LOGO VNBET
PHẨM THÍ DỤ
 
     Thí dụ nhà lửa ba xe là do Phật nói ra, ông cha ở trong nhà lửa ra khỏi nhà lửa, các con ở trong nhà lửa nhưng không biết nhà biết lửa, đắm say dục lạc, cha bảo chạy ra khỏi nhà lửa nguy hiểm, nhưng vì ham dục lạc nên nó không nghe, ông cha mới dụ cho ba xe chúng nó mới chạy ra. Ngược lại thí dụ của phẩm này, ông cha ở trong cảnh sang trọng, ngồi tòa sư tử châu báu đầy dẫy, nếu ngồi như thế thì không gần gủi người con, ông mới rời tòa châu báu xuống làm kẻ xấu xí gần gũi đứa con, dụ dỗ trao gia tài cho nó; dụ này nói về cách thức của ông trưởng giả dùng phương tiện hạ mình, như Phật phải hạ mình tách khỏi cái pháp thân, báo thân làm ứng thân gần gủi chúng sinh trong cảnh ngũ trược để giáo hóa nó và trao gia tài cho nó. Nếu không dùng phương tiện thì không thể giáo hóa được. Thí dụ này tán thán phương tiện, dùng phương tiện để giáo hóa. Trên phương diện khế lý khế cơ thì ở đây đặt nặng về khế cơ, nhờ khế cơ mà khế lý được rõ; và tán thán phương tiện khế cơ.
     Phẩm Thí dụ này gồm Pháp thuyết châu, Dụ pháp châu. Trong phẩm Phương tiện Phật nói pháp khai tam hiển nhất, Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc thượng căn, thượng trí cho nên nghe qua Pháp thuyết châu thì hiểu được, lãnh giải và được đức Phật thọ ký. Đây là đoạn đầu phẩm Thí dụ. Trong đoạn đầu này, Tôn giả Xá-lợi-phất 

* Trang 289 *
device

được đức Phật thọ ký. Khi bốn bộ chúng thấy đức Phật thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất thì ai nấy đều hoan hỉ, vui vẻ, tán thán và đem y, hoa đến cúng dường. Sau khi nghe phẩm Phương tiện, Tôn giả Xá-lợi-phất bậc thượng trí, được đức Phật thọ ký. Nhưng đa số các vị khác chưa ngộ có được đức Phật thọ ký không ? Qua Dụ thuyết châu thì hạng trung căn được tín giải và được  đức Phật thọ ký. Cuối cùng hàng hạ căn đức Phật cũng hứa thọ ký tập thể cho họ. Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ngộ rồi, Ngài mới nói với 1250 vị tâm tự tại rằng: Pháp Ta có khả năng làm cho chúng sinh lìa sinh tử, các vị Học, Vô học đều tự lìa được ngã kiến, hữu kiến vô kiến mới đạt được Niết-bàn. Những người nghe pháp Nhị thừa, họ đã đạt được Niết-bàn rồi, nhưng giờ đây họ nghe đức Phật nói pháp Nhất thừa, thì họ cho là việc chưa từng nghe nên nghi hoặc. Đức Phật nhân đó nói pháp Tam thừa Nhất thừa để cho họ khỏi nghi hoặc. Do lời thưa thỉnh của Tôn giả Xá-lợi-phất nên đức Phật mới nói Thí dụ Ba xe (là đoạn thứ hai). Đức Phật nói nhà lửa, ba xe này để giáo hóa hạng trung căn. Sau khi nghe Thí dụ này thì họ được giải ngộ và được đức Phật thọ ký. (Tất nhiên các đoạn này hoàn toàn nói đoạn nhà lửa, ba xe, mà nên biết nhà lửa, ba xe này là kinh Pháp Hoa, trong này có 7 Thí dụ, mà Thí dụ này là tổng quát nhất).
     Ngài Thiên Thai phân Pháp Hoa làm hai môn: Tích môn và Bản môn. Tích môn gồm 14 phẩm. Trong 14 phẩm này 8 phẩm đầu gọi là tam châu thuyết pháp (ba vòng thuyết pháp): 1. Pháp thuyết châu, gồm: phẩm 

* Trang 290 *
device

Phương tiện. 2. Dụ thuyết châu, gồm: Thí dụ (phẩm 3), Tín giải (phẩm 4), Dược thảo (phẩm 5) và Thọ ký (phẩm 6). 3. Nhân duyên thuyết châu, gồm: Hóa thành (phẩm 7), Ngũ bách đệ tử thọ ký (phẩm 8) và Thọ học Vô học ký (phẩm 9).
     Pháp Hoa, khi nói lý Nhất thừa, Phật lấy Phật tri kiến làm thể, ngộ Phật trí kiến tức chứng Phật đạo thành Phật quả - khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến - khai Phật tri kiến ở đây là khai Nhất thừa. Như vậy Nhất thừa và Đại thừa khác nhau chỗ nào ? Đại thừa là đối với Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa.
     Thanh văn thừa và Duyên giác thừa còn gọi là Nhị thừa (tức Tiểu thừa). Như vậy Đại thừa cũng chỉ có nghĩa tương đối đối với Tiểu thừa . Vậy cái đích của Đại thừa gọi là đạt đến Phật thừa. Tu Thanh văn thừa thì đạt được A-la-hán, Duyên giác thừa thì đạt đến Bích-chi Phật còn tu Bồ-tát thừa thì đạt được Phật thừa. Tóm lại tu theo phép Đại thừa thì chứng được Phật quả, tu theo Nhất thừa cũng chỉ để chứng Phật quả. Khi nói Nhất thừa thì chúng ta phải hiểu có cả nhị thừa và Đại thừa chung trong đó cho đến khi chứng được Phật quả. Vì vậy trong kinh Pháp Hoa dùng chữ Nhất thừa chứ không dùng chữ Đại thừa, vì Phật nói rằng Thanh văn, Duyên giác chỉ là phương tiện để đi đến Phật quả, nên nó không phải là pháp vô dụng mà chính là phương tiện, là bước đầu để đi đến chân thật Nhất thừa. Đó là lý do kinh Pháp Hoa dùng chữ Nhất thừa mà không dùng chữ Đại thừa. Dùng Nhất thừa là không tách Thanh văn, Duyên giác đứng riêng, mà hàng Thanh văn

* Trang 291 *
device

và Duyên giác là một bộ phận trong Đại thừa, vì nó là phương tiện chứ không phải là chân thật, nên nó không nằm ngoài Nhất thừa. Vì vậy trong kinh Pháp Hoa dùng chữ Nhất thừa là rất chính xác.
     Vậy Nhất thừa lấy cái gì làm thể ? Nó lấy Phật tri kiến làm thể nên gọi là Nhất thừa. Giáo lý Phật đà lấy Phật tri kiến làm chiếc xe, nếu ai cởi lên chiếc xe đó thì có thể đi đến quả vị Phật. Khi nói Nhất thừa có nghĩa là, Tiểu thừa hay Đại thừa gì cũng nằm trong một chiếc xe để cùng đi tới cảnh giới Phật.
     Vậy kinh Pháp Hoa có những đặc điểm gì ? Ở các kinh khác không nói trời, người mà chuyên nói Thanh văn hội, Duyên giác hội, Bồ-tát hội mang tính riêng lẻ, trái lại Pháp Hoa gộp tất cả giáo lý Thanh văn, Duyên giác cho vào hệ thống phương tiện hướng đến Phật quả. Đó là đặc điểm của Pháp Hoa.
     Trong phần Tích môn, 8 phẩm đầu trừ phẩm Tựa, thì 8 phẩm này theo ngài Thiên Thai phân ra làm ba vòng thuyết pháp. Lần đầu chỉ có Tôn giả Xá-lợi-phất là hàng thượng căn được lãnh ngộ mà thôi. Ngài nói tiếp lần thứ hai, dùng thí dụ để minh chứng thì hàng trung căn được lãnh hội. Lần này có 4 vị được lãnh hội. Lần thứ ba, ngài dùng nhân duyên kể lại chuyện tích ngày xưa thì 500 đệ tử thọ Học, Vô học được thọ ký, đây là hàng hạ căn. Đó là ý nghĩa của ba vòng thuyết pháp.
     Đầu tiên ngài dùng Pháp thuyết châu. Vậy Pháp thuyết châu là gì ? Là dùng Pháp đem ra nói chứ không 

* Trang 292 *
device

nói Dụ, nói Nhân duyên. Pháp thuyết châu là dùng Chánh pháp để nói, Dụ thuyết châu là dùng Ví dụ để nói, Nhân duyên thuyết châu là dùng lý Nhân duyên để đem ra nói.
     Trước hết ngài nói Pháp thuyết là nói thẳng lý nghĩa Phật tri kiến, thực tướng Phật tri kiến, Phật trí tuệ, Phật chánh giác, thiện trí, quyền trí cũng đồng nghĩa trên. Như vậy Phật tri kiến và thực tướng thì thực tướng gồm có 10 Như. Trong phẩm Phương Tiện, ngài nói thẳng thực tướng Phật tri kiến, mà thực tướng Phật tri kiến là dùng giáo lý làm xe cỡi để đi đến Phật quả. Nhất thừa trong kinh Pháp Hoa chỉ cốt đưa chúng sinh đến cõi Phật mà thôi nên gọi là Nhất thừa. Trong phẩm Phương Tiện Phật nói ngay pháp đó chứ không có ví dụ nào cả. Ngài lấy pháp đó đem ra nói gọi là Pháp thuyết. Trong vòng Pháp thuyết này chỉ có một vị thượng căn được thọ ký là Tôn giả Xá-lợi-phất, còn hạng không phải thượng căn, khi nghe Pháp thuyết họ không hiểu, vì vậy đức Phật phải dùng thí dụ để nói gọi Dụ thuyết. Trong phần Thí dụ này, phẩm Thí dụ, phẩm Tín giải, phẩm Dược thảo, phẩm Thọ ký, lúc nói hạng trung căn có bốn vị được thọ ký, còn hạng hạ căn không lãnh hội được, nên Phật thêm một vòng giảng nữa là dùng Nhân duyên đem thuyết giáo tức nói về dĩ vãng của họ trước đây đã theo Phật tu học, đã phát tâm Đại thừa mà nay quên mất nên Ngài nhắc lại và gợi cho họ nhớ lại. Nhờ vậy mà những vị này hồi ức và hiểu được lời Phật dạy nên được thọ ký. Đó là tổng quát phẩm đầu kinh Pháp Hoa.

* Trang 293 *
device

     Bây giờ tôi lược giảng một số đoạn trong Kinh văn.
     Khi nghe đức Phật thọ ký cho mình, Tôn giả Xá-lợi-phất hân hoan vui mừng, liền đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Thế Tôn và bạch Phật rằng: “Con nay theo đức Thế Tôn nghe pháp âm này, tâm con rộn rã niềm vui vì được nghe pháp âm chưa từng có”.
     Trước đây Phật nói tu pháp Tứ đế thì chứng được quả vị A-la-hán, tu pháp 12 nhân duyên thì chứng được quả Bích-chi Phật, chúng con nghe Ngài nói vậy thì hay vậy chứ chưa bao giờ nghe Ngài nói tu pháp Tứ đế, 12 nhân duyên chỉ là phương tiện, còn Phật thừa mới là cứu cánh. Trước chưa nghe Ngài tuyên bố nay nghe Ngài dạy như vậy, chúng con nghĩ đó là chuyện chưa từng có, chưa từng nghe tới bao giờ. (Vị tằng hữu là chưa từng nghe), nghe Ngài nói Thanh văn, Duyên giác chỉ là phương tiện.
      “Vì sao ? Vì con từ trước, theo Phật nghe pháp, thấy hàng Bồ-tát được thọ ký làm Phật, mà chúng con không được dự vào việc ấy, rất tự cảm thương, bị mất mát đối với vô lượng tri kiến Như Lai”. Cũng đồng nghe pháp, các vị Bồ-tát cũng ngồi đó nghe, mà sao thấy các vị Bồ-tát được Phật thọ ký, mà chúng con thì không được dự phần vào việc thọ ký đó, cho nên lấy làm thương cảm cho mình lắm, đã bị mất mát vô lượng tri kiến Phật.
      “Bạch đức Thế Tôn ! Con thường ở một mình dưới rừng cây trên núi, hoặc ngồi hoặc kinh hành, thường suy nghĩ rằng, chúng con đồng vào pháp tánh, cớ sao đức Như Lai lại đem pháp Nhị thừa mà tế độ cho chúng con !

* Trang 294 *
device

Đó là lỗi của chúng con chứ không phải lỗi của Thế Tôn. Vì sao ? Vì nếu đợi Ngài nói cái sở nhơn được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì chắc chắn Ngài đã đem pháp môn Đại thừa mà dạy bảo và chúng con đã độ thoát rồi. Nhưng chúng con không hiểu rõ phương tiện tùy nghi thuyết pháp của Phật, nên lúc đầu nghe Phật nói pháp thì chúng con cứ theo pháp của Ngài dạy, liền suy nghĩ, tư duy, thủ chứng”.
     Pháp tánh là từ chung. Có những trường hợp nói chân như là pháp tánh, chân như là thực tánh của các pháp nên gọi là pháp tánh. Có khi nói không là pháp tánh, chân không là pháp tánh, có khi nói thực tế là pháp tánh. Vô ngã, vô thường cũng là pháp tánh, vì sao ? Vì vô ngã vô thường là tính thực của các pháp. Các pháp thay đổi chứ vô thường, vô ngã không thay đổi. Ví như cái nhà khi to khi nhỏ, khi đẹp khi xấu, khi còn khi mất… nhưng tính vô ngã của cái nhà và cái vô thường của cái nhà không bao giờ thay đổi. Đứa trẻ mới sinh nằm trong nôi cũng vô thường, đi chập chững, vào trường học… cũng vô thường, chứ không phải khi chết nằm trong quan tài mới gọi là vô thường. Từ đó suy ra nó vô thường từ khi còn nằm trong bụng mẹ kia. Hình thể con người khi mới sinh khác, lớn lên khác, khi già khác nhưng cái vô thường không bao giờ thay đổi nên gọi là pháp tính - Đó là tính của pháp.
     Vì vậy pháp tính cũng có trường hợp gọi là chân như. Chân như cũng là tính của pháp, vô thường vô ngã cũng là tính của pháp, thực tế cũng là tính của pháp, nên pháp tính là từ gọi chung như thế. 

* Trang 295 *
device

     Câu trên nghĩa thế nào ? Nghĩa là, nếu con chờ Ngài nói sở nhơn để thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nếu con chờ Ngài nói như ngày nay thì chắc chắn Ngài đã dùng pháp Đại thừa dạy bảo cho chúng con đắc độ rồi. Nhưng vì chúng con mong thoát khỏi luân hồi sinh tử quá nên không hiểu được Phật phương tiện tùy nghi thuyết pháp.
     Chữ phương tiện tùy nghi thuyết pháp của Phật áp dụng vào đây để nói lên điều gì ? Là nói con không hiểu được khi Phật nói lý Tứ đế, 12 nhân duyên đó là phương tiện tùy theo căn cơ để nói, cái đó chưa phải là pháp Phật muốn dạy cho chúng sinh. Vì con không hiểu nên khi Ngài vừa nói là con tín thọ liền. Vì thế khi con nghe pháp Tứ đế, tu theo pháp đó thì chứng được Niết-bàn, chứ không biết rằng, đó là Ngài phương tiện tùy nghi nói, chưa phải là pháp đích thực mà Ngài muốn dạy cho chúng sinh. Chữ phương tiện tùy nghi thuyết pháp tức tùy trường hợp mà có nghĩa khác nhau. Hiểu như vậy mới thấy pháp của Phật không mâu thuẫn, đối nghịch nhau, chỗ thì nói có, chỗ nói không, chỗ nói vô thường, chỗ nói thường. Lúc nào cũng nghe nói vô thường mà trong kinh Niết-bàn thì nói thường, lạc, ngã, tịnh. Thuyết pháp cách này thì có người nghĩ giáo lý chỏi nhau, nhưng kỳ thực không chỏi nhau gì hết. Nếu không hiểu như vậy thì khi bị vấp không sao giải quyết được.
      “Bạch đức Thế Tôn ! Con từ xưa tới nay, trọn ngày suốt đêm, thường tự trách mình một cách nghiêm khắc,

* Trang 296 *
device

mà nay theo Phật nghe pháp chưa từng được nghe, chưa từng có, thì liền dứt hết sự nghi hối. Ngày nay mới biết mình thật là Phật tử từ miệng Phật sinh, từ pháp hóa sinh, được phần pháp của Phật”.
     Chữ Phật tử mà ta thường nói có 2 nghĩa: Phật tử và chơn Phật tử. Chơn Phật tử  thường để gọi cho các vị Bồ-tát, vì sao ? Vì các vị ấy mới chính là người nối dõi dòng giống Phật, nối dõi quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Còn Phật tử thì sao? Là người qui y Phật, Pháp, Tăng và phát nguyện giữ năm giới, nguyện làm đệ tử  Phật. Kinh Phạm Võng dạy: Chúng sinh thọ giới Bồ-tát của Phật thì liền vào nơi Phật vị, tức là người đã nhảy vào trong dòng nước chánh pháp (chứ không còn ở trên bờ nữa) để trôi ra biển đại giác.
     Trong kinh Trường A-hàm cắt nghĩa chữ Phật tử là: Từ miệng Phật sinh, từ Pháp Phật hóa ra, có khả năng tu hành cầu đạo vô thượng, làm rạng rỡ giống nòi của Phật. Pháp của Phật phải đi qua ba bậc mới chứng được, đó là văn, tư và tu. Từ miệng Phật sinh tức văn tuệ. Nhờ nghe Phật nói pháp môn này pháp môn kia, và hiểu được pháp của Phật mới liễu giải pháp của Phật. Pháp này phải từ nơi miệng Phật nói ra, và ngộ được pháp từ miệng Phật nói, như vậy mới trở thành một Phật tử. Như vậy một Phật tử chơn chánh là từ nơi miệng Phật nghe pháp, từ nơi miệng Phật thuyết pháp mà lãnh thọ mới trở thành một Phật tử chơn chánh.
     Tùng Pháp hóa sinh (tư tuệ) là tư duy suy nghĩ giáo lý đức Phật nói, kết hợp với thực tại thực tướng của

* Trang 297 *
device

vạn pháp, biết rõ ràng giáo lý đức Phật nói đó là nói thực tướng thực tánh của vạn pháp. Đó mới là trí tuệ do tư duy, trí tuệ của tư duy nên gọi là tư tuệ. Trí tuệ đó gọi là từ miệng Phật sinh, tức lấy lời nói từ  miệng Phật để tư duy, để ngộ giáo lý thâm sâu của Phật gọi là từ pháp hóa sinh. Từ suy nghĩ đó mà thực chứng thực nghiệm được giáo lý trên tự thân, chính thức hưởng thụ, lãnh thọ được pháp vị của Phật pháp một cách rốt ráo, và chính lúc đó mới trở thành chơn Phật tử tu tuệ.
     Bấy giờ Xá-lợi-phất muốn đọc lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
     Con nghe pháp âm ấy, được việc chưa từng có, tâm ôm lòng vui mừng, (do trừ được nghi hối nên giờ đây) lòng nghi hối đã hết. Từ xưa, con may nhờ đức Thế Tôn dạy bảo, không mất giống Đại thừa, pháp âm của Ngài rất hy hữu, có thể trừ  khổ não cho chúng sinh. Khi được nghe pháp này, con đã được lậu tận, trừ được hết ưu não. Con ở nơi núi hang, hoặc ở dưới rừng cây, hoặc ngồi hoặc kinh hành, thường suy nghĩ việc ấy. Than ôi ! Rất tự trách mình, cớ sao lại dối mình !
     Con cũng đồng là Phật tử, đồng vào pháp vô lậu mà không thể trong đời vị lai diễn nói đạo Vô thượng, thân sắc vàng 32 tướng, 10 lực, các giải thoát, cùng chung ở trong một pháp mà con lại không được các điều đó; 80 vẻ đẹp, 18 pháp không chung, các công đức như vậy mà con đã đánh mất.

* Trang 298 *
device

     Con trong khi đi kinh hành, thấy Phật ở giữa đại chúng, danh tiếng của Phật vang khắp 10 phương làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh. Con tự suy nghĩ, mình mất cái lợi lạc đó, tự dối trá mình, con thường cả ngày lẫn đêm luôn luôn suy nghĩ, muốn đem việc ấy hỏi đức Thế Tôn là mất hay không mất. Con thường thấy đức Thế Tôn xưng tán các Bồ-tát, nên cả ngày đêm tâm con cuồng loạn với việc như vậy. Nay đây nghe pháp âm của Phật, tùy nghi mà nói pháp vô lậu khó nghĩ bàn, khiến chúng sinh được đến đạo tràng.
     Đoạn này cắt nghĩa lời tự trách của Tôn giả Xá-lợi-phất tự cho mình dối mình, trách rằng: con cũng là Phật tử, cũng đồng vào trong pháp vô lậu mà nghe pháp Tứ đế, 12 nhân duyên đều là pháp vô lậu, nhưng mà con không thể trong đời vị lai diễn nói pháp vô thượng, không thể có đủ thân kim sắc 32 tướng, 10 lực, các công đức, các giải thoát mà chúng con không được các pháp đó cũng không được 80 vẻ đẹp… những cái đó con đã mất hết.
     Con trước kia, vốn chấp đắm theo tà kiến, làm thầy của các Phạm chí, đức Thế Tôn biết tâm con, Ngài nhổ tà kiến nói Niết-bàn, con đều trừ được tà kiến mà chứng được pháp không.
     Đây là đoạn Tôn giả nhắc lại dĩ vãng của mình. Như chúng ta đã biết qua lịch sử của Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, hai vị trước tu theo ngoại đạo, thầy là Sằn-dạ-da. Khi thầy mất, hai Tôn giả được giao một số đồ chúng 250 người (nên sau này trong chúng của Phật 

* Trang 299 *
device

gồm 1250 vị). Tỳ-kheo của Phật thì rất đông chứ đâu phải chừng ấy, mà kinh nào cũng nói con số 1250 Tỳ-kheo. Phật độ ba anh em Ca-diếp là 1000 người, độ Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là 250, độ thêm đệ tử nữa là 250 Tỳ-kheo. Đây là những người đã từng tu theo ngoại đạo, có một trình độ cao, lấy số tổng quát như vậy để làm tiêu biểu, còn các vị được độ đó đây, (ví dụ như độ Da-xá) 50 người…. Khi thầy mất rồi, để số đệ tử 250 người cho Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên lãnh đạo, nhưng trong tâm hai vị thấy áy náy vì hai vị chưa chứng và ngộ đạo. Do vậy mới hứa hẹn giao kết với nhau, nếu sau này một trong hai chúng ta ai gặp được đạo cao thượng, giải thoát thì hãy thông báo cho nhau liền.
     Một hôm kia, Tôn giả Xá-lợi-phất trong khi đi đường gặp một vị Tỳ-kheo tên là A-thuyết-thị (còn gọi là Ac-bệ hay Ba Thắng). Khi thấy vị này đi đứng khoan thai, tướng mạo khôi ngô, có vẻ tự tại, thong dong, giải thoát, liền đi lần tới hỏi: “Thưa Tôn giả, Tôn giả tu theo ai ? Thầy của Tôn giả là ai? và Thầy của Tôn giả dạy pháp gì ? Tôn giả A-thuyết-thị nói rằng: “Tôi tu theo Đại A-la-hán Cù-đàm. Thầy tôi dạy nhiều lắm, nhưng tôi không nhớ hết, tôi chỉ tóm tắt qua bài kệ như sau:
     “Chư pháp nhân duyên sinh  
     Thị Pháp duyên tịch diệt
     Ngã đại sư Thánh chủng
     Thị pháp như thị thuyết”.
     Cũng có nơi chép như sau, nhưng ý đều như nhau:

* Trang 300 *
device

“Chư pháp tùng duyên sinh
 Diệc phục tùng duyên diệt
 Ngã Phật đại Sa-môn
 Thường tác như thị thuyết”.
     Nội dung bài kệ này ý nói gì ?
     Chư pháp nhân duyên sinh là chỉ Khổ đế; thị pháp duyên tịch diệt là chỉ Tập đế; cập diệt là Diệt đế; hai câu sau là Đạo đế. Tóm lại, bài kệ đề cập giáo lý Nhân  quả duyên khởi nhưng khi phân tích cũng đồng nói Tứ  đế. Khi nghe bài kệ rồi tâm Tôn  giả Xá-lợi-phất tự nhiên bừng sáng. Vì sao tâm Tôn giả mới nghe liền bừng sáng, còn chúng ta nghe hoài mà cứ tối ? Vì Tôn giả tu lâu rồi, có trình độ. Hơn nữa, lại có một tâm hồn thao thức ngộ nhập chân lý, nên khi nghe được chân lý thì liền ngộ. Ví như người đi tìm vàng, mãi mê tìm nó, nên khi thấy là nhận ra ngay. Trái lại, người không chú tâm tìm vàng, dù vàng nằm dưới chân, đi vấp nó chắc cũng không hay không biết. Vì vậy nên có nhiều người nghe Pháp mà không hiểu, không ngộ, thì cũng giống như người đi tìm vàng mà không chú tâm. Nói như vậy để hiểu rằng có những điều chúng ta nghe liền ngộ, nhưng cũng có cái nghe mãi mà không sao ngộ được. Vì sao ? Vì tâm ta đâu có thiết tha với nó ! Tôn giả Xá-lợi-phất khi nghe A-thuyết-thị đọc bài kệ thì ngộ liền. Đây là lần ngộ đạo thứ nhất của Tôn giả Xá-lợi-phất.
     Lần ngộ thứ hai là nghe sự tranh luận giữa Phật và người cậu ruột tên là Trường Trảo Phạm Chí. Xã hội Ấn 

* Trang 301 *
device

Độ xưa rất thích triết lý và tranh luận về chân lý, nên trong từng vùng, từng làng đều có các nghị trường. Trong nghị trường có treo chiếc trống, ai có vấn đề gì cần đem tranh luận thì đánh trống lên. Người nào thích luận nghị thì lên đó mà tranh luận, nhưng không được đấm đá và chửi bới theo kiểu hạ đẳng, đó là một tập tục hay.
     Thậm chí trong nhà chị em cũng có thể luận nghị với nhau. Đó là trường hợp Trường Trảo Phạm Chí, thường hay luận nghị với chị là mẹ của Xá-lợi-phất. Các lần luận nghị trước thì em hơn chị, nhưng lần này thì em không địch nổi chị và lấy làm thắc mắc. Ông nghĩ chị mình học hành không bao nhiêu. Bà chỉ ở nhà lo nội trợ thôi, sao nay lại lý luận sắc bén thế ! Có lẽ chị mình đang mang thai cháu nên thai nhi ảnh hưởng đến chị chăng ! Bây giờ mới mang thai cháu mà đã thế, huống hồ sau này cháu ra đời, mình biết làm sao mà địch lại đây? Nghĩ vậy ông quyết chí từ giả chị lên đường tìm thầy học đạo.
     Khi đã tìm gặp thầy, ông chăm chú học đến nỗi quên cả cắt móng tay, nên móng tay ra rất dài (Trường Trảo), vì vậy mới có tên là Trường Trảo Phạm Chí (Phạm Chí có móng tay dài).
     Sau một thời gian theo học, khi trở về thì người cháu đã lớn khôn. Ông hỏi cháu đâu rồi ? Bà chị trả lời rằng nó đi theo đạo thờ lửa, nay thì đã quy y với Sa-môn Cù-đàm rồi. Ông rất lấy làm lạ, không biết Sa-môn Cù-đàm là ai mà dám tới rủ rê được cháu mình. Chắc ông này không phải là tay vừa, hẳn là người thông minh xuất chúng, có

* Trang 302 *
device

biệt tài gì đây nên mới rủ được cháu mình. Suy nghĩ như vậy nên ông quyết tìm đến để luận nghị với Phật. Ông suy nghĩ: “Mình nên luận nghị về vấn đề gì ? Các pháp giữa thế gian, nếu nói có cũng sai mà nói không cũng sai; nói thường cũng sai mà nói đoạn cũng trật, nói gì cũng không đúng hết. Nếu mình nói có mà ông ấy (Phật) nói không thì sao ? Còn mình nói không mà ông ấy bẻ lại có thì cũng kẹt… Mình nói thường thì ông ấy nói đoạn, mà nói đoạn ông ấy nói thường thì sao? Có lẽ mình nên nói như thế này thì hơn:  Nhất thiết pháp bất thọ”. Sau khi suy nghĩ, ông cho đó là giải pháp tuyệt, nên ông tìm tới Phật. Sau khi hỏi thăm xã giao, rồi hỏi: “Sa-môn Cù-đàm dạy gì? Riêng tôi chủ trương nhất thiết pháp bất thọ (tôi không lãnh thọ pháp gì hết). Không thọ có nghĩa là không có quan điểm về bất cứ một chuyện gì”. Ông nghĩ nói vậy thì Phật chắc chắn không bác bẻ ông được. Bất ngờ Phật hỏi: “Thế quan điểm nhất thiết pháp bất thọ đó, ông có thọ hay không ?” Ông ta suy nghĩ: “Nếu nói thọ thì thiên hạ cho mình nói lộn ngược, mâu thuẫn rõ quá, mà nói không thọ thì ông Phật nói lý thuyết của mình cũng như mọi người khác, có gì đặc biệt đâu”. Từ đó, ông nghĩ mình còn quá  thấp kém và không tài nào vượt qua Phật được. Ông đành chịu thua và sụp lạy xin quy y theo Phật. Từ đó hai cậu cháu trở thành đệ tử của Phật.
      Chúng ta nên nhớ, Tôn giả Xá-lợi-phất khi vào tu với Phật mới chứng Sơ quả, giờ nghe Phật nghị luận với cậu mình mới chứng được quả A-la-hán. Đó là lần thứ 

* Trang 303 *
device

hai. Lần thứ ba là trong dịp này, Tôn giả Xá-lợi-phất nghe được thông pháp của Phật mà chứng đắc.
     Lúc bấy giờ tâm tự tại, bảo rằng đã đến được diệt độ mà nay đây biết được chẳng phải là thật diệt độ. Nếu khi được làm Phật đầy đủ 32 tướng, cả hàng Trời, Người, Dạ-xoa, Long thần cung kính, thì mới có thể gọi rằng không còn thừa nữa (hết vô minh phiền não không còn thừa. Sách Đại thừa phân ra ba hạng vô minh: 1. Kiến tư hoặc vô minh, 2. Trần sa hoặc vô minh, 3. Căn bản vô minh).
     Phật ở giữa đại chúng nói tôi sẽ làm Phật. Nghe pháp âm như vậy tâm nghi hối của tôi đều đã dứt trừ. Nhưng khi mới nghe lời Phật nói, trong lòng rất kinh hãi nghi ngờ, toan nghĩ rằng: Chẳng phải Ma giả làm Phật để làm não loạn tâm tôi chăng ? Phật dùng đủ các nhân duyên thí dụ khéo léo nói ra, tâm Ngài bình an như biển nên nghe thì lưới nghi liền được trừ hết.
     Đoạn này nói trước phẩm Phương Tiện. Tôn giả Xá-lợi-phất đã kinh lại nghi trong phẩm Phương Tiện, nhưng giờ đây thì ở giữa Phật, đại chúng biết Tôn giả Xá-lợi-phất đã có chỗ thâm ngộ nên mới nói rằng: Tôi (Xá-lợi-phất) sẽ làm Phật – lời đức Phật thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất trong tương lai sẽ làm Phật. (Chữ ngã ở đây chỉ cho Tôn giả Xá-lợi-phất). Phẩm này Tôn giả Xá-lợi-phất thưa với Phật trước: Tôi sẽ làm Phật - nghe pháp âm như vậy tâm nghi hối đã được dứt trừ. Nghi hối ở đây là nghi cái gì và hối cái gì ? Nghi là nghi ngờ trí của mình trước đây đã 

* Trang 304 *
device

chứng A-la-hán nên Phật gọi là Đại trí Xá-lợi-phất. Như vậy có thật là đại trí không ? là A-la-hán chưa ? đã thật diệt độ chưa ? nên nghi. Hối là vì tôi mong mỏi được mau thoát khỏi sinh tử luân hồi, cho nên khi nghe đức Phật nói lý Tứ đế thì tôi tin và tu tập, mong mỏi chứng ngay. Bây giờ Phật nói tôi chứng, đó chưa phải thật chứng. Biết vậy, thì tôi sẽ đợi Ngài nói lý vi diệu Nhất thừa này rồi và tôi đã không thực tập theo pháp môn trước kia rồi. Chữ hối là như vậy. Đến đây nghe đức Phật nói tôi sẽ được làm Phật, thì tâm nghi và hối đều đã dứt trừ. Nhưng khi mới nghe lời Phật nói, trong tâm rất kinh hãi nghi ngờ, toan nghi đó chẳng phải Ma hóa làm Phật chăng ? Tại sao trước đây Thế Tôn nói tu như vậy, chứng như vậy là chứng được cảnh giải thoát sinh tử, nay lại nói chưa được ? Tại sao khi Ngài nói như vầy, khi nói như kia ! Vậy phải chăng cái nói ấy là Ma giả làm Phật để làm não loạn tâm tôi chăng? Nhưng đức Phật dùng các nhân duyên thí dụ nói một cách khéo léo với tâm bình an như biển, nên nghe lời Ngài dạy lưới nghi của tôi liền được diệt trừ.
     Chúng ta nên biết, khi một người thuyết pháp với tâm bình an thì người nghe mới cảm nhận lời pháp của người thuyết một cách sâu xa. Ngược lại, người nói pháp tâm không bình an và hiểu biết không rốt ráo, không chính xác thì người nghe cũng phân vân không làm sao thâm nhập một cách chính xác được. Điều này quan trọng lắm. Đoạn trước nói trong khi nhập định thuyết pháp – nhập định rồi mới thuyết pháp – từ trong định khởi lên nói kinh Pháp Hoa. Sự thuyết pháp đó là từ trong định khởi ra thuyết pháp, chứ 

* Trang 305 *
device

không phải từ trong tán loạn mà thuyết pháp. Nói cách khác, tức ở trong tâm bình an như biển mà thuyết pháp, thì lời pháp đó sẽ đem lại cho người nghe một sự bình an, có bình an mới thâm nhập vào trong tâm người nghe được. Trước đây tôi (lời HT.Viện trưởng nói) không để ý, nay thì trước khi niệm Phật bao giờ tôi cũng lắng đọng tâm tư, khởi tâm niệm Phật để tĩnh tâm. Nếu ai cũng khởi tâm được như vậy thì tự nhiên tâm của mọi người sẽ được bình an, lắng dịu và câu chuyện nói có nhiều ý tập trung, ích lợi thì người nghe dễ thâm nhập hơn. Đó là tâm an như hải. Từ  trong định nói pháp, chứ không phải ở trong loạn tâm mà nói pháp. Lời thuyết pháp đó là một vị cam lồ đưa đến người nghe một sự an lạc, tâm chắc sẽ được bình an. Nên nghe lời đức Phật thuyết pháp thì lưới nghi của tôi (Xá-lợi-phất) diệt trừ.
     Phật nói, đời quá khứ vô lượng đức Phật đã diệt độ, các Ngài cũng an trú trong phương tiện, diễn nói các pháp ấy. Các đức Phật trong đời hiện tại và vị lai, con số ấy cũng không lường được, các Ngài dùng các phương tiện, diễn nói pháp như thế. Như nay đây Thế Tôn, từ khi sinh đến xuất gia, đắc đạo, chuyển Pháp luân; cũng đều dùng các phương tiện nói pháp như thế.
     Đoạn này ngài Xá-lợi-phất nói đời quá khứ có vô lượng đức Phật đã diệt độ (diệt độ đồng nghĩa với Niết-bàn. Niết-bàn: Nirvana - Sanskrit; Pàli-Nibbana. Niết-bàn là dịch âm, dịch nghĩa là diệt độ, tịch diệt. Còn Pàli cắt nghĩa là dập tắt. (Như vậy vô lượng đức Phật đã diệt 

* Trang 306 *
device

độ hay Niết-bàn cũng thế, một bên phiên âm, một bên dịch nghĩa). Các đức Phật quá khứ cũng an trú trong phương tiện và cũng đều nói pháp như vậy – Đó là pháp Nhất thừa. Các đức Phật hiện tại, vị lai, số đó cũng không kể hết. Các Ngài cũng dùng các phương tiện nói pháp như vậy, y như đức Phật quá khứ. Như nay đây Thế Tôn – chỉ cho đức Phật Thích-ca - đang trực tiếp giảng kinh Pháp Hoa này cho Tôn giả Xá-lợi-phất, từ khi sinh cho đến khi xuất gia, đắc đạo, rồi chuyển Pháp luân thì cũng dùng các phương tiện để nói pháp (y như đức Phật quá khứ, hiện tại và vị lai).
     Thế Tôn nói thật đạo ba lần, do thế mà biết chắc chẳng phải là Ma biến làm Phật. Nếu Ma biến làm Phật thì có hình dạng đó chứ không thể nói thật đạo được. Nếu có nói thì nói tà đạo chứ không thể nói thật đạo. Ở đây nói thật đạo, thế nên tôi biết chắc không phải Ma biến làm Phật.
     Vì tôi bị sa vào lưới nghi nên mới gọi đó là Ma làm. Khi nghe âm thanh êm dịu sâu xa rất vi diệu, diễn nói pháp thanh tịnh thì tâm tôi hết sức hoan hỷ.
     (Âm thanh của Phật gồm các đức tính: nhu nhuyến, êm dịu, sâu sắc, xa xôi, mầu nhiệm, đều diển tả pháp âm của Phật, diễn bày pháp thanh tịnh, nghi hối vĩnh viễn đã hết, an trú trong thật trí, trong pháp Nhất thừa, chứ không an trú trong ba thừa nữa). Trí biết ba thừa là quyền trí, khi ngộ lý Nhất thừa gọi là thật trí. Bây giờ trí của tôi an trú trong Nhất thừa pháp, chứ không an trú trong ba thừa 

* Trang 307 *
device

pháp nữa (Thanh văn và Duyên giác), nên gọi là an trú trong thật trí, chứ không phải an trú trong quyền trí. Đức Phật nói ba thừa là phương tiện thuyết, là quyền thuyết, Nhất thừa mới là thật thuyết, trí an trú trong thật thuyết gọi là thật trí.
     Tôi chắc chắn sẽ làm Phật, được trời người cung kính, chuyển Pháp luân Vô thượng, giáo hóa các Bồ-tát (tức lời đức Phật thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất được làm Phật). Khi được làm Phật rồi thì được trời, người đều cung kính y như các đức Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
     Bấy giờ Phật bảo Xá-lợi-phất: Ta nay ở giữa đại chúng gồm hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn dạy rằng: Ta xưa từng ở nơi chỗ hai vạn ức đức Phật vì đạo Vô thượng, thường giáo hóa Ông. Ông cũng suốt đêm theo Ta thọ học (chữ trường dạ này trong kinh có hai nghĩa: nghĩa đen là đêm dài, tức một đêm thôi, một đời sống trong tối tăm thì y như sống trong một đêm dài; nghĩa thứ hai là cả kiếp. Vì ở trong tối tăm chưa giác ngộ nên gọi là trường dạ). Ông cũng luôn luôn theo Ta thọ học và Ta dùng phương tiện dắt dẫn Ông sinh vào trong giáo pháp của Ta. Này Xá-lợi-phất, Ta xưa dạy Ông lập chí nguyện làm theo Phật đạo, Ông nay quên hết mà bèn tự cho rằng đã diệt độ. Ta đã dạy Ông là lập chí nguyện cầu Phật đạo, mà nay mới chứng A-la-hán, Ông nói đã diệt độ rồi. Vì quên bản nguyện mà nói như vậy, chứ trước Ta dạy Ông cầu Phật đạo chứ đâu nói chỉ lập chí

* Trang 308 *
device

cầu A-la-hán hay Thanh văn. Vì quên nên nay chứng A-la-hán Ông nói đã được diệt độ rồi.
     Ta nay trở lại muốn khiến cho Ông nhớ nghĩ đến bổn nguyện hành đạo đó, nên Ta mới vì các hàng Thanh văn nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa giáo hoá Bồ-tát Phật sở hộ niệm này.
     Này Xá-lợi-phất, ông ở nơi đời vị lai trải qua vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp không thể nghĩ bàn, cúng dường ngần ấy ngàn vạn ức Phật, phụng trì Chánh pháp đầy đủ đạo Bồ-tát tu hành, rồi Ông sẽ được làm Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Nước gọi là Ly Cấu, cõi đất kia bằng phẳng trong sạch, nghiêm túc, an ổn, giàu có, vui vẻ. Người trời hưng thịnh, lưu ly làm đất, đường ngã tám, huỳnh kim làm giây để ngăn hai bên. Phía bên đó đều có hàng cây bảy báu thường có hoa quả. Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa để giáo hóa chúng sinh.
     Đức Phật thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất tương lai làm Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai. Khi đã làm Phật rồi thì bất cứ một vị Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều đủ 10 hiệu. Nhưng trong này có 11 hiệu là vì sao ? Có hai chỗ cắt nghĩa. Danh từ Như Lai là danh từ chung, từ trong danh từ chung mới có danh từ riêng tách ra. Cũng có người cắt nghĩa Thế Tôn là danh từ chung đủ 10 danh hiệu trên nên gọi là Thế Tôn .

* Trang 309 *
device

     Quốc độ Ly Cấu là tên nước mà tương lai ngài Xá-lợi-phất sẽ làm Phật và giáo hóa ở đó, còn Hoa Quang  là hiệu Phật của ngài được đức Phật Thích-ca thọ ký. Cả hai tên Quốc độ và hiệu Phật đều đẹp. Vì ở đó đất bằng phẳng, giàu có, an ổn, vui vẻ. Diễn tả cõi nước của đức Phật bằng cách nói chánh báo và y báo là như thế này đây. Chánh báo là gì ? Là đủ 10 hiệu, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Y báo là gì ? Là huỳnh kim vi địa, thất bảo hàng thọ… rồi Ngài Hoa Quang Như Lai cũng dùng pháp ba thừa để giáo hóa chúng sinh, bởi chúng sinh nào căn cơ như vậy thì các đức Phật cũng dùng Tam thừa để giáo hóa, cho dù muốn đi tắt cũng không được, muốn đốt giai đoạn cũng không xong.
     Này Xá-lợi-phất, lúc đức Phật kia (Hoa Quang) ra đời, tuy không phải là đời ngũ trược ác thế (y như đức Phật Thích-ca), nhưng vì bản nguyện nên Ngài cũng nói pháp ba thừa. Kiếp của Ngài gọi là Đại bảo trang nghiêm. Sao gọi là Đại bảo trang nghiêm? Vì ở  trong nước đó lấy Bồ-tát làm Đại bảo. Các vị Bồ-tát kia nhiều đến vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, dùng toán số thí dụ cũng không thể kể xiết, phi trí lực của Phật thì không ai có thể biết được. Các vị Bồ-tát đó khi muốn đi thì có hoa báu đở chân, các vị Bồ-tát ấy chẳng phải mới bắt đầu, mà đều từ lâu gieo trồng gốc đức ở nơi chỗ vô lượng trăm ngàn đức Phật, tu hành phạm hạnh, thường được các đức Phật tán thán, thường tu Phật tuệ đầy đủ đại thần thông, khéo biết tất cả các pháp môn. 

* Trang 310 *
device

      Pháp môn: Lục độ là một pháp môn, bố thí là một pháp môn, tham thiền là một pháp môn. Môn là cửa vào để chứng ngộ.
     Trong kinh Pháp cú, Phật nói đường lên Niết-bàn không thể dùng xe hay ngựa mà chỉ dùng giới hạnh trang nghiêm. Thành muốn đi vào chỗ giác ngộ vô thượng thì phải theo cửa pháp, chứ cửa khác đi không được, nghĩa là phải biết tất cả cửa để chứng ngộ các pháp. Các vị Bồ-tát như thế đầy khắp trong nước, vì thế nước đó lấy Bồ-tát làm Đại bảo trang nghiêm (Chắc rằng các vị Bồ-tát này cũng đẹp lắm, nếu xấu chắc không trang nghiêm được đâu). Vì vậy chúng ta thấy như Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Quán Thế Âm… Lại như Bồ-tát Di-lặc, bụng to có phình ra chút đỉnh nhưng cũng đẹp lắm. Bụng to nhưng ai thấy cũng hoan hỷ chứ không trốn chạy. Khi lên được Bồ-tát thì sự tu khổ hạnh, ăn mặc bình thường (tam thường bất túc), không được soi gương dùng phấn sáp lòe loẹt ! Bây giờ tôi thấy chúng ta ở đây chắc ít ưa tu hạnh Bồ-tát hay Thanh văn mà chỉ thích lựa đồ tốt mà mặc thôi!
     Này Xá-lợi-phất, đức Phật Hoa Quang sống 12 tiểu kiếp trừ  khi làm vương tử chưa làm Phật. Nhân dân trong nước của Ngài sống lâu 8 tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai qua 12 tiểu kiếp thì thọ ký cho Bồ-tát Kiên Mãn này kế tiếp sẽ làm Phật hiệu là Hoa Túc An Hành A-la-ha tam-miệu-tam-phật-đà. Quốc độ của đức Phật đó cũng là như vậy (như đức Hoa Quang).

* Trang 311 *
device

     Này Xá-lợi-phất, sau khi đức Phật Hoa Quang diệt độ thì Chánh pháp trú thế 32 tiểu kiếp, Tượng pháp trú thế cũng 32 tiểu kiếp.
     Học kinh Đại thừa cũng y như nhiều kinh khác, chúng ta thấy không gian thời gian trong Phật giáo là nhiều lắm, kiếp cũng vô lượng vô biên. Nếu dùng con mắt mà thấy thì sẽ bị hạn cuộc, phải dùng con mắt tuệ mới thấy tam thập tam thiên đại thiên thế giới, vô lượng vô biên kiếp số. Khi học chúng ta mới thấy cảnh giới này ứng theo với trí tuệ đức Phật nhìn thấy, vì vậy chúng ta cũng dựa vào đó mà mở rộng cái thấy, cái quan niệm của chúng ta cho rộng hơn.
     Con mắt thấy của chúng ta chừng này thì không gian cũng sẽ tương ứng như vậy. Ví như con ếch ngồi đáy giếng chỉ thấy bầu trời tròn tròn theo thành giếng, vì thấy như vậy nên quan điểm cũng như vậy. Chúng ta đang ở trong hoàn cảnh chúng sinh chưa vượt qua được quả báo của nhục thể thân, nhưng nhờ học Phật pháp mà chúng ta có thể vượt qua, để cùng với tuệ nhãn của đức Phật thấy cái thế giới vô biên vô lượng, vô thỉ vô chung vậy. Đó là đạo lý rất phù hợp với khoa học, mà hiện nay cả thế giới khi nghiên cứu về nhân sinh quan và thế giới quan Phật giáo rất lấy làm thích thú. Như vậy, Phật giáo nói thời gian không gian nó không có định tánh, nên không chú ý đến ngày tháng. Có người rất ngạc nhiên cho đó là huyễn hoặc, nhưng tôn giáo như Phật giáo thì không lấy làm ngạc nhiên. Khi đức Phật nói về thời gian không gian như 

* Trang 312 *
device

32 tiểu kiếp, mới nghe có vẻ dài lắm, làm sao chúng ta sống được ! Trong khoảng 100 năm chúng ta sống mà chưa đạt đến. Lại có người uống đủ thứ thuốc men mà vẫn không sao sống nổi! Bây giờ nghe sống đến 32 tiểu kiếp là sống cách nào, ăn uống thứ gì mà sống lâu vậy ! Như vậy có người cho là huyễn hoặc, trái khoa học. Nhưng đối với các Ngài đã chứng ngộ, thì nghĩ sao mà mau quá vậy.
     Bấy giờ đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói bài kệ rằng: Xá-lợi-phất đời sau thành Phật là bậc có trí cùng khắp, danh hiệu là Hoa Quang, sẽ độ vô lượng chúng, cúng dường vô số Phật, đầy đủ hạnh Bồ-tát công đức 10 lực… Có đủ các công đức như vậy thành Vô thượng đạo. Qua vô lượng kiếp rồi, kiếp gọi là Đại bảo trang nghiêm, nước gọi là Ly Cấu, thanh tịnh không có vết nhơ. Lấy lưu ly làm đất, có dây bằng vàng làm ranh giới bên kia đường. Có cây bảy báu sắp xen nhau thường có hoa có trái. Nước kia các Bồ-tát, có chí niệm bền chắc, có thần thông Ba-la-mật đều đã đầy đủ hết. Ở nơi chỗ vô số đức Phật khéo học đạo Bồ-tát, các bậc đại sĩ như vậy đều được đức Phật Hoa Quang hóa độ. Khi Phật còn làm vương tử, Ngài bỏ nước, bỏ sự vinh hoa ở đời nơi cái thân tối hậu cuối cùng xuất gia thành Phật đạo. Đức Phật Hoa Quang ở đời sống 32 tiểu kiếp, nhân dân trong nước của Ngài sống 8 tiểu kiếp. Sau khi đức Phật diệt độ, Chánh pháp trụ thế 32 tiểu kiếp rộng độ các chúng sinh. Chánh pháp khi đã diệt tận rồi thì Tượng pháp trải qua 

* Trang 313 *
device

32 tiểu kiếp. Xá-lợi rộng lưu bố, hàng trời người khắp cúng dường thì đức Hoa Quang cũng làm như thế. Đức Thế Tôn lưỡng túc kia tối thắng không so sánh được. Phật Hoa Quang đó là thân Ông.
     Đây là lời kết lại do Phật nói cho Tôn giả Xá-lợi-phất biết, hãy tự vui mừng. Trong đây có chữ thọ ký. Thọ ký có 2 cách: thọ là trao truyền, ký là lời ghi nhận, tức trao lời ghi nhận hay là lời dự đoán. Đoán là chưa chắc, ký là chắc chắn rồi. Nếu cắt nghĩa dự đoán là lệch nghĩa đi, tức là ghi nhận trước việc của người đó sẽ như thế nào đó. Có hai cách thọ là thông thọ ký và biệt thọ ký. Thông thọ ký là thọ ký chung: Ví dụ những người nghe được kinh Pháp Hoa tương lai sẽ làm Phật. Biệt thọ ký là thọ ký riêng, đích danh như trường hợp đức Phật thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất – vị đó ngày sau sẽ làm Phât hiệu gì, quốc độ tên gì, thọ mạng bao lâu, Chánh pháp, Tượng pháp bao nhiêu, thọ ký từng người một, có tên có tuổi hẳn hoi, gọi là biệt thọ ký. Phải hiểu rằng nếu người nào không được đức Phật thọ ký ngay lúc ấy thì người ấy tuyệt đối không được làm Phật hay sao ? Không. Người không được đức Phật thọ ký ngay, tức là không được biệt thọ ký nhưng họ cũng được thông thọ ký.
     Lúc bấy giờ bốn chúng Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, các đại chúng đó thấy Xá-lợi-phất ở trước Phật lãnh thọ lời thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, họ rất hoan hỷ, mỗi mỗi 

* Trang 314 *
device

đều cởi thượng y đang mặc để cúng dường Phật. Thích-đề-hoàn-nhơn, Đao Lợi Phạm thiên vương (Sơ thiền) và vô số thiên tử cùng lấy sự thắng diệu của trời với các hoa Mạn-đà-la và đại Mạn-đà-la cõi trời cúng dường đức Phật. Thiên hoa cúng dường Phật là ở giữa hư không, tự xoay chuyển. Âm nhạc chư thiên có trăm ngàn vạn thứ ở giữa hư không cùng lúc trổi lên, chư thiên mưa các hoa trời cúng dường đức Phật, thưa rằng: Phật xưa ở tại thành Ba-la-nại, chuyển Pháp luân đầu tiên cho đến nay đây lại chuyển Vô thượng tối đại pháp luân.
     Hai lần chuyển Pháp luân: Sơ chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển, đó là Tứ đế – Pháp luân Tứ đế. Pháp luân Tứ đế này nếu tu hành thành đạt thì chứng A-la-hán. Bấy giờ tối hậu Ngài chuyển Vô thượng Pháp luân – tức pháp luân Nhất thừa Vô thượng đạo – chỉ thẳng dẫn tới con đường làm Phật.
     Trong Nikaya, Phật cũng gọi là A-la-hán. Như vậy giữa Phật và A-la-hán về mặt giải thoát sinh tử không khác, chỉ khác là A-la-hán kém hơn Phật vì Phật phát minh ra giáo lý Vô thượng, giáo lý Tứ đế mà A-la-hán chỉ dựa theo đó tu hành để chứng A-la-hán, chứ A-la-hán không phát minh được giáo lý Duyên khởi, Tứ đế… Đó là chỗ khác nhau giữa Phật và A-la-hán.
     Cũng có nhiều trường hợp Phật cũng xưng A-la-hán, nhưng là đại A-la-hán. Như khi đọc qua kinh Bổn Sinh, (tiền thân của đức Phật) thì Phật khác A-la-hán nhiều lắm. Phật trải qua vô lượng số kiếp như cát sông 

* Trang 315 *
device

Hằng tu hạnh Bồ-tát dưới nhiều hình thức: Khi làm người, khi làm trời, khi làm cha, khi làm mẹ, khi làm nai, làm khỉ, … thì A-la-hán không có chuyện đó. Vì vậy trong kinh điển Nam truyền không phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa, Bồ-tát, nhưng chính kinh Bổn Sinh của Tạng Pàli là bộ kinh đề cập tiền thân của đức Phật gần như trọn vẹn. Như vậy, đức Phật có một tính cách đặc biệt hơn. Khi đức Phật chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển, nếu tu theo pháp đó thì chỉ chứng quả A-la-hán chứ chưa phải chứng Vô thượng tối đại Pháp luân. Giờ đây, trong khi nói kinh Pháp Hoa thì mới nói chuyển Vô thượng tối đại Pháp luân.
     Xưa ở thành Ba-la-nại, tại Lộc Uyển, chuyển pháp luân Tứ đế phân biệt nói các pháp, về Ngũ uẩn sinh diệt, nay đây Ngài lại thuyết pháp luân tối diệu, vô thượng đại pháp luân.
     Chúng ta đọc chỗ này nếu so với Bát-nhã tâm kinh thì thấy hai nghĩa khác nhau. Trong này phân biệt Tứ đế có sinh có diệt có Tập đế làm nhân sinh ra Khổ đế, diệt Khổ đi được Diệt đế. Đó là có sinh có diệt, Tâp đế làm nhân mà sinh ra Khổ, diệt Khổ thì được chứng Diệt là có sinh có diệt. Tứ đế lấy gì làm nhân làm quả, lấy ngũ uẩn làm nhân làm quả. Ví dụ: Do Tập đế sinh ra Khổ đế. Khổ đế là cái thân sinh tử của chúng sinh, đó chính là Ngũ uẩn. Thân Ngũ uẩn với tính cách sinh diệt, mang phiền não trong đó sinh ra đau khổ. Diệt được phiền não tức diệt thân đau khổ nên gọi là Diệt đế, là Tứ đế ngũ uẩn theo tính cách sinh diệt. Nhưng 

* Trang 316 *
device

nếu đọc Bát-nhã thì “thị chư pháp không tướng, ngũ uẩn giai không…”. Cái Ngũ uẩn trong kinh Bát-nhã là không có gì cả (bất sinh bất diệt), vì sao vậy ? Vì Ngũ uẩn ở trong Tứ đế sơ chuyển Pháp luân này là nói về tướng, còn trong kinh Bát-nhã là nói về tánh. Tánh của Ngũ uẩn là giai không. Như vậy Ngũ uẩn có sinh có diệt, cho nên nó trở thành bất sinh bất diệt, để thấy rằng nay đây Ngài lại chuyển Pháp luân tối diệu Vô thượng đại Pháp luân. Trước là chuyển Ngũ uẩn sinh diệt, nay chuyển Ngũ uẩn bất sinh bất diệt thành đại Pháp luân. Pháp này rất thâm áo, ít có người tin được.
     Chúng con thường nghe đức Thế Tôn nói pháp tối thượng, thậm thâm mà từ trước tới nay chúng con chưa từng nghe như vậy. Khi đức Thế Tôn nói pháp ấy chúng con đều hoan hỷ. Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc đại trí nay được thọ tôn quí (lãnh thọ sự ký biệt tôn quý). Chúng con cũng như vậy, chắc chắn sẽ được làm Phật. Đối với tất cả thế gian, Phật là tôn quí không ai trên nữa. Phật đạo khó nghĩ bàn phương tiện tùy nghi nói, chúng con có bao nhiêu phước nghiệp của đời này hoặc đời quá khứ và công đức thấy Phật, tất cả đều hồi hướng về Phật đạo.
     Các bộ ấy nói: chúng con từ xưa nghe đức Phật nói pháp chưa từng được nghe thâm diệu như vậy. Nay đây Thế Tôn cũng nói pháp, được nghe lại pháp ấy, chúng con cũng đều tùy hỷ hết. Tuy nhiên, ở trong hàng chúng con chỉ có Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc đại trí, trước tiên 

* Trang 317 *
device

được đức Phật tôn thọ ký. Nên biết rằng, ba vòng thuyết pháp là Pháp thuyết luân, Dụ thuyết luân và Nhân duyên thuyết luân. Trong Pháp thuyết luân nói Phương tiện trước, Phật nói ngay pháp ba thừa, Nhất thừa. Khi nói ba thừa, Nhất thừa thì chỉ có Tôn giả Xá-lợi-phất ngộ, hiểu, tín giải được,  nên được Phật thọ ký.
     Chúng con nghe thì cũng đồng nghe nhưng riêng Tôn giả Xá-lợi-phất tín giải được, nên được thọ ký. Trong các bậc thượng căn, chỉ có một mình thượng căn Xá-lợi-phất là được thọ ký trước.
     Câu này chỉ lặp lại nghĩa trước đó là như vậy.
     Nhưng không phải riêng Tôn giả Xá-lợi-phất nay được thọ ký mà chúng con chưa được, nhưng rồi chúng con cũng như vậy, sẽ được làm Phật, tức là làm bậc tối tôn vô thượng đối với tất cả thế gian.
     Câu “Phật đạo nan tư nghì phương tiện tùy nghi thuyết” phải hiểu rằng: Nhất thừa muốn độ chúng sinh bằng Nhất thừa mà không nói Nhất thừa, lại nói ba thừa (đó là phương tiện nói).
     Chúng con có bao nhiêu phước nghiệp hoặc đời này hoặc đời quá khứ, và công đức thấy Phật, tất cả những việc đó đều hồi hướng về nơi Phật đạo.
     Bấy giờ Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, con nay không còn nghi hối, thân cận ở trước Phật được thọ ký, được thọ ký lời biệt chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị gồm 1200 vị tâm tự tại, xưa ở nơi Học

* Trang 318 *
device

địa, Phật thường giáo hóa rằng: Pháp của Ta có khả năng làm cho các vị xa lìa sinh, lão, bệnh, tử, cứu cánh Niết-bàn. Các vị Hữu học, Vô học cũng đều cho rằng mình đã xa lìa ngã kiến và hữu kiến, vô kiến được Niết-bàn, chứng quả A-la-hán để thành Vô học.
     Trong năm kiến thì hữu kiến vô kiến thuộc loại gì ? Ngã kiến tức thân kiến, chấp thân Ngũ uẩn này có ngã, chấp thân Ngũ uẩn hòa hợp hư vọng này có cái ta trong đó. Biên kiến là gì ? Tức chấp đoạn chấp thường, chấp thân Ngũ uẩn này có cái ngã, sau khi chết còn tồn tại không tồn tại, chấp đoạn chấp thường là chết rồi là hết không còn gì nữa gọi là chấp đoạn, chết rồi còn mãi mãi gọi là chấp thường. Những điều vừa nói trên gọi là biên kiến. Nói rộng ra trong các pháp là chấp có chấp không, chấp nhất chấp dị, chấp lai chấp khứ, chấp sinh chấp diệt đều là biên kiến.
     Như vậy thì chấp hữu chấp vô thuộc về biên kiến. Tà kiến tức phi nhơn chấp là nhơn, không phải quả chấp là quả hay bác bỏ nhơn quả gọi là biên kiến. Nếu ai chấp chặt nơi biên kiến của mình cho là đúng, không chịu thay đổi, đó là kiến thủ kiến. Hoặc chấp chặt nơi tà kiến, biên kiến, thân kiến mà cho là chân lý, đúng sự thật, không thể lay chuyển thì gọi là kiến thủ kiến. Giới cấm thủ – giới là sự tu hành, ví dụ như một người đến với đạo Phật họ phá ba ngôi báu và năm giới. Ba ngôi báu là qui định về kiến, thọ năm giới là qui định về đạo đức, hành trì, vì thế chánh kiến và tịnh giới phải đi song song với nhau. Trong ngũ

* Trang 319 *
device

kiến, bốn thứ trước thuộc về kiến, còn giới cấm thủ thuộc về giới. Nhưng giới đây là giới tà vạy, dùng điều sai trái chấp là giới rồi thực hành theo để hy vọng được giải thoát, được sinh thiên đường ! Ví như hành khổ hạnh một cách cực đoan như một số giáo phái ở Ấn Độ chủ trương. Lại có người nghĩ rằng, cuộc đời này cái khổ là vô kể, như một cuộn chỉ, nếu cứ từ từ kéo ngày này qua ngày khác thì cuối cùng cũng xong; nếu muốn nhanh hơn thì cả ngày đêm kéo liên tục, chắc thời gian sẽ ngắn đi. Vì căn cứ trên thực tế như vậy nên họ rơi vào một cực đoan tự làm khổ mình như đứng co chân, đứng mắt nhìn chăm chăm mặt trời, khi lạnh nhảy vào nước, khi nóng đốt lửa hơ … họ tin tưởng làm như vậy là giải thoát. Vì sao họ hành xác như vậy ? Vì họ cho xác thân này bị linh thể ràng buộc nên sinh đau khổ, vì thế phải làm cho nó tê liệt đi, thì linh thể sẽ thoát ra và được giải thoát. Chấp tà kiến và tu theo tà giới như vậy, gọi là giới cấm thủ.
     Các vị Hữu học, Vô học này đều cho mình đã lìa ngã kiến vô kiến. Nhưng nay nghe đức Thế Tôn nói các pháp chưa từng được nghe thì ai nấy đều bị rơi vào nghi hoặc. Nghi hoặc khác tin tưởng là ở chỗ thực hành. Trước tin tưởng như vậy là được Niết-bàn, nhưng bây giờ thì chưa phải là được Niết-bàn.
     Lành thay, đức Thế Tôn ! Xin vì bốn chúng nói các nhân duyên kia, khiến được xa lìa nghi hối.
     Nói nhân duyên kia là nhân duyên gì ? Tức là khai tam hiển nhất, Nhất thừa nói ra ba thừa; ba thừa là

* Trang 320 *
device

phương tiện chứ chưa phải cứu cánh. Xin Ngài nói nhân duyên đó để chúng khỏi nghi hối.
     Bấy giờ Phật bảo Xá-lợi-phất rằng: Ta trước đã chẳng nói các đức Phật, Thế Tôn thường dùng đủ các thứ nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, phương tiện thuyết pháp. Tất cả những lời pháp đó chẳng phải đều vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả ư ? Ta đã không nói thế ư ? Các điều được nói ấy đều vì giáo hóa Bồ-tát.
     Nhưng Xá-lợi-phất, nay sẽ dùng thí dụ để thuyết minh cái nghĩa ấy, người có trí do thí dụ mà được hiểu.
     Này Xá-lợi-phất, như ở chỗ nước ấp làng xóm có vị trưởng giả tuổi đã suy già mà của cải thì vô lượng, có nhiều ruộng đất, nhà cửa và tôi tớ. Cái nhà rất rộng nhưng chỉ có một cửa, có nhiều người đang ở trong đó: con số có đến 100, 200 cho đến 500. Nhà và gác đều mục, tường vách đã ngã và rơi rớt, nền cũ đều đã hư hỏng, kèo cột đã nghiêng đổ. Cùng lúc chung quanh có lửa phần phật bốc cháy thiêu rụi nhà cửa. Các con của trưởng giả hoặc 10 hoặc 20 cho đến 30 người đang ở trong nhà đó. Vị trưởng giả thấy lửa bốc lên từ bốn phía thì hết sức kinh sợ, liền nghĩ rằng: Ta tuy ở nơi chỗ cửa đang bị thiêu đốt này mà có thể an ổn ra khỏi, nhưng các con ta ở trong nhà lửa ham đắm, vui chơi không hay không biết, không kinh không sợ, lửa đến bức thân đau khổ nóng bức vây quanh mình mà không có nhàm lo, không có cái ý cầu ra khỏi.
     Trong kinh Pháp Hoa có 7 thí dụ: 1. Thí dụ Nhà lửa ba xe; 2. thí dụ Cây cỏ thuốc; 3. thí dụ Cùng tử, 4. thí dụ Hóa 

* Trang 321 *
device

thành; 5. thí dụ Viên ngọc trong chéo áo, 6. thí dụ Viên ngọc ở trên đầu (nhục kế), 7. thí dụ Thầy thuốc hay. Đây là thí dụ thứ nhất trong các thí dụ đó. Thí dụ này là tổng quát, nói toàn diện, các thí dụ sau là nói từng khía cạnh về giáo lý. Đọc thí dụ này, chúng ta thấy trong thành ấp xóm làng có vị trưởng giả, tuổi già cả, của cải vô lượng, ruộng vườn đất đai nhiều vô kể, gia nhân và tôi tớ số đông đều ở trong nhà của trưởng giả. Bỗng nhiên lửa cháy nổi lên thiêu đốt ngôi nhà của trưởng giả, mà các con của ông từ 10, 20 đến 30 đang ở trong đó. Khi thấy lửa nổi lên, vị trưởng giả vô cùng kinh sợ, nghĩ rằng: “Với ta có thể từ nơi cửa lửa cháy này mà đi ra chắc chắn an ổn, nhưng còn các con ta chúng nó đang còn nhỏ dại, ham chơi, đắm đuối theo trò con trẻ mà không biết kinh hãi là gì !” Qua thí dụ này, liên tưởng việc của chúng sinh cũng y như vậy. Nói một cách khác, chúng sinh cũng ham chơi trong cảnh ngũ dục bất tri bất giác, bất kinh bất bố, (như ma túy khi đã nghiện rồi thì cũng bất tri bất giác… kéo họ ra được cũng rất khó); chúng sinh đắm đuối trong ngũ dục, đức Phật kéo ra được cũng vất vả lắm, ra khỏi nhà lửa này cũng gay go, lý do là vì họ không có ý muốn cầu ra.
     Này Xá-lợi-phất, vị Trưởng giả ấy nghĩ rằng, ta có thân, có chân tay, có sức sẽ dùng áo mền hoặc dùng ghế bàn đưa các con ra khỏi nhà lửa. Nhưng lại suy nghĩ rằng, cái nhà này duy chỉ có một cửa độc nhất, lại nhỏ hẹp. Các con ta thì còn ngây dại chưa biết gì, cứ đắm luyến nơi đồ chơi hoặc sẽ bị sa lạc, hoặc sẽ bị lửa thiêu đốt. Ta sẽ vì nó nói sự nguy hiểm rằng, cái nhà này đã bị cháy nên cấp thời đi ra, đừng 

* Trang 322 *
device

để cho lửa nó thiêu đốt tai hại. Nghĩ vậy nên suy nghĩ và nói với các con rằng: Các ngươi hãy mau đi ra.
     Ông Trưởng giả thấy con như vậy, hốt hoảng nghĩ cách. Ta có thân, có tay, có lực, ta có thể dùng áo dùng mền dùng ghế, bàn để đưa các con ta từ trong nhà ra khỏi nhà lửa, chứ không phải ta không có thân, không có chân tay. Ý nói Ta có pháp thân trí tuệ, đủ các sức đó, dùng các phương tiện đưa các con ra. Nhưng lại suy nghĩ, nhà này chỉ có một cửa thôi, mà cửa vừa hẹp lại nhỏ. Cửa đó ví cho cái gì ? Ví cho Nhất thừa Chánh pháp môn (là cửa Chánh pháp Nhất thừa). Một cửa là ví như vậy, chứ nhà sao lại chỉ có một cửa, ít nhất cũng có hai hoặc ba cửa trở lên chứ ! Một cửa vừa nhỏ lại vừa hẹp là vì sao ? Cửa này Duyên giác không thể đi qua được nên gọi là hẹp, Thanh văn không đi qua được nên gọi là nhỏ. Thứ nữa, Chánh pháp môn Nhất thừa là ly ngôn thuyết tướng nên gọi là hẹp, ly tâm duyên tướng nên gọi là nhỏ, đi qua cửa này không thể lấy ngôn ngữ tâm tư mà suy lường được. (Cũng chính dựa vào ý này mà tôi viết trong quyển Vô ngã là Niết-bàn, rằng cửa Niết-bàn rất hẹp, rất nhỏ, nhỏ hơn tơ tóc, không thể mang hành lý mà đi qua được, cũng không thể mang ý niệm ngã mà đi qua Niết-bàn được). Cửa đó nhỏ như vậy mà các con thì ngây dại, chưa biết gì, cứ đắm luyến nơi chỗ vui chơi hoặc sẽ bị sa đọa hoặc sẽ bị lửa đốt. Ta nay sẽ vì nó mà nói chuyện sợ hãi.
     Trong giáo pháp của đức Phật, Ngài nói Khổ đế trước là vì vậy. Nếu không chỉ rõ cuộc đời ô trược đau khổ cho

* Trang 323 *
device

chúng sinh thấy thì chắc chắn chúng sinh cứ nghĩ rằng vui, không có tâm lý thoát ly. Giáo lý nhà Phật nói đời là khổ, cũng như đây nói sự sợ hãi trong nhà lửa đó để cho các con biết. Biết như vậy thì mới có ý thức ra khỏi nhà lửa, sau đó mới thuyết pháp cho nó nên Ngài nói cái nhà này đã cháy, đúng thời mau ra, đừng để cho lửa nó thiêu rụi.
     Cha tuy thương xót, khéo nói dụ dỗ, mà các con cứ vui đắm giỡn chơi không chịu tin, không chịu lãnh thọ, không kinh không sợ trọn không có tâm đi ra. Lại cũng không biết thế nào là lửa, thế nào là nhà sắp sập, thế nào là mất, cứ đông tây chạy nhảy giỡn chơi, đứng xem cha mà thôi. Cha nói thì cứ nói, cũng ngó cũng nhìn, mà chơi thì vẫn cứ chơi, chứ không có để ý, không tin thọ lời của cha nói. Vì thế mà những đưa con ở trong nhà lửa không biết đó là lửa, cũng ví như người nghiện ma túy mà không biết đó là thứ nguy hiểm. Họ không biết sự tai hại của ma túy cũng như đứa con không biết nhà này là nhà lửa, và cũng không biết thế nào là nhà lửa ba cõi, là Ngũ uẩn thân và không biết thế nào là mất. Đó chính là do vọng tưởng làm cho điên đảo, cũng không biết thế nào là mất, là sai lầm.
      Trong Phật giáo có câu “Tam giới bất an do như hỏa trạch” (Ba cõi không an y như nhà lửa) chính là lấy chữ của Kinh Pháp Hoa. Nhà lửa này là ví cho cái khổ của chúng sinh trong ba cõi, của phiền não đốt cháy, chính quả báo nhận chìm chúng sinh, chính nghiệp ái đưa chúng sinh vào cõi ác thú và địa ngục. Ở trong nhà này có đủ ba thứ 

* Trang 324 *
device

đó thiêu đốt nên gọi là nhà lửa. Khi lửa đốt thì không thể ngồi yên được ? Cũng ví như phiền não đốt, nghiệp báo đốt cũng không thể ngồi yên được nên gọi là ba cõi không an. Trong thế giới này có ai bị lửa đốt mà ngồi yên được ? Trừ Bồ-tát Thích Quảng Đức, vì pháp mà thiêu thân. Thiêu thân để mà giữ đạo. Như vậy, Ngài Quảng Đức đã thoát khỏi nhà lửa nên mới ngồi yên được.
     Đoạn trước có nói các con của ông trưởng giả cứ ở trong nhà lửa, đứa chạy đông, đứa chạy tây, giỡn cười nhìn cha mà không biết cái tâm của người cha lúc ấy hết sức lo lắng cho con; như chúng sinh không biết cái tâm từ bi của Phật lo lắng cho mình. Trái lại, chúng sinh thấy Phật thì lễ Phật thế thôi, nếu có ai bắt buộc thì cũng chỉ chấp tay vái vái chào chào rồi ra đi mà không có chút lòng cung kính. Lễ Phật kiểu ấy cũng giống như mấy đứa con ông trưởng giả đứng nhìn cha mà không biết cha đang lo lắng cho mình. Khi nào chúng sinh tha thiết hướng về tâm từ bi của đức Phật thì khi ấy mới có sự cảm ứng với Ngài được.
     Đọc lịch sử ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh ta thấy có nhiều chỗ ngài kể rất cảm động, đến nỗi tới đâu thấy các dấu tích cũ của Phật ở đó ngài bật khóc ròng rã. Vì sao ? Vì Ngài có một mối thâm cảm trong lòng rất mãnh liệt. Tâm của ngài đã thấu hiểu được thâm ân của Phật, nên khóc. Người xưa có câu: “Thị phụ nhi dĩ” (thấy mà thôi). Vì vậy đứa con không có thâm cảm, không hiểu lòng cha đang lo sợ, đang mong mõi, nên chỉ thấy bộ mặt của cha bên ngoài chứ không biết tấm lòng của cha bên

* Trang 325 *
device

trong. Chúng sinh đối với Phật cũng vậy, chỉ thấy hình tướng Phật, chứ không thấy cái tâm từ bi vô thượng của ngài. Sở dĩ ngài Huyền Trang chiêm bái thánh tích nào cũng vừa lạy vừa khóc là vì ngài đã thấy được tấm lòng từ bi của Phật thương chúng sinh mà cảm động, đến nỗi không cầm được nước mắt. Hiện nay mấy ai thấu hiểu được tâm từ bi của Phật như ngài Huyền Trang ? Nên ở thí dụ này đã cho ta thấy mấy đứa con cứ ham chơi, nhìn cha không hiểu được lòng cha là vậy.
     Bấy giờ trưởng giả liền nghĩ, nhà này đã bị ngọn lửa đốt cháy, Ta và các con nếu ra không kịp thời sẽ bị đốt. Ta sẽ bằng phương tiện khiến các con ra khỏi nhà lửa tai hại này. Cha biết các đứa con đã sẳn có tâm ưa thích các đồ chơi nên ông đưa các vật kỳ lạ trân quý để các con thưởng ngoạn, cái tình chắc chắn đắm say vào nơi đó, nên mới bảo nó rằng: Các con sẽ có được các đồ chơi rất đẹp, hiếm có khó được. Nếu không có nhận lấy thì sau chắc chắn phải buồn vì ăn năn. Các xe dê, nai, trâu như thế này, nay đang để ngoài cửa, có thể dùng để cỡi chơi, các con ở nơi nhà lửa này nên mau đi ra, đến đó và tùy các con muốn, Ta đều sẽ cho các con.
     Bấy giờ các đứa con nghe cha nói đồ vật trân quý, thưỡng ngoạn vừa các sở thích của nó, hợp với lòng mong muốn của nó, nên tâm mỗi đứa rất mạnh mẽ hăng hái, cùng nhau xô cửa tranh chạy ra khỏi nhà lửa.
     Trên kia ông trưởng giả lấy sự khổ để dọa các con vì biết cái nhà này đang cháy, nguy hiểm lắm. Chúng nó 

* Trang 326 *
device

không sợ mà cứ chơi đùa coi như không có gì xảy ra. Ông nói mặc ông còn chúng cứ chơi đùa thỏa thích. Giờ đây ông nói cách khác, tức dựa vào tâm lý trẻ con thích đồ chơi tốt đẹp, đây là một cách phương tiện. Khi nói khổ chúng nó không thấy khổ mà lại ưa đồ chơi tốt đẹp, nên thay vì nói nhà lửa nguy hiểm, là khổ sở thì nay không nói nữa, ông đổi cách khác là đem đồ chơi mà chúng nó ưa thích, khen đồ chơi đẹp, ra đây cha sẽ cho thì đúng với tâm lý trẻ con. Nếu các con không mau ra đó lấy thì sau sẽ không còn nữa. Đồ chơi đó là xe dê, nai, trâu nay đang đậu ở ngoài cửa, nên mau ra lấy, tùy ý các con muốn xe gì Ta cho xe đó. Đây là một kịch bản rất hay, rất hùng tráng và lại sâu sắc nữa.
     Bấy giờ trưởng giả thấy các con an ổn ra khỏi nhà lửa và đều ở giữa ngã tư đường, ngồi trên đất trống không còn gì chướng ngại nữa, tâm lý của nó hết sức thư thái, hoan hỷ, thì ông trưởng giả mới yên lòng.
Ra khỏi nhà lửa rồi các con đều thưa với cha rằng: Cha hứa cho các con đồ chơi tốt đẹp như xe Dê, Nai, Trâu thì giờ đây nguyện kịp thời ban cho.
     Một con vật có một sức kéo khác nhau, ví như ba thừa, có ba xe kéo khác nhau. Ba xe này ví cho quả Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát. Thanh văn ví như xe dê, Duyên giác ví như xe nai, Bồ-tát ví như xe trâu.
     Này Xá-lợi-phất, bấy giờ trưởng giả đều cho các con mỗi người một chiếc xe lớn như nhau. Chiếc xe đó vừa cao rộng đủ các thứ báu trang sức xung quanh, lan can cả bốn 

* Trang 327 *
device

mặt đều treo phong linh kêu lên như tiếng nhạc, lại ở trên đó giăng màn che lọng và cũng dùng các thứ trân kỳ tạp bảo mà trang sức. Dây báu cột đằng sau treo các thứ hoa và chuổi ngọc thòng xuống, trải nhiều lớp, trên đó có mền nệm và để cái gối đỏ (xưa gối đỏ rất quý), kéo bằng con trâu trắng. (Trâu này da rất mịn và sạch, hình thể rất đẹp. Nó có một sức mạnh ghê gớm, bước ngay ngắn, đi nhanh như gió. Lại còn có nhiều kẻ tôi tớ theo hầu. Vị đại trưởng giả giàu có vô lượng, vì sao thế ? Vì ông trưởng giả đó giàu có vô ngần, đủ các kho tàng thảy đều đầy dẫy, tự nghĩ rằng: “Tài vật của Ta không cùng tột, không nên dùng cái xe thấp yếu lại nhỏ mà cho các con. Nay đây các đứa đồng ấu này đều là con Ta cả, Ta yêu mến như nhau chứ không thiên vị đứa nào. Ta có xe lớn bảy báu như vậy, số vô lượng thì với một tâm bình đẳng đều cho các con không nên sai biệt, vì sao ? Vì vật này của Ta cung cấp khắp cả nước hãy còn không hết huống gì cho các con Ta”.
     Bấy giờ các con đều cỡi lên xe lớn được xem là việc chưa từng có, không phải là cái mong mõi trước đó của nó.
     Này Xá-lợi-phất, ý ông nghĩ sao ? Vị trưởng giả ấy bình đẳng cho các con xe lớn trân bảo là có hư dối chăng? Tôn giả Xá-lợi-phất thưa: Thưa không, bạch đức Thế Tôn. Vị trưởng giả ấy chỉ khiến cho các con mau ra khỏi cái nạn lửa cháy để được an toàn thân mạng, chẳng phải là hư dối, vì trưởng giả dùng phương tiện ở nơi nhà lửa kia mà cứu vớt các con ra. 

* Trang 328 *
device

     Xem ra trên lời hứa và việc làm thì y như có hư dối. Hứa cho cả xe dê, nai, trâu mà đến khi các con ra khỏi rồi thì không cho các thứ  xe đó, mà đồng loạt cho xe lớn với đủ mọi thứ trang sức. Xe đó kéo bằng trâu trắng. Các con khi cỡi xe đó là việc chưa từng có nhưng không phải là điều mong mõi trước của chúng, vì tâm của chúng vốn không phải có ý định ngồi trên chiếc xe trâu trắng đó mà nó muốn được xe dê, nai, trâu. Do vậy, lời vị trưởng giả hứa và thực hành là hai lời trái ngược nhau: Mới nghĩ thì y như là dối trá, hư vọng, nhưng xét tâm nguyện của vị trưởng giả, mục đích và ý muốn của ông không phải là cho các con mấy chiếc xe ấy mà mục đích chính đưa các con ra khỏi nhà lửa.
     Học kinh này chúng ta thấy y như kinh Xà Dụ trong kinh tạng Nikaya có một ví dụ là dùng chiếc bè để qua sông. Nếu ra khỏi nhà lửa đòi cha cho những gì cha hứa, thì không khác nào người nghe giáo lý của đức Phật mà luôn luôn chấp chặt giáo lý ấy thì làm sao giải thoát được. Cũng ví như chiếc bè là phương tiện để đưa người qua sông, qua rồi chấp chặt, ôm lấy chiếc bè đội trên đầu không chịu bỏ, họ không biết chiếc bè chỉ là phương tiện qua sông, qua rồi thì phải bỏ chiếc bè lại. Đây cũng vậy, học giáo lý mà chấp chặt nơi giáo lý thì sẽ bị pháp phược làm cho phiền não thêm, làm sao giải thoát được – Học giáo lý cốt để giải thoát, giáo lý là phương tiện để hành giả tiến đến giải thoát và giác ngộ.

* Trang 329 *
device

     Bạch đức Thế Tôn ! Nếu vị trưởng giả ấy cho đến chẳng cho một chiếc xe rất nhỏ, còn không hư dối. Cớ sao như vậy ?
     Tất nhiên là ông trưởng giả muốn dụ dỗ các con ra khỏi nhà lửa mà dùng cách nói nhà lửa nguy hiểm, nhà lửa đau khổ, nhà lửa tai nạn. Nói mà chúng không sợ nên ông đổi cách. Ông dựa vào tánh ưa thích của nó, là tinh ham chơi, mê đắm đồ chơi của chúng, ông bảo: các con ơi, mau ra đây cha cho ba chiếc xe này đẹp lắm, ở ngoài này có ba chiếc xe rất đẹp đang chờ các con. Vì đúng tâm lý của nó là ưa đồ chơi đẹp, nên khi nghe nói vậy, chúng nó liền chạy ra. Trong khi hứa cho ba chiếc xe (xe dê, xe nai, xe trâu hay xe nhỏ, xe vừa, xe lớn). Giả sử khi các con ra rồi ông không cho xe nhỏ, xe vừa mà ông lại cho xe lớn, ông không cho xe hạ tiện mà ông cho tất cả toàn xe thượng diệu. Như vậy ông trưởng giả có mắc tội lừa dối các con không ?
     Vì ông trưởng giả trước đó vốn tác ý rằng ông dùng sức phương tiện khiến cho các con ra khỏi nhà lửa. Vì nhơn duyên ấy cho nên không hư dối. Ông trưởng giả tự biết của giàu vô lượng muốn lợi ích cho các đứa con đồng đều cho xe lớn.
     Tất nhiên Tôn giả Xá-lợi-phất xác nhận điều đức Phật hỏi rõ ông trưởng giả có hư vọng không ? Tôn giả nói không hư vọng. Giả sử không cho các con chiếc xe rất nhỏ cũng không hư vọng chứ đừng nói là cho xe lớn nữa, vì sao ? Vì ông trưởng giả trước đó vốn khởi ý rằng, ông dùng 

* Trang 330 *
device

các phương tiện khéo léo, thiện xảo để khiến các con ra khỏi nhà lửa. Vì nhân duyên muốn các con ra khỏi nhà lửa cho nên không hư dối, chủ ý của ông trưởng giả là để các con ra khỏi nhà lửa chứ không phải cho mấy chiếc xe. Xe chỉ là phương tiện, bày ra mà thôi. Khi các con ra khỏi rồi là hợp với ý của ông, đó là sự thật. Trong kinh nói ông hứa cho ba chiếc xe là phương tiện để dụ dỗ các con chứ ý ông không phải như vậy, nên không hư dối. Dù không cho xe đi nữa ông cũng không mắc tội hư dối. Khi các con ra được rồi là đúng với ý nguyện của ông. Trường hợp này ông trưởng giả vì lợi tha nên không mắc tội hư dối. Ông trưởng giả tự biết của cải giàu có vô lượng, muốn lợi ích cho các con đồng đều nên cho xe lớn, bởi vì của cải ông nhiều quá, không biết bỏ đâu cho hết. Đó là lời Tôn giả Xá-lợi-phất thưa với Phật.
     Với lời thưa của Xá-lợi-phất, đức Phật dạy:
     Xá-lợi-phất, lành thay, lành thay ! Như lời ông nói. Này Xá-lợi-phất, đối với trường hợp trên, Như Lai cũng làm như thế. Như Lai là cha của hết thảy thế gian, đối với các điều khổ não, sợ hãi, lo buồn do vô minh che lấp đã vĩnh viễn không còn tồn tại, đều thành tựu vô lượng tri kiến, vô sở úy, có sức thần thông và sức trí tuệ, đủ phương tiện, trí tuệ Ba-la-mật, đại từ đại bi, thường không giãi đải, hằng cầu thiện lợi tất cả mà sinh vào trong ba cõi, là cái nhà lửa mục nát, cũ kỹ v.v… Vì độ chúng sinh ra khỏi ngọn lửa sinh, lão, bịnh, tử, ưu, bi, khổ, não, ngu si ám muội để giáo hóa cho ng ?�A ng�r �r không hư vọng. Giả sử không cho các con chiếc xe rất nhỏ cũng không hư vọng chứ đừng nói là cho xe lớn nữa, vì sao ? Vì ông trưởng giả trước đó vốn khởi ý rằng, ông dùng 

* Trang 331 *
device

chúng, khiến tất cả đều chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
     Đức Phật ra đời cốt là như vậy. Trên như ông trưởng giả giàu có vô lượng nhà cửa, xe cộ đủ thứ thì đức Như Lai cũng giàu có vô lượng tri kiến, thập lực, tứ vô sở úy, đại thần thông lực, trí tuệ, đầy đủ phương tiện trí tuệ Ba-la-mật. Những từ đó so sánh với từ giàu có của ông trưởng giả còn khác xa.
     Bên kia ông trưởng giả giàu có của cải (vật chất), bên này Như Lai giàu có tinh thần. Như Lai thường không giải đãi, mà siêng làm lợi ích cho chúng sinh. Như Lai sinh vào trong nhà lửa ba cõi đã cũ kỹ, mục nát vì độ chúng sinh ra khỏi sự thiêu đốt khổ não của sinh, lão, bịnh, tử, ngu si, ám muội…, giáo hóa chúng sinh được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong tạng Nikàya, đức Phật cũng có dạy kinh Bốc Cháy, nói về sự nguy hại của lửa. Kinh dạy như vầy :
      Sau khi đức Phật độ cho ba anh em ông Ca-diếp (trước theo đạo thờ lửa) – có 1000 đệ tử  đi theo. Nhân theo đạo thờ lửa mà Ngài nói kinh Bốc cháy. Ngài dạy: “Này các Tỳ-kheo, mắt bị bốc cháy, sắc bị bốc cháy, nhãn căn bị bốc cháy, nhãn thức bị bốc cháy, nhãn xúc bị bốc cháy, cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ vui bị bốc cháy, cho đến pháp bị bốc cháy, ý bị bốc cháy, ý căn bị bốc cháy, ý thức bị bốc cháy, ý xúc bị bốc cháy, ý xúc sinh cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc; cảm

* Trang 332 *
device

thọ bị bốc cháy. Những gì bị bốc cháy bởi tham, sân, si; những gì bị bốc cháy bởi sinh, lão, bịnh, tử…”.
     Qua đó cho chúng ta biết được mối liên hệ giống và khác nhau giữa kinh tạng Nikàya và kinh Đại thừa. Trong kinh tạng Nikàya có kinh Bốc cháy thì trong Đại thừa có kinh Pháp Hoa, cũng nói về tính cách bốc cháy; hai sự diễn dịch của hai bên khác nhau. Một bên nói nhà lửa bốc cháy; một bên nói các căn, các xúc, các trần bị bốc cháy. Sự diễn dịch của hai bên tuy có khác nhau, nhưng nói đến lửa thì bên nào cũng giống nhau cả. Đó là lửa bốc cháy ở căn nhà ba cõi mục nát này. Lửa đó là lửa gì ? Đó là lửa ba độc: tham, sân, si; lửa sinh, lão, bệnh, tử. Lửa và tính chất phá hoại của nó đều như nhau. Như vậy, chúng ta mới thấy được sự liên hệ mật thiết giữa kinh tạng Nikàya và kinh Đại thừa. Vì vậy chúng ta phải học, phải nghiên cứu đối chiếu thì mới biết và có một nhận thức đúng đắn về lời Phật dạy được.
     Đức Phật có đủ trí tuệ như vậy, tại sao Ngài lại sinh vào nhà lửa ba cõi mục nát này để làm gì ? Mục đích của Ngài là vì độ chúng sinh ra khỏi nhà lửa ba cõi, khiến cho chúng sinh được Niết-bàn an lạc, tức chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy.
     Phật vì thương chúng sinh mới ra đời để cứu độ họ ra khỏi ngọn lửa sinh, già, bệnh, chết, ưu bi, khổ não đang thiêu đốt, làm cho thống khổ; cũng vì tài lợi tham dục nên bị thống khổ. Lại vì tham đắm truy cầu, nên hiện thọ các khổ; sau đó còn chịu các khổ sinh vào địa ngục, ngạ quỉ 

* Trang 333 *
device

súc sinh, hoặc sinh vào trời, nhân gian chịu nghèo cùng khốn khổ; chịu các sự ái biệt ly khổ, thù ghét mà gặp gỡ cũng khổ. Các thứ khổ như thế, chúng sinh chìm vào trong đó hân hoan đùa giỡn, không hay không biết, không kinh không sợ, chẳng sinh nhàm chán mà cầu giải thoát, chạy đông chạy tây, tuy gặp đại khổ mà không lo sợ.
     Do đâu mà thống khổ ? Do vì đam mê ngũ dục. Ngũ dục là gì ? Ngũ dục có hai loại: thô và tế. Ngũ dục tế là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Ngũ dục thô là tài, sắc, danh, thực, thụy. Tài là tài lợi; sắc là sắc đẹp; danh là danh vọng, tiếng tăm; thực là ăn; thụy là ngủ. Đó là năm dục. Năm thứ dục thô hay tế đều làm cho chúng sinh bị đam mê, mặc dù bị sinh lão bệnh tử thiêu đốt nhưng vẫn tham đắm truy cầu. Tham đắm là tham đắm cái hiện có, truy cầu là truy tìm cái chưa có. Đối nghịch với ngũ dục là tri túc, thiểu dục. Người có tri túc là người biết đủ, không ham nhiều; người có thiểu dục là người không truy cầu cái hiện có. Vì tham đắm truy cầu nên hiện thọ các khổ, sau đó còn chịu cái khổ sinh vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, còn nếu sinh vào nhân gian thì nghèo cùng khốn khổ. Khổ có tám loại như trong kinh diễn tả. Chúng sinh bị chìm vào trong các loại khổ như thế mà vẫn hân hoan, đùa giỡn không hay không biết, không kinh không sợ cũng không sinh tâm nhàm chán, không cầu giải thoát. Ở trong nhà lửa ba cõi đó tuy gặp đại khổ mà vẫn chạy chỗ này qua chỗ khác loanh quanh mãi mà vẫn không hoảng sợ (hiểu qua ba cõi là vậy đó). Chạy bên nào đi nữa rồi cũng ở trong nhà lửa: Khi sinh cõi trời, khi sinh cõi người, 

* Trang 334 *
device

khi sinh ngạ quỷ, khi sinh súc sinh. Dù có sinh ở đâu chăng nữa, nhưng lòng đam mê dục lạc vẫn không dứt, nên cứ trôi lăn mãi, do vậy mà không biết khổ để đoạn trừ, để thoát ly, để nhàm chán. Trong các Kinh Luật đều diễn tả lòng ham muốn của chúng sinh nặng nề như vậy, mặc dù cái khổ đeo đẳng trên lưng nhưng không tài nào thoát ra khỏi nếu như họ không tu. Ví như những người nghiện hút (thuốc phiện), biết khổ nhưng họ vẫn tìm tới, vì lòng tham đắm đã bám gốc rễ vào tận tiềm thức, ăn sâu ở trong mình, nó sai khiến đi đâu thì đi nấy, bảo làm gì thì làm nấy; người khác can ngăn cũng khó lọt tai, khó cho đó là khổ.
     Này Xá-lợi-phất, Như Lai thấy như vậy liền nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sinh thì nên cứu vớt họ ra khỏi khổ não và cho họ trí tuệ Phật là cái an vui vô tận, khiến được tự tại.
     Này Xá-lợi-phất, Như Lai lại nghĩ rằng: Nếu Ta chỉ đem thần thông, trí tuệ, bỏ cái phương tiện; vì chúng sinh tán thán thập lực, tứ vô sở úy, tri kiến của Như Lai thì chúng sinh không thể nào đắc độ; vì sao ? Vì chúng sinh chưa khỏi sinh, già, bệnh, chết, ưu bi, khổ não; đang còn bị nhà lửa ba cỏi thiêu đốt, thì do đâu hiểu được trí tuệ của Phật !
     Câu này nghĩa là Phật muốn chúng sinh theo Phật thừa. Suy nghĩ thứ hai của Phật là: Nếu Ta chỉ dùng trí tuệ mà Ta không dùng phương tiện, thì chúng sinh không làm sao đắc độ được. Nếu không vì phương tiện

* Trang 335 *
device

khai ba thừa mà đem Phật thừa ra nói cho chúng sinh, thì chúng sinh làm sao hiểu được. Ý của Phật là: Ta ra đời là để làm cho chúng sinh chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được cái vui của trí tuệ Phật. Nhưng nếu Ta nói thẳng, đem pháp Nhất Phật thừa ra nói, không cần phương tiện khai ba thừa, mà Ta chỉ tán thán thập lực, tứ vô sở úy của Như Lai, thì chúng sinh không cách gì đắc độ được, vì sao ? Vì các chúng sinh chưa khỏi sinh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não, đang còn bị nhà lửa tam giới thiêu đốt, thì làm sao mà hiểu được trí tuệ của Phật ! Nếu Ta bỏ phương tiện mà cứ nói trí tuệ thì chúng sinh không hiểu được. Suy nghĩ thứ hai này chỉ là phương tiện để hóa độ chúng sinh, còn suy nghĩ thứ nhất là muốn dạy Phật thừa cho chúng sinh mau chứng được Chánh đẳng Chánh giác - Vì sợ làm không được nên mới có suy nghĩ thứ hai.
     Này Xá-lợi-phất, như ông trưởng giả kia tuy có thân, có tay chân mà vô dụng.
     Vì sao nói hai chữ chân tay, vô dụng: Nếu có thân mà không có tay thì vô dụng, muốn cứu ai cứu không được, nên có thân phải có tay nữa. Để so sánh đức Phật vừa có pháp thân vừa có trí tuệ mới cứu được. Chứ người có thân mà không có tay muốn cứu ai thì cũng cứu không được, muốn dắt ngựa qua đường cũng không dắt được, muốn vớt người khỏi chết chìm cũng không vớt được !
     Chỉ ân cần phương tiện cứu nạn nhà cháy cho các con, sau khi nó ra khỏi rồi thì liền cho chiếc xe báu lớn. 

* Trang 336 *
device

Như Lai cũng lại như vậy, tuy có thập lực, tứ vô sở úy, nhưng không dùng tới, chỉ dùng cái trí tuệ phương tiện.
     Ở đây nói có hai loại trí tuệ là trí tuệ chân thật và trí tuệ phương tiện; có quyền trí và thật trí. Quyền trí đây là phương tiện, còn thật trí là chân thật trí. Trong đây dùng quyền trí phương tiện không có ba thừa chỉ có Nhất thừa. Thế nhưng từ ba thừa khai ra Nhất thừa, đó là phương tiện của trí tuệ. Không có trí tuệ phương tiện đó thì không thể khai phá được, nên phải có trí tuệ phương tiện mới cứu vớt được chúng sinh đang ở trong ba cõi nhà lửa và vì họ mà nói ba thừa: Thanh văn thừa, Bích-chi thừa và Phật thừa. Nói cho họ biết ba thừa với lời rằng: Này các ngươi chớ được vui mãi trong nhà lửa ba cõi, chớ có tham đắm những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thô kệch xấu xí đó. Nếu tham đắm nơi đó chắc chắn sẽ bị lửa thiêu đốt, vì thế các ngươi phải ra khỏi ba cõi thì sẽ được Thanh văn thừa, Bích-chi Phật thừa, Phật thừa. Ta nay vì các ngươi đảm nhận việc đó, cứ theo lời Ta mà đi ra thì sẽ được ba thừa không hư dối. Các người phải nên siêng năng tu tập.
     Như Lai dùng phương tiện như vậy để sách tấn chúng sinh. Ngài lại nói: Này các ngươi, nên biết pháp ba thừa này đều là pháp được bậc Thánh xưng tán khen ngợi. Tu pháp này thì được tự tại, không bị ràng buộc, cũng không có chỗ nương cầu nào. Ba chiếc xe ấy lấy vô lậu căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát tam-muội v.v… mà tự vui chơi; liền được vô lượng an ổn khoái lạc. 

* Trang 337 *
device

     Vô lực là vô lậu, căn là ngũ căn, lực là ngũ lực, giác là thất giác chi, đạo là bát thánh đạo, thiền là tứ  thiền, định là tứ định, giải thoát là không vô tướng vô tác, tam-muội. v.v… Cỡi ba chiếc xe ấy bằng cách nào ? Bằng cách lấy ngũ căn, lực, thất giác chi, bát thánh đạo, tứ thiền, tứ định, ba giải thoát, không, vô tướng, vô tác, tam-muội v.v… mà tự vui chơi, liền được vô lượng an ổn khoái lạc. Tu học các pháp này thì được chứ chơi trong nhà lửa ngũ dục thì sẽ bị lửa đốt cháy.
     Này Xá-lợi-phất, nếu sẽ có chúng sinh bên trong có trí tánh theo Phật, Thế Tôn, nghe và tín thọ lời pháp, rồi ân cần siêng năng tinh tấn, muốn mau ra khỏi ba cõi, tự mình cầu chứng Niết-bàn thì hàng chúng sinh đó gọi là Thanh văn thừa, ví như các con muốn xe dê… mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có hàng chúng sinh theo Phật, Thế Tôn nghe pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, cầu các tuệ tự nhiên, ưa ở một mình, khéo lẳng lặng biết sâu nhân duyên các pháp, đây gọi Bích-chi Phật thừa. Cũng như các người con kia, vì cầu xe nai nên ra khỏi nhà lửa. Hoặc có chúng sinh theo Phật nghe pháp tín thọ, ân cần tu tập tinh tấn, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, tự  nhiên trí, vô sư trí, Như Lai tri kiến, mười lực, bốn vô sở úy. Cầu những thứ đó và có tâm thương niệm đem an vui cho chúng sinh, lợi ích trời người, độ thoát hết thảy, gọi là Đại thừa. Vì hàng Bồ-tát cầu thừa này nên gọi là Ma-ha-tát. Như các đứa con kia vì cầu xe trâu ra khỏi nhà lửa.
     Trong kinh hay nói: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí. Nhất 

* Trang 338 *
device

thiết trí, tự  nhiên trí, vô sư trí là nói chung, còn Nhất thiết chủng trí, đạo chủng trí, Phật trí có những điểm đồng và dị. Trước hết ta nói theo nghĩa đồng.
     Nhất thiết trí hay Nhất thiết chủng trí đều là Phật hết, tức nói về tổng luận, đều chỉ cái trí của Phật. Giờ nói về biệt luận (luận riêng) thì có hơi khác. Nhất thiết trí là cái pháp bình đẳng không là trí của hàng Thanh văn, biết cái nhất thiết pháp bình đẳng không lý, cái lý không bình đẳng của tất cả các pháp đều y như nhau, không đó không khác nhau. Một vi trần không cũng y như hàng núi không, cả hàng tín không, không đó như nhau. Vi trần khác, hàng núi khác, nó y như nhau ở nơi cái tướng, chứ còn cái tính, một vi trần, một hòn núi như nhau nên bình đẳng. Cái trí nhất thiết pháp bình đẳng không lý như thế gọi là Nhất thiết chủng trí (trí này chỉ cho Thanh văn). Đạo chủng trí là chỉ cho cái trí của Bồ-tát, tất nhiên là trí biết pháp môn lợi tha. Đạo pháp lợi tha là cái đạo của Bồ-tát. Nhất thiết chủng trí là trí của Phật gồm Thanh văn và Bồ-tát. Sở dĩ Tôi nói tổng luận và biệt luận là vì sao ? Vì trong kinh luận của Đại thừa hay dùng lẫn lộn, nếu không để ý thì không phân biệt nỗi. Trái lại, trong các kinh Nikàya không phân biệt mấy loại này, mà chỉ trong kinh luận Đại thừa là hay phân biệt thôi. Có những trường hợp Nhất thiết trí cũng chỉ cho Phật, nhưng có những trường hợp Nhất thiết trí chỉ cho Thanh văn, Đạo chủng trí chỉ cho Bồ-tát, Nhất thiết chủng trí chỉ cho Phật, nên Tôi nói tổng luận và biệt luận là vậy. Khi nói luận chung thì Nhất thiết trí hay Nhất thiết chủng trí cũng đều 

* Trang 339 *
device

là Phật. Nếu luận riêng thì có những trường hợp Nhất thiết trí chỉ cho Thanh văn bình đẳng tất cả các pháp. Đạo chủng trí là trí biết đạo pháp, pháp môn hóa độ chúng sinh, lợi ích cho chúng sinh – Bồ-tát có tâm lợi tha nên Nhất thiết chủng trí là trí chung hết, khi nói Phật trí là trí gom vào đó. Còn tự nhiên trí, vô sư trí là thế nào ? Tự nhiên trí là tất cả các trí đó: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí, Phật trí, trí đó có tính cách vận khởi tự  nhiên, y như mặt trời chiếu sáng là nó tự nhiên chiếu sáng chứ không vận dụng, vận công gì hết, nó có cái tự nhiên như mặt trời tự  nhiên chiếu sáng, đó gọi là tự nhiên trí. Trí đó không phải dựa theo thầy để có mà chính tự trong mình phát sinh ra nên gọi là vô sư trí – trí này không dựa vào thầy. Bên Thiền tông là cố bắt thiền sinh phải tự thân vận dụng để phát sinh ra trí đó chứ không được dựa vào thầy.
     Giai thoại Thiền tông có kể rằng: Có những vị trong Thiền tông đến thầy hỏi pháp thì thầy đáp: “Ta nói cho ngươi thì không khó gì nhưng sau ngươi oán ta!” Ý đó là thế nào ? Ý nói Ta lấy cái biết của Ta cho ngươi thì là trí giả chứ không phải trí thật, đó là trí vay mượn. Khi trí của chính mình phát ra mới là trí thật, trí đó mới là vô sư trí, cho nên đức Phật gọi là chứng vô sư trí. Do vậy, nói sự thành đạo của đức Phật là thành đạo của vô sư trí chứ Ngài đâu có học thầy nào. Chuyện học với các thầy khác không dính gì đến sự giác ngộ của Ngài. Sự giác ngộ ở cội Bồ-đề là sự giác ngộ vô sư trí, chứ không phải bằng cái trí dựa theo lời giảng của các thầy hay của sách vở. 

* Trang 340 *
device

     Sách Thiền tông kể chuyện Thiền sư Hương Nghiêm là người học kinh và đọc sách rất nhiều. Khi tới gặp Quy Sơn, ngài hỏi: “Ngươi học đạo lâu nay, vậy thì trước khi cha mẹ sinh như thế nào ? (Nói mà đừng dựa vào sách vở)”. Thiền sư Hương Nghiêm không biết gì hết nên không trả lời được. Ngài về tìm sách vở tra cứu cũng không ra. Vì thế nên ngài nói sách vở toàn là bánh vẽ không thể nào ăn no bụng được, đem đốt hết, không học nữa. Ngài nghĩ, lâu nay mình học cho mệt mà thầy hỏi một câu trả lời không được. Từ đó ngài quyết định làm ông thầy vô danh, sống ẩn dật, cốt kiếm cơm cháo ăn cho qua ngày mà thôi.
     Một hôm ngài trở lại vị Thiền sư cũ, xin ở và cuốc đất trồng khoai để sống, chứ giờ đây ra đời bon chen cũng không được nữa, già rồi ! Tình cờ một hôm ngài đang cuốc đất thì va phải một miếng mẻ sành, nó phát ra tiếng “cạch”. Khi nghe tiếng đó ngài tự ngộ rồi thầm cám ơn thầy. Ngài nhớ lại lúc trước nhờ thầy giảng, thầy bảo: “Ta nói cho ngươi rồi sau ngươi oán ta!” Quả thực nếu như lúc đó thầy nói thì bây giờ làm sao con ngộ được trí này. Từ đó ngài nghĩ ơn của thầy cao như ơn cha mẹ. Khi ngài ngộ được rồi liền vào tắm rửa sạch sẽ thắp hương mặc y áo hướng về nơi ở của thầy mà lạy. Chính cái vô sư trí đó mới thật ngộ, còn cái trí học nơi thầy là trí vay mượn thôi. Vì thế nên đức Phật sợ chúng ta mượn trí của Ngài làm trí của mình nên Ngài nói: “Ta nói pháp ròng rã 45 năm, nhưng xét ra không nói gì hết. Bốn mươi lăm năm Ta không nói gì hết là cốt để cho chúng sinh đừng 

* Trang 341 *
device

chấp vào văn tự cũng đừng chấp vào lời của Phật làm lời của mình”. Điều này chúng ta hay mắc phải. Nhiều khi hành Thiền có người cho mình là thiền sư chính cống, ý tưởng đó là sản phẩm tưởng tượng, đó là trí vay mượn, mà đã vay mượn thì hay mâu thuẫn, mâu thuẫn nơi lời nói và việc làm. Nhiều khi miệng nói không mà làm thì có, bởi vì toàn trí vay mượn. Vô sư trí là trí đích thực của mình chứ không vay mượn ai hết.
     Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy (lục căn, giác, đạo). Giờ đây phát tâm cho được Nhất thiết trí, Phật trí, tự  nhiên trí, lực vô sở úy rồi, còn đem sự an lạc thương tưởng chúng sinh, độ thoát trời, người tất cả, đó gọi là Đại thừa. Trên kia là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa – vị Bồ-tát này gọi là Ma-ha-tát nên thường gọi chung là Bồ-tát Ma-ha-tát, giống như các người con kia nhờ cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.
     Này Xá-lợi-phất, như trưởng giả kia thấy các con, đều an ổn được ra khỏi nhà lửa đến chỗ không còn sợ hãi. Ông tự suy nghĩ rằng: mình giàu có vô lượng của cải mà đồng đều đem các xe lớn cho các con. Như Lai cũng làm như thế, là cha của tất cả chúng sinh, nếu thấy vô lượng ức chúng sinh do cửa Phật giáo mà ra khỏi cửa ba cõi, chỗ đường hiểm được cái vui của Niết-bàn. Như Lai lúc bấy giờ liền nghĩ rằng: Ta có vô lượng vô biên trí tuệ lực vô úy các Phật pháp tạng, thì các chúng sinh này đều là con Ta cả, Ta đồng đều cho chúng nó Đại thừa pháp mà thôi, chứ không có người nào riêng được pháp diệt độ, mà đều đem 

* Trang 342 *
device

cái diệt độ của Như Lai diệt độ cho họ. Các chúng sinh ấy thoát khỏi ba cõi thì đều cùng với chư Phật thiền định, giải thoát bình đẳng, đều cùng có Phật trí tuệ giải thoát, đều có được đồ vui chơi của thiền định, giải thoát của chư Phật, đều là Nhất thiết chủng được các bậc Thánh tán thán, đều sinh ra cái vui, cái diệu đệ nhất.
     Ở đây, do cửa Phật giáo mà chúng sinh được ra khỏi sự khổ ba cõi, sự sợ hãi đường hiểm mà được Niết-bàn thì Như Lai nghĩ rằng Như Lai giàu có lắm. Giàu có trí tuệ, giàu có thập lực, giàu có vô sở úy, giàu có các pháp tạng. Các chúng sinh đây đều là con của Phật nên Phật đồng đều cho chúng Đại thừa tạng, Đại thừa pháp chứ không để người nào riêng được diệt độ theo kiểu diệt độ của Thanh văn. Ngài đều đem cái diệt độ của Như Lai để độ cho họ, đem cái Niết-bàn của Như Lai mà độ cho chúng sinh được vào Niết-bàn đó. Vì cách diệt độ của Thanh văn chưa phải là cứu cánh, vì sao ? Vì các chúng sinh ấy giải thoát ba cõi thì đều được cho các thứ vui Thiền định giải thoát của chư Phật. “Giai thị Nhất tướng nhất chủng, Thánh sở tán thán”. Nhất tướng nhất chủng là sao ? Là bên ngoài không có tướng ba thừa nên gọi là Nhất tướng, bên trong không có chủng tử ba thừa nên gọi là Nhất chủng. Đó gọi là Nhất Phật thừa, Nhất tướng chủng được các bậc Thánh tán thán, sinh ra cái vui tịnh diệu đệ nhất.
     Này Xá-lợi-phất, như ông trưởng giả kia, lấy ba xe dụ dẫn các con, rồi sau cho xe lớn đủ các thứ báu vật trang nghiêm, an ổn đệ nhất. Như vậy ông trưởng giả không có lỗi hư dối, chính Như Lai cũng như vậy không có hư dối. 

* Trang 343 *
device

Lúc đầu nói ba thừa để dẫn đạo chúng sinh, sau đó dùng pháp Đại thừa để độ thoát cho họ; vì cớ sao ? Vì Như Lai có kho tàng vô lượng lực, vô sở úy, chứa đủ các pháp, có thể cho tất cả chúng sinh pháp Đại thừa, nhưng chúng sinh không thọ hết.
     Này Xá-lợi-phất vì nhân duyên đó nên biết cái lực phương tiện của chư Phật ở nơi một Phật thừa phân biệt nói ba.
     Muốn đưa chúng sinh về Đại thừa nhưng chưa chắc chúng chấp thọ, nhiếp thọ được Đại thừa pháp, nên đức Phật dùng sức phương tiện đối với trong Phật thừa mà phân biệt ra ba. Phương tiện ở đây là Nhất thừa, sau nói ba thừa vì phương tiện nên mới chia làm ba thừa, nhưng cốt là Nhất thừa thôi. Phương tiện là vậy.
     Như trước đã nói Nhất thiết trí, Phật trí, tự  nhiên trí, vô sư trí thì tự  nhiên trí và vô sư trí hơi giống nhau. Tự nhiên trí là chỉ về nơi quả mà nói, vô sư trí là chỉ nơi nhơn mà nói, không nhân nơi thầy mà phát được cái trí đó, tức là cái trí tự mình phát ra, chứ không nhân nơi thầy mà có. Tự nhiên trí là cái trí phát ra như vậy, nó đã thuần thục trở thành vô công dụng rồi. Ví như người đi xe đạp đã thuần thục, khi cầm chiếc xe đạp là nhảy lên đi thôi, chứ không cần phải tính toán, suy nghĩ gì hết. Khi chưa thuần thục thì ngồi lên xe phải nghĩ: ngồi như thế nào, đạp như thế nào, thế mà vẫn còn vấp chỗ này va chỗ kia, cái cột trụ muốn tránh mà vẫn cứ lao tới. Khi đã thuần thục thì ngồi lên là đi liền, tự nhiên đi được vô công

* Trang 344 *
device

dụng, đó là chỉ nói cái quả. Còn vô sư trí là trí không nhờ thầy nhưng chính tự sức mình tu tập mà có.
     Trong sách Thiền có dẫn một câu chuyện: Có một anh mù lâu ngày nhớ bạn, lần mò tới thăm rồi nói chuyện say sưa cho đến khi trời tối mới quay về. Anh bạn nói: “Để tôi thắp đèn cho anh, chứ ngoài kia trời tối quá!” Anh ta trả lời: “Đối với tôi ngày cũng như đêm thì thắp làm gì”. Anh bạn nói: “Không, nhưng anh cầm đèn thì người khác thấy anh họ mới tránh”. Anh nghe có lý nên cầm đèn đi. Đi một đoạn, có một người vấp vào anh ta, anh la lên: “Sao lại đụng tôi, anh không thấy sao ? Đui à!”. Người kia đáp: “Không thấy”. Anh ta quát lên: “Tôi cầm đèn sao anh không thấy ?” Anh kia nói: “Cái đèn của anh đã tắt từ lâu rồi” !
     Như vậy ánh sáng là cái bên ngoài, nếu cứ dựa vào ánh sáng bên ngoài mà tin tưởng vào ánh sáng đó thì nguy hiểm lắm, có ngày sa xuống hố như không, đụng người ta chưa biết chừng. Chỉ cần có ánh sáng do mắt mình phát ra, ánh sáng đó mới là ánh sáng thật, dù có đèn hay không có đèn cũng thấy được, chứ không có ánh sáng đó thì dù có đèn cũng không sáng, người ta vẫn không tránh được. Đó là dạng vô sư trí.
     Trường hợp thứ hai là học trò của ngài Sùng Tín tức Đức Sơn. Một bữa kia Đức Sơn đến thăm ngài Sùng Tín, đến tối mới ra về. Khi về trời tối quá, không thấy đường, lại trở vào. Ngài Sùng Tín hỏi: “Sao lại trở lui ?” Đức Sơn thưa “Ngoài trời tối quá không thấy đường đi”. Ngài 

* Trang 345 *
device

Sùng Tín nói: “Thôi để ta thắp đèn cho ông đi”. Ngài Sùng Tín thắp đèn đưa cho Đức Sơn. Đức Sơn vừa nắm đèn, ngài bảo: “Thổi quách đèn đi”. Trong khi ngài Sùng Tín thổi đèn tắt thì Đức Sơn ngộ liền. Đó là trường hợp vô sư trí. Vậy muốn đạt được vô sư trí đó cũng có văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ, nhất là tu tuệ. Còn văn tuệ cũng như cầm ngọn đèn đi thôi, chưa biến thành thịt da để sai khiến cái thân đi ra được.
     Ở Nhật Bản cũng có ngài Niệm Phật. Có người hỏi “Niệm Phật đến đâu rồi ?” “Tôi niệm Phật đến chỗ nghe A-di-đà Phật, A-di-đà Phật”. Người kia nói: “Vậy cũng chưa được, về niệm lại”. Ngài về niệm tiếp và lần sau đến, Ngài hỏi: “Ngươi niệm Phật đến đâu rồi ?” - “Không nghe gì nữa”. (Nghe là có đối tượng, có người niệm có người nghe, có đối tượng Phật và mình có nghe. Như vậy là có năng có sở, thế là có tâm phân biệt). Đó cũng là dạng nói lên sự tự giác, tự ngộ, tức là khai mở trí vô sư. Có được trí vô sư mới làm chủ được hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của mình. Khi làm chủ được tất cả cảnh giới, trường hợp đó đức Phật gọi là Pháp vương. Chữ “Vương” đây có nghĩa là tự tại. Tự tại đối với tất cả các pháp, không vướng mắc, nên gọi là Pháp vương. Có được trí vô sư mới được gọi là Pháp vương.
     Đây là bài kệ tóm tắt.
     Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ rằng: Thí như trưởng giả, có ngôi nhà lớn. Nhà đó đã lâu cũ mà còn bị ngả hư, đường sá nguy ngập, trụ gốc bị mục nát, sường 

* Trang 346 *
device

kèo bị nghiên đổ, móng nền bị đổ nát, tường vách bị nứt nẻ, bùn đất rơi rớt, tranh lợp thì loạn rớt, đòn tay bị sai lệch, xà ngang rơi ra, bao quanh đầy dẫy các tạp uế.
      Nhà có 500 người ở trong đó, lại có thêm chim cú tai mèo, chim cắt, quạ, chim khách, tu hú, bồ câu, rắn rít, bò cạp, sâu có sừng, thằn lằn, sâu nhiều chân, chuột nhắt, chồn, các loài trùng dữ chạy qua chạy lại. Nhà lại chứa phân, nước tiểu nhơ nhớp, đồ bất tịnh đầy dẫy, ruồi bọ hung, các loại trùng cũng tập trung ở đó; các loài chồn, loài lang sói, loài dã can, loài gặm nhấm, ăn, dẫm đạp, cắn xé tử thi, xương thịt bừa bãi, do đó bầy chó giành nhau đến ngoạm cắp mang đi, đói khát sợ hãi chạy từ chỗ này đến chỗ khác tìm ăn, tranh giành nhau cắn xé nhai nuốt, hung tợn… Ngôi nhà đó có các biến trạng ghê sợ như vậy.
      Lại nơi nơi đều có các ly mỵ vọng lượng (tức là các hồn ma), quỉ Dạ-xoa hung dữ, quỉ ăn thịt người và các loài trùng độc, các loài cầm thú dữ dằn đang ấp, cho bú, mỗi loài đều núp bảo vệ giữ gìn chủng loại của mình, không để cho các loài Dạ-xoa tranh giành đến ăn. Ăn no nê rồi thì ác tâm càng bừng lên, tiếng tranh cãi nhau rất ghê sợ. Những loài quỉ Cưu-bàn-trà ngồi xổm trên đống đất hoặc có khi cách đất một thước hai thước giỡn chơi, phóng dật vui đùa, bắt hai chân đánh cho thất thanh rồi lấy chân đạp lên cổ khủng bố để làm vui. Còn có các loài quỉ thân dài trần truồng, đen đủi, gầy gò thường ở trong đó cất lên tiếng hung dữ to, lớn, kêu gào tìm ăn. Lại có các loài quỉ cổ như kim, hoặc có các loài quỉ đầu như đầu trâu ăn thịt chó. 

* Trang 347 *
device

      Ở Hy Lạp, chuyện mắc quả báo này có kể rằng: Có một người bị mắc quả báo đứng bên bờ sông. Bờ sông này có một cây trái rất ngon sà xuống trước mặt, mỗi khi anh đưa tay hái thì cây liền cất lên, đói mà ăn không được, khát thấy nước nhưng khi cúi xuống uống thì nước cạn. Nói đến quả báo thì có thiên hình vạn trạng chứ không phải quả báo là bắt vô trong ngục. Địa ngục ở đây vô hình, chỉ có anh ta mới thấy được, người khác đi không thấy. Cho nên ta chỉ thấy có địa ngục hữu hình còn địa ngục vô hình thì ai có quả báo nấy. Từ trường hợp đó, ta suy ra mỗi người có một hoàn cảnh, có hoàn cảnh cực lạc hay địa ngục, nhưng dù hoàn cảnh gì đi nữa thì mỗi người, khi sống trong hoàn cảnh đó tự biết, chứ  còn người khác không thấy được. Trường hợp anh vừa kể trên thì ai biết quả báo của anh ta ngoài anh ta ? Suy rộng ra ngạ quỉ, súc sinh là gì đi nữa thì chúng ta nên hiểu theo nghĩa bóng. Trong đạo Phật nói ba cõi là căn cứ vào tinh thần mà cắt nghĩa, chứ không bằng vào thể chất.
      Hoặc ăn thịt người, đầu tóc bù xù, rối loạn, tàn hại, hung hiểm, bị đói khát, bức bách kêu gào, rống chạy. Loài quỉ Dạ-xoa, các loài chim thú hung dữ bị đói cấp bách chạy bốn hướng nhìn ra ngoài cửa sổ, các tai nạn như vậy là khủng khiếp, sợ hãi vô lượng. Cái nhà cũ mục nát ấy thuộc về một người, người ấy vừa ra khỏi trong khoảng thời gian chưa bao lâu, thì sau đó bỗng nhiên lửa bốc lên cả bốn phía cùng một lúc. Ngọn lửa đó cháy phừng phực làm cho đòn tay, kèo, cột, rui mè, tiếng nổ chan chát làm cho nứt đổ, đứt gãy, sập xuống, tường vách đều đổ ngã. 

* Trang 348 *
device

Các loài quỉ thần cất tiếng kêu lớn, những loài chim cắt, quỉ Cưu-bàn-trà đầy khắp bao quanh, sự sợ hãi không thể tự thoát ra được. Các loài thú trùng độc nấp dấu dưới hang lỗ, quỉ Tỳ-xá-xà cũng ở trong đó, vì phước đức mỏng nên bị lửa bức bách, cùng tàn hại lẫn nhau, uống máu ăn thịt và những loài Dã-can chết trước thì các loài thú giành nhau ăn nuốt, mùi thối khói hôi bốc lên bốn phía đầy khắp. Những loài rắn rít, các loài bò cạp, rắn độc bị lửa đốt cháy giành nhau ra khỏi hang, thì bị các loài khác chụp ăn. Các loài quỉ trên đầu có lửa cháy đói khát bị bức não, sợ hãi sầu muộn. Nhà kia như vậy rất khiếp sợ, bị các độc hại, đủ các nạn chứ không phải một. Bấy giờ vị chủ đứng ở ngoài cửa nghe người ta nói rằng: Các con của ông, trước vì chơi đùa mà đi vào nhà ấy. Mấy đứa trẻ ấy vì còn nhỏ,  không biết gì nên cứ vui chơi đắm trước.
     Vị trưởng giả nghe rồi rất kinh hãi đi vào nhà lửa tìm cách cứu chúng, khiến chúng nó khỏi bị cháy mới bảo dụ các con và nói cho chúng biết các hoạn nạn của ác quỉ, độc trùng, của ngọn lửa dữ nó đã bùng cháy, lần lượt nói các sự khổ tiếp nối nhau không dứt. Những rắn độc, quỉ Dạ-xoa, Cưu-bàn-trà, bò cạp, Dã can; chồn và chó, các loại chim cắt, chim thứu; các loài hai chân đói khát, bức não… Chỗ đáng sợ hãi ấy rất khổ, huống chi cái chỗ khổ nạn ấy lại còn bị ngọn lửa dữ bao trùm. Các con không biết, tuy nghe cha dạy bảo như vậy nhưng nó vẫn cố ưa đắm giỡn chơi không thôi. Bấy giờ trưởng giả nghĩ rằng các con như thế này thì thêm sầu não cho ta. Nay cái nhà này không có điều gì đáng vui mà các con cứ đam mê chơi 

* Trang 349 *
device

giỡn không chịu nghe lời ta dạy, sắp sửa bị cái hại của ngọn lửa. Trưởng giả liền nghĩ: Ta hãy dùng phương tiện nói với các con. Ta có các đồ chơi trân báu, nào là xe đẹp báu tốt, nào là xe dê, xe nai, trâu, nay đây đang ở ngoài cửa, các con hãy đi ra đứng đó, ta sẽ vì các ngươi mà cho các xe đó để các ngươi vui chơi.
     Các người con nghe nói liền giành nhau chạy gấp ra, đi đến các chỗ trống, xa lìa các sự khổ não. Trưởng giả thấy các con ra khỏi nhà lửa, đến chỗ ngã tư, ngồi trên tòa sư tử, tự vui vẻ mà nghĩ rằng: Ta nay hết sức khoái lạc, các con của ta do ta sinh ra, nuôi nấng rất khó khăn, vì ngu nhỏ không biết gì mà vào trong nhà lửa, phần nhiều có các trùng độc, ly mị đáng sợ. Ngọn lửa lớn cháy mạnh bốn phía mà chúng tham đắm, vui chơi, ta đã cứu chúng nó, khiến chúng nó thoát khổ. Thế nên ta nay hết sức khoái lạc.
     Bấy giờ các con biết cha đã ngồi yên, liền đi đến chỗ cha mà thưa rằng: Mong cha cho chúng con ba loại xe báu như trước đã hứa. Các con khi ra đến rồi sẽ dùng ba xe đó. Như lời cha đã hứa, nay đã đến lúc mong cha rủ lòng thương cấp cho. Vị trưởng giả rất giàu, kho tàng rất nhiều vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não và các loại bảo vật, tạo các xe lớn trang nghiêm trang hoàng  đẹp đẽ, bao quanh có lan can, bốn mặt đều treo linh, có dây vàng chằng cột, lưới châu báu căng bên trên, có các thứ dây bằng hoa vàng rủ xuống trên chiếc xe, các màu sắc xen lẫn bao quanh bằng màn, trên để màn gối. Những tấm nệm bông mịn màng giá trị ngàn ức, trong trắng sạch sẽ 

* Trang 350 *
device

để trải trên nền. Chiếc xe như vậy được trâu trắng, mập mạnh kéo, hình thể của nó rất đẹp đẽ dùng để kéo xe báu, có nhiều kẻ tùy tùng để hầu hạ, hộ vệ, đem xe báu ấy bình đẳng cho các con, đứa nào cũng đồng đều như nhau. Các con khi ấy cỡi lên xe báu đi bốn phương, vui chơi, khoái lạc vô ngần.
     Phật bảo Xá-lợi-phất: Ta cũng như vậy, là Bậc tôn quí của các Thánh, là cha của hết thảy thế gian. Tất cả chúng sinh đều là con của Ta. Chúng nó đắm trước sâu nặng vào cái vui thế gian, không có tâm trí tuệ. Ba cõi không an giống như nhà lửa, đủ các thứ khổ đầy dẫy rất đáng sợ. Sinh, lão, bệnh, tử thường có hoạn nạn lo lắng. Các thứ lửa như vậy cháy bừng không dứt. Như Lai đã rời khỏi nhà lửa, tịch nhiên an vui nơi chỗ lâm dã. Nay ba cõi này đều là cái sở hữu của Ta, các chúng sinh trong đó đều là con Ta mà nay chỗ này có sự hoạn nạn, duy Ta là người có thể cứu hộ được thôi. Ta giáo hóa kêu gọi nhưng chúng nó không tín thọ, cứ đối với các sự khổ đắm trước sâu dày. Ta dùng phương tiện nói ba thừa khiến cho các chúng sinh lìa cái khổ ba cõi, mở bày diễn nói đạo xuất thế gian. Các người con ấy nếu tâm quyết định đầy đủ ba minh và sáu thần thông có được quả Duyên giác, bất thối Bồ-tát.
     Này Xá-lợi-phất, Ta đã vì chúng sinh mà nói một Phật thừa. Các ông nếu có thể tín thọ được lời ấy, thì có thể được thành Phật đạo. Thừa ấy hết sức vi diệu, thanh tịnh đệ nhất ở nơi thế gian không có gì hơn được. Phật rất vui vẻ được tất cả chúng sinh tán thán, ca ngợi, lễ bái, vô lượng ức ngàn thập lực, thiền định, giải thoát và các Phật 

* Trang 351 *
device

pháp khác được thừa như vậy, khiến cho các con ngày đêm thường được du hí cùng với Bồ-tát và chúng Thanh văn, cởi xe báu đó thẳng đến đạo tràng. Do nhân duyên ấy nên mười phương tìm kỹ, tìm kỹ mười phương đều do Phật phương tiện mà nói ra các thừa.
     Này Xá-lợi-phất, tất cả các ông, các ông đều là con Ta, Ta là cha các ông, nhiều kiếp bị cái khổ đốt cháy, Ta đều cứu vớt cho các ông khiến ra khỏi khổ ách. Ta tuy trước đã nói, các ngươi diệt độ chỉ hết sinh tử mà thật chưa diệt độ. Việc đáng làm bây giờ chỉ có hàng Bồ-tát có trí tuệ, trong chúng đây mới có thể một tâm nghe thật pháp của chư Phật.
     Các đức Phật Thế Tôn tuy dùng phương tiện để giáo hóa chúng sinh đều là Bồ-tát. Nếu người trí nhỏ đắm trước sâu trong ái dục thì Ta sẽ vì họ nói Khổ đế. Chúng sinh có tâm hoan hỉ thật chưa từng có, Phật nói Khổ đế chơn thật không khác. Chữ chơn thật là Ta nói Khổ đế thật là khổ, chắc chắn như vậy không khác được.
     Ngày Thiên Thai chia Tứ đế ra làm 4 loại: 1. Sinh diệt Tứ đế; 2. Vô sinh Tứ đế; 3. Vô tướng Tứ đế; 4. Vô tác Tứ đế; cũng là Tứ đế cả nhưng có 4 cách nhìn khác nhau mà thôi.
     (Khi  hiểu Khổ đế rồi, mà có người nói đời có vui chứ không khổ, thì chúng ta phải suy theo lý của đức Phật nói, khổ này là tất cả đều ở trong khổ. Dù có vui gì đi nữa thì vui đó cũng nằm trong vô thường, mà vô thường thì vui trong chốc lát liền bị khổ, chứ không vui mãi được. Vì vậy nên có hoại khổ và hành khổ. Hành khổ là chỉ về bất lạc

* Trang 352 *
device

thọ, khổ khổ là khổ thọ, hoại khổ là lạc thọ. Ba khổ ấy cái thọ nào cũng khổ hết, thọ khổ khổ đã đành rồi, cái lạc thọ cũng khổ huống rõ là hoại khổ, nói chung là khổ hết. Cho nên không phải ngoài cái khổ mà có cái không khổ, chân thật không khác). Nếu có chúng sinh không biết gốc khổ thì Phật nói Khổ đế ở gốc chứ không ở ngọn, không biết gốc khổ mà đắm trước nơi cái nhân khổ không bỏ được, vì hạng chúng sinh như vậy nên Ta phương tiện nói đạo là cái sở nhân, chính tham dục là gốc của khổ, diệt tham dục thì khổ đó không có chỗ nương dựa. Diệt hết các khổ nên gọi là đế thứ ba (Diệt đế). Vì Diệt đế nên tu hành nơi đạo, lìa các sự khổ trói buộc nên gọi là đạo giải thoát. Người nào mà được giải thoát thì người đó hiểu được lý hư vọng. Người nào chưa được nhất thiết giải thoát, Phật nói người đó chưa thật diệt độ, chưa được đạo Vô thượng.
     Này Xá-lợi-phất, pháp này đem đến lợi ích cho chúng sinh, nên dù phương nào các ông đến, chớ vọng tuyên truyền mà nói các pháp này một cách tùy tiện. Nếu có người nghe hoan hỉ, cung kính lãnh thọ thì biết người đó là hạng bất thối chuyển. Ta đề bạt người ấy. Nếu người có tín thọ kinh pháp này chắc chắn người đó đã từng thấy đức Phật quá khứ, cung kính cúng dường và cũng nghe pháp ấy. Nếu người có thể tin lời ông nói, thời người đó đã thấy Ta và cũng thấy ông.
     Đây là trường hợp giống như trong Nikàya nói: Có một vị Tỳ-kheo bị bệnh nặng, muốn đến thăm đức Thế Tôn nhưng đi không được. Các Tỳ-kheo khác đến bạch 

* Trang 353 *
device

Thế Tôn, Thế Tôn đến thăm và nói: “Ông muốn đến gặp Như Lai ư ? Gặp làm gì với tấm thân uế trược này. Hễ ông thấy Pháp tức là thấy Ta”. Trong kinh Nikàya Phật có nói câu đó. Chúng ta nên học để biết  mà so sánh giữa kinh điển Đại thừa và kinh tạng Nikàya, cả hai không có sự cách biệt nào cả. Nếu có thì sự cách biệt đó nằm ở nơi phương diện trình bày, chứ không phải cách biệt trên tinh ba của giáo lý. Kinh Đại thừa nói: Thấy Ta và thấy ông, thấy các Tỳ-kheo Tăng và thấy có Bồ-tát, đó chính là kinh Pháp Hoa. Người nghe được kinh Pháp Hoa thì người đó thấy Ta, thấy các Tỳ-kheo Tăng và thấy các vị Bồ-tát. Kinh Pháp Hoa ấy là do thân trí tuệ mà nói ra, người có trí thức cạn cợt nghe thì bị mê hoặc không hiểu nỗi. Tất cả Thanh văn, Bích-chi Phật đối với kinh này, sức của họ không thể hiểu nỗi. Thậm chí Xá-lợi-phất, chính Tôn giả là vị có trí tuệ lớn, đối với kinh này còn phải dùng lòng tin mới vào được, huống gì với các hàng Thanh văn khác. Hàng Thanh văn khác tin lời đức Phật nói, nếu có tin là nhờ tha lực của đức Phật.
     Lại nữa, này Xá-lợi-phất, những người kiêu mạn, giải đãi và chấp ngã kiến thì chớ nói kinh này với họ. Nếu nói kinh này cho họ thì cũng không làm sao giải thoát ngã kiến cho họ được. Nếu càng nói họ càng mù tịt (vì vậy Phật nói chớ có nói kinh này cho họ). Những hàng phàm phu nghiệp thức, đắm trước sâu vào năm dục nghe không thể hiểu nỗi, chớ có nói cho họ. Những người không tin, hủy báng kinh này, thời người đó sẽ dứt mất Phât chủng hoặc bị què quặt, hoặc ôm tâm nghi hoặc thì bị tội báo. 

* Trang 354 *
device

     Nếu có đức Phật ở đời thời giờ đây đức Phật cũng nói: Người nào hủy báng kinh Pháp Hoa thì tội báo rất lớn.
     Người nào nghe kinh Pháp Hoa thì công đức vô lượng và chắc chắn người đó sẽ thấy Phật, thấy Pháp, thấy Tăng. Người hủy báng hoặc nghi hoặc kinh Pháp Hoa thì ông sẽ nghe Ta nói các tội báo của họ như thế. Nếu đức Phật ở đời, hoặc sau khi đức Phật diệt độ, những người phỉ báng kinh điển này như thấy kẻ khác đọc tụng, viết chép kinh này, mà khinh khi tật đố, rồi ôm lòng oán, hận, thì tội báo của người đó, các ông hãy nghe đây:
     “Người đó sau khi mạng chung đọa vào địa ngục A-tỳ, đầy đủ một kiếp, kiếp xong rồi sinh trở lại, cứ  thế luân chuyển vô số kiếp, từ địa ngục ra rồi đọa vào súc sinh, hoặc làm loài chó, hoặc là dã can, hình thù của nó hết sức gầy gò, đen đui, lở lói, bị người đụng chạm xúc não nhiều. Đến khi làm người thì làm hạng người ác tặc, thường bị khốn khó, đói khát, xương thịt gầy khô, khi sống chịu các sự khổ độc. Khi chết bị ngói đá đằng chết. Nếu làm lạc-đà, hoặc sinh trong loài lừa, thân thường bị mang nặng, còn bị gia thêm gậy đánh, bị đói khát, thường nghĩ đến nước với cỏ. Nếu làm dã can, đi vào xóm làng thì thường mang thân thể lở loét, lại chỉ một mắt, bị lũ trẻ lấy gậy, que chọc, chịu các sự khổ thống, hoặc có khi đến chết, chết rồi lại làm thân mãng xà, hình của nó lớn dài 500 do tuần trườn lết không chân, uyển chuyển đi bằng bụng, bị các loại trùng nhỏ rút ăn, đêm ngày chịu khổ, không có lúc nào được nghỉ ngơi, không khi nào dứt. Nếu được làm người thì các căn ám độn,

* Trang 355 *
device

xấu xí, què quặt, đui, điếc, gù lưng, có nói gì người ta cũng không tin, hơi miệng hôi hám, bị quỷ mị ám, nghèo cùng hạ tiện, bị người sai khiến, nhiều bệnh, gầy gò, không có chỗ nương dựa, tuy có thân thuộc với người ta, người ta không thèm để ý. Nếu có được gì thì vừa được liền mất, quên mất, hoặc học về nghề y dược, theo phương trị bệnh, càng trị người ta càng bệnh thêm cho đến chết. Nếu tự mình có bệnh thì không ai cứu chữa cho, hoặc thường uống thuốc hay mà bệnh càng nặng thêm. Thường bị người khác phản nghịch, hoặc là cướp giựt, trộm cắp…Vì dứt Phật chủng, vì phỉ báng kinh Pháp Hoa nên thọ các tội báo như vậy. Những tội như thế, là mắc các tội tai họa một cách ngang trái, vĩnh viễn không bao giờ thấy Phật. Tóm lại, Phật là vua của các Thánh, thuyết pháp giáo hóa độ sinh. Nếu người nào có tội như vậy thường sinh vào chỗ khó khăn, hoặc bị cuồng điếc, tâm thần rối loạn, không thể nghe pháp. Trong vô số kiếp như hằng hà sa sinh ra liền bị điếc, ngọng, các căn không đủ, thường ở địa ngục như vào viên quán, cứ đi tới đi lui y như thích lắm, như thích dạo trong các vườn hoa. Và ở các ác đạo khác như là nhà quen của mình cùng với lạc-đà, lừa, heo, chó cùng ở nơi chỗ này. Nếu được làm người thì bị điếc đui, ngọng, nghèo cùng và các suy tướng. Vì phỉ báng kinh này nên mắc tội như thế, suy hoại để tự trang nghiêm. Trang nghiêm bằng các loại như: khó tiêu, lở lói, ung thư, mặt ghẻ, thân thường hôi hám, trú xứ ô uế, bất tịnh, đắm trước theo ngã kiến, tăng ích thêm lớn sân hận, dâm dục hừng hực nổi lên không phân biệt, y như cầm thú.

* Trang 356 *
device

     Phật bảo Xá-lợi-phất, người phỉ báng kinh này nếu thoát được tội này thì cùng kiếp không hết, do nhân duyên đó nên Ta có nói với ông rằng: Đối với người vô trí chớ nói kinh này, nếu người có căn trí tuệ, có sức nghe nhiều và biết giới, người có tâm cầu Phật đạo thì những hạng người như vậy mới nói kinh này. Nếu người từng thấy được ức trăm ngàn Phật và trồng các căn lành, có thân tâm kiên cố, những hạng người như vậy thì mới nói kinh này. Nếu người tinh tấn thường tu từ tâm, không tiếc thân mạng thì mới nói kinh này. Nếu người cung kính không có dị tâm, không có tâm không kính, lìa các phàm phu, riêng vắng ở núi trầm tự mới có thể nói kinh này.
     Lại Xá-lợi-phất, nếu thấy có người bỏ ác tri thức, thân cận thiện hữu những người như vậy mới nói kinh này. Nếu thấy Phật tử trì giới thanh khiết, như ngọc minh châu sạch, cầu kinh Đại thừa, những hạng người như vậy mới nói kinh này. Nếu người không sân hận, chất trực mềm dịu, thường thương tất cả, cung kính chư Phật, những người như thế mới nói kinh này. Lại có Phật tử đối với Đại chúng đem tâm thanh tịnh đủ các nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, thuyết pháp vô ngại, những người như vậy mới nói kinh này. Nếu có hàng Tỳ-kheo vì cầu Nhất thiết trí, tìm pháp bốn phương, chấp tay cúi đầu lãnh thọ, chỉ ưa thọ trì kinh điển Đại thừa cho đến không thọ trì một kinh khác, những người như vậy mới có thể nói kinh này. Như người chí tâm cầu Xá-lợi Phật như cầu kinh, được rồi cung kính thọ trì, người đó không còn chí cầu kinh khác, cũng không cầu kinh sách ngoại đạo những người như vậy mới nói kinh này. 

* Trang 357 *
device

     Phật bảo Xá-lợi-phất, Ta nói tướng ấy cầu Phật đạo cùng kiếp bất tận, là Ta nói những trạng thái tướng thức của người cầu Phật đạo. (Trên Phật nói một số cách thức của người cầu Phật đạo). Tướng của những người cầu Phật đạo cùng kiếp khó nói hết được, người như vậy có thể tín giải, ông sẽ vì những người đó mà nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
 
*
*        *

* Trang 358 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa