LOGO VNBET
     Ở trên có ba cụm từ “thừa quyền”, “quyền thừa”, “thừa thật”, cả ba đều có dùng chữ “thừa”, là nghĩa thế nào ? Nay tôi chỉ cần giải thích chữ thừa quyền là đủ .
     Sao gọi là Thừa quyền ? Là nương giáo lý của Phật mà tu hành, sẽ được từ địa vị này qua địa vị khác; như người ta nương chiếc xe mà được đi từ chỗ này sang chỗ khác, nên gọi là Thừa quyền.
     Như vậy, chữ “Thừa” có nghĩa là nương, cỡi, chỡ... (động từ); xe, chiếc xe (danh từ). Nhưng đúng nghĩa theo chữ Hán thì đó phải là chữ “Thặng”, chứ chữ “Thừa” chỉ có nghĩa là “cỡi”, chữ “Thặng” mới có nghĩa là “xe”. (Chữ “Thừa” trong hai chữ “Đại thừa”, “Tiểu thừa” cũng đều có nghĩa như vậy).
     B. Bố cục nội dung phần Tích môn
     Nội dung tổng quát về Tích môn (14 phẩm đầu) của kinh Pháp Hoa:
     1. Phần Tựa: Phần mở đầu gồm Phẩm Tựa.
     2. Phần Chánh tông: Gồm 9 phẩm từ phẩm thứ 2 đến phẩm thứ 10, chia ra :
     a) Lược khai tam hiển nhất : Một nửa đầu của phẩm Phương tiện thứ 2.
     b) Quảng khai tam hiển nhất : Một nửa sau phẩm Phương tiện đến phẩm Pháp sư thứ 10, phân ra 3 loại :
     * Pháp thuyết châu : Phật nói pháp Khai tam hiển nhất, một nửa phẩm Phương tiện thứ 2 và phẩm Thí dụ thứ 3.

* Trang 38 *
device

     * Dụ thuyết châu: Gồm các phẩm Tín giải thứ 4; Dược thảo dụ thứ 5; Thọ ký thứ 6.
     * Nhân duyên thuyết châu: Gồm các phẩm Hóa thành dụ thứ 7; Ngũ bách đệ tử thọ ký thứ 8; Thọ học vô học nhân ký thứ 9; Pháp sư thứ 10.
     Lược khai tam hiển nhất là nói sơ lược khai tam hiển nhất. Quảng khai tam hiển nhất là nói một cách rộng rãi về khai tam hiển nhất. Phần này chia ra 3 loại gọi là Tam châu thuyết pháp, là thuyết pháp trọn vẹn theo 3 phần :
     -Pháp thuyết châu: Phật nói ngay các pháp khai tam hiển nhất.
     - Dụ thuyết châu: Khi Phật nói pháp ấy ra rồi, một số thượng căn hiểu và ngộ được nên Phật thọ ký cho họ. Còn số trung căn chưa ngộ được nên Phật phải thêm ví dụ nữa, hàng trung căn mới ngộ được.
     - Nhân duyên thuyết châu: Hạng trung căn đã ngộ rồi nhưng hạng hạ căn vẫn chưa hiểu được, nên Phật kể lại nhân duyên quá khứ của các vị đó để họ thấy rằng họ đã từng có nhân duyên gặp Phật, ngày trước họ đã từng gặp Pháp Hoa, nhưng vì họ không tu nên bây giờ họ chưa đạt được Phật tuệ để họ phấn chứng, phát khởi đạo tâm tu hành. Vì vậy nên gọi là Nhân duyên thuyết châu.
     3. Phần lưu thông: Công thâm báo trọng mạng mích lưu thông : nói về người có công tu hành thâm sâu thì sẽ được quả báo quý trọng. Phần này gồm có:

* Trang 39 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa