LOGO VNBET
PHẨM HÓA THÀNH DỤ
     Phẩm này là phẩm chính yếu nói về nhân duyên thuyết pháp, tức Phật nhắc lại nhân duyên quá khứ đức Phật đã từng thuyết pháp: Ta là một trong 16 Sa-di thuyết pháp mà các ngươi đã từng nghe, chẳng qua hôm nay các ngươi quên đi mà thôi. Lần này nhắc lại nhân duyên cũ cho các ngươi biết, rằng kinh Pháp Hoa này không có chỗ nghi ngờ mà thật đáng tin cậy. Phải hiểu và tin để mà giáo hóa những hạng hạ căn.
     Trong phần Dụ thuyết châu còn có phẩm Dược thảo dụ và Thọ ký dụ, hai phẩm này lặp lại ý: Dược thảo là nói một ý nhỏ như ba hạng cây lớn, cây vừa và cây nhỏ từ đất mọc lên, nên có ba căn chủng khác nhau. Khác nhau vì căn chủng chứ không phải vì đất mọc; ba cây đó khi gặp trận mưa lớn thì cây lớn hấp thụ được nhiều, cây vừa hấp thụ vừa, cây nhỏ hấp thụ ít. Trận mưa đó không phân biệt cây lớn cây vừa cây nhỏ gì cả, nhưng do căn cơ của ba hạng cây khác nhau nên hấp thụ lượng mưa khác nhau. Ví dụ như lời thuyết pháp của đức Phật, bình đẳng không có phân biệt, nhưng vì căn cơ của ba hạng người khác nhau nên hấp thụ giáo pháp khác nhau. Đây là ý nghĩa của phẩm Dược thảo dụ. Nói phẩm này để chứng tỏ cho rõ thêm phần dụ thuyết châu, các vị đệ tử trung căn được lãnh ngộ. Đến phẩm Thọ ký là các Ngài nhận hiểu được rồi nên Phật thọ ký.

* Trang 392 *
device

     Còn nhân duyên thuyết châu thì phẩm Hóa thành là phẩm chính. Nên lượt hai phẩm Dược thảo và Thọ ký.
     Phật bảo các Tỳ-kheo : “Vô lượng vô biên bất khả tư nghì vô số kiếp về quá khứ, bấy giờ có đức Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Cõi nước đó gọi là Hảo Thành, kiếp đó tên Đại Tướng.
     Này các Tỳ-kheo, đức Phật kia diệt độ đến nay hết sức lâu xa. Ví như ba ngàn đại thiên thế giới, giả sử có người mài lấy mực, rồi đi qua về hướng đông trải ngàn quốc độ thả xuống một điểm mực. Như vậy triển chuyển hết cả mực từ nơi địa chủng đó mài ra, ý các ông nghĩ thế nào? Các quốc độ đó toán sư hoặc đệ tử của toán sư có thể biết hết cái biên tế đó chăng? – “Thưa không, bạch đức Thế Tôn”. – Này các Tỳ- kheo, các quốc độ mà người đó trải qua hoặc có thể một điểm hoặc không điểm, đều nghiền các quốc độ đó ra làm vi trần, cứ mỗi một vi trần là một kiếp thì đức Phật kia diệt độ đến nay còn quá hơn vô lượng vô biên trăn ngàn vạn A-tăng-kỳ-kiếp. Ta dùng lực tri kiến của Như Lai xem đức Phật kia diệt độ lâu xa như thế mà giống như mới xảy ra trong ngày hôm nay.
     Phần này gọi là phần Nhân duyên thuyết châu, nên ý của phần này là nói về nhân duyên. Phật nhắc lại thời xa xưa có đức Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng diệt độ đã lâu. Đây chỉ ví dụ thôi, chứ không thể dùng con số để xác định được. Như trong kinh Hoa Nghiêm dùng “bất khả 

* Trang 393 *
device

thuyết”. Từ ví dụ ấy rồi tưởng ra ra thôi. Trong kinh dùng “bất khả thuyết, bất khả thuyết”, rồi “bất khả thuyết chuyển”. Chỉ thêm chữ “chuyển” là đã không biết bao nhiêu lớp mà chồng chất lên. Ở đây cũng vậy, đức Phật diệt độ lâu xa, nhưng lâu xa thế nào ? Lâu xa ví như địa giới trong ba ngàn đại thiên thế giới. Giả sử có người mài địa giới đó làm mực rồi đi qua phương đông  cả ngàn quốc độ mới thả một điểm chứ không phải một nước là thả một điểm, mà điểm ấy chỉ nhỏ bằng hạt bụi (vi trần). Cứ triển chuyển như vậy cho đến khi nào hết mực bằng địa chủng ấy. Chúng ta nghĩ sao? Các quốc độ đó, các vị toán sư hay đệ tử của vị toán sư này có thể biết  được ngần mé số đó không? Thế mà đức Phật Đại Thông Trí Thắng kia diệt độ đến nay số kiếp còn quá hơn hạt bụi đó nữa, thì biết bao nhiêu mà kể ! Vì thế, khi chúng ta học như vậy đừng cho nó là mơ hồ.
     Đức Phật của chúng ta lớn lao vô cùng, chứ không phải như ta nhìn trên đầu ngón tay rồi tính đến mười ngón. Trong kinh đức Phật nói quả đất đã có hàng tỷ tỷ năm và khoa học cũng nói như vậy. Chúng ta đem so sánh như thế mới có được tầm nhìn và thấy được trí tuệ của đức Phật vĩ đại như thế nào? Nếu không thì ta cứ nghĩ đó là một việc trừu tượng, huyễn hoặc. Nay khoa học cũng tìm ra năm của các sinh vật chết ở dưới đất, mà khi đào lên chỉ còn bộ xương. Khi đem vào phòng xét nghiệm để phân tích mới biết bộ xương đó là các sinh vật đã sống cách đây hàng trăm triệu năm. Chuyện đó nếu đối với ngày xưa người ta nghe vậy thật khó tin, cũng như trước đây nói quả đất đã 

* Trang 394 *
device

có hàng tỷ tỷ năm thì chẳng ai tin. Nhưng bây giờ thì người ta đã tin. Người ta tin khoa học, vì họ đã tìm ra những phát minh đúng. Vậy nên, học kinh để chúng ta biết rằng chính thời đức Phật ra đời trước Thiên chúa gần 600 năm, khi ấy khoa học chưa có tiến bộ gì cả. Có thể nói khoa học còn mới bắt đầu, thì quan điểm về thời gian, không gian chính đức Phật đã nói rồi, thật quả siêu việt. Ngày nay khoa học phát minh chừng nào thì ta thấy đức Phật nói đúng chừng ấy.
     Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai diệt độ ví như hạt bụi trần lâu như thế đó, nhưng sao ta biết được? Ta biết được là nhờ sức trí huệ của Như Lai quá rộng lớn, bao trùm lên trên cả sự nhỏ bé của ta nên ta mới nhận biết được như vậy. Như chúng ta đã biết, tốc độ của ánh sáng đi trong một giây là trên ba mươi ngàn ki lô mét. Nguyễn Hiến Lê có viết : “Nếu ta có một tốc độ nhanh như ánh sáng, thì bây giờ ta có thể thấy trận gò Đống Đa của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ trước đây từ thế kỷ XVIII”. Trong sử Phật giáo Trung Quốc cũng có nói ngài Trí Giả Đại sư giảng đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa suốt mấy tuần không xong, khi đó Ngài thấy hội Linh Sơn của đức Phật. Đây cũng phải đứng về mặt tâm lý mà nói. Như khi ta sống ở quê, rồi lên thành phố, sau về quê lại, thì quan niệm về không gian của ta trong khoảng thời gian ấy cũng sẽ thay đổi. Khi ta còn  sống ở quê với ngôi nhà tranh lụp xụp, thì lên thành phố, cái gì đối với ta cũng rất lạ mắt. Đến lúc trở về nhà quê thì cứ tưởng là cái nhà ta ở vào ra không lọt. Khi chưa lên phố thì ta vào ra ngôi 

* Trang 395 *
device

nhà thoải mái, nhưng khi lên phố rồi thì ta thấy nhà quê thật chật hẹp. Do vậy, quan niệm về thế giới qua không gian, thời gian còn tùy theo trình độ hiểu biết của ta mà có lâu, mau, chứ thật nó không có cái gì gọi là cố định cả. Những việc trong Kinh nói, sở dĩ chúng ta không hiểu là vì vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta; vì chúng ta chưa có một tầm nhìn và trí huệ sâu xa như đức Phật, như tốc độ ánh sáng để nhìn trận Đống Đa. Do vậy mà chúng ta không hiểu.
     Thế đức Phật nói lại nhân duyên ấy để làm gì? Vì đức Phật muốn cho hàng đệ tử thính chúng biết rằng, chính vào thời đó, các đức Phật quá khứ đã nói kinh Pháp Hoa, nay Ngài cũng đang nói kinh Pháp Hoa và trong hàng đệ tử hôm nay cũng đã có người từng nghe kinh Pháp Hoa, khởi tâm Đại thừa. Nhưng vì thất niệm, giải đãi nên quên mất tâm Đại thừa ấy. Vì thế đức Phật ra đời giảng kinh Pháp Hoa, có một số đệ tử không hiểu, không ngộ được mà chỉ ngộ được khi đức Phật giảng về ba thừa mà thôi. Do đó, đức Phật nhắc lại trong dĩ vãng: “Ta đã từng giảng giải kinh Pháp Hoa mà do các ngươi giải đãi, thất niệm, chỉ thích pháp nhỏ, nên nay Ta nhắc lại nhân duyên trước cho các ngươi biết”.
     Bấy giờ đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nói kệ rằng:
     Ta nhớ đời quá khứ, vô lượng vô số kiếp trước có đức Phật lưỡng túc tôn, gọi là Đại Thông Trí Thắng. Như có người dùng sức mài hết quốc độ trong ba ngàn đại thiên 

* Trang 396 *
device

đều làm thành mực, cứ qua khỏi ngàn quốc độ thả xuống một điểm bằng bụi trần. Như vậy triển chuyển điểm cho hết các mực bụi trần đó. Các quốc độ như vậy, hoặc điểm hoặc không điểm đều nghiền ra thành bụi, rồi một hột bụi tính là một kiếp, thì kiếp đức Phật diệt độ quá số vi trần đó. Đức Phật kia diệt độ  như vậy vô lượng kiếp. Đức Như Lai dùng vô ngại trí, biết đức Phật kia diệt độ và hàng Thanh văn Bồ-tát y như  thấy diệt độ ngày hôm nay. Các Tỳ-kheo nên biết, Phật trí thanh tịnh vi diệu, vô lậu vô chướng ngại, thông đạt vô lượng kiếp.
     Trên kia là đức Phật chỉ mới nói nhân duyên diệt độ của đức Phật quá khứ về phương diện thời gian, không gian, mà chưa nói nhân duyên của đức  Phật đó với hàng đệ tử. Nay Phật nói tiếp về các nhân duyên ấy.
     “Này các Tỳ-kheo, đức Phật Đại Thông Trí Thắng sống lâu năm trăm bốn mươi vạn ức Na-do-tha kiếp. Đức Phật vốn ngồi đạo tràng phá Ma quân xong, khi sắp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì Phật pháp không được hiện ra trước mắt. Cứ như vậy trải qua một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi kiết già như vậy, thân tâm bất động mà Phật pháp vẫn không bị liệt. Bấy giờ các trời Đao Lợi, trước hết vì đức Phật kia trãi tòa sư tử dưới cây Bồ-đề cao một do tuần, đức Phật kia ở nơi tòa đó được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vừa ngồi tòa đó thì các hàng thiên vương mưa các hoa trời, bề mặt rộng một trăm do tuần, gió thơm đúng thời thổi đến, thổi bay đi những hoa héo và lại mưa xuống 

* Trang 397 *
device

những hoa tươi, cúng dường đức Phật như vậy mãn mười tiểu kiếp, cho đến khi đức Phật diệt độ mà cũng mưa hoa cúng dường như thế. Các Tứ thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời và các trời khác thường trỗi âm nhạc trãi mười tiểu kiếp, cho đến khi đức Phật diệt độ cũng làm như vậy.
     Này các Tỳ-kheo, đức Phật Đại Thông Trí Thắng qua khỏi mười tiểu kiếp thì pháp của chư Phật mới hiện ra trước mắt, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Phật kia trước khi xuất gia có 16 người con, người con thứ nhất có tên là Trí Tích. Các người con này đều có các đồ chơi quý báu lạ lùng, tốt đẹp. Khi nghe cha chứng thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, liền bỏ đồ quý báu, đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc đưa tiễn. Vị Chuyển luân Thánh vương (tổ phụ vương của Đại Thông Trí Thắng ) cùng với một trăm đại thần và trăm ngàn vạn ức nhân dân khác thảy đều hoan hỷ, đều đi đến nơi đạo tràng, muốn gần gũi Như Lai Đại Thông Trí Thắng để cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán. Đến rồi đầu mặt lễ sát đất, nhiễu quanh Phật xong nhất tâm chắp tay, chiêm ngưỡng đức Phật, nói bài kệ tụng rằng:
          “Đại Hoa Đức Thế Tôn,
           Vì độ chúng sinh nên,
           Trải vô lượng ức kiếp,
           Bấy giờ mới thành Phật,
           Các bản nguyện đầy đủ.
           Lành thay tốt vô thượng,

* Trang 398 *
device

           Đức Thế Tôn hy hữu,
           Một lần mà Ngài ngồi,
           Trải qua mười tiểu kiếp,
           Thân thể và tay chân,
           Vẫn lặng lẽ an nhiên,
           Không lay động tâm kia”.
      Bấy giờ 16 vương tử đều với tuổi đồng chơn mà xuất gia làm Sa-di, các căn thông lợi, trí tuệ sáng suốt, đã từng cúng dường trăm ngàn vạn ức chư Phật, siêng tu phạm hạnh, cầu Vô thượng giác, đều bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn, vô lượng trăm ngàn vạn ức đại đức Thanh văn ấy đều đã thành tựu. Thế Tôn cũng sẽ vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chúng con nghe rồi, đều cùng tu học. Bạch đức Thế Tôn, ý nguyện của chúng con, Như Lai biết thấy thâm tâm của chúng con niệm nghĩ đến điều gì, đức Phật đã tự chứng tri”.
     Trước là nói đức Đại Thông Trí Thắng khi chưa xuất gia có 16 vương tử - vì dòng Chuyển luân Thánh vương. Sau khi đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật rồi thì 16 vương tử này còn là đồng tử, tức là còn trẻ xuất gia làm Sa-di. Đây là những vị các căn thông lẹ, trí tuệ sáng suốt, đã từng cúng dường trăm ngàn vạn ức chư Phật, siêng tu phạm hạnh, cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi xuất gia rồi thì bạch với đức Phật Đại Thông Trí Thắng rằng: Bạch đức Thế Tôn, vô lượng trăm ngàn vạn ức Thanh văn đều đã thành tựu, (Ý nói đức Phật thuyết pháp thì các vị Thanh văn đều thành tựu cả). Nay chúng con là hàng xuất gia sau, thì đức

* Trang 399 *
device

Thế Tôn cũng vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh  giác, chúng con nghe xong thì đều cùng nhau tu học. Bạch đức Thế Tôn, ý nguyện của chúng con, Như Lai đều biết đều thấy, những ý nghĩ trong thâm tâm của chúng con Phật cũng tự chứng biết. (Ý nói sự cầu mong Vô thượng Chánh giác trong thâm tâm của các vương tử thì đức Phật đã biết rõ rồi, thấy rõ rồi nên giờ đây xin Ngài thuyết pháp cho.)
     Lúc bấy giờ Chuyển luân Thánh vương (phụ thân của đức Phật Đại Thông Trí Thắng) đem theo tám vạn ức người, các vị đó thấy 16 vị vương tử xuất gia thì cũng cầu xin xuất gia. Vua liền chấp nhận. (Vua tức là Chuyển luân Thánh vương vì tất cả những vị này đều là tùy tùng của Chuyển luân Thánh vương, thấy 16 vị vương tử xuất gia thì những vị này cũng xin xuất gia. Vì vua là chủ nên vua chấp nhận cho.)
     Bấy giờ đức Phật kia nhận lời thưa thỉnh của 16 vị Sa-di, trải qua hai vạn kiếp ở giữa bốn chúng nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa này, là pháp dạy cho hàng Bồ-tát mà được Phật hộ niệm.
     Phật nói kinh này rồi thì 16 vị Sa-di này vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên đều cùng nhau thọ trì đọc tụng, thông lợi kinh Diệu pháp Liên Hoa mà đức Phật vừa nói xong .
     Trong lúc nói kinh này, 16 vị Sa-di Bồ-tát thảy đều tín thọ. Các vị Sa-di Bồ-tát nghe Phật thuyết giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Hội tam quy nhất – tức đạo lý 

* Trang 400 *
device

Nhất thừa đó, thì 16 vị Sa-di Bồ-tát này đều tín thọ. Trong chúng Thanh văn cũng có người tín giải, trì thọ, có người không tín giải. Có số ngàn vạn ức người thì đã không tín thọ, không tín giải, đều sinh nghi hoặc.
     Nghi hoặc rằng: Phật nói kinh ấy trong 8.000 kiếp chưa từng phế bỏ. Tại sao Phật nói kinh ấy lâu như thế ? Nói kinh ấy rồi liền vào tịnh thất trú trong thiền định 84.000 kiếp.
     Bấy giờ 16 vị Sa-di Bồ-tát biết đức Phật đã vào thất. Yên lặng thiền định nên 16 Bồ-tát Sa-di đó đều lên pháp tòa cũng trải qua 84.000 kiếp, vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Các vị Sa-di Bồ-tát đó đều độ cho 600 vạn ức na- do-tha hằng hà sa chúng, chỉ bày, dạy dỗ khiến cho chúng vui mừng, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
     Kinh Đại thừa thường diễn tả không gian vô cùng, thời gian vô tận, ngoài tầm nhìn của chúng ta. Đó cũng là nói bổn tâm của mỗi chúng sinh đều thanh tịnh. Tâm tính của chúng ta đối với không gian và thời gian cũng vô cùng vô tận chứ không phải có phạm vi giới hạn như cái ao, cái nhà của chúng ta v.v… Pháp tánh của mọi sự mọi vật vô cùng vô tận nên không gian thời gian biến hiện theo pháp tánh, nó vô cùng vô tận. Vì thế, ta không còn ngạc nhiên mà cũng không mơ hồ khi nghe có người sống 84.000 tuổi. Chúng ta sống một năm mà đã quá vất vả rồi, huống gì đến số kiếp ấy. Do bởi chúng ta thường đứng trong tầm nhìn quá hạn hẹp nên mới thấy nó vời 

* Trang 401 *
device

vợi như thế, chứ khi chúng ta đã đạt được bình đẳng tánh trí rồi thì chuyện đó là đương nhiên. Pháp tánh vô tận thì trí tuệ vô tận, đó là tánh tự nhiên như vậy. Các nhà khoa học phát minh rằng không thể không có cái không có vật chất, tức cái vô hình mà thật sự là do mắt ta không thấy. Nên đạo Phật nói lý rất hay: “Tâm, sắc bất nhị” (tâm và sắc tâm không hai). Có sắc mới có tâm, có tâm mới có sắc. Có tâm mới có vật chất, có vật chất mới có tâm, không có vật chất thì tâm nằm ở đâu ? Ngài Hương Ngại có câu: “Thân hình đặt rộng đâu đâu, nếu không còn chơn tâm bao quát nơi nào mà không”. Nên khi học Duy thức, chúng ta đừng nên hiểu nghĩa tương đương với Duy tâm này. Tâm ở đây chủ trương đi trước để sinh vật đi sau, vật đi trước để sinh vật đi sau nữa, cả hai đều là không phải nghĩa Duy thức trong nhà Phật. Đạo Phật không chủ trương tâm đi trước, vật đi sau, mà chủ trương trùng trùng Duyên khởi. Mà đã trùng trùng Duyên khởi thì mỗi pháp tự nó có một sự tương quan trực tiếp hay gián tiếp. Lớn, nhỏ, nhiều kiếp, vô thỉ đến vô chung, không thể tách riêng ra một pháp nào cả. Nói cái này có trước cái kia có sau, đó là chuyện vô lý, đạo Phật không chấp nhận được. Vì vạn pháp là duyên sinh, trùng trùng vô tận tương quan lẫn nhau, thì làm sao có thể phân biệt được trước sau! Vì ta tách ra một pháp trong muôn pháp trùng trùng, rồi đem so sánh, nói pháp này có trước, sinh ra pháp kia, là sai. Tách riêng một pháp mà tìm nguyên nhân của nó trọn không thể được, vì các pháp đâu có đứng riêng biệt một pháp nào để cho ta tìm đâu ! Chính 

* Trang 402 *
device

chúng ta tự  mình tách ra chứ các pháp nó luôn luôn tương quan tương duyên, hỗ trợ cho nhau một cách chặt chẽ. Đó là một trong 14 nạn vấn mà đức Phật không trả lời với ngoại đạo, như thế gian thường hay vô thường v.v… vì đó là những chuyện vô lý, không có mà đặt điều ra để hỏi, nên Ngài không trả lời, pháp trùng trùng Duyên khởi mà tự tách ra một pháp, để hỏi trước sau, thì thật là ngớ ngẩn !
     Nguyên lý trùng trùng Duyên khởi ngày nay khoa học đã xác minh. Cả thế giới vô tận mà họ chỉ thu lại trong một vật nhỏ xíu, rồi từ vật đó chiếu phát ra. Như vậy có khác gì trong kinh Hoa Nghiêm nói đức Đại Thông Trí Thắng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa một kiếp, ức kiếp, thời gian, không gian thật mênh mông, trải qua mấy vạn năm… Nên khoa học càng phát minh chừng nào thì càng gần Phật chừng ấy.
     Trước tôi đã nói nói phẩm Hóa Thành ở phần Nhân duyên thuyết, tức là đức Phật nhắc lại cho thính chúng biết nhân duyên trước đây rằng: Đức Phật Đại Thông    Trí Thắng (trong 16 vương tử có đức Phật Thích-ca) đã nói Diệu Pháp Liên Hoa mà các ông đã từng nghe. Chẳng qua các ông đã quên đi mà thôi, cho nên các ông đừng có ngạc nhiên. Bây giờ Ta nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhắc lại nhân duyên như vậy để cho các ông khỏi nghi ngờ và đặt lòng tin tưởng. Đã từng nghe Diệu Pháp Liên Hoa rồi nên đừng ngạc nhiên gì cả. Dựa vào nhân duyên kiếp trước mà các ông đã từng nghe Diệu Pháp Liên Hoa, 

* Trang 403 *
device

nên nay ta chỉ nhắc lại, chứ không có gì là lạ cả. Khi các vị đó nói rồi thì độ cho sáu ngàn vạn ức Na-do-tha hằng hà sa chúng sinh, nghe giáo pháp này thì hoan hỉ, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Biết đâu trong số ấy có chúng ta!
    Đức Đại Thông Trí Thắng trải qua tám ngàn bốn vạn kiếp xong, từ Thiền định dậy, Ngài đến pháp tòa thong thả ngồi, tuyên cáo với đại chúng rằng: Mười sáu Sa-di Bồ-tát này thật là hy hữu; các căn thông lợi, trí tuệ sáng suốt, đã từng cúng dường vô lượng ngàn vạn ức số đức Phật. Ở chỗ chư Phật thường tu phạm hạnh, thọ trì Phật trí, khai thị cho chúng sinh, khiến chúng sinh được vào Phật trí. Các ông đều nên thường thân cận mà cúng dường. Vì sao? Vì các Thanh văn, Bích-chi Phật, Bồ-tát, tin được kinh pháp của 16 Sa-di Bồ-tát nói mà thọ trì, không hủy báng, những người đó đều sẽ được trí tuệ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
     Phật bảo các Tỳ-kheo: 16 vị Bồ-tát ấy thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị Bồ-tát hóa độ được sáu trăm vạn ức Na-do-tha hằng hà sa số chúng sinh. Những chúng sinh ấy đời đời sinh ra được gặp Bồ-tát, ở nơi Bồ-tát mà nghe pháp, hết thảy đều tín giải. Do nhân duyên ấy mà được gặp bốn vạn ức chư    Phật Thế Tôn, cho đến nay không dứt.
     Này các Tỳ-kheo, Ta (đức Thích-ca) nay nói cho các ông biết, 16 Bồ-tát Sa-di đệ tử của đức Phật Đại Thông Trí Thắng kia - 16 Sa-di đó nay đều đã chứng được Vô 

* Trang 404 *
device

thượng Chánh đẳng Chánh  giác, đang thuyết pháp ở trong mười phương quốc độ, có vô lượng trăm ngàn vạn ức Bồ-tát, Thanh văn làm quyến thuộc. Trong 16 vị Sa-di đó thì có hai vị làm Phật ở nước Hoan Hỷ phương Đông, đó là Phật A-súc và Phật Tu-di Đảnh. Ở phương Đông Nam có hai vị làm Phật, hiệu Sư tử Âm và Sư tử tướng. Ở phương Nam có hai vị Phật là Hư Không Trú và Thường  Diệt. Ở phương Tây có ba vị Phật là A-di-đà, Đế tướng và Phạm tướng. Ở phương Tây bắc có ba vị Phật là Đa-ma-la Bạt- chiên-đàn hương Thần Thông và Tu-di Tướng. Ở phương Bắc có hai vị Phật là Vân Tự Tại và Vân Tự Tại Vương. Ở phương Đông Bắc có một vị Phật hiệu là Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Uy. Vị Phật thứ mười sáu, đang giáo hóa ở cõi Ta-bà này, là Ta đây, tức Thích-ca Mâu-ni.
     Sở dĩ phân tích ra như vậy là vì nó có liên quan đến đức Phật vì thính giả mà nói Nhân duyên thuyết. Nên Ngài muốn nói rằng: “Trước đây khi đức Phật Đại Thông Trí Thắng thuyết Diệu Pháp thì các ông đã từng nghe. Lúc đó Ta là một trong 16 vương tử, khi chưa thành Chánh giác, còn xuất gia trong pháp hội của Phật ấy, Ta đã từng thuyết Diệu Pháp”. Về lịch sử đức Phật Thích-ca, không thấy nói đến các kiếp trước xa xưa của đức Phật, nhưng về kinh thì có kinh Bản sinh là nói về tiền thân của Bồ-tát nhiều nhất. Trong ấy chúng ta cũng thấy đức Phật có tiền thân tu Bồ-tát hạnh như lục độ, thập độ dưới nhiều hình thức: khi làm vua, khi làm dân, khi làm cha, khi làm mẹ, khi làm người bần …

* Trang 405 *
device

      Nay Ta (đức Thích-ca) ở nơi cõi Ta-bà này thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
     Này các Tỳ-kheo, lúc chúng ta làm Sa-di, mỗi người giáo hóa cho vô lượng trăm ngàn vạn ức hằng hà sa chúng sinh, các chúng sinh đó theo Ta nghe pháp vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các chúng sinh ấy, nay đây có những người đang ở trong địa vị Thanh văn, Ta thường giáo hóa Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho họ. Các người đó học theo pháp ấy dần dần đi vào Phật đạo. Vì sao ? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu.
     Vì sao ở đây nói trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu? Vì huyền ký của Như Lai khó tin khó giải. Đức Như Lai nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đối với hạng này chưa nghe kịp, nên lấy pháp đó mà tu học thì dần dần vào Phật đạo, chứ chưa thể vào Phật đạo liền. Bởi vì trí tuệ của Phật, phương tiện thuyết pháp khó tin khó giải.
     Vô lượng hằng hà sa đẳng chúng sinh được hoá độ lúc bấy giờ là Tỳ-kheo. Sau khi Ta diệt độ ở trong đời vị lai sẽ là đệ tử Thanh văn.
     Sau khi Ta diệt độ, lại có những đệ tử không nghe được kinh này, không hiểu không biết việc Bồ-tát làm, tự  đối với công đức của mình có được sinh ra tư tưởng diệt độ.
     Trong khi những đệ tử không nghe, nghe mà không hiểu kinh này, hoặc nghe được pháp môn ba thừa lại tu tập theo ba thừa để có công đức, thì có tư tưởng nhập Niết-bàn. Trong khi đó Ta lại ở trong các nước khác làm Phật với một tên khác thì những người ấy tuy sinh tư 

* Trang 406 *
device

tưởng diệt độ ở nơi Niết-bàn, nhưng ở nơi cõi nước kia họ cầu Phật trí tuệ để được nghe kinh này, chỉ dùng diệt độ để nghe kinh này, chỉ dùng Phật thừa để được nghe kinh này, chứ không dùng ba thừa, lại không có các thừa khác, trừ khi đức Như Lai phương tiện thuyết pháp thì Ngài mới chia ra ba thừa để nói thôi.
     Này các Tỳ-kheo, nếu Như Lai tự biết thời gian Niết-bàn đến và Chúng đã được thanh tịnh, trí giải kiên cố, liễu đạt thông pháp, đã thâm nhập thiền định. Bấy giờ Ta bèn gom các Thanh văn đó lại nói kinh này rằng thế gian không có hai thừa được diệt độ, chỉ có Nhất thừa diệt độ thôi.
     Đây là Đức Phật nhắc rằng trong khi những người kia nhập Niết-bàn thì đức Phật ở nước khác với danh hiệu khác. Ngài cũng dùng trí phương tiện vì chúng sinh thuyết pháp. Ngài sắp nhập Niết-bàn và khi chúng sinh được thanh tịnh, thâm nhập thiền định rồi thì Ngài mới nói kinh này chỉ cho biết thế gian không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một thừa được diệt độ thôi.
     Ta nên hiểu diệt độ ở đây là viên mãn, cứu cánh diệt độ. Vô dư y Niết-bàn cũng diệt độ chứ không phải là không diệt độ, nhưng như trước đã nói, diệt độ của  Nhị thừa thì chưa có thật diệt độ, chưa phải đạt như Phật. Do đó, diệt độ Nhất thừa mới là diệt độ như Phật được.
     Này các Tỳ-kheo, nên biết, Như Lai phương tiện đi sâu vào thực tánh của chúng sinh, biết tâm trí chúng sinh ưa pháp nhỏ, còn đắm sâu vào ngũ dục, vì những hạng như thế 

* Trang 407 *
device

cho nên Ta mới nói ra cái nhân Hữu dư Vô dư. Những người đó nếu nghe liền chứng thọ: Thí như con đường hiểm nạn hung ác, suốt 500 do tuần vắng vẻ, tuyệt không bóng người, hoặc có nhiều chúng muốn đi qua con đường đó đến chỗ có châu  báu, có một người dẫn đường thông tuệ, minh đạt khéo léo, biết tướng trạng của con đường hiểm thông bít thế nào, mà dẫn đường cho đi. Giữa đường họ mệt mỏi, giải đãi muốn thối lui, thưa với người dẫn đường rằng: “Chúng tôi quá mệt mỏi rồi, nay tôi muốn trở lui thôi”. Người dẫn đường có nhiều phương tiện, suy nghĩ rằng: “Hạng này đáng thương. Tại sao bỏ cái kho báu lớn mà muốn trở lui?” Vì vậy nên ông liền dùng sức phương tiện, giữa đường hiểm khoảng cách hoặc  500 do tuần, 300 do tuần, 200 do tuần… Mỗi khoảng cách như vậy, ông bèn giả dựng một cái thành mà bảo với mọi người rằng: “Các anh hãy vào trong đó, tùy ý ưa làm gì thì làm. Nếu vào trong thành ấy thì được khoái lạc an ổn, có thể tiến tới phía trước để đi đến nơi muốn đến”. Bấy giờ những người mỏi mệt hết sức vui vẻ, tán thán là chưa từng có. Chúng ta nay đây đã ra khỏi con đường ác hiểm rồi, được an ổn. Khi ấy mọi người giành nhau đi vào trong đó nghĩ rằng mình đã đi đến đích, an ổn tới nơi rồi. Người dẫn đường biết những người đó đã nghỉ ngơi xong, không còn mệt mỏi nữa, mới diệt mất Hóa Thành đi mà nói với mọi người rằng: “Các ông đi đến chỗ có đồ báu gần đây, thành lớn trước đây chỉ là do Ta hóa làm ra để nghỉ ngơi mà thôi”.
     Này các Tỳ-kheo, Như Lai cũng làm như vậy, nay vì các ông mà làm Đại đạo sư. Ta biết con đường sinh tử nên 

* Trang 408 *
device

muốn làm cho chúng sinh ra khỏi. Nhưng chúng sinh chỉ nghe Nhất thừa không thấy sự lợi ích, chỉ thấy mệt mỏi mà tránh đi, không muốn gặp Phật, không thích gần Ta. (Cũng như vậy, trong bạn bè mình có người rủ đi chơi thì đi liền, còn ai nhắc học thì mình không thích). Cho nên, chúng sinh khi nghe Phật nói Nhất thừa thì không muốn thấy Phật, cũng không muốn thân cận Ngài nữa. Nhưng không muốn thân cận thì làm sao cúng dường, bèn nghĩ rằng: Phật đạo xa xôi quá, phải siêng năng cần khổ lâu ngày mới đạt được. Phật biết tâm lý “khiếp nhược hạ liệt” ấy nên mới dùng sức phương tiện, ở giữa đường, vì sự nghĩ ngơi của chúng sinh mà nói hai Niết-bàn là Hữu dư Niết-bàn và Vô dư Niết-bàn. Nếu chúng sinh ở nơi Nhị địa, Như Lai lúc bấy giờ liền vì họ nói: “Này các ông, việc làm chưa xong, chỗ của các ông ở đó đã gần với Phật lực, chứ chưa phải là Phật lực, hãy nên quán sát Niết-bàn của mình đã chứng được đó chưa phải là chơn thật, chưa phải là Niết-bàn cứu cánh chơn thật của Phật.
     Chúng ta cũng biết rằng đức Phật trải qua vô lượng số kiếp tu Bồ-tát hạnh, trong kinh Bổn sinh nói: “Trải qua các tiền kiếp tu Bồ-tát hạnh mới thành Phật, còn A-la-hán không có”. Vì vậy cho nên nói Niết-bàn A-la-hán chưa phải là Niết-bàn thật, mà Niết-bàn Phật mới là Niết-bàn thật.
     Việc kể chuyện tiền thân đức Phật gọi là Bổn sinh. Vị nào tu hạnh Bồ-tát mới có tiền thân làm hạnh Bồ-tát, chứ còn không có phát tâm tu hạnh Bồ-tát thì không có 

* Trang 409 *
device

chuyện tiền thân. Chuyện tiền thân đó đưa đến Phật quả, Niết-bàn đoạn cứu cánh chơn thật. Chỉ là lực phương tiện của đức Như Lai ở nơi nhất Phật thừa phân biệt nói ba: là ở nơi con đường 500 do tuần, giữa ba do tuần này lập nên cái Hóa thành, biến hóa ra thôi chứ không phải thành thật, như người dẫn đường kia vì sự nghỉ ngơi nên hóa làm thành lớn. Biết chúng nghỉ ngơi xong rồi, người ấy mới bảo họ rằng: “Chỗ có vật báu ở gần đây, còn thành này không phải thật, thành này chỉ là do ta hóa làm ra thôi”.
     Trong Pháp Hoa có những chuyện rất phổ biến mà được ca ngợi, đó là những ví dụ: Ví dụ Hóa thành, ví dụ Nhà lửa ba xe, ví dụ Cùng tử, những ví dụ này ta không gặp ở chỗ khác mà chỉ gặp trong kinh Pháp Hoa, nếu không hiểu Pháp Hoa thì ta không biết. Đây nói Hóa thành tức là ba thừa pháp, như hóa thành, là chỗ tạm nghỉ chứ không phải là chỗ vĩnh viễn an lạc. Bảo sở là chân thật Niết-bàn, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ví dụ Hóa thành này rất hợp với phương diện ba thừa. Trên con đường 500 do tuần đi đến Phật thừa, giữa đường mệt mỏi nên Phật hóa ra một cái thành…
 
*
*     *

* Trang 410 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa