LOGO VNBET
của kinh này mà ngài Trí Khải đã căn cứ để lập ra Thiên Thai tông rất thịnh hành.
II. Về truyền bản kinh Pháp Hoa
     Kinh Pháp Hoa ở Trung Quốc hiện có 5 bản dịch :
     1. Pháp Hoa Tam-muội : 6 cuốn, Chi Cương Lương dịch tại Giao Châu, năm 256, bản này hiện nay không còn nữa. Trong Đại tạng hiện còn bản Phật thuyết Pháp Hoa Tam-muội Kinh, 1 cuốn, Trí Nghiêm dịch đời Lưu Tống (420 – 479).
     2. Tát-đàm-phân-đà-lị Kinh: Dịch âm chữ Saddharma Pundarika Sutra, 1 cuốn, bản này không có tên người dịch.
     3. Chánh Pháp Hoa Kinh : 10 cuốn, Trúc Pháp Hộ dịch năm 286.
     4. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh : 7 cuốn, đời Dao Tần, Cưu-ma-la-thập dịch năm 404.
     5. Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: 7 cuốn, đời Tùy, năm 601, Xà-na-quật-đa và Cấp-đa dịch.
     Trong 5 bản dịch ấy, bản được chú trọng, được lưu truyền va diễn giải nhiều nhất là bản kinh 7 cuốn, 28 phẩm của Ngài Cưu-ma-la-thập dịch.
     Tây phương cũng đã khảo cứu và dịch kinh Pháp Hoa. Các học giả người Pháp như Brian Hodgson và Eugène Burnouf là những người đầu tiên khảo cứu kinh này, từ chữ Phạn dịch ra Pháp văn có tựa đề “Le Lotus de la Bonne Loi” năm 1852. Năm 1884, H.Kern, một nhà 

* Trang 23 *
device

học giả người Hòa Lan cũng dịch kinh Pháp Hoa từ bản tiếng Phạn ra tiếng Anh. Ngoài các bản Pháp Hoa chư Trung Hoa, còn có bản chữ Nhật, Đại Hàn, Tây Tạng… Bản dịch tiếng Anh bây giờ được để vào kho tàng Đông phương thánh điển.
     Ở Trung Hoa có hai dịch giả Phật học nổi tiếng, đó là ngài Cưu-ma-la-thập và ngài Huyền Trang. Ngài La-thập phần nhiều dịch ý, nên văn chương rất lưu loát, đọc lên nghe như thơ. Còn ngài Huyền Trang dịch sát từng chữ, nên văn của ngài rất khó đọc.
     Ngài Cưu-ma-la-thập (Kumàrajiva: 344 – 416) sinh tại Thiên Trúc (bắc Thiên Trúc). Thân phụ của ngài là Cưu-ma-la-diên, là một vị sắp làm tướng quốc của nước này nhưng không làm, bỏ qua nước Quy Tư ở phía bắc Trung Hoa, thuộc vùng Trung Á (ở giữa Ấn Độ và Trung Hoa), được vua Quy Tư mến trọng, mời làm tướng quốc và gả con gái cho. Bà này sinh ra Cưu-ma-la-thập.
     Khi mới sinh ra, ngài tư chất rất thông minh, lại sống phạm hạnh nên ngài được đặt tên là Cưu-ma-la-thập. Cưu-ma-la-thập, Trung Hoa dịch là Đồng Thọ, nghĩa là người còn nhỏ mà đã có năng lực như người lớn.
     Năm 7 tuổi, mẹ ngài xuất gia, đem theo ngài qua Ấn Độ để học đạo. Khi vào chùa, thấy cái bình bát, Ngài bèn lấy đội lên đầu và cảm thấy rất nhẹ. Khi móng tâm nghĩ như vậy thì thấy bình bát trở nên rất nặng. Ngài không đỡ nổi và thét lên một tiếng. Bà mẹ hỏi : “Con có chuyện gì vậy ?” Ngài thưa : “Bình bát này khi con mới cầm thì thấy 

* Trang 24 *
device

rất nhẹ, sao bây giờ nó nặng quá ?” Bà mẹ bảo : “Đó là vì tâm con phân biệt nên mới có nặng nhẹ, chứ bình bát thì vẫn như vậy”. Nhờ vậy mà ngài xuất gia.
     Lớn lên, ngài học kinh A-hàm với ngài Đàn-đầu-đạt-đa. Một thời gian sau khi ngài qua các nước Sa-lặc, Vu-điền học với ngài Tu-lợi-đa-tô-ma về giáo lý tự tánh không của Đại thừa. Khi nghe ba từ “tự tánh không”, ngài hỏi : “Kinh này muốn nói cái gì mà lại phá hết tất cả các pháp ?” Ngài Tô-ma đáp : “Cái có của thật pháp có phải là thật có hay không ?” Khi nghe vậy, ngài liền ngộ được lý “Tự tánh không” của Ngài Tô-ma. Từ đó, ngài chuyên học về giáo lý “Bát-nhã chân không” của Đại thừa. Và cũng từ đó, chí nguyện hoằng dương Phật pháp của ngài ngày càng mạnh mẽ. Một thời gian sau không lâu, tiếng tăm của ngài đã lan truyền khắp trong nước. Vua quan các nước láng giềng rất kính trọng.
     Bấy giờ, ở Tây bắc Trung Hoa có rất nhiều nước nhỏ. Tại Dao Tần có Phù Kiên xưng đế ở Quang Trung, nghe danh ngài ở nước Quy Tư làm cho dân chúng nước ấy có đời sống văn hóa, đạo đức cao, nên ông ta muốn mời ngài qua nước mình. Nhưng vua Quy Tư không cho ngài đi. Phù Kiên bèn sai tướng Lã Quang đem quân sang đánh Quy Tư. Phù Kiên dặn Lã Quang : “Ta không muốn ăn cướp đất đai, mà chỉ muốn đánh thắng để rước La-thập về thôi”. Sau khi đánh thắng, rước được La-thập, Lã Quang kéo quân về. Giữa đường nghe Phù Kiên đã bị Dao Trành giết và cướp ngôi, Lã Quang bèn xưng đế, đóng đô tại đó, tức là Kinh vương ở Quan Ngoại, nên 

* Trang 25 *
device

ngài La-thập bị cầm giữ ở đó mấy năm. Đến khi Dao Trành mất, Dao Hưng lên nối ngôi, mời ngài vào Quang Trung. Từ đó ngài mới vào đến Trường An. Ở đây, ngài được mời đến Tiêu Diêu viện để dịch kinh. Trong hội dịch kinh của ngài có cả hàng ngàn người tham dự, nhưng có 4 vị đệ tử thượng túc của ngài, gọi là Tứ triết : Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sanh và Đạo Dung là những người xuất sắc nhất. Ngài Tăng Triệu sau này có làm một bộ luận, gọi là Triệu Luận.
     Cuối đời, ngài La-thập có làm một bài thơ tặng cho một vị Pháp sư là Pháp Hòa. Nhưng chính bài thơ này lại phản ảnh đúng cuộc đời của ngài :
          “Tâm sơn dục minh đức, 
          Lưu huân vạn do diên,          
          Ai loan cô đồng phụng,        
          Âm thanh trực cửu thiên."
                             (Đại tạng, Đại chánh, cuốn 50, tr.332)
     Nghĩa là “Nơi núi tâm nuôi dưỡng đức tánh sáng suốt. Hương thơm lan ra ngoài ngàn vạn dặm. Như con chim loan buồn kêu một mình trên cây ngô đồng. Âm thanh trong suốt thấu đến chín tầng trời”.
     Người ta thấy rằng, ngài La-thập có cái tâm luôn luôn sáng suốt nên hương thơm tỏa ra ngoài vạn dặm, đi đâu cũng được kính phục tôn thờ làm thầy. Nhưng cuộc đời của ngài gặp rất nhiều chướng ngại, vì lẽ ngài rất nổi tiếng về tài năng và đức độ, nên nước nào cũng tranh giành để có được ngài. Sự ngưỡng mộ ấy trở thành mối 

* Trang 26 *
device

Như Lai rộng lớn sâu xa, rốt ráo về bốn Vô lượng, bốn Vô ngại, Thập lực, bốn Vô sở úy, tứ Thiền, Bát định, bát Giải thoát và Tam tam-muội. Đó là những pháp môn, những tri kiếnmà đức Phật đã thành tựu. Những pháp môn này chính là những pháp tu quán. Chữ “Vô lượng” trong kinh tức chỉ cho Tứ vô lượng tâm : Từ, Bi, Hỷ, Xả. Chúng sanh vô lượng, Phật phát tâm từ bi hỷ xả cũng vô lượng, thương xót..., cùng khắp không chừa một ranh giới nào, nên gọi là vô lượng. Bốn Vô ngại tức là bốn Vô ngại giải hay bốn Vô ngại biện. Thập lực, Lực có nghĩa là trí, tức chỉ cho trí của Phật. Trí của Phật kiên cố, vững chắc không bị lay chuyển, không bị phá hoại nên gọi là lực. Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi tức là đại dũng, đại trí và đại từ bi, tức Bi - Trí - Dũng.
     Thập lực gồm có :
     1. Tri xứ phi xứ trí lực : Xứ, có nghĩa là đạo lý. Phật có trí lực biết như thật nhân duyên quả báo như thế là đúng đạo lý hay không đúng đạo lý. Biết rõ sự kiện có xảy ra là có xảy ra, sự kiện không xảy ra là không xảy ra. Ví như biết A-la-hán là không còn tái sanh luân hồi là không tái sanh luân hồi. Phàm phu còn tái sanh luân hồi là có tái sanh luân hồi.
     2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực : Có trí lực biết như thật nghiệp báo ba đời của chúng sanh.
     3. Tri chư thiền giải thoát Tam-muội trí lực : Có trí lực biết như Thật các thiền định, Bát giải thoát, Tam tam-muội.

* Trang 192 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa