LOGO VNBET
     a. Xác chứng lời đức Thích-ca nói về kinh Pháp Hoa: một nửa của phẩm Pháp sư thứ 10 và phẩm Kiến bảo tháp thứ 11.
     b. Dẫn vãng kiêm ích dĩ chứng lưu thông: phẩm Đề-bà-đạt-đa thứ 12.
     c. Tha phương thử độ khuyến tấn lưu thông: phẩm Trì thứ 13.
     d. Sơ tâm hoằng kinh bất lự nguy khổ: phẩm An lạc hạnh thứ 14.
     C. Bổn môn
     Phần Bổn môn còn gọi là phần Khai cận hiển viễn, Khai tích hiển bổn, Thân quyền thân thật.
     Bổn nghĩa là chỉ cho phần pháp thân của đức Phật Thích-ca.
     Khai cận hiển viễn : Mở cái gần để trình bày cái xa.
     Khai tích hiển bổn : Tích là dấu vết; bổn là cái gốc. Kinh Pháp Hoa nói tích, bổn là để chỉ cho đức Phật Thích-ca trong giáo pháp của Ngài về bản vị quá khứ, bản vị vô lượng thọ và sự hiện thân với nền giáo lý cõi Ta-bà này.
     Đặc biệt của kinh Pháp Hoa là “khai quyền hiển thật, khai cận hiển viễn”. Quyền này là tam thừa. Thật là Nhất thừa. Cận là ứng thân; viễn là pháp thân. Vì thừa có quyền có thật như vậy cho nên cũng gọi là “quyền thừa thật thừa, quyền thân thật thân”. Đây là những từ đặc biệt của kinh Pháp Hoa.

* Trang 40 *
device

     Có khai quyền mới hiển thật được. Nên khi Phật mới Thành Đạo, Ngài nói kinh Hoa Nghiêm đầu cuối hai mươi mốt ngày. Trong sử không có đề cập Phật nói kinh Hoa Nghiêm, một số người nghiên cứu lấy cái lý Phật nói lý Duyên khởi, trùng trùng Duyên khởi là ý nghĩa trong kinh Hoa Nghiêm mà nói như vậy. Trong đó, Phật nói: “Pháp này do Ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có bậc trí mới thấu hiểu; còn quần chúng này tham ái dục, khoái ái dục, đam mê ái dục, khó có thể hiểu thấu được định lý Y tánh Duyên khởi pháp, khó thấy định lý tất cả các hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta thì như vậy thật là khổ não cho Ta”. Nên các pháp môn khác của Phật sau này chỉ triển khai lý Duyên khởi và lý Niết-bàn mà thôi.
     · Về Nhân duyên.
     Nhân duyên nói cho cùng thì đó chính là nhân duyên trong kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm nói nó trùng trùng Duyên khởi. Nhưng khi Phật nói kinh Hoa Nghiêm thì không ai tu được. Muốn cho chúng sinh hiểu được ý nghĩa sâu xa đó thì phải triển khai ra, nên Phật đã phương tiện nói ba thừa. Nói ba thừa là để dắt dẫn chúng sinh đến Nhất thừa. Khi chúng sinh sắp hiểu được Nhất thừa thì Phật mới hiển cái Nhất thừa đó ra. Nhờ khai quyền trước mà cái thật mới được hiển ra.

* Trang 41 *
device

     Trong khi khai quyền hiển thật như vậy thì phải biết “nhiếp thật nhi quyền”, khai quyền nhưng không bỏ thật. Trong khi nói tam thừa nhưng Phật vẫn không bỏ lý Nhân duyên mà ẩn lý Nhân duyên trong đó. Nhiếp thật nhi quyền : Thật ấy ở trong quyền, chứ không phải thật ấy hoàn toàn khác biệt với quyền, mà chính thật là quyền, quyền là thật. Cái thật ẩn đi cho cái quyền hiện ra; nhờ có quyền đó mới hiển được thật. Phật khai Tam thừa là để dẫn dắt chúng sinh ngộ được Nhất thừa. Đó là ý nghĩa 14 phẩm đầu của kinh Pháp Hoa.
     · Quyền thừa quyền thật.
     Giáo lý của Phật nói ra, chúng sinh nương theo giáo lý đó mà đi từ cảnh giới phàm phu đến cảnh giới thánh. Đi như vậy cũng không khác nào cưỡi lên một chiếc xe mà đi, nên giáo lý ấy gọi là Thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa và Phật thừa. Như vậy, tam thừa là chiếc xe quyền biến, chứ thật không phải Phật muốn đem chiếc xe ấy cho chúng sinh đi. Phật muốn lấy chiếc xe Nhất thừa cho chúng sinh đi, nhưng vì chúng sinh chưa thể đi chiếc xe đó được, nên Phật phải đưa ra chiếc xe tam thừa. Như vậy, tam thừa là chiếc xe quyền thừa; đó cũng gọi là quyền giáo, thật giáo. Kinh Pháp Hoa khai triển những từ này của ngài Thiên Thai Trí Giả, phát huy được ý nghĩa sâu sắc nhất, rộng rãi nhất. Các Pháp sư khác phần nhiều dựa vào ngài Thiên Thai để triển khai thêm mà thôi, là nói quyền thừa thật thừa hay quyền giáo thật giáo.

* Trang 42 *
device

     Lại nói 14 phẩm trước là nói về Tích môn. Tích là nói sự hiện thân có hình dáng, dấu vết mà mọi người đều thấy được, nghe được. Mười bốn phẩm sau nói về Bổn môn, là nói pháp thân bất sinh bất diệt của Phật. Pháp thân bất sinh bất diệt ấy đối lại với thân Phật thị hiện ra trong cõi Ta-bà này, có sinh có diệt. Hai thân ấy tương quan với nhau nhưng cũng tương phản nhau, vì thân Phật hiện ra trong đời này để độ chúng sinh, đó chỉ là quyền thân. Còn thật thân của Phật là pháp thân thì bất sinh bất diệt như nói ở phẩm Như Lai Thọ lượng. Cho nên, 14 phẩm sau nói về Bổn môn tức là nói về phương diện gốc tích.
     Khai cận hiển viễn.
     Cận là chỉ thân của đức Phật Thích-ca trong đời này mà người ta thấy được, gần gũi được, gọi là cận. Viễn là pháp thân lâu xa vô lượng kiếp về trước. Như vậy, thân ấy có quyền thật nên cũng có quyền thân thật thân. Ứng thân của Phật trong cõi Ta-bà là quyền thân; pháp thân bất sinh bất diệt là thật thân.
     Trên đây là nói tóm tắt những điểm đặc biệt của kinh Pháp Hoa, còn thật tánh thật tướng thì các kinh khác đều có nói, nhưng dùng danh từ khác, thí dụ như “Phật tri kiến” chẳng hạn.
     Sự hiện thân của đức Phật Thích-ca và giáo pháp của Ngài nói ra trong thời hiện tại, đó là Tích. Mà sự hiện thân cùng giáo pháp ấy của Ngài đã có từ vô lượng kiếp quá khứ, pháp thân vô lượng thọ và giáo 

* Trang 43 *
device

pháp vô lượng thọ, đó là Bổn. Sự hiện thân cùng nền giáo pháp của đức Phật trong đời hiện tại mà chúng ta có thể thấy, nghe hoặc có thể không thấy không nghe, vì Ngài có hiện thân thì phải có nhập diệt. Còn pháp thân vô lượng thọ và giáo pháp vô lượng thọ trong bản vị quá khứ của Ngài thì bất sinh bất diệt. Ta có thể lấy ví dụ : Như mặt trăng trên trời cao, bóng trăng dưới nước. Trăng trên cao là bổn (gốc), là viễn; bóng trăng dưới nước là Tích (dấu vết), là cận. Trăng dưới nước là dấu vết của trăng trên cao; nó tùy theo cái thấy của con người, tùy theo nước trong, đục mà có khi ẩn, hiện, khi có khi không, chứ trăng trên cao luôn luôn có, không ẩn không hiện. Như vậy, không khai tích làm sao hiển bổn được; không khai cận làm sao hiển viễn được ? Thế nên, có khai tích mới hiển được bổn. Vì vậy, nói có đức Phật Thích-ca thị hiện ở cõi Ta-bà này thì mới hiển hiện được đức Phật Thích-ca vô lượng kiếp trong bản vị. Khai thị dấu vết và giáo pháp gần gũi đây của đức Phật Thích-ca mới hiểu rõ bản vị, giáo pháp của đức Phật Thích-ca trong nhiều kiếp lâu xa về trước.
     · Thân quyền thân thật :
     Trên nói quyền thừa quyền thật là cốt để chỉ cho giáo pháp ; nay nói thân quyền thân thật là cốt để chỉ cho thân Phật, pháp thân Phật. Phần Bổn môn nhằm nói về pháp thân Phật. Đó là ý nghĩa tổng quát của phần Bổn môn.

* Trang 44 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa