LOGO VNBET
PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG
 
     Như Lai thọ lượng là số lượng sống lâu của đức Như Lai. Đây nói mức lượng sống, chứ chưa nói sống bao lâu. Nói như vậy là ngầm hiểu đức Như Lai có nhiều mức sống, nên ở đây nói mức sống của đức Như Lai. ( Chữ lượng có nghĩa là mức sống 10 năm, 20 năm, 30 năm cho đến 100 năm, 1.000 năm… vô lượng).
     Xưa nay theo lịch sử chúng ta nói đức Như Lai sinh ra ở Ca-tỳ-la-vệ vào năm đó tháng đó, đến khi vào Niết-bàn, thọ 80 tuổi, rõ ràng như vậy. Nhưng ở đây, trong phẩm này, nói Như Lai thọ lượng không kể số đó (80 năm), vậy thì trong đó hàm ý gì ? Có hàm ý rằng không chỉ nói đức Phật lịch sư, mà nói cả về đức Phật pháp thân và báo thân nữa. Trong kinh Nikàya phần nhiều không có nói Phật ba thân mà chỉ có nói sinh thân và pháp thân mà thôi.
     Sinh thân là đức Thích-ca sinh ở Ca-tỳ-la-vệ, nhập Niết-bàn tại Kusinara. Pháp thân ở đây, có trường hợp là đức Phật tới thăm bệnh một vị Tỳ-kheo đau nặng, Ngài hỏi: “Thầy đau như thế này sao không có ai săn sóc cả?” Vị đó bị bệnh tê liệt, thân thể hôi hám, đáp rằng: “Tại con trước đây khi người khác đau con không quan tâm, săn sóc nên bây giờ con cũng không được quan tâm lại”. Sau sự việc đó Ngài mới gọi đồ chúng lại, bảo rằng: “Người xuất gia thì phải xem nhau như anh em, phải lo lắng cho nhau, chứ đừng sống vô tình như vậy”. Khi đó vị Tỳ-kheo bị đau nhưng

* Trang 419 *
device

gắng gượng dậy, đức Phật hỏi: “Ông có quán vô thường không?” – “Có quán” – “Ông có quán vô ngã không?” – “Có quán” –  “Có quán Tứ đế không ?” – “Có quán” –  “Có tu hết như vậy thì đối với giáo pháp của Ta ông có ân hận gì không ?” Vị Tỳ-kheo trả lời: “Con không có điều gì ân hận cả, con chỉ ân hận là không đến bái yết đức Thế Tôn được”. Đức Phật nói:”Cái thân này là cái thân bất tịnh, có gì đáng để thầy đến bái yết đâu. Thầy đã quán được vô thường vô ngã, tức là thầy đã thấy Pháp, mà thấy Pháp tức là thấy Ta”. Như vậy, đức Phật nói “thấy Pháp là thấy Ta”. Qua Đại thừa phân biệt có ba thân là pháp thân, báo thân và ứng hóa thân.
     Ứng thân và hóa thân là hai từ khác nhau, nhưng có khi gộp chung lại gọi là ứng hóa thân, có khi chia ra là ứng thân và hóa thân.
     Pháp thân là lấy Pháp làm thân nên gọi là Pháp thân. Nói một cách khác là lấy Pháp thân làm thân, tức là lấy giáo pháp làm thân, không có một cái ngã riêng, một nhóm ngũ uẩn riêng biệt, để chỉ rằng đây là thân tôi. Như trong bài Tán Hương nói ngũ phần Pháp thân, Pháp thân của Phật gồm có năm phần: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến. Khi có đầy đủ năm phần đó tức là thân Phật. Lấy Nhất thiết pháp làm thân nên thân đó không hạn cuộc vào trong cái Ngũ uẩn hay hạn lượng trong một cái hoặc một đơn vị đo lường nào cả, mà là một thân pháp giới tính bao trùm và châu biến tất cả, đó là cái thân Vô thượng Bồ-đề. Bởi vì pháp giới tính là chơn như, là tịch tịnh, bất sinh bất 

* Trang 420 *
device

diệt. Như vậy, nói về thọ lượng của pháp thân là bất sinh bất diệt, vô lượng vô biên vô số.
     Nói về báo thân là thân do kết quả tu tập mà thành tựu được. Phật cũng có báo thân nhưng báo thân Phật là báo thân trí tuệ, còn báo thân của chúng sinh là vô minh nên  hai báo thân khác nhau. Báo thân của Phật bên tông Pháp tướng chia ra là tự thọ nhận thân và tha thọ nhận thân. Tự thọ nhận là do chính mình thọ nhận báo thân, người khác không thọ nhận báo thân của mình, đồng thời cũng có một phần cho tha thọ nhận (tha đây chỉ cho các vị Bồ-tát). Nên báo thân của Phật là thuyết pháp cho các vị Bồ-tát đã chứng được cái ngã không, thọ nhận được báo thân của Phật, đó là báo thân. Thấp xuống một phần nữa là các bậc hạ căn như chúng ta thì báo thân cao thượng đó của đức Phật cũng y như ông Trưởng giả ngồi trên tòa sư tử, xung quanh ngọc ngà châu báu có người hầu kẻ hạ như vua, mà đứa con không dám gần nên ông phải cởi bỏ y phục trang trọng để mặc đồ nhơ nhớp, làm kẻ hốt phân để gần được nó. Đó là rời báo thân để hiện thành ứng hóa thân mong được gần gũi chúng sinh. Cho nên có thân thứ ba là ứng hóa thân.
     Ứng thân là đức Thích-ca hiện thân vào trong thành Ca-tỳ-la-vệ, Niết-bàn ở Kusinara đó là ứng thân. Từ nơi pháp thân và báo thân, đức Phật hóa ra trăm ngàn thân khác, thì đó là cái hóa thân, tức thân biến hóa.
     Như vậy, nói thọ lượng đây không chỉ vào một giới hạn nào, nói chung là mức sống của đức Như Lai. Mức sống của đức Như Lai có ba bậc:

* Trang 421 *
device

Pháp thân thì vô thỉ vô chung, ứng hóa thân thì hữu thỉ hữu chung, báo thân thì hữu thỉ vô chung, bởi vì có tu mới có báo thân, còn không tu thì không có báo thân trí tuệ như đức Phật. Mới tu thì hữu thỉ, khi thành tựu được báo thân là gắn liền với pháp thân là vô chung. Còn về ứng hóa thân là căn cơ của chúng sinh hiện ra như trăng hiện dưới nước, đó là tùy theo căn cơ của chúng sinh mà có thỉ có chung, có hiện ra thì có mất đi. Nên ta thấy rằng chữ thọ lượng đây là mức sống của ba tầng bậc đó, cốt yếu nói vô thỉ vô chung. Vì sao nói Pháp thân là vô thỉ vô chung? Vì để giải thích thêm rằng đức Phật diệt độ ở tại Kusinara không phải là một đức Phật diệt độ hoàn toàn, đó chỉ là đức Phật ứng hóa thân diệt độ mà thôi, vì Pháp thân không diệt độ như vậy.
     Đức Phật Thích-ca sinh ra ở Ca-tỳ-la-vệ không phải là bắt đầu mới có, kỳ thật pháp thân hóa thân của đức Phật Thích-ca có từ vô lượng vô biên về trước. Ngài cũng đã ứng hóa thân ra vô lượng vô biên để giáo hóa cho chúng sinh từ lâu rồi. Cho nên như phẩm Tùng địa dõng xuất, nếu không có đức Phật từ  quá khứ dạy bảo cho các Bồ-tát, thì các vị Bồ-tát từ đâu vọt lên? Đã có hàng đệ tử trở thành Bồ-tát thì tất nhiên có vị Phật của hàng Bồ-tát đó, và thầy của họ là ai? Là đức Phật Thích-ca giáo hóa cho hàng Bồ-tát. Do thế nên khi những vị Bồ-tát đó thọ 100 tuổi, thọ 200 tuổi rồi mà đức Phật Thích-ca còn đương trẻ là thầy là cha của mình và Ngài cũng gọi đó là con của mình. Ngài gọi như vậy là không phải vì con vì cha trong ứng thân hiện tại mà vì trong quá khứ đức Phật

* Trang 422 *
device

sống vô lượng kiếp giáo hóa. Do vậy, phẩm trước nói rằng: Đức Phật có từ  vô lượng kiếp trước, còn phẩm này nhấn mạnh ở chỗ đức Phật diệt độ ở Kusinara, ứng hóa diệt độ chẳng qua Ngài ứng thân diệt độ mà thôi.
     Phẩm này cốt để chỉ thân huyễn thân thật của đức Thích-ca. Thân huyễn là chỉ đức Thích-ca ứng thân hiện ở Ta-bà thế giới. Do có thân huyễn mới hiển cái thân thật là pháp thân báo thân, vô lượng thọ của đức Phật trong quá khứ và trong vị lai. Có thân huyễn thì có thân thật, nơi thừa quyền thì có thừa thật, nếu không nhờ thừa quyền thì không sao làm được. Ý nghĩa của hai phần là như vậy và ý nghĩa của kinh Pháp Hoa cũng như vậy.
     Lúc bấy giờ đức Phật bảo Bồ-tát các chúng: Này các Thiện nam tử, các ông hãy tin hiểu, lời nói chắc chắn của đức Như Lai.
     Mở đầu phẩm này chưa nói gì cả mà chỉ nói: Các ông hãy tin lời nói chắc thật, thành thật của Như Lai, vì sao ? Là vì để nói chuyện sau này khó hiểu khó tin vì chưa hiểu chưa tin được. Ở đây ám chỉ lời nói của đức Như Lai là lời nói thành thật, chắc chắn chứ không phải là lời nói mơ hồ. Đây là lời nói đúng, lời nói của người thành thật. Lại một lần nữa bảo Đại chúng hãy tin hiểu lời nói thành thật chắc chắn của đức Như Lai, nói ba lần như vậy. Ba lần nói như vậy để đánh bạt lời nghi trước.
     Đức Phật sinh ở Ca-tỳ-la-vệ, 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo, thuyết pháp 45 năm. Đức Phật còn trẻ mà có các đệ tử bạc đầu lớn tuổi, để trả lời thắc mắc, khó tin

* Trang 423 *
device

này, nên mở đầu là khuyên nên tin lời Phật. Khi ấy đại chúng Bồ-tát, mà Ngài Di-lặc đứng đầu, thắc mắc nên hỏi. Trong này Ngài Di-lặc hay thắc mắc nên đưa ra các lời nghi hoặc để hỏi.
     “Bạch đức Thế Tôn, kính mong Ngài thuyết cho chúng con tín thọ lời đức Phật”.
     Bấy giờ Thế Tôn biết các Bồ-tát ba lần thưa thỉnh không ngừng mới bảo rằng: Các ông hãy lắng nghe, Như Lai có sức thần thông bí mật mà tất cả thế gian Trời, Người và A-tu-la đều cho rằng nay đây đức Thích-ca Mâu-ni Phật, sinh ra nơi dòng họ Thích, rồi đi đến thành Già-da, ngồi nơi đạo tràng thành Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng này các thiện nam tử, Ta thật đã thành Phật đến nay vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức Na-do-tha kiếp.
     Trong hai câu này, đức Phật Thích-ca mà mọi người thấy sinh ở dòng họ Thích, đi đến Già-da, ngồi gốc cây Bồ-đề tu thành Chánh đẳng Chánh giác là huyễn thân. Như nay Phật muốn chỉ cho rõ, trên huyễn thân đó có một cái thật là: Ta thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức Na-do-tha, chứ không phải thành Phật cách đây mấy chục năm. Thí như năm trăm ngàn vạn ức Na-do-than A-tăng-kỳ, ba ngàn đại thiên thế giới, giả sử có người nghiền nát làm bụi trần rồi đi qua phương đông, hết tất cả các thế giới đó mà có thể suy nghĩ so sánh biết được số lượng của chúng? Chư vị Bồ-tát đều bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn các thế giới ấy vô lượng vô biên không phải toán số biết được, cũng không phải đem tâm lực mà biết. Tất cả hàng

* Trang 424 *
device

Thanh văn, Bích-chi Phật do vô lậu ký, dùng vô lậu ký cũng không thể tư duy biết được hạn lượng. Chúng con an trú vào địa vị bất thối chuyển, đối với việc ấy cũng không thấu đạt. Bạch đức Thế Tôn các thế giới như vậy vô lượng vô biên có thí dụ được không?” Bấy giờ Phật bảo chúng đại Bồ-tát: Này các thiện nam tử, nay Ta sẽ phân minh tuyên nói cho các ông, các thế giới ấy. Nếu có hạt vi trần xuống hay không phải vi trần xuống, giờ đem tất cả thế giới thả xuống bụi trần và thế giới không thả xuống bụi trần nghiền nát đi nữa, các thế giới ấy mà tính xem thì là vô lượng vô biên, mỗi vi trần là một kiếp. Ta thành Phật đến nay là quá hơn trăm vạn ức Na-do-tha vô lượng vô biên.
     Đây là nói về số lượng, không thể đem tâm phân biệt mà biết được, sự thành Phật của Như Lai. Như Lai khi thành Phật đến nay thường ở nơi thế giới Ta-bà này thuyết pháp giáo hóa, và cũng ở nơi các chỗ khác, trăm ngàn vạn ức Na-do-tha các nước khác để giáo hóa. Đây là nói các Ngài thành Phật rồi thì có một năng lực thần thông bí mật, từ nơi pháp thân báo thân thành Phật đó, ứng hóa thân ra vô lượng thế giới. Đã nói ứng hóa thân vô lượng vô biên thế giới, thì ngoài cõi Ta-bà cũng có các thế giới khác.
     Này các thiện nam tử, nếu có chúng sinh đến chỗ Ta, Ta dùng tuệ Phật nhãn quán sát các căn trí v.v… của chúng sinh ấy là lợi hay độn rồi tùy theo chỗ ám độn, Ta tự nói danh tự bất đồng, danh tự của Ta có lúc thì danh tự này, lúc thì danh tự khác – bất đồng. 

* Trang 425 *
device

     Ví dụ như trong tiền thân đức Phật, không có danh tự nào giống danh tự nào, mỗi mỗi danh tự khác nhau.
     Và tùy nơi chỗ ám độn mà nói cái niên kỷ của mình. Cũng lại thị hiện nói Ta sẽ vào Niết-bàn, lại dùng các kinh phương tiện mà nói pháp vi diệu có thể làm cho chúng sinh phát tâm hoan hỉ. Này các thiện nam tử, Như Lai thấy các chúng sinh ưa nơi các pháp nhỏ, ô cấu. Vì những hạng người đó mà Ta nói rằng lúc nhỏ Ta xuất gia chứng được Vô thượng Chánh giác, nhưng kỳ thật Ta đã thành Phật đến nay lâu xa số lượng vô cùng. Chỉ do sức phương tiện giáo hóa chúng sinh khiến họ vào Phật đạo cho nên mới nói lời như vậy.
     Quán các căn cơ tín đẳng của chúng sinh lợi đồng. Các căn tín đẳng là tín, tấn, niệm, định, tuệ (5 căn). Vì chúng sinh ưa thật pháp, đức mỏng xấu trọng nên vì đó mà nói, Ta lúc nhỏ đi xuất gia chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta đã thành Phật, chỉ dùng phương tiện giáo hóa chúng sinh khiến chúng sinh vào đạo, nên Ta nói những lời Ta xuất gia lúc đó, thành đạo quả.
     Này các Thiện nam, kinh điển của Như Lai diễn nói đều vì độ chúng sinh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người khác, hoặc chỉ việc của mình hoặc chỉ việc của người khác, những điều nói năng đó đều là thật chứ không hư dối. Vì đức Phật thấy chốn ba cõi là không có sinh, tử, không có hoặc lui, không có hoặc xuất, không có ở đời, không có diệt độ, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, không giống như chúng sinh trong ba cõi. 

* Trang 426 *
device

     Chỗ này đức Phật nói ngay thật bất hư vì Như Lai như thật thấy tướng ba cõi một cách đúng của ba cõi. Tướng như không có sinh, không có tử , không có tới, không có xuất, không có ở đời được, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như.
     Khi nói thật thì cái đó thật là không thật, vì sao ? Vì tôi nói cái ly này làm bằng chất lưu ly thật, nói như vậy tức là không thật. Khi nói lưu ly thật thì trong đó có đối đãi, có lưu ly giả mới có lưu ly thật, cho nên tất cả những ngôn ngữ đều phân biệt chứ không có ngôn ngữ nào đơn thuần. Vì vậy nói thật cũng không đúng nói giả cũng không đúng, nói hư cũng không đúng, nói khác cũng không đúng, vì tướng của ba cõi là vô thường.
     Ví dụ như ta gặp một người nào, nhìn không biết ai hết, nhìn lâu mới rõ: Anh là con ông C dưới kia. Như vậy không phải nhìn anh đó mà nhìn cả ông C nữa, nơi anh đó là có bóng dáng của ông C kèm theo, chứ không phải riêng anh đó thôi. Nếu riêng anh đó thì ta không biết anh đó. Như vậy cho biết tất cả cái nhìn của chúng ta đều là biến kế. Vì sao nói biến kế ? Nhìn đây mà biết ông C, do ông C mà biết anh đó, do cái lưu ly giả mà biết lưu ly thật. Như vậy cái thấy đó không phải là cái thấy thật mà trong đó có cái giả. Vì vậy nên có khi thật, khi giả, khi như, khi hư.
     Cái thật tướng của đức Phật không vậy, nó khác với chúng sinh trong ba cõi có đủ thứ sinh, lão, bệnh, tử, xuất, nhập, thật, hư, dị đủ thứ. Đó là ba cõi theo cái thấy của chúng sinh. Những việc như vậy Như Lai thấy rõ

* Trang 427 *
device

không có sai lầm. Vì các chúng sinh có chủng chủng tánh, chủng chủng dục, chủng chủng hành, chủng chủng thức tưởng phân biệt (chủng chủng là đủ thứ), muốn khiến cho chúng sinh đó sinh các thiện căn, nên Ta mới dùng bao nhiêu  nhân duyên, thí dụ, ngôn từ và nhiều cách nói khác mà làm các Phật sự, chưa từng dứt bỏ. Như vậy Ta thành Phật đến nay rất là lâu xa, thọ mạng vô lượng vô số kiếp, thường trú bất diệt.
     Thọ lượng là mức sống chứ chưa nói sống bao nhiêu, như trong đó có ba thân là ba mức sống khác nhau: Pháp thân thì vô thỉ vô chung, báo thân thì hữu thỉ vô chung, ứng hóa thân thì hữu thỉ hữu chung. Nói như vậy trong này cốt nói ý pháp thân là vô thỉ vô chung. Nên nói vô lượng A-tăng-kỳ kiếp thường trú bất diệt mà cũng có pháp thân thường trụ bất diệt, trong đó là có báo thân kia. Cũng ví như có mặt trăng trên trời mới có bóng trăng dưới nước. Nếu không có mặt trăng trên trời thì không có bóng trăng dưới nước, hóa thân không có.
     Này các thiện nam tử, Ta muốn hành đạo Bồ-tát, thành được thọ mạng nay vẫn chưa hết lại gấp bội số lên, vậy nay chẳng phải thật là diệt độ mà bèn xướng lên rằng Ta sẽ diệt độ.
     Như Lai do sức phương tiện giáo hóa chúng sinh mà nói câu đó, vì sao ? Nếu đức Phật ở lâu thế gian thì những hạng người đức mỏng không gieo trồng thiện căn, cứ phải ở chỗ nghèo hèn, tham đắm nơi năm dục, rơi vào trong thức tưởng, vọng kiến. Nếu thấy Như Lai thường 

* Trang 428 *
device

trú mãi không diệt thì họ liền khởi lên cái tâm kiêu căng phóng túng, ôm lòng nhàm chán giải đãi, không thể sinh ra tư tưởng khó gặp Phật. Vì vậy nên đức Phật mới phương tiện diệt độ mà không phải diệt độ, để chúng sinh gieo trồng thiện căn.
     Lại thiện nam tử, các đức Phật Như Lai pháp đều như vậy, thật chứ không dối. Thí như vị thầy thuốc hay, trí tuệ thông đạt, luyện rành các phương thuốc, khó trị các bệnh, ông thầy thuốc đó có nhiều đứa con hoặc 10 đứa, hoặc 20 đứa cho đến số trăm. Ông vì có sự duyên nên đi ra nước khác, các đứa con ông sau đó mới uống phải thứ thuốc độc làm cho tâm sầu muộn, mê man, rối loạn, vật vã trên đất. Bấy giờ cha của người con ấy từ nước khác trở về nhà thấy các đứa con mình uống nhằm thuốc độc, có đứa bị mất bản tâm, có đứa không bị mất bản tâm, từ xa trông thấy cha về, nó đều hoan hỉ quì bái hỏi han mừng cha an ổn trở về: “Chúng con ở nhà ngu si lầm uống phải thuốc độc, mong được cha cứu chữa cho chúng con mạng sống”.
     Người cha thấy các con khổ não như vậy cho nên y theo phương pháp kinh nghiệm tìm thứ cỏ thuốc hay, có màu sắc, có hương vị đẹp thảy đều đầy đủ các thứ, giả đều cho các con  uống mà nói rằng: “Thứ thuốc này rất hay, sắc mùi vị tốt thảy đều đầy đủ, các con hãy uống đi mong trừ khổ não không còn tai họa nữa”. Trong các đứa con, đứa nào không mất bản tâm gặp được vị thuốc hay đó sắc màu đều tốt, uống hết bệnh liền. Còn đứa con bị mất bản tâm dù thấy cha của nó đến, tuy cũng vui vẻ hỏi

* Trang 429 *
device

han, tìm cầu chữa bệnh, nhưng khi cho thuốc thì nó không chịu uống, vì cớ sao ? Vì hơi độc đã ngấm sâu, làm mất bản tâm, cho nên đối với thứ thuốc có đủ màu sắc, hương vị tốt ngon, nó không cho là tốt. Người cha nghĩ rằng những đứa con này đáng thương, bị chất độc ngấm vào tâm khiến nó bị điên đảo, tuy thấy cha rất mừng rỡ, cầu tìm cứu chữa, nhưng có thuốc hay như vậy, thì không chịu uống. Ta nay sẽ bày phương tiện khiến cho nó uống thuốc đó. Ông liền nói rằng: “Này các ngươi, nên biết, nay ta đã già rồi, ngày chết sắp đến nơi, thứ thuốc hay đó ta nay để đây các ngươi lấy uống, chớ lo không lành”. Nói lời như vậy rồi ông trở lại đi về nước khác, rồi sai sứ trở lại bảo rằng: “Cha ngươi đã chết”.
     Bấy giờ các đứa con nghe cha mình đã chết tâm ưu não nghĩ rằng: “Nếu cha mình còn sống rất thương mình mà cứu độ ta, nay đây cha ta đã chết ở nơi nước khác”. Tự suy nghĩ mình đã bị mất cha, không nơi nương tựa, tự ôm lòng sầu cảm, tâm bèn tỉnh ngộ mới biết thứ thuốc này sắc hương vị rất tốt, lấy uống thì bệnh độc đều được lành. Người cha nghe con đều đã được lành liền trở lại nước, khiến cho nó trông thấy.
     Các thiện nam tử , ý ông nghĩ sao ? Vả chăng có người nói rằng vị thầy thuốc đó là dối trá, mang tội dối trá chăng? - Thưa không, bạch đức Thế Tôn. Phật nói rằng: Ta cũng như thế, thành Phật đến nay vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức Na-do-tha kiếp, vì chúng sinh nên phương tiện nói diệt độ thì không thể đúng như pháp nói rằng Ta có tội hư dối.

* Trang 430 *
device

     Nói mà nói đúng như pháp nên trong kinh Phật nói, khen mà khen đúng như pháp đó là lời khen hay, chê mà chê đúng như pháp là lời chê có lợi ích, chứ còn chê không đúng pháp là lời chê cong quẹo không có lợi ích gì cả, nếu khen không đúng pháp là lời nịnh bợ. Cho nên trong kinh nói hai chữ “Như pháp, như pháp” là vậy. Trong kinh Nikaya nói: Người nào đúng như pháp chê Ta, người nào đúng như pháp khen Ta, trong đó có hai chữ  “Như pháp, như pháp” là vậy.
 
 
*
*       *


* Trang 431 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa