như Lai pháp thân thì làm sao thấy được. Pháp thân là vô tướng mà cứ dùng tướng để cầu tìm Như Lai nên trong kinh gọi đó là tà đạo.
     Theo các định nghĩa trên, thì có ba trường hợp:
     1. Như lai báo thân.
     2. Như lai hóa thân.
     3. Như lai pháp thân.
     Ba thân ấy là một, chỉ là ba cái nhìn khác nhau,
ba khía cạnh khác nhau, nhưng cả ba đều không tách
biệt nhau.
     Ngài Triệu Châu có lần thượng đường thị chúng, ngài nói:
          Kim Phật bất độ lô, 
          Mộc Phật bất độ hỏa,         
          Thổ Phật bất độ thủy,         
          Chân Phật tại kỳ trung.
     Nghĩa :
                 Phật vàng không qua khỏi lò,
                 Phật gỗ không qua khỏi lửa,

* Trang 151 *
device

                  Phật đất không qua khỏi nước,
                 Phật thật ở trong đó.
     2. Ứng cúng (Araha): Tức là một trong ba nghĩa của A-la-hán. A-la-hán : Vô sanh, Phá ác, Ứng cúng.
     - Sát tặc : Giết giặc (phiền não)
     - Vô sinh : Không còn sinh lại cõi đời này nữa (bất thọ hậu hữu)
     - Ứng cúng : Xứng đáng nhận sự cúng dường của trời và người
     Trong này chú trọng nghĩa “ứng cúng” là nghĩa thứ ba, nhưng phải có hai nghĩa trên là “sát tặc” và “vô sinh” mới có (dùng) nghĩa ứng cúng được.
     3. Chánh biến tri (Sammà - Sambuddho): Còn gọi là Chánh biến giác, Chánh đẳng giác. Chánh tức là không tà, biến là cùng khắp. Khi nói đức Phật chánh biến tri là nói Ngài có cái biết đúng như thật và cùng khắp. Biết đúng như thật nên khác ngoại đạo, cùng khắp nên khác Nhị thừa và Bồ-tát. Hay nói một cách dễ hiểu hơn: Chánh là đúng; biến là cùng khắp; tri là biết. Phật biết đúng và khắp nên gọi là Chánh biến tri. Biết cái gì? Biết “khổ nhi khổ”; biết “tập nhi tập”; biết “đạo nhi đạo”; biết thật tướng như thật các pháp đầy đủ, gọi là Chánh biến tri.
     4. Minh hạnh túc (Vijjà – Carana - Sampanno): Minh là tam minh (Túc mạng, thiên nhãn và lậu tận). Hạnh là lục độ vạn hạnh. Bậc đầy đủ cả ba minh, sáu hạnh gọi là minh hạnh túc.

* Trang 152 *
device

     5. Thiện thệ (Sugata): Khéo đi qua. Trong con đường sanh tử khéo ra khỏi, ngay trong trần lao mà giải thoát trần lao, ngay trong sanh tử mà thoát khỏi sanh tử. Trở vào đường sanh tử hóa độ chúng sanh mà không bị vấp vướng, không bị trở ngại. Nói một cách dễ hiểu hơn: Thiện là khéo léo; thệ là vượt qua. Khéo đi trong định tuệ để đến Niết-bàn; khéo đi trong trần lao phiền não để giáo hóa chúng sinh, nên gọi là Thiện Thệ. Vì vậy, Ngài Long Thọ có nói : “Phật lấy nhất thiết trí làm xe; đi đường Bát chánh vào Niết-bàn, gọi là Thiện Thệ”.
     6. Thế gian giải (Loka - vidu): Thế gian có hai thứ: Hữu tình thế gian (thuộc chánh báo) và Khí thế gian (thuộc y báo). Đức Phật hiểu rõ cả y báo và chánh báo của thế gian nên gọi là Thế gian giải.
     7. Vô thượng sĩ (Anuttara): Đấng Vô thượng, tôn cao nhất không ai bằng.
     8. Điều ngự trượng phu (Purisa – dhamma - Sàrathi): Đấng điều ngự được chúng sanh mê lầm. Phật là vị thầy điều phục và chế ngự trượng phu có thể hóa độ.
     9. Thiên nhân sư (Satthà – deva - Manussànam): Thầy dạy của trời, người.
     10. Phật (Buddha): Tiếng Phạn là Buddha, Trung Hoa dịch âm là Phật-đà, Phù-đồ, gọi tắt là Phật; dịch nghĩa là Giác giả, tức là bậc Giác ngộ : tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Hay nói cho dễ hiểu, Phật là Đấng giác ngộ. Phật Địa luận nói: “Tự khai giác cũng khai giác tất cả chúng sanh về tất cả pháp, tất cả tướng như ngủ 

* Trang 153 *
device

mong thức dậy, như hoa sen trổ, nên gọi là Phật. Đủ mười hiệu như vậy gọi là Thế Tôn”. 
     11. Thế Tôn (Bhagavà): là danh từ tổng quát, đủ 10 hiệu đó là một bậc tôn quý của cả trời, người, thế gian, xuất thế gian, nên gọi là Thế Tôn. Đây là tán thán Phật đủ 10 hiệu.
     Như vậy có 11 hiệu trong đó có 10 hiệu chung và một hiệu riêng. Đủ 10 đức hiệu ấy được gọi là Thế Tôn, là bậc tôn quý nhất trên đời.
     Theo kinh tạng Nikaya, Phật cũng là vị A-la-hán. Nhưng Ngài là người chỉ đường cho các đệ tử tu hành đắc đạo nên gọi Ngài là Đại A-la-hán. Chữ A-la-hán được kinh tạng Nikaya định nghĩa là: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Hán tạng cắt nghĩa chữ A-la-hán gồm có ba nghĩa: Sát tặc, ứng cúng, vô sanh. Chính câu trên là cắt nghĩa từ A-la-hán theo ba nghĩa trên. Chư lậu dĩ tận vô phục phiền não (các lậu đã hết không còn phiền não). Chữ lậu đây có nghĩa là phiền não. Đãi đắc dĩ lợi (tiếp được lợi mình). Đó là nghĩa của chữ ứng cúng. Lợi mình được xứng đáng là tự lợi, là xứng đáng được thọ sự cúng dường của nhân thiên. Tận chư hữu kiết, tâm đắc tự tại. Hữu và Kiết. Chữ hữu trong kinh khác với chữ hữu là có ở ngoài thế gian. Trong kinh nói: Ái, Thủ, Hữu cũng là hữu, ba cõi cũng gọi là hữu. Chữ hữu ở đây là nhị thập ngũ hữu hay là tam hữu, ba cõi là nhơn của ba cõi là các kiết sử.

* Trang 154 *
device

     Kiết ở đây là kiết sử, cụ thể là 9 kiết sử. Các kiết sử này là nhơn mà hữu kia là quả. Nhơn quả sanh tử luân hồi trong tam giới.
     Vị A-la-hán dứt sạch nhơn quả trong tâm giới rồi nên có cái nghĩa là vô sanh. Vô sanh nghĩa là không sanh tử lại trong tam giới nữa.
     Tâm đắc tự tại là tâm đắc tự tại, tuệ đắc tự tại.
     Tâm đắc tự tại là định, tuệ đắc tự tại là tuệ. Khi đã định tự tại là có tuệ. Hai câu này hợp với nghĩa của chữ vô sanh.
     Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đầy đủ 10 hiệu như trên. Ngài diễn nói pháp phần đầu, phần giữa, phần cuối đều lành, nghĩa lý sâu xa, lời lẽ xảo diệu, thuần nhất không tạp, đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh. Pháp của Phật nói ra có bảy thứ đặc biệt, gọi là thất thiện :
     1. Thời thiện : Đầu, giữa, sau đều lành.
     2. Nghĩa thiện : Nghĩa lý sâu xa.
     3. Ngữ ngôn thiện : Lời nói êm dịu, nhu nhuyến, mạch lạc; tùy phương tục ngữ mà nói.
     4. Độc thiện : Thuần nhất không tạp.
     5. Cụ túc thiện : Pháp Phật nói ra đầy đủ viên mãn.
     6. Thanh tịnh thiện : Ngữ  nghĩa thanh tịnh điều nhu.
     7. Phạm hạnh thiện : Chánh pháp của Phật là để thực hành chứ không để nói suông. Đó là pháp thực hành để đưa đến giải thoát, Niết-bàn.

* Trang 155 *
device

     Trên đây là nói tổng quát. Từ đây trở đi là nói chi tiết cụ thể.
     “Đức Phật diễn ra Chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện nghĩa lý thâm viễn, lời lẽ nhiệm mầu, thuần nhất vô tạp, đầy đủ phạm hạnh”.
     Thế nào gọi là Chánh pháp của Phật ? Chánh pháp của Phật đầy đủ 7 tánh chất tốt lành sau đây : 1. Sơ thiện, 2. trung thiện, 3. hậu thiện, 4. nghĩa lý thâm thúy cao xa, 5. ngôn từ khéo léo nhiệm mầu, 6. thuần nhất vô tạp, 7. đầy đủ tướng phạm hạnh thanh tịnh.
     Sao gọi là Sơ, Trung, Hậu thiện? Đức Phật nói pháp đầu tiên, giữa, sau rốt đều thiện, Phật ví dụ giáo pháp của Ngài như một cục đường, ngoài, trong giữa đều ngọt. Pháp Phật đầu tiên thuyết về giới là sơ thiện, bước đầu của Chánh pháp; kế đó Ngài nói về Định là trung thiện, trung tâm của Chánh pháp, sau nói về Tuệ là hậu thiện, kết quả của Chánh pháp. Hay sơ thiện là tin giải, trung thiện là thực hành, hậu thiện là thật chứng.
     Sao gọi là nghĩa lý thâm viễn, ngôn từ tốt đẹp, áo diệu, thuần nhất ? Thiên kinh vạn quyển đối với kẻ sơ học thì thấy có vẻ mông lung, mâu thuẩn, nhưng nếu nắm được phần tinh hoa cốt tủy thì lời Phật dạy thuần nhất vô tạp, sâu kín, siêu lý luận, phải đến để mà thấy, lời lẽ đôn hậu giản dị mà súc tích siêu thoát.
     Và đầy đủ tướng thanh tịnh phạm hạnh có nghĩa là ai thực hành được pháp hạnh đó thì đều thành tựu được 

* Trang 156 *
device

tướng thanh bạch phạm hạnh. Đầy đủ bảy tánh cách như vậy thì gọi là Chánh pháp của Phật. Đây là tán thán Chánh pháp có đủ bảy đức.
     Đức Phật vì hạng cầu Thanh Văn, nói Pháp Tứ đế (1), độ thoát sanh, lão, bệnh, tử, cứu cánh Niết-bàn. Vì hạng cầu Bích chi Phật, nói pháp Mười hai nhân duyên (2). Vì hàng Bồ-tát, nói lục độ Ba-la-mật, khiến chứng quả vô thượng Bồ-đề thành tựu Nhất thiết chủng trí.
     Lại nữa, có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, tiếp có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như vậy tiếp tục hai vạn đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại đồng một tánh Phả-la-đọa (lợi căn). Di Lặc nên biết, đức Phật đầu, đức Phật sau đồng một danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, 10 hiệu đầy đủ, pháp của Ngài nói sơ, trung, hậu đều thiện.
     A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-Bồ-đề (dịch âm từ chữ Anutara samma sambuddhi: Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác).
     Chữ này cũng có ngài dịch âm : Tam-da-tam-bồ hoặc Tam-da-tam Phật.
     Hai vạn đức Phật cũng đồng một tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, như đã trình bày, Nhật Nguyệt Đăng Minh để tiêu biểu giác tánh sáng suốt như ba thứ nguồn gốc ánh sáng của thế gian gom lại. Tất cả các đức Phật thành Phật, đức Phật nào cũng phải thành tựu đức tánh viên mãn đó hết nên đức Phật nào cũng có tên Nhật 

* Trang 157 *
device

Nguyệt Đăng Minh. Đây là tên chung như danh từ Phật vậy.
     Thứ nữa, trong kinh Đại thừa, đức Phật cho thấy rằng thời gian, không gian là không thật và phần nhiều kinh Đại thừa dựa vào tướng để hội tánh. Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ. Như ngài Liễu Quán tham vấn với ngài Tử Dung câu “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ”, tám chín năm mà không ngộ. Nhân một hôm đọc Ngữ lục, trong đó có câu “chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”, ngài liền ngộ.
     Vậy, thế nào là chỉ vật truyền tâm ? Truyền tâm, tâm vô hình thì lấy gì để truyền? Chỉ vật là ngộ tâm chứ không phải ngộ vật, đó là chỗ khó lãnh hội được, mà khi lãnh hội được tức giác ngộ. Như có người đến hỏi ngài Triệu Châu : - Phật ở đâu ? Ngài nói : - Phật trong chùa. Người ấy nói : - Trong ấy đều là tượng bằng đất, bằng gỗ cả mà. Ngài nói : - Chính vậy. Người ấy hỏi : - Vậy thì Phật ở đâu ? Ngài nói : - Phật trong chùa. Chỉ vật truyền tâm.
    Cũng chừng ấy, mà với tâm bậc ngộ đạo thì đó là Phật, kẻ chưa ngộ thì đó là tượng gỗ. Cũng như chúng ta lạy Phật, nếu không phải lạy về tánh Phật thì chúng ta cũng kẹt mắc về lạy tượng đất. Nhưng chúng ta đâu có lạy tượng đất mà là lạy tánh giác ngộ của Phật. Đức tánh của Phật được tiêu biểu trong đó. Đó là ý nghĩa câu “Chỉ vật truyền tâm”. Sở dĩ hai vạn đức Phật mà có cùng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh là chính do ý nghĩa đó.

* Trang 158 *
device

     Trong hai vạn đức Phật đó, đức Phật rốt cùng hết, khi chưa xuất gia có tám vương tử, người thứ nhất tên Hữu Ý..., tám vị vương tử này oai đức tự tại, đều quản lãnh bốn châu thiên hạ. Khi các vị vương tử nghe vua cha xuất gia chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề thì cũng bỏ ngôi vua xuất gia theo cha, phát chí Đại thừa, thường tu phạm hạnh, đều làm vị Pháp sư, từng trồng căn lành nơi hằng ngàn vạn các đức Phật.
     Đây là đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau cùng, đức Phật này có tám vương tử. Khi tám vương tử nghe vua cha xuất gia chứng đại Bồ-đề thì cũng bỏ ngôi vua xuất gia tu phạm hạnh, làm Pháp sư và đã gieo căn lành với ngàn vạn đức Phật.
     Tám vương tử này có thể tiêu biểu cho tám thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Mạt-na thức và A-lại-da thức. Trước khi chưa xuất gia là chưa chuyển thức thành ý. Khi xuất gia rồi là ngộ đạo, chuyển thức thành ý, thì không nói chủng tử nữa. Cho nên ta hiểu tám vương tử là tám thức.
     Bởi vì chưa thành Chánh giác thường có tám thức hiện hành, tám thức này chủ động đời sống của chúng sanh, chúng sanh sống với tám thức chứ chưa sống với trí giác ngộ. Khi chuyển thức thành trí tức vương vị bỏ, và hành động của tám thức chuyển đổi hết mà bỏ thức hư vọng để thành tựu Đại giác. Khi chuyển tám thức thành trí tức là lúc phát chí Đại thừa tu phạm hạnh, làm Pháp sư. Tám vị vương tử này là chúng hội của Phật Nhật 

* Trang 159 *
device

Nguyệt Đăng Minh, đây cũng là câu nói tóm tắt để đối chiếu với đức Phật Thích Ca, trước khi thuyết pháp đức Phật Thích Ca cũng quy tụ chúng hội...
     Bốn châu thiên hạ : Nam thiệm bộ châu, Bắc cu lô châu, Tây ngưu hóa châu và Đông thắng thần châu.
     Ngài Văn Thù dẫn điều này để chứng tỏ rằng, xưa kia đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh hiện ra đời, thuyết pháp... cũng có những thụy tướng giống như ngày hôm nay. Sau khi hiện những thụy tướng đó thì đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa, vậy thì hôm nay đức Phật Thích Ca cũng hiện ra những thụy tướng như vậy, chắc chắn rằng đức Phật Thích Ca cũng sẽ thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
     Đây là lời dẫn chứng của ngài Văn-thù-sư-lợi. Trước khi Ngài đáp theo sự suy nghĩ của Ngài. Bây giờ Ngài dẫn chứng thật rằng đức Phật Thích Ca sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa giống như đức Nhật Nguyệt Đăng Minh trước kia vậy. Đó là phần duyên khởi cho kinh Pháp Hoa vậy.
     Lúc bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát được chư Phật hộ niệm.
     Khi nói kinh đó rồi, liền ở giữa đại chúng, ngồi kiết-già nhập định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động. Lúc bấy giờ, trời mưa hoa Mạn-đà-la (lược)... mà rải trên Phật cùng đại chúng, khắp thế giới Phật đều có sáu cách rung động. Lúc bấy giờ ở trong chúng hội hàng 

* Trang 160 *
device

Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni (lược)..., các đại chúng ấy gặp việc chưa từng có, hoan hỷ chấp tay nhất tâm chiêm ngưỡng đức Phật. Lúc bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng hào quang từ nơi tướng lông trắng ở giữa hai chân mày, chiếu về phương Đông một vạn tám ngàn Phật độ, đều cùng khắp hết, như hôm nay thấy các Phật độ ấy.
     Như trước, hào quang của đức Phật Thích Ca phóng ra chiếu khắp trong đó thấy cả lục thú chúng sanh, Phật ra đời, thuyết pháp... và Niết-bàn như thế nào thì giờ đây, nơi hào quang của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng ra cũng thấy như thế.
     Di Lặc nên biết, lúc bấy giờ trong hội chúng có hai mươi ức Bồ-tát muốn nghe pháp, các vị Bồ-tát đó thấy hào quang rực rỡ khắp cõi nước Phật chưa từng có, đều muốn biết hào quang đó vì do nhân duyên gì. Lúc bấy giờ có vị Bồ-tát tên Diệu Quang, vị này có tám trăm đệ tử. Khi đó đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ Tam-muội vô lượng nghĩa mà xuất định, nhân vì Diệu Quang Bồ-tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ-tát được chư Phật hộ niệm.
     Hội chúng thấy đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng quang liền sanh nghi. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi xuất định liền nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, hôm nay đức Thích Ca phóng hào quang làm hội chúng sanh nghi, vậy sau khi xuất định chắc Ngài cũng sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

* Trang 161 *
device

     Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh đến 60 tiểu kiếp mà không rời pháp tòa, lúc bấy giờ chúng hội nghe pháp cũng ngồi một chỗ trong 60 tiểu kiếp, thân tâm không lay động, nghe Phật thuyết pháp giống như trong khoảng một bữa ăn. Bấy giờ trong chúng hội không có một người nào, hoặc thân, hoặc tâm sanh ra mỏi mệt, dãi đải.
     Đức Phật nói kinh trong 60 tiểu kiếp mà không rời pháp tòa... Đây là thời gian trong các kinh Đại thừa. Thật sự, thời gian không dài không ngắn, dài ngắn là tùy theo trình độ, tâm tư của chúng sanh. Trong một thời nghe pháp, người nghe với tâm tư cầu pháp thì trong hai giờ in tuồng như độ 15 phút, người nghe với tâm tư mệt mỏi không ưa thích thì hai giờ mà tuồng như cả buổi, đó là những tâm tư bình thường. Nhưng, nếu như có một tâm tư vượt bực hơn nữa thì thời gian cũng khác, huống gì ngồi nghe đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là kinh Phật khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Trong lúc nghe được lời dạy ấy mà ngộ nhập được tri kiến Phật thì tự nhiên xả hết các kiến chấp sanh diệt, xả hết tướng thân tâm, lâu mau, trong ngoài... thì lúc ấy là “Thập thế cổ kim thỉ chung bất ly ư đương niệm”. (Mười đời kim cổ, thỉ chung không rời nơi đương niệm). Sáu mươi tiểu kiếp mà như trong một bữa ăn là vì vậy.
     Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa trong 60 tiểu kiếp rồi, liền ở giữa chúng Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Người, A-tu-la mà tuyên nói rằng : “Như Lai giữa đêm hôm nay sẽ vào Vô dư Niết-bàn”.

* Trang 162 *
device

     Đoạn kinh này có ý rằng thời đức Phật nói kinh Pháp Hoa là thời đức Phật sắp Niết-bàn. Sau khi nói kinh Pháp Hoa, đức Phật sẽ nói kinh Niết-bàn nữa, tức là chấm dứt cả thời giáo hóa ở Ta-bà, giống như đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xưa kia nói kinh Pháp Hoa trong 60 tiểu kiếp thì liền tuyên bố giữa đêm vào Niết-bàn, ngày hôm nay sắp vào Niết-bàn đức Phật Thích Ca cũng sẽ nói kinh Pháp Hoa không khác.
     Lúc bấy giờ có Bồ-tát tên Đức Tạng được đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thọ ký và bảo các Tỳ-kheo rằng: Đức Tạng Bồ-tát này kế sẽ làm Phật hiệu là Tịnh Thân Đa-đà-a-già-độ A-la-ha Tam-miệu-tam-phật-đà.
     Đa-đà-a-già-độ dịch âm từ chữ Tatha-gata mà ra. Bởi chữ Như Lai cũng có nghĩa Như khứ. Như khứ là theo đạo Như thật từ sanh tử bước tới cảnh giới giác ngộ Niết-bàn nên gọi là khứ. Đúng y như sự thật, đúng y như thật pháp mà đi tới, theo con đường chân thật mà đi tới, từ chúng sanh đi tới quả vị giác ngộ gọi là Như khứ. Như Lai là đúng theo con đường như thật, từ địa vị giác ngộ mà trở về cõi ứng thân hóa độ chúng sanh, vì vậy chữ này viết là Tathagata, nên phiên âm Đa-đà-a-già-độ.
     Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh xong liền thọ ký cho Đức Tạng rồi giữa đêm vào Niết-bàn. Đoạn này cũng để nói rằng đức Thích Ca ngày hôm nay phóng hào quang xong từ trong định xuất ra và sẽ nói kinh Pháp Hoa, thọ ký cho hàng đệ tử thành Phật rồi Ngài vào Niết-bàn... Đó là những điều sẽ nói trong kinh Pháp Hoa và cũng cho 

* Trang 163 *
device

thấy rằng trong hội Pháp Hoa đức Phật mới thọ ký cho hàng Thanh Văn La-hán chứng Vô thượng Bồ-đề. Tất cả các việc thiện của chúng sanh đều đưa đến Phật quả, thay vì như trong các kinh khác cũng nói tất cả chúng sanh đều thành Phật, nhưng vẫn còn phân biệt nói có 5 chủng tánh là Định tánh Thanh Văn, Định tánh Duyên Giác, Định tánh Bồ-tát, Bất định tánh và Vô tánh. Hay như kinh Bát-nhã mà cũng còn phân biệt thiện hữu sở đắc và thiện vô sở đắc... Đến Pháp Hoa mới quy về Phật địa.
     Đức Phật thọ ký xong vào nửa đêm liền nhập Vô dư Niết-bàn.
     Sau khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ-tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa trải tám mươi tiểu kiếp, nói pháp cho mọi người nghe.
     Tám vương tử của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều tôn Diệu Quang làm thầy, được Diệu Quang giáo hóa khiến cho vững chắc đối với Vô thượng Bồ-đề, các vị vương tử ấy trải qua thời gian cúng dường vô lượng trăm ngàn các đức Phật xong đều thành bậc Chánh giác. Đức Phật sau cùng trong tám vương tử đó hiệu là Nhiên Đăng.
     Và trong tám trăm đệ tử của Diệu Quang Bồ-tát có một người tên là Cầu Danh. Người này tham ưa danh lợi, tuy có từng đọc tụng các kinh mà không thông suốt, thường hay quên sót nên gọi là Cầu Danh.
     Người này cũng do nhân duyên trồng các căn lành nên gặp được vô lượng trăm nghìn đức Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen.

* Trang 164 *
device

     Trong tám trăm đệ tử của Diệu Quang có một người gọi là Cầu Danh. Cầu Danh này chỉ cho tiền thân của đức Di Lặc. Vì sao ? Vì người này tham trước danh lợi, thường lui tới chỗ quyền quý danh tiếng để dựa theo đó mà kiếm danh, tới chỗ có tiền để tỏ ra mình nhà giàu sang..., danh bằng học thức, tiền tài... cho nên dù có đọc tụng kinh điển nhưng không thông lợi, quên trước quên sau, cũng nhờ trồng căn lành mà người này gặp và cung kính cúng dường trăm ngàn các đức Phật.
     Di Lặc nên biết, Diệu Quang Bồ-tát lúc bấy giờ đâu phải ai khác, chính là thân Ta đây. Cầu Danh Bồ-tát chính là thân ông đó.
     Nay thấy điềm lành của đức Phật Thích-ca cùng với điềm lành xưa của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh không khác, cho nên Ta suy nghĩ rằng : Nay đức Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát, được chư Phật hộ niệm. Lúc bấy giờ ngài Văn-thù-sư-lợi ở trong chúng muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ rằng :
     Ta nhớ trong đời quá khứ, vô lượng vô số kiếp, có đức Phật Nhân Trung Tôn, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đức Thế Tôn diển nói Diệu Pháp, độ vô lượng chúng sanh và vô số ức Bồ-tát khiến được vào trí tuệ Phật. Khi đức Phật chưa xuất gia, có sanh tám vương tử, tám vương tử thấy đại Thánh xuất gia cũng theo tu phạm hạnh.
     Lúc bấy giờ Phật nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa rồi ở trong đại chúng rộng phân biệt trình bày. Phật nói 

* Trang 165 *
device

kinh ấy rồi, liền ở trên pháp tòa, kiết-già nhập tam-muội Vô lượng nghĩa xứ, trời mưa hoa Mạn-đà, trống trời tự nhiên kêu, hàng trời, rồng, quỷ thần cúng dường bậc Nhân Trung Tôn, tất cả các Phật độ, tức thời chấn động mạnh. Phật phóng hào quang giữa hai chân mày hiện ra các việc hy hữu, hào quang đó chiếu về phương Đông, một vạn tám ngàn cõi Phật, chỉ thị cho thấy rõ tất cả chúng sanh, sanh tử nghiệp báo và thấy các cõi của đức Phật dùng bằng trân bảo trang nghiêm, lưu ly, pha lê ấy đều do từ trong hào quang đức Phật chiếu sáng, lại thấy hàng trời, người, long thần... đều cúng dường đức Phật.
     Lại thấy các đức Phật Như Lai tự nhiên thành Phật đạo, thân sắc như núi vàng, đoan nghiêm rất vi diệu như tượng chơn kim hiện ra giữa bình lưu ly trong sạch. Đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, diễn nói pháp thâm nghĩa, mỗi mỗi nơi cõi Phật, hàng Thanh Văn vô số nhân hào quang Phật phóng ra mà đều thấy hàng đại chúng kia, hoặc có hàng Tỳ-kheo, ở tại trong núi rừng, tinh tấn trì tịnh giới, giống như giữ gìn ngọc minh châu.
     Lại thấy hàng Bồ-tát, tu hành hạnh bố thí, nhẫn nhục, số ấy nhiều như hằng sa, đều do hào quang đức Phật ấy chiếu tới.
     Lại thấy có Bồ-tát, thâm nhập vào thiền định, thân tâm vắng lặng, không lay động để cầu Vô thượng đạo. Lại thấy hàng Bồ-tát, biết tướng tịch tịnh của các pháp, mỗi mỗi ở các cõi nước của mình mà thuyết pháp cầu Phật đạo.

* Trang 166 *
device

      Lúc bấy giờ, bốn chúng thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, hiện sức thần thông lớn, tâm rất hoan hỷ mỗi mỗi đều tự hỏi nhau, việc ấy do nhân duyên gì ? Đức Thế Tôn được hàng nhân thiên kính phụng, vừa ở tam-muôi dậy, liền tán thán Diệu Quang rằng : Ngươi là con mắt của thế gian, là chỗ quy tín của tất cả, hay phụng trì Pháp tạng, đúng như pháp Ta nói, chỉ có ngươi hay chứng biết. Đức Thế Tôn tán thán, khiến Diệu Quang hoan hỷ, rồi tiếp nói kinh Pháp Hoa trọn trong 60 tiểu kiếp, không rời khỏi chỗ ngồi, nói pháp thượng diệu này, Diệu Quang pháp sư thảy đều thọ trì. Phật nói kinh Pháp Hoa khiến chúng được hoan hỷ rồi, liền ngay ngày hôm đó bố cáo với hàng nhân thiên chúng rằng : Nghĩa thật tướng của các pháp đã vì các người nói ra, nửa đêm hôm nay Ta sẽ vào Niết-bàn, các ngươi hãy nhất tâm tinh tấn nên xa lìa phóng dật, các đức Phật rất khó gặp, ức kiếp thì mới gặp được. Đệ tử của Thế Tôn, nghe Phật vào Niết-bàn, mỗi mỗi ôm lòng bi não, đức Phật diệt độ làm sao mau thay ! Vị Thánh chúa vua của pháp an ủy vô lượng chúng rằng: Nếu khi Ta diệt độ, các ngươi chớ lo buồn, sợ hãi, có Đức Tạng Bồ-tát đối với Vô lượng thật tướng tâm đã thông đạt, Đức Tạng sẽ làm Phật hiệu là Tịnh Thân, sẽ độ vô lượng chúng sanh.
     Đức Phật trong đêm đó diệt độ như củi hết lửa tắt, phân bố Xá-lợi, xây dựng vô lượng tháp, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni số đông như hằng sa càng thêm tinh tấn để cầu Vô thượng đạo.

* Trang 167 *
device

     Xưa ngài Diệu Quang, tức nay so sánh với Tôn giả Xá-lợi-phất. Diệu Quang là tiền thân của ngài Văn Thù, bậc đại trí, Xá-lợi-phất cũng là bậc trí tuệ đệ nhất. Nên hai ngài rất tương xứng để Phật gọi tên trong khi thuyết pháp.
     Đức Phật an ủi chúng, Phật diệt độ không nên lo buồn, sợ hãi vì có Đức Tạng Bồ-tát đã chứng nhập được vô lậu, và sẽ thành Phật, thuyết pháp... Điều này cũng có ý nói rằng vô lậu thật tướng không bao giờ gián đoạn và tánh giác ngộ cũng không gián đoạn mà Đức Tạng Bồ-tát đã thành tựu, đã chứng ngộ vô lượng thật tướng ấy, mà đã không gián đoạn thì chúng sanh có cơ hội để nghe Chánh pháp, để thành tựu được Bồ-đề.
     Khi đức Phật nói pháp rồi thì giữa đêm Ngài diệt độ như “tân tận hỏa diệt”, củi hết lửa tắt là chỉ cho ngũ ấm thân, về hóa thân của Phật. Tân tận hỏa diệt, đừng nghĩ rằng hỏa diệt là lửa sẽ mất hẳn, mà là chỉ không có lửa hiện tượng, lửa cháy nơi củi cho ta thấy được, diệt là diệt tướng lửa chứ tánh lửa không bao giờ mất. Cũng như hóa thân Phật hiện ra ở cõi Ta-bà này, dùng thân ngũ ấm mà hiện hành để cho chúng sanh thấy, khi cơ duyên mãn, Phật hiện ra tướng diệt độ giống như củi hết lửa tắt. Tướng lửa diệt nhưng tánh lửa vẫn còn, Phật diệt độ không phải là mất hẳn, vì pháp thân Phật không ở trong vòng sanh diệt của ngũ uẩn vậy.
     Pháp sư Diệu Quang ấy, phụng trì pháp tạng Phật trong 80 tiểu kiếp, rộng nói kinh Pháp Hoa.

* Trang 168 *
device

     Còn tám vương tử được Diệu Quang khai hóa, bền vững nơi đạo vô thượng, cũng thấy được vô số Phật, cúng dường các đức Phật xong, tùy thuận làm đạo lớn, kế tục được thành Phật, lần lượt được thọ ký.
     Đấng Thiên Trung Thiên rốt sau hiệu là Nhiên Đăng Phật. Đây là đấng Đạo sư của chư tiên, độ thoát vô lượng chúng.
     Còn Diệu Quang pháp sư lúc bấy giờ có một người đệ tử tâm thường hay giải đãi, tham trước các danh lợi, cầu danh lợi không nhàm chán, thường dạo qua các nhà quyền quí, bỏ quên sự tụng tập, bị sót sai không thông suốt. Do nhân duyên đó nên gọi là Cầu Danh. Nhưng cũng nhờ tu các thiện nghiệp, thấy được vô số Phật, cúng dường các đức Phật, tùy thuận hành đại đạo, đầy đủ sáu Ba-la-mật, nay thấy đức Thích Sư tử, sau đó sẽ thành Phật, hiệu là Di Lặc, rộng độ các chúng sanh, số nhiều vô lượng. Sau khi đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh diệt độ, người biếng nhác kia chính là ông, còn Diệu Quang pháp sư kia chính là Văn Thù Ta nay.
     Ta thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, tướng tốt của hào quang xưa giống như nay, do đó biết nay đức Phật Thích Ca muốn nói kinh Pháp Hoa. Tướng điềm lành nay giống như tướng điềm lành xưa, đó là phương tiện của chư Phật. Nay Phật phóng hào quang để hổ trợ phát huy nghĩa thật tướng.

* Trang 169 *
device

     Các người nay nên biết, chấp tay một lòng đợi, đức Phật Thích Ca sẽ mưa một trận mưa đại pháp làm sung mãn cho người cầu đạo.
     Các người cầu Tam thừa nếu còn có nghi hối, đức Phật sẽ dứt trừ nghi hối, khiến cho không còn sót.
     Phật còn có hiệu là Sư tử. Sư tử là chúa trong loài thú, Phật là chúa trong loài chúng sanh nên gọi là Thích Sư tử.
     Ngài Văn Thù trong các kinh khác nói ngài là cổ Phật, thầy của các đức Phật, ý rằng ngài Văn Thù tiêu biểu cho căn bản trí, thật trí, mà chư Phật đều thành tựu căn bản trí, thật trí, nếu không thành tựu căn bản trí, thật trí thì không thành Phật được, cho nên căn bản trí là gốc của chư Phật, nên nói Văn Thù thầy chư Phật là vậy.
 
*
*      *

* Trang 170 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa