LOGO VNBET
bằng chữ Hán, đến nay vẫn còn. Vào thế kỷ XIX, Pháp Liên Đà "giải âm" bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do Cưu-ma-la-thập dịch, gọi là Pháp Hoa Quốc Ngữ Kinh vào năm 1848 và in lần đầu vào năm 1856 (Lê Mạnh Thát – Tu thư Vạn Hạnh xuất bản 1982). Trong những thập niên 50 trở lại đây, trong Nam cũng có nhiều vị Tôn túc dịch giải Pháp Hoa như Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Trí Tịnh, Pháp Hoa Huyền Nghĩa của Đạo hữu Chánh Trí Mai Thọ Truyền dịch, Pháp Hoa Chính Văn và Lược Giải của Hoà thượng Trí Quang, Lược Giải Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Thanh Từ …
     Hiện nay, kinh Pháp Hoa cũng được nhiều học giả dịch giải, ấn hành, lưu truyền rất nhiều.
    Đó là lược nói về sự truyền thừa kinh Pháp Hoa.
 IV.  Sự phán giáo trong kinh Pháp Hoa
     Ở Trung Hoa, có nhiều vị phán định một thời giáo pháp của Phật.
    Ngài Thiên Thai Trí Giả (538-597,Tây lịch) phán giáo : Suốt 45 năm thuyết pháp của đức Phật phân làm năm giai đoạn, gọi là Ngũ thời thuyết giáo, (tức là Năm thời gian thuyết giáo):
     1. Nhật xuất tiên chiếu cao sơn : Thời Hoa Nghiêm.
     2. Nhật thăng chuyển chiếu hắc sơn : Thời A-hàm.
     3. Nhật thăng chuyển chiếu cao nguyên : Thời Phương đẳng.
     4. Nhật thăng phổ chiếu đại địa : Thời Bát-nhã.

* Trang 29 *
device

     5. Nhật một hoàn chiếu cao sơn : Thời Pháp Hoa.
     Lối phán giáo này so ra thì không chính xác lắm về thời gian, nhưng về mặt giáo lý thì nó rất hợp lý và rất hay.
     Đầu tiên là thời kinh Hoa Nghiêm. Theo sự khảo cứu về lịch sử của đức Phật thì không có thời đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm lúc mới Thành Đạo, mà chỉ có bài kinh Chuyển pháp luân Phật nói cho năm vị Tỳ-kheo. Trong bài kinh này, Ngài chỉ nói về Tứ đế mà không có Hoa Nghiêm. Nhưng ở đây Ngũ thời thuyết giáo lại cho Hoa Nghiêm là thời nói đầu; vậy, đâu là điểm để cho chúng ta có thể chấp nhận được ? Đó là điểm gút mắc của vấn đề, mà nhiều học giả sau này đã bàn cãi rất nhiều. Điều này chúng ta có thể giải thích rằng : lẽ tất nhiên là chúng ta không thể phủ nhận sự thật của lịch sử, nếu xét theo lịch sử thì có phần không phù hợp ; nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận giá trị giáo lý, nếu xét về mặt nội dung kinh thì nó rất phù hợp, bởi vì kinh chỉ trình bày theo giáo lý truyền thống : lý Duyên khởi. Vì trong thời Chuyển pháp luân đầu tiên, tuy Phật không nói danh từ Hoa Nghiêm, nhưng Phật đã nói lý Duyên khởi, mà lý trùng trùng Duyên khởi của Hoa Nghiêm là đầy đủ trọn vẹn nhất. Đó là lý mà Phật tự nội chứng. Nếu chỉ nói hai chữ “Hoa Nghiêm” thôi thì không sát ý, nhưng nếu nói “lý Duyên khởi của Hoa Nghiêm được Phật nói ra khi Ngài mới giác ngộ” thì rất sát. Bởi vì chính ngay trong kinh Nikàya có nói : “Pháp này do Ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, siêu lý luận, vi 

* Trang 30 *
device

diệu, chỉ có bậc trí mới thấu hiểu; còn quần chúng này tham ái dục, khoái ái dục, đam mê ái dục, khó có thể hiểu thấu được định lý Y tánh Duyên khởi pháp” (là pháp trùng trùng Duyên khởi trong kinh Hoa Nghiêm). Khó mà thấy được định lý “Tất cả hành là tịch tịnh; tất cả sanh y được từ bỏ, ái dục đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu Ta đem pháp ấy thuyết giảng mà người ta không hiểu thì thật mệt mỏi cho Ta”.
     Đó là đoạn kinh do đức Phật nói ra khi Ngài vừa mới chứng đạo dưới gốc cây Bồ-đề. Như vậy, kinh Hoa Nghiêm nói riêng và kinh Đại thừa nói chung chỉ là trình bày lại nội dung giáo lý truyền thống, nhưng không đi xa với giáo lý truyền thống; trái lại, nó còn có một sự liên hệ mật thiết, chặt chẽ. Nhưng đặc biệt hơn, nội dung giáo lý đó được kinh Đại thừa trình bày lại dưới một dạng thức mới mẻ có phần mở rộng, mang tính nhập thế hơn, tích cực hơn .
      Ở thời kinh này, nếu Phật nói ra điều mà Ngài đã thật chứng thì chỉ có các hàng thượng căn thượng trí như Bồ-tát mới có thể hiểu nổi, còn hạng chúng sinh căn cơ thấp kém sẽ không có ai hiểu nổi. Cho nên Phật phải hạ thấp xuống, phải uyển chuyển, linh động, phương tiện thuyết pháp để cho phù hợp với căn cơ của chúng sinh. Vì vậy, sau thời Hoa Nghiêm là thời Phật phương tiện nói A-hàm, Phương Đẳng, rồi tiếp nói Bát-nhã. Và, khi chúng sinh đã thuần thục thì cuối cùng Ngài mới nói Pháp Hoa và Niết-bàn, hướng họ trở về Nhất thừa.

* Trang 31 *
device

     Giáo lý của đức Phật ví như ánh sáng mặt trời. Đã là ánh sáng mặt trời thì trước sau gì cũng chỉ là một : ánh sáng lúc mặt trời mới mọc, lúc giữa trưa, lúc xế chiều hay lúc sắp lặn, thì cũng đều là ánh sáng mặt trời cả, chứ không phải thứ ánh sáng gì khác. Nhưng vì thời gian của mặt trời chiếu có khác nhau nên đối tượng chiếu cũng khác nhau. Sở dĩ mặt trời chiếu khác nhau là do đối tượng và thời gian chiếu khác nhau.
     - Nhật xuất tiên chiếu cao sơn : Mặt trời vừa mới lên, trước hết chiếu vào núi cao. Đây ví cho thời Phật nói kinh Hoa Nghiêm, chỉ dành cho hàng có căn cơ cao.
     - Nhật thăng chuyển chiếu hắc sơn : Mặt trời càng lên cao càng chiếu xuống núi thấp. Qua thời kinh A-hàm, tuy Phật cũng nói lý Duyên khởi, nhưng ở mức độ thấp hơn.
     - Nhật thăng chuyển chiếu cao nguyên : Trong thời kinh A-hàm, Phật chỉ nói nhân vô ngã, đến thời Phương Đẳng, thì Ngài nói luôn pháp vô ngã; cũng như mặt trời càng lên cao càng chiếu xuống chỗ thấp.
     - Nhật thăng phổ chiếu đại địa : Qua thời thứ tư, tức là thời Bát-nhã, thời nhân pháp đều không. Thời này ví như mặt trời càng lên cao nữa thì chiếu khắp cả trời đất.
     - Nhật một hoàn chiếu cao sơn : Mặt trời khi lặn cũng như mặt trời khi mới mọc, nó trở lại chiếu núi cao. Lúc này ví cho thời cuối Phật nói kinh Pháp Hoa Niết-bàn.

* Trang 32 *
device

     Qua sự phán giáo này theo Đại sư Trí Giả, chúng ta thấy Pháp Hoa Niết-bàn ở vào thời thứ năm của Ngũ thời thuyết giáo, tức là thời nói về đạo lý cao thượng.
     Nhưng mặt trời không có cao thấp, chỉ tùy theo đối tượng và thời gian mà chiếu, giáo lý của Phật không có cao thấp, lớn nhỏ gì cả, chỉ tùy theo căn cơ của chúng sinh và thời gian mà Phật thuyết pháp. Bồ-tát Long Thọ ở trong các bộ luận thường hay nói Đại thừa, Tiểu thừa là vì thời bấy giờ Ngài muốn nhắm vào sự lý giải kinh Phật một cách hạn hẹp, xa với tinh thần từ bi trí tuệ của Phật, cũng như sự thực hành mang tính tiêu cực của các bộ phái, chứ không nói về giáo lý của đức Phật.
     Trên kia là sự phán giáo theo Đại sư Trí Giả, Tổ của tông Thiên Thai.
     Ngài Pháp Tạng, Tổ của Tam luận tông, phán giáo có ba thời, gọi là Tam pháp luân.
     Giáo pháp của Phật gọi là Pháp luân, ví như bánh xe, lăn từ chỗ này đến chỗ khác : Bánh xe pháp lăn từ tâm Phật đến tâm chúng sinh. Bánh xe lăn đến đâu là dẹp hết vật chướng ngại trên đường đến đó. Tam pháp luân này như sau :
     1. Căn bản pháp luân : Tương đương với thời thứ nhất của Năm thời thuyết giáo, là thời Hoa Nghiêm; tức là nói căn bản giáo lý của Phật khi mới chứng ngộ mà Ngài muốn nói đầu tiên, nhưng có nhiều người không hiểu nên Ngài nói thời pháp thứ hai.

* Trang 33 *
device

     2. Chi mạt pháp luân : Phật nói A-hàm, Phương Đẳng, Bát-nhã... Đây là những giáo lý tùy theo căn cơ của chúng sinh mà Ngài uyển chuyển nói ra.
     3. Nhiếp mạt chi bổn pháp luân : Thâu nhiếp cái ngọn trở về cái căn bản. Tương đương với Năm thời thuyết giáo, đó chính là Phật nói thời Pháp Hoa và Niết-bàn.
     Ngài Tối Trừng, một vị Tổ sư Ấn Độ truyền bá Phật giáo tại Nhật Bản, đã phân cuộc đời thuyết pháp của Phật ra làm ba :
     1. Căn bản pháp thuyết: Cũng như thời Hoa Nghiêm, tức là thời mà Phật nói các nội chứng của mình. Phật ra đời cốt chỉ làm cho chúng sinh hành theo Nhất thừa đạo để giác ngộ thành Phật mà thôi, nhưng vì căn cơ chúng sinh không hiểu kịp, nên Phật phương tiện nói ra ba thừa.
     2. Ẩn mật pháp thuyết: Ba thừa lấy diễn dịch ở trong các kinh A-hàm, Phương Đẳng, Bát-nhã; hay nói ba thừa, hai thừa nhưng kỳ thật trong thâm tâm của Phật ẩn chứa sâu kín bên trong là Nhất thừa. Ví như thuốc đắng, người ta không uống được, nên phải bọc đường. Ngoài là đường, nhưng bên trong kỳ thật là thuốc.
     3. Minh hiển pháp thuyết: Đến thời pháp này thì đức Phật nói rõ chỉ có Nhất thừa, không có Nhị thừa, Tam thừa; tức là thời Pháp Hoa hội tam quy nhất; đó là Nhất thừa giáo.
     Như vậy, chúng ta thấy, từ ngài Trí Giả, Tổ của tông Thiên Thai; ngài Pháp Tạng, Tổ sư tông Tam

* Trang 34 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa