LOGO VNBET
PHẨM TÍN GIẢI
 
     Tín (tin), niềm tin là sự vận hành của tình cảm. Nhận thức là sự vận hành của lý trí. Có người nói tôn giáo hay tín ngưỡng phải được tin thay vì suy luận. Điều này thật nguy hiểm khi họ tin tưởng một cách mù quáng vào một tôn giáo mà không có một sự hiểu biết về tôn giáo ấy. Nếu tôn giáo này có một nền giáo lý sai lầm và vô giá trị thì sự tin tưởng mù quáng ấy sẽ dẫn đến kết quả là sự hủy hoại cho chính họ, mà còn gây tác hại cho gia đình và xã hội xung quanh nó. Trong xã hội chúng ta ngày nay, khoa học đã tiến bộ nhưng vũ trụ vẫn còn nhiều bí ẩn. Khám phá sự bí ẩn này có thể là khoa học. Mặt khác, qua sự tin tưởng vào tôn giáo, chúng ta có thể trực tiếp vào bí ẩn không chỉ bằng lý thuyết suông. Trạng thái tâm linh sinh ra do sự gặp gỡ lần đầu với sự bí ẩn được gọi là niềm tin. Khi một ai đó cố gắng giải thích giáo lý của một tôn giáo bằng lý trí thì tôn giáo đó không có khả năng kích thích những người khác, vì người ấy chỉ có lý thuyết suông, chứ không đưa lý thuyết vào thực hành. Một tôn giáo như vậy không tạo sức mạnh khiến người khác theo nó. Niềm tin thực sự thì có năng lực và sức mạnh. Một người ít học nhưng anh ta có thể cứu và giúp những người khác phát triển tôn giáo nếu anh ta có niềm tin. Trái lại, nếu anh ta tin tưởng một cách sai lầm về cơ bản thì năng lực của anh ta sẽ gây tác hại cho xã hội. Do đó, niềm tin và sự nhận thức phải đi đôi với nhau. Một

* Trang 359 *
device

tôn giáo được gọi là một tôn giáo đích thực khi nó bao gồm niềm tin và sự nhận thức. Trong Phật giáo, chúng ta phải hiểu giáo lý của Ngài bằng cách nghe giảng và đọc tụng. Tóm lại, chúng ta có thể đi vào một tôn giáo bằng khía cạnh niềm tin hoặc khía cạnh nhận thức, nhưng nếu một tôn giáo không bao gồm hai khía cạnh ấy thì nó không có một sức mạnh thật sự. Bằng nhận thức cơ bản này về các thành phần của một tôn giáo đích thực như Phật giáo, chúng ta hãy đi vào kinh văn (ý của Niwano).
     Lúc bấy giờ Huệ Mạng Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Mục-kiền-liên, từ chỗ Phật mà nghe được việc chưa từng có, đó là đức Thế Tôn thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất thành tựu Chánh đẳng Chánh giác. Khi nghe như vậy thì các Ngài vui mừng, hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, trịch y phía bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, một lòng chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng dung nhan đức Phật mà bạch rằng: “Chúng con là hàng đứng đầu trong Tăng, tuổi tác đã già nua, tự cho mình đã được Niết-bàn không có chỗ gì mà kham nhậm nữa, lại không tiến cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
     Theo Tam châu thuyết pháp: Pháp thuyết châu, Dụ thuyết châu, Nhân duyên thuyết châu thì Pháp thuyết châu là phẩm Phương tiện. Tôn giả Xá-lợi-phất là vị thượng căn liễu ngộ sớm, được Phật thọ ký. Còn Huệ Mạng Tu-bồ-dề, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Mục-kiền-liên là hàng trung căn, chưa ngộ được, 

* Trang 360 *
device

vì vậy Phật nói tiếp ví dụ nhà lửa ba xe. Khi nghe ví dụ này thì các vị đệ tử  trung căn tin hiểu. Và hiểu được ví dụ đức Phật nói: ba thừa là Phương tiện, Nhất thừa là chơn thật. Khi nghe và hiểu được như vậy gọi là tín giải. Hai chữ “tín giải” này phản nghĩa với hai chữ “nghi hoặc” . Trong các phẩm trước hay nói chữ “nghi hoặc” là khi Phật nói ra mà các đệ tử không hiểu nên nghi hoặc. Cụ thể trong kinh nói nghi là nghi cái gì ? Hoặc là hoặc cái gì ? Hoặc là lầm, là mê, là không ngộ, không hiểu được. Nghi là không tin. Ở các đoạn trước có chữ nghi hoặc đó. Còn ở đây không phải các Ngài nghi lý Tứ đế cũng không phải mê lầm Tứ đế, mà nghi rằng đức Phật nói lý Tứ đế là đạo lý siêu việt, nếu tu theo đạo lý Tứ đế thì được chứng Niết-bàn.
     Giờ đây Ngài nói Niết-bàn này chưa phải Niết-bàn, thì tự nghi mình. Như vậy chúng con nói chúng con chứng thì đã thật chứng chưa ?
     Thứ hai là nghi Phật. Tại sao khi thì Ngài nói thế này (đã chứng Niết-bàn) khi thì nói thế khác? (Niết-bàn ấy chưa thật Niết-bàn). Có khi nói pháp Tứ đế, 12 Nhân duyên là cùng tột, tu theo thì được giải thoát sinh tử, mà chúng con tưởng đó là thật nên cố siêng tu để mau giải thoát. Giờ chúng con chứng được rồi thì Ngài nói chưa được, cho nên chúng con không biết Ngài nói như vậy là Ma hiện Phật để làm rối loạn tâm chúng con hay là Phật có ý gì khác nữa.

* Trang 361 *
device

     Thứ ba là nghi Pháp. Ngài nói ba thừa đã là pháp cứu cánh rồi thì còn nói Nhất thừa làm gì nữa? Bây giờ Ngài lại nói Nhất thừa, rồi nay mai Ngài nói thừa gì nữa đây, nên nghi và không tin.
     Một điều nữa cũng làm chúng con nghi hoặc. Trên là nghi và đây là hoặc. Lý do vì sao khi kia Phật không nói Nhất thừa mà Ngài lại nói ba thừa ? Vì sao đến  hôm nay Ngài mới nói Nhất thừa mà trước Ngài không nói? Vì sao như vậy ? Lòng chúng con không hiểu được nên gọi là hoặc. (hai chữ “nghi hoặc” này trong đoạn trước tôi đã cắt nghĩa nhiều lần rồi, tức là chừng nào Phật thấy chúng sanh đang còn nghi hoặc thì Phật chưa nói.
     Khi các vị trung căn đệ tử nghe qua Pháp thuyết châu trước, nhưng không hiểu nên khi nghe qua Dụ thuyết châu: Phật nói nhà lửa ba xe thì mới hiểu rõ ràng mà tin chứ không nghi nữa, hiểu rồi chứ không mê hoặc nữa. Như vậy là nghĩa của chữ  “tín” giải là đối lập với chữ “nghi hoặc”.
     Tín giải là nấc thang đầu tiên đó rất quan trọng để bước vào đạo, (bốn bậc tín, giải, hạnh, chứng) và đó cũng là bước đường đầu tiên của người học Phật. Người tu hành nếu không tin thì không bao giờ nghe lời Phật dạy cả. Nhưng dù có nghe lời Phật dạy mà không tin thì chắc họ cũng không tìm hiểu làm gì. Cho nên đối với Phật giáo, đức tin là điều căn bản trước tiên phải có. Từ lòng tin đó mà nghe và hiểu rồi suy nghĩ thì mới có giải. Từ sự giải đó mà biết rõ có hành. Có hành thì mới có chứng.

* Trang 362 *
device

Cho nên tín, giải, hạnh, chứng là bốn tầng thứ bậc của sự tu hành đối với giáo lý hạnh quả. Giáo lý của đức Phật là giáo lý gồm đủ cả hạnh lẫn quả. Riêng triết học thì chỉ có lý không có hạnh quả. Cho nên có quán có hạnh chứ không phải chỉ có chỉ mà không có quán. Vậy nên chữ tín giải rất quan trọng. Do đó mà Luận Đại Trí Độ nói: “Phật pháp như biển cả, có tin mới vào được, có trí mới qua được”. Tín và giải tức là trí và tín mà trong kinh Niết-bàn cũng nói: "Hữu tín vô huệ, tăng trưởng vô minh" (Tin mà không có huệ là tin mù quáng). Tin mù quáng thì càng đi tới càng vô minh, trở nên cuồng tín. Có những tín ngưỡng chỉ đặt lòng tin suông chứ không suy nghĩ, như thế thì sẽ không hiểu hết ý nghĩa của nó. Vì đặt lòng tin suông nên nó trở thành vô tuệ dẫn đến vô minh sau là cuồng tín, và cuối cùng trở nên tà kiến. Có tuệ mà không có tín thì tuệ đó là thế trí biện thông, dễ đi vào tà kiến. Vì vậy người đi vào Phật pháp phải có hai điều, đó là tín và giải. Nếu tin không cũng chưa đủ mặc dù nói rằng tín, giải, nhưng trong cái tín đó có phần giải chứ không phải hoàn toàn tín không. Nên đối với đạo Phật, trong tín có giải, trong giải có tín, hai cái hỗ tương cho nhau, nên gọi là trí tín mà không phải mê tín.
     Sao gọi là trí tín ? Là tin nhưng phải bằng vào một điều gì đó, bởi vì có những việc mình không thể hiểu hết. Mình chỉ biết được việc ngày hôm nay chứ không biết được việc ngày mai. Như vậy đối với ngày mai mình phải tin, nhưng tin phải có chứng minh xác thực, nếu không thì trở thành mê tín chứ không phải trí tín. Trí tín thí dụ như thế 

* Trang 363 *
device

nào ? Như ngày hôm nay mình thấy mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây. Ngày hôm qua và hôm trước cũng thấy vậy. Ngày mai mình chưa thấy nhưng tin rằng mặt trời cũng sẽ mọc ở phương Đông và lặn phương Tây. Tin như vậy, đó gọi là trí tín. Niềm tin có bằng chứng, có kinh nghiệm chứ không phải hoàn toàn không biết gì hết. Vì vậy sách Nho nói: “Người không có lòng tin thì không lập được” (Vô nhân vô tín bất lập). Người đi học mà không tin ở chính mình, thì chắc chắn người ấy học không thành tài được. Người làm ruộng mà không tin mình làm được, thì sẽ không có kết quả. Người tu hành mà không tin mình tu có kết quả, lợi lạc thì không tu được. Tóm lại, không có lòng tin thì không làm được gì hết, nên làm bất cứ công việc gì cũng cần phải có lòng tin. Chính việc mình làm hàng ngày mà không có lòng tin về công việc mình làm thì sẽ không có kết quả và an lạc. Người học đạo thâm sâu, cao thượng mà không có lòng tin thì làm sao học được, huống gì đối với Phật pháp thậm thâm, mà không tin thì không sao học được. Khi đã không có niềm tin thì tụng kinh cũng không thành, gõ mõ cũng không được, mà ăn chay nuốt không vô, niệm Phật cũng không định. Tóm lại những người như vậy làm việc gì cũng không thành cả, bởi vì không có niềm tin. Cho nên đức tin quan trọng đối với giáo lý nhà Phật là vậy. Tu rồi mới tìm hiểu, mới tư duy mà có tin mới có hiểu. Do vậy, Tín giải là thềm bậc trên bước đường học Phật, tu Phật.
     Ở phẩm Tín Giải này Phật dạy người có bốn hạng:

* Trang 364 *
device

     1. Có tín  mà không giải đó là hạng người độn căn mà lại chánh kiến.
     2. Có giải mà không tín là hạng người lợi căn mà lại tà kiến.
     3. Vừa có tín có giải là hạng người vừa lợi căn vừa chánh kiến.
     4. Không tín không giải là hạng người vừa độn căn vừa tà kiến.
     Hai chữ  “Tín giải” ở đây là sự hiểu biết chắc chắn. Tín có nghĩa là quyết định, một sự tin hiểu chắc chắn không gì có thể làm lay chuyển, gọi là Tín giải. Cũng như ở trong Duy thức học, phân chia tâm ra làm 100 pháp, có một pháp (tâm) tên là Thắng giải, là một trong năm biệt hành tâm sở. Thắng giải là sự hiểu biết cùng tột, hiểu biết vững chắc, không gì lay chuyển gọi là thắng giải. Chữ Tín giải cũng tương tự như vậy, ngoài sự tin và hiểu còn có nghĩa là hiểu biết chắc chắn.
     Phẩm này gọi là phẩm Tín Giải vì lẽ bốn vị đệ tử là Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Ca-diếp, Mục-kiền-liên, sau hai châu thuyết pháp là Pháp thuyết châu và Dụ thuyết châu, thì bốn ngài đã có sự tín giải, lời đức Phật dạy tất nhiên trong đây không nói tin Tứ đế và hiểu Tứ đế. Lý ở trong kinh Pháp Hoa nên hiểu rằng, không phải cố giải về lý Tứ đế mà cố nói về chỗ phương tiện để thuyết pháp cho chúng sinh.
     Khi Phật mới thành Đạo, căn cơ chúng sinh còn thấp, nên Phật chưa nói Nhất thừa mà chỉ nói ba thừa. Giờ đây 

* Trang 365 *
device

căn cơ chúng sinh đã thuần thục nên Phật mới nói Nhất thừa. Phật nói ba thừa là phương tiện, là quyền thuyết, còn Nhất thừa mới là chơn thật. Thành ra chúng ta phải hiểu ý đó trong phẩm này của kinh Pháp Hoa là như vậy, chứ đừng nghĩ kinh Pháp Hoa chỉ nói lý Tứ đế, mặc dù kinh Pháp Hoa có giải lý Tứ đế. Chủ yếu của kinh Pháp Hoa là nhất thừa và cũng giống Tứ đế, mặc dù trong này cũng nói thật tướng thật như thị, nhưng nói để hỗ trợ cho chủ ý của đức Phật, là muốn chỉ cho chúng sanh thấy rằng: ba thừa chỉ là phương tiện. Nhất thừa mới là đích thật. Hiểu như vậy mới là hiểu chủ đích của kinh Pháp Hoa, chứ không phải kinh Pháp Hoa giảng lý Tứ đế. Nhưng nói kinh có lý Tứ đế cũng không sai, vì trong đó cũng nói Tứ đế, nhưng đó không phải là chủ đích, mà chỉ là hỗ trợ thôi.
     Ba thừa Phật nói trước đây chưa thật là Niết-bàn mà phải theo Nhất thừa đạo mới chứng Niết-bàn. Vì Phật ra đời là: “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Tri kiến lấy cái ngộ Phật tri kiến làm thừa giáo tu tập nên nói nhất thừa, hay còn gọi là Phật thừa. Thanh văn, Duyên giác gì cũng ở trong Phật thừa đó. Vì căn cơ của chúng sanh chưa hiểu thấu, chưa rốt ráo, nên nói ba thừa mà ba thừa cũng đi đến Phật thừa, chứ không đi đến một con đường nào khác. Không phải tu ba thừa rồi đi theo ngoại đạo đâu mà chỉ đi đến Phật thừa. Tu ba thừa thì mới chỉ đi được nửa đường, vì lý lẽ chưa được cùng tột. Nhất thừa mới thực sự là đi đến Phật thừa, được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 

* Trang 366 *
device

     Đến chỗ này các ngài đã tin ba thừa là quyền, nhất thừa là thật. Cũng từ đây các ngài mới hiểu rằng vì sao mà Phật không nói Nhất thừa, chỉ nói ba thừa, nên đã tín giải. Tín giải đây là việc vừa nói trên chứ không phải tín giải lý Tứ đế, lý Vô ngã. Trường hợp chỗ khác thì tín giải lý Vô ngã, lý Tứ đế, nhưng ở đây không phải tín giải lý Tứ đế. Tín giải lý Tứ đế thì các ngài đã tín giải lâu rồi, đã được Niết-bàn, thành A-la-hán. Vì có tín giải lý Tứ đế mới tu thành A-la-hán. Nhưng giờ đây các ngài theo đức Phật, nghe được pháp chưa từng có đó, là đức Thế Tôn thọ ký cho Tôn giả Xá-lợi-phất thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thế nên gọi là chưa từng có. Thấy như vậy nên các ngài phát tâm hy hữu. Tâm hy hữu là tâm xưa này chưa từng khởi. Nên các ngài vui mừng hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, trịch vai áo bên hữu, gối bên hữu quì sát đất, nhất tâm chấp tay khúc cung (cung là thân thể, như: cung thân, cung thể - khúc cung là cúi xuống, chữ khúc có nghĩa là khom xuống) cung kính, chiêm ngưỡng tôn nhan đức Phật mà bạch Phật rằng:
     “Chúng con là hàng thượng thủ ở trung căn, đứng đầu trong Tăng chúng, tuổi đều già yếu, suy nhược, tự cho mình đã được Niết-bàn, không còn kham nhậm thêm nữa nên không còn chí tiến cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nữa".
     Đức Thế Tôn trước đây thuyết pháp đã lâu, trước đây là từ hội Pháp Hoa trở về trước, khi đức Phật Thành

* Trang 367 *
device

đạo đến khi thuyết pháp Sơ chuyển pháp luân tại Lộc uyển đến thời Pháp Hoa, tức là “thuyết pháp đã lâu”.
     Lúc bấy giờ chúng con ngồi ở tòa, thân thể mệt mỏi chỉ niệm tưởng tới ba môn giải thoát là Không, Vô tướng, Vô tác. Còn pháp của Bồ-tát như Du hí thần thông, Tịnh Phật quốc độ, Thành tựu chúng sinh, thì tâm chúng con không vui mừng, ưa thích. Chúng con chỉ muốn tu tự độ, chứ việc của Bồ-tát thì chúng con không vui thích chút nào.
     Ba giải thoát môn này trong kinh tạng Nikàya hay đề cập nhiều lần, tức là niệm theo pháp trú quán của Thanh văn mà thôi. Còn đối với pháp Bồ-tát như việc Thần thông du hí – người có thần thông là muốn bay cũng được, đi cũng được, ngồi cũng được, du hí tự tại – đó là việc của Bồ-tát. Bồ-tát còn có việc phải làm nữa là Thanh tịnh Phật độ hay gọi là Trang nghiêm Phật độ, là Thành tựu chúng sinh. Bồ-tát pháp là gì ? Pháp tức là Du hí thần thông, Thanh tịnh quốc độ, thành tựu chúng sinh.
     Đó là những việc của Bồ-tát mà chúng con không ưa, không vui. Cho nên lúc Phật nói tâm Bồ-tát đó thì chúng con không ưa, không vui chút nào, vì sao ? Vì trước Thế Tôn chỉ dạy cho chúng con tu để ra khỏi ba cõi, được chứng Niết-bàn, chứ Ngài đâu có nói pháp của Bồ-tát là Du hí thần thông, Thanh tịnh quốc độ, thành tựu chúng sinh, nên khi bấy giờ chúng con chỉ muốn tu tập để ra khỏi ba cõi, chứng được Niết-bàn là mục đích chính của chúng con.
     Lại nữa, chúng con tuổi già yếu, đối với Thế Tôn giáo hóa cho hàng Bồ-tát hướng đến quả vị Vô thượng

* Trang 368 *
device

Chánh đẳng Chánh giác thì chúng con không sinh tâm ưa thích chút nào. Chúng con nghe các chuyện đó quá xa vời thăm thẳm, nên không ưa.
     Nay đây đối trước đức Phật nghe Ngài thọ ký cho hàng Thanh văn được chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì tâm rất hoan hỉ.
     Ở đây chúng ta thấy hai tâm trạng khác nhau: Các Ngài diễn tả tâm trạng khi ngồi trước tòa mà nghe đức Phật nói việc Thanh văn, tu tập giải thoát ba cõi, chứng được Niết-bàn, tùy thích tu theo, chứ còn nghe nói việc của Bồ-tát, tu để đạt đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì lại không ưa chút nào.
     Giờ đây qua giai đoạn Thuyết pháp châu, Dụ thuyết châu thì các Ngài đã được tín giải. Cho nên nay nghe Phật thọ ký cho Thanh văn được Chánh đẳng Chánh giác, thì các Ngài rất vui mừng, vì vô lượng trân bảo không cầu mà được, không ngờ nghe được việc hy hữu chưa từng nghe. Để biểu thị sự vui mừng của chúng con, chúng con xin nói ví dụ như sau: Ví như có người tuổi còn ấu trĩ, bỏ cha trốn đi, ở lâu nước khác hoặc 10, 20 cho đến 50 năm, tuổi đã lớn khôn, lại bị cùng khốn, rong duỗi bốn phương để tìm cơm áo. Khi du hành đến nơi nước cũ. (Người cha của nó trước đến đó tìm con không gặp được). Giữa đường dừng lại tại một ngôi thành, nhà của người cha đó rất giàu, tài sản vô lượng. Các kho lẫm thảy đều đầy dẫy vàng bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, trân châu v.v… Trong nhà có nhiều kẻ tôi tớ giúp đỡ. Voi, ngựa, xe cộ, trâu, dê

* Trang 369 *
device

vô số, lợi tức ra vào như nước, khách buôn bán cũng rất đông… Lúc bấy giờ đứa con nghèo cùng dạo qua các làng xóm, nước ấp bèn đến nơi thành của cha nó ở.
     Người cha mỗi khi nghĩ đến con mình, nhớ ra đã ly biệt trên 50 năm, nhưng chưa từng nói với ai điều đó, chỉ tự mình biết, trong lòng rất hối hận. Mỗi khi nghĩ đến điều đó liền tự trách mình đã già yếu, lại có nhiều tài của, kim ngân, bảo vật, kho lẫm tràn đầy mà không có con cái để nối dõi. Một mai kia chết đi rồi, của cải không có ai để ủy thác, vì vậy nên rất thương nhớ đứa con mình đang lưu lạc nơi nào không hay biết.
     Khi đến nơi, người con thấy sự giàu có sang trọng của người cha như vậy, liền nghĩ rằng: Tại sao ta đến đây làm gì? Nơi này chắc là của vua hoặc ngang với vua, chẳng phải là chỗ ta đến để xin làm thuê. Nghĩ vậy liền đi qua xóm nghèo khác để kiếm việc  làm ăn. Đến chỗ khác may ra mới kiếm được cơm áo, còn nếu ở đây lâu thì chắc sẽ bị bức bách. Người con trộm nghĩ như vậy rồi vụt bỏ chạy ra khỏi nhà người cha của mình. Bấy giờ ông phú Trưởng giả ngồi trên tòa sư tử thấy đứa con liền nhận ra là con mình, tâm ông rất vui mừng. Liền nghĩ rằng, kho tàng của ta ngày nay đã có chỗ ký thác. Ta thường nhớ nghĩ đứa con này mà không kiếm được, nay bỗng nhiên nó đi đến thì rất hợp với sở nguyện của ta. Ta tuy tuổi già yếu nhưng vẫn còn tham tiếc. Ông liền sai bọn gia nhân đuổi theo gấp, bắt đem về. Gia nhân theo bắt thì đứa con la lớn: “Ta không có can phạm gì hết tại sao bắt ta”. Bọn gia nhân nhanh chóng

* Trang 370 *
device

cưỡng ép kéo đem về. Người con cùng khổ lúc đó tự nghĩ rằng, mình vô tội mà bị cầm tù thì chắc chắn chết thôi. Nghĩ vậy nó càng thêm sợ sệt nên ngất xỉu, ngã lăn xuống đất. Người cha từ xa trông thấy nói với gia nhân rằng: Thôi không cần người đó nữa, chớ có bắt ép nó đến làm gì. Các ngươi hãy dội nước vào cho nó tỉnh. Vì cớ sao ? Vì trưởng giả biết đứa con kia ý chí hạ liệt, tự biết sự giàu có của mình đã làm cho nó sợ sệt. Ông xét biết tâm địa đứa con như vậy, mới dùng phương tiện, không nói với người khác rằng đó là con ông. Khi ấy gia nhân liền nói với người con đó rằng: “Thôi, ta thả anh ra, tùy ý anh đi đâu thì đi”. Người con ấy vui mừng chưa từng có, liền đứng dậy đi qua xóm nghèo để tìm cầu cơm áo.
      Lúc bấy giờ vị trưởng giả muốn ngầm giúp đỡ đứa con của mình bèn dùng phương tiện để dụ dẫn. Liền sai hai gia nhân ăn mặc tiều tụy, tướng hạ liệt, đi theo và nói với đứa con cùng khổ rằng: “Ở đây có chỗ cho anh làm thuê và trả tiền làm công cho anh gấp bội. Nếu anh chấp nhận thì chúng tôi sẽ đem anh về đây làm chung”. Ông còn dặn thêm, đề phòng: Nếu khi nó hỏi thuê làm gì, thì nói với nó rằng: “Chúng tôi thuê anh hốt phân, rửa cầu tiêu, hai chúng tôi cũng chung làm với anh”. Hai gia nhân ra giá thuê làm. Người con cùng tử chấp nhận giá cả, liền cùng với hai người kia bắt tay vào việc dọn dẹp vệ sinh. Người cha thấy con mình như vậy thì rất thương xót. (Chú ý từ “mật sai hai người” là nhân cách hóa Tứ đế và 12 nhân duyên).

* Trang 371 *
device

     Ở đây, dụ cho sự việc quý ngài không mơ tưởng đến Chánh đẳng Chánh giác mà chỉ mơ ra khỏi ba cõi, luân hồi sinh tử. Nghĩa là chỉ mơ tưởng cái ý chí tầm thường, vì sao? Vì ý chí hạ liệt. Do vậy nên người cha dùng phương tiện sai hai gia nhân ăn mặc tiều tụy,  không chút oai vệ gì hết đi đến gần đứa con, giữ nó lại và vỗ về, trả giá thuê làm việc dọn dẹp. Cũng vậy, những hạng ý chí hạ liệt thấy cảnh giới Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề lộng lẫy, sang trọng, đủ các vô lượng công đức như vậy thì nghĩ mình không sao đến được. Người cha dùng phương tiện để dụ dẫn con mình thì ở đức Phật cũng dùng phương tiện thuyết ba thừa. Việc sai hai gia nhân là dụ cho Tứ đế và 12 Nhân duyên. Ở đây là nhân cách hóa giáo pháp. Hai gia nhân này tiêu tụy: Tứ đế, 12 nhân duyên.
     Lại trong một ngày khác, Ông Trưởng giả ở trong cửa sổ từ xa thấy đứa con của mình thân thể bị gầy ốm, tiều tụy, bị đất phân, bụi dính làm nhơ nhớp, thì ông liền cởi đồ anh lạc nhu nhuyến, bỏ đồ trang sức nơi mình, thay vào đó những áo quần thô rách cáu bẩn, cũng bị bụi đất dính nơi thân, tay cầm đồ hốt phân nhơ nhớp rồi nói với các người làm (hai người làm và đứa con) rằng: “Các người cứ siêng làm đi chớ có biếng nhác”. Do phương tiện đó nên vị trưởng giả được gần đứa con hơn. Rồi một lần khác ông tới thăm và bảo: “Con trai, anh cứ thường làm việc ấy, chớ đi đâu cả, ta sẽ trả công thêm cho anh. Nếu anh cần dùng thứ gì như là bồn, chậu, gạo, bún, tương, muối … thì chớ có nghi nan, muốn dùng thứ gì thì dùng”. Ông cũng cho một người già cả, hình dáng xấu xí 

* Trang 372 *
device

để anh sai khiến. Ông bảo: Anh cần gì thì sai bảo người đó”. Hãy coi ta như là cha của anh, (Gần gũi rồi mới dám xưng cha, chứ trước không dám) vì sao mà ta nói anh là con ta, ta như cha anh ? Vì ta tuổi đã già yếu, mà anh còn trẻ nên ta nói cha con (chứ sợ nói thật nó không tin rồi bỏ chạy). Đây là lấy cái nghĩa tuổi trẻ tuổi già mà dụ dỗ chứ không có nói thật. Ông lại khen rằng: “Anh thường làm ở đây không có dối trá, biếng nhác than oán, sân hay hận. Ta đều không thấy anh có các điều đó. Anh không như những người khác, từ nay về sau anh như con ta sinh ra”.
     Liền khi đó ông trưởng giả cho nó một danh từ là nhi, nghĩa là con. Qua đó cho ta thấy, khi đức Phật ở trên tòa sư tử sang trọng như vậy, là Ngài ở trong báo thân. Mà căn cơ của chúng sanh chưa gần được báo thân của Phật, nên Ngài mới cởi bỏ đồ trang sức thượng diệu mà mặc áo rách nhơ bẩn tức là hóa thân. Tức nói đức Phật hiện thân vào cõi Ta-bà này làm thân phàm phu. Có làm như vậy mới gần chúng sinh, mới xưng Như Lai, mới nói Ta như cha con, mới đem giáo pháp mà truyền dạy cho chúng sinh được.  Có bao nhiêu châu báu như lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não … nhưng tại sao vị trưởng giả không nói cho người con những gì quí báu ấy mà lại nói cần dùng thứ gì như gạo, bún, muối, tương … ? Bởi vì ông biết tính của con, chỉ dùng được thứ ấy. Nếu đem châu báu … mà đưa cho con, thì có khi nó sẽ nói thứ ấy là cục đất mà vứt đi, vì sao? Vì không quen, cả đời chưa thấy chưa biết giá trị của nó. Đây là ví dụ rất sống động, do biết căn tính của người con ưa thích thứ gì ông cho

* Trang 373 *
device

thứ ấy. Đức Phật cũng như vậy, tùy theo căn cơ của chúng sinh, tu tập thích nghi với pháp môn gì thì Ngài dạy cho pháp môn ấy.
     Lúc bấy giờ người cùng tử tuy hân hoan gặp việc ấy nhưng vẫn còn như cũ, tự cho mình là người khách hèn hạ làm thuê. Do vì lẽ đó nên trong 20 năm, ông Trưởng giả thường sai khiến nó làm việc dọn dẹp vệ sinh. Qua thời gian đó, về sau tâm nó đã có thể tin, nên cùng nhau vào ra không còn nghi ngại, nhưng chỗ của người con ở vẫn ở chỗ cũ.
     Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ vị Trưởng giả có bệnh. Tự biết mình chẳng bao lâu sẽ chết, nên gọi đứa cùng tử mà nói rằng: “Ta nay có rất nhiều vàng bạc, châu báu, kho đụn tràn đầy, trong đó có nhiều chỗ cần dùng, anh phải nên biết. Lòng ta như thế, anh nên thể theo ý ta, vì cớ sao? Vì nay ta và anh là một người không khác. Nên cố để ý, chớ để sót mất”. Lúc đó gã cùng tử liền nhận lời dạy bảo, lãnh biết các vật, vàng bạc, trân báu và các kho tàng mà không có ý hy vọng lấy của đáng chừng một bửa ăn, nhưng chỗ của gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm ý hạ liệt cũng chưa xả bỏ được.
     Lại trải qua ít lâu, người cha biết ý con đã lần thông thái, thành tựu được trí lớn, tự chê trách tâm trước của mình. Khi người cha sắp mệnh chung bảo người con hội họp cả thân tộc, quốc vương, đại thần, dòng Sát-lợi hàng cư sĩ. Tất cả đều tập họp xong, ông liền tuyên bố rằng: “Các vị nên biết, đây là con ta, do ta sinh ra. Ở nơi thành kia bỏ ta trốn chạy, phiêu bạt khổ sở hơn 50 năm. Nó vốn tên ấy, ta 

* Trang 374 *
device

tên ấy. Xưa ta ở trong thành này ôm lòng lo lắng tìm cầu, bỗng ở nơi đây được gặp gỡ nó. Nó thật là con ta, ta thật là cha của nó. Nay đây, tất cả tài vật của ta có được đều là của con ta cả. Sự thu chi trước đây là đứa con này đã biết”.
     Cũng vậy, bạch đức đức Thế Tôn, đức Như Lai thường nói chúng con là con. Chúng con vì ba sự khổ mà phải ở trong sinh tử, chịu các điều nóng bức, ray rứt, bị mê hoặc không biết gì, ưa đắm pháp nhỏ. Ngày nay đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ, từ bỏ phẫn uế, hý luận. Nhờ các pháp Thế Tôn dạy, chúng con ở trong đó siêng năng, gia công tinh tấn đã được Niết-bàn. Được như thế rồi hoan hỉ tự cho là đủ, bèn tự gọi rằng ở trong Phật pháp nhờ siêng tinh tấn mà thu hoạch được rất rộng nhiều. Nhưng đức Thế Tôn đã biết tâm của chúng con đắm trước nơi ngũ dục tệ lậu, ưa nơi pháp nhỏ, nhưng Thế Tôn không buông bỏ, vì chúng con phân biệt nói rằng: “Các ông sẽ có được một phần kho báu tri kiến của Như Lai”. Đức Thế Tôn dùng sức phương tiện nói trí tuệ của Như Lai, chúng con theo Phật được cái giá Niết-bàn một ngày cho là đã được lớn rồi, nên được pháp Đại thừa này không có chí cầu mong. Chúng con lại nhân nơi trí tuệ của Phật, vì các hàng Bồ-tát, khai thị diễn nói, nhưng tự nơi đó chúng con không có một chí nguyện nào cả, vì sao? Vì Phật biết cái tâm chúng con ưa pháp nhỏ, nên mới dùng sức phương tiện theo căn cơ của chúng con mà nói, nhưng chúng con không biết mình thực là con Phật, nay chúng con mới biết đức Thế Tôn đối với trí tuệ Phật, không có chút lẫn tiếc nào! Vì cớ sao? Vì chúng con từ xưa lại đây là Phật tử nhưng chỉ ưa pháp nhỏ. Nếu chúng con có tâm ưa 

* Trang 375 *
device

pháp lớn thời trước kia Phật đã vì chúng con nói pháp Đại thừa. Chính ở trong kinh này Thế Tôn chỉ có nói Nhất thừa cho các hàng Bồ-tát, còn Ngài cứ chê bai chúng con là hàng Thanh văn, Duyên giác, kẻ ưa pháp nhỏ, nhưng Phật thật đã dùng pháp Đại thừa để giáo hóa. Thế nên chúng con nói rằng vốn không có tâm mong cầu gì mà nay đại bảo Pháp vương tự nhiên đưa đến, như những người Phật tử  đáng có được thì chúng con đều đã có cả.
     Trong đoạn ví dụ trước là: Một là ví dụ cha con. Trong đây cha là ví dụ cho đức Như Lai và con là ví dụ cho chúng sinh hoặc là chúng đệ tử đương cơ. Hai là bỏ cha trốn đi. Trước hết, Phật và chúng sinh đồng trong một lý tính nên Phật và chúng sinh đồng ở trong một cảnh giới như cha với con, nhưng rồi chúng sinh do có tâm hạ liệt, bị vọng niệm sinh khởi, trái với lý tính, đi theo tà hoặc, vọng tưởng, nên chúng sinh bỏ Phật trốn đi. Trốn đi đâu ?  Như người con ở lâu bên nước khác, nên phải kiếm kế sinh nhai bằng cách làm thuê gánh mướn. Người cha trong thời gian đó thấy mình giàu sang của cải đầy kho đầy đụn, không biết truyền lại cho ai, nên mới cố gắng đi tìm, mong được gặp lại con. Đi tìm mãi không gặp nên ông đành đóng đô ở một nơi thành nọ để cư trú, chờ để tìm con. Cũng vậy, chúng sinh ở lâu trong vòng luân hồi sinh tử, long đong vất vả, chịu bao sự khổ sở: Khổ khổ, hoại khổ, dục lạc khổ, ưu bi khổ … trải qua đủ mọi sự khổ sở. Đức Phật tự thấy mình giàu có Nhất thừa pháp với mười lực, mười tám pháp không chung, bốn vô sở úy, trí tuệ, đại từ đại bi, công đức viên mãn …muốn 

* Trang 376 *
device

đem tất cả thuyết giảng cho chúng sinh nhưng chúng sinh không ngộ. Đức Phật muốn truyền lại nhưng không biết truyền cho ai. Nên Ngài phải phương tiện nói ra ba thừa, đợi đến khi nào đúng thời cơ mới nói.
     Rồi bỗng nhiên đứa con đi xin ăn từ nước này sang nước khác, không ngờ lưu lạc đến nơi thành của ông cha đang cư trú. Khi nhìn vào người cha thấy ông cha sang trọng quá, đang ngồi trên ghế sư tử, xung quanh có kẻ hầu người hạ thì người con nghĩ rằng, đây không phải là chỗ của mình đến, đến đây chắc chắn là nguy tai. Đã không kiếm ăn được e rồi đây không khéo sẽ bị bắt. Nghĩ vậy nên người con bỏ chạy, tìm qua xóm nghèo để làm ăn. Chúng sinh cũng vậy đã có một chủng tử tự nhiên nên trong tâm họ đã có một niệm hồi đầu. Nhưng Phật nói cao siêu quá, chúng sinh không thể lãnh thọ được, cho nên không nghe lời Phật dạy, quay lưng bỏ đi. Bỏ đi rồi, đức Phật mới đem giáo pháp hai thừa ra khuyến dụ.
     Khi đứa con bỏ đi rồi thì người cha vội vã bảo ra bắt lại. Khi bị bắt lại thì người con vùng vẫy la lối, sợ hãi, oán thán. Nghĩ rằng: Nếu mình bị bắt chắc sẽ chết nên ngất xỉu ngã xuống đất. Thấy tình cảnh như vậy nên ông bảo gia nhân thả ra, nhưng âm thầm sai hai người theo nó, giả vờ làm thuê và mang một hình hài xấu xí tiều tụy để dễ gần gũi khuyên bảo nó đến chỗ ông làm thuê, chắc chắn sẽ có nhiều tiền. Nó hỏi đến làm những việc làm gì ? Họ bảo nó đến để hốt phân. Hai chúng ta sẽ làm cùng ngươi. Bấy giờ đứa con mới quay trở lại. Cũng vậy, chúng sinh vì thấy Phật quả thù 

* Trang 377 *
device

thắng, cao cả nên đã sợ hãi mà quay lưng với Phật. Phật rất thương xót nên tâm không một chút rời bỏ. Chúng sinh bị trôi lăn trong sáu nẻo, Phật vẫn thường theo dõi, thường tìm phương tiện cứu thoát, và thường ủy thác cho các vị Bồ-tát để che chở chúng.
     Ở đây, ta còn thấy một ví dụ sinh động nữa là, ông Trưởng giả thuê người con cùng khổ dọn phân là với ý nghĩa gì ? Tức ví dụ cho đức Phật mở bày phương tiện để thuê (giúp) chúng sinh trở về hốt phân phiền não, phân sinh tử nghiệp chướng, phân ái nhiễm… để được trả công với bốn Thánh quả, được Niết-bàn, giải thoát được sinh tử. Như hàng hai thừa, ba thừa tu để đoạn trừ kiến tư hoặc, giải thoát được luân hồi sinh tử, chứ chưa chứng được các trí tuệ, tam-muội, mười lực, bốn vô sở úy, đại từ đại bi, mười tám pháp không chung… tức chỉ chứng được quả nhỏ. Được Niết-bàn mà chưa phải Niết-bàn, ví như cái giá rất tầm thường để trả công cho người làm việc dọn vệ sinh.
     Khi đứa con hốt phân thì ông Trưởng giả sao đành ngồi nhìn con mình làm việc bẩn thỉu như vậy ? Ông rất muốn gần nó nhưng không được. Vì nó thấy ông sang trọng quá nên gần thì nó bỏ chạy. Tính nó như vậy mà ông thì sang trọng quá nên gần thì chưa thể được. Vì thế ông cởi hết đồ sang quí ra, mặc đồ nhơ vào, lúc ấy mới gần gũi được và bảo: “Anh ráng làm đi rồi ta trả công nhiều cho”. Cũng ví như đức Phật, Ngài gần chúng sinh qua sự hóa thân, ứng thân, tức là thân mang đồ rách, nhơ nhớp và chịu sinh lão bệnh tử như mọi chúng sinh khác 

* Trang 378 *
device

với cái thân xấu xí như vậy. Báo thân nghiêm trang ngồi trên tòa sư tử, pháp thân tốt đẹp không phải thân đó nữa, vì thân người trên tòa sư tử chúng sinh không gần được, nên mới mang thân ứng hóa để đi vào trong đời ngũ trược này, hầu gần gũi với chúng sinh để vỗ về, giáo hóa cho chúng. Khi vỗ về giáo hóa thuần thục rồi thì Ngài nói pháp thượng thừa cho họ.
     Đứa con vào nhà rồi mà tâm hạ liệt vẫn chưa bỏ, đến lúc sau, người cha biết tâm của con đã mở mang, có chí rồi, nhìn vàng nhìn bạc không thấy khởi lòng tham nữa, khi ấy người cha mới hội họp gia tộc lại tuyên bố: “Đây là con ta và ta chính là cha nó. Nó rời xa ta từ nhỏ đi lang thang khổ sở trong 50 năm giờ ta mới gặp lại nó”. Bây giờ tất cả của cải đều trao cho con. Trước mọi người đây, ông trao di chúc cho nó. Đây là ví dụ đức Như Lai ra đời Ngài không nói tiểu pháp mà muốn nói Đại pháp thôi. Di chúc đây là ba thừa đạo, gia tài sự nghiệp là Nhất thừa chánh pháp, (là lênh đênh trong ngũ thú 50 năm, ngũ thú là Thiên, nhân, A-tu-la, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Vì A-tu-la nhiễm qua cả nhơn và thiên nên có khi nói lục thú có khi nói ngũ thú, có khi lục đạo, vì sao ? Vì lục đạo cũng chừng đó, ngũ thú cũng chừng đó. Thiên, nhơn, A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh là đạo, nhưng khi nói ngũ thú thì có A-Tu-la, vì A-tu-la có cả trong Thiên và nhơn), nhưng vì chúng sinh không có chí mong cầu nên đức Phật phải nói tiểu pháp, tức là không nói Nhất thừa mà quyền khai ra ba thừa, do đó mà có phẩm Phương tiện này. Phương tiện giống như quyền khai ba thừa. Nhờ

* Trang 379 *
device

Phật dùng Phương tiện cũng như đứa con nhờ cha dùng phương tiện mới gần gũi người con, rồi sau mới trao gia tài. Nếu ông không dùng phương tiện mật sai hai người dụ dỗ về làm thuê, mặc đồ rách rưới theo nó thì nó sẽ không được giao gia tài. Đức Phật cũng vậy, nhờ có phương tiện thuyết ba thừa giáo mới dụ dẫn chúng sinh mà trao cho Nhất thừa đạo.
     Bấy giờ Maha Ca-diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
     Chúng con ngày nay, nghe âm giáo của Phật hoan hỷ nhảy nhót, được sự chưa từng có, Phật nói hàng Thanh văn sẽ được làm Phật, trân bảo vô thượng không cầu mà tự được. Bạch đức Thế Tôn, con nay xin nói ví dụ: Ví như có người tuổi còn nhỏ, bỏ cha trốn đi đến quốc độ khác lâu xa gần 50 năm, nhưng vẫn nghèo nàn nên tha phương tìm cơm áo. Ngày kia đến chỗ cha ở, từ ngoài nhìn vào, thấy nhiều gia nhân, tôi tớ rất đông, lợi tức ra vào như nước. Những kẻ buôn bán tới lui không chỗ nào không có. Ngàn vạn ức chúng vây quanh cung kính, thường được hàng vương giả ái kính, quần thần hào tộc thảy đều tôn trọng, vì duyên ấy nên người tới lui rất đông. Ông Trưởng giả có thế lực lớn như vậy nhưng tuổi đã già yếu, nên càng lo lắng đến đứa con, đêm đêm suy nghĩ, giờ chết sắp đến mà đứa con ngu si bỏ ta hơn 50 năm, kho tàng báu vật nhiều vô số kể, biết làm sao đây?
     Bấy giờ cùng tử đi cầu tìm cơm áo, từ ấp đến ấp, từ nước đến nước khi có khi không có được, đói khát gầy gò, 

* Trang 380 *
device

thân thể ghẻ lở. Lần lữa trải qua, đi đến nơi thành của cha ở, rồi đến nhà của cha. Bấy giờ Trưởng giả ở trong cửa, trải màn báu lớn, ngồi trên tòa sư tử, quyến thuộc vây quanh, có các thị vệ, kế toán, vàng bạc bảo vật, tài sản thu chi ghi chép giấy tờ. Người cùng tử thấy cha hào quí tôn nghiêm, cho đó là quốc vương hoặc là ngang với quốc vương nên kinh sợ, nghĩ: Mình đến đây làm gì! Nếu ta ở lâu đây thì sẽ bị bức bách, cưỡng sai làm việc. Suy nghĩ như vậy rồi bỏ chạy đi, hỏi thăm nơi xóm nghèo, muốn qua đó để làm thuê. Trưởng giả lúc bấy giờ ở trên tòa sư tử xa thấy biết nó là con mình, liền lặng lẽ bảo gia nhân đuổi bắt đem lại. Cùng tử kinh ngạc la lên và nghĩ thầm: Người này mà bắt ta thì chắc chắn ta bị giết, đâu cần phải cơm áo mà khiến ta đến đây. Nó bị kích động, sợ hải nên ngất lịm. Vị Trưởng giả biết người con ngu si hạ liệt, không biết ta là cha nó, liền dùng phương tiện bảo hai gia nhân, chột một mắt lùn xấu xí, không có oai đức: Hai anh có thể nói với người đó rằng Ta sẽ thuê dọn phân, giá trả gấp đôi. Đứa cùng tử nghe vậy hoan hỉ đi theo để làm vệ sinh. Vị trưởng giả nơi cửa sổ, thấy đứa con mình, nghĩ đứa con mình ngu hèn, cứ ưa việc xấu xa, quê kệch.
     Bấy giờ vị Trưởng giả mới mặc áo nhớp, rách rưới, cầm đồ dọn phân đi đến chỗ con, phương tiện bảo nó: Hãy làm cho giỏi, ta sẽ trả giá thêm cho anh và cho thêm dầu xức, đồ uống ăn đầy đủ, chiếu giường ấm áp. Sau đó ông nói lời dịu ngọt: Anh hãy siêng làm, anh như con ta. Ông Trưởng giả là người có trí, lần lần khiến nó ra vào trải qua 20 năm chấp tác việc nhà và chỉ cho nó biết chỗ 

* Trang 381 *
device

để vàng bạc, châu báu, các việc thu nhập cho nó biết cả. Nhưng nó vẫn ở ngoài cửa, ở am tranh cũ và tự nghĩ đến việc nghèo hèn của mình: ta không sở hữu vật đó, đồ vật đó không phải của ta. Một thời gian sau, người cha biết tâm ý người con chí đã khôn lớn,  nên muốn cho nó gia tài, liền nhóm thân tộc, quốc vương, đại thần, Sát-lợi, cư sĩ lại và ở trước đại chúng mà nói rằng: Đây là con ta bỏ ta đi xa trải qua hơn 50 năm. Từ khi thấy con ta trở về thì đã 20 năm. Xưa ở nơi thành kia mà mất đứa con, Ta đi khắp để tìm cầu thì nó đến ở đây. Nó là sở hữu của ta, của cải nhân dân ta đều phó chúc cho nó, tha hồ nó sử dụng. Đứa con nghĩ mình xưa nay nghèo hèn, ý chí hạ liệt mà nay được gia tài là việc chưa từng có.
     Phật cũng như vậy, Ngài biết chúng con ưa pháp nhỏ nên Ngài chưa từng nói: Các ông sẽ làm Phật. Ngài chỉ nói chứng được vô lậu (dứt phiền não, kiến tư hoặc) thành tựu Tiểu thừa. Phật thường bảo chúng con nói đạo Vô thượng, ai tu tập đạo đó sẽ được thành Phật. Chúng con vâng lời dạy của đức Phật, vì các hàng Bồ-tát đem cái nhân duyên, thí dụ, bao nhiêu ngôn từ để nói đạo Vô thượng. Các hàng Phật tử theo con nghe pháp đêm ngày suy nghĩ tinh tấn siêng năng tu tập, bấy giờ chư Phật liền thọ ký cho họ: “Các ông tương lai sẽ làm Phật”. Tất cả các pháp bí tàng của chư Phật chỉ vì hàng Bồ-tát tuyên nói điều đó. Như đứa cùng tử kia tuy biết cha nó nhưng tâm không hy cầu gì cả. Chúng con tuy nói bảo tạng Phật pháp nhưng không có chí nguyện về pháp bảo tạng ấy. Chúng con chỉ biết diệt được phiền não mà tự cho là đủ. Duy biết được việc đó chứ không biết

* Trang 382 *
device

việc gì nữa. Phật nói những việc như Thanh tịnh Phật độ để giáo hóa chúng sinh, Phật nói như vậy thì chúng con không thích, vì sao ? Vì theo như lời Phật nói thì tất cả các pháp đều là không tịch, không sinh, không diệt, không lớn không nhỏ, không lậu, không vi. Suy nghĩ như vậy nên con không ưa thích pháp đó. Các pháp Đại thừa đó là thật tướng. Chúng con suốt đêm đối với trí tuệ của Phật, không  tham, không đắm, không có một chí nguyện gì hết về cái pháp gọi là cứu cánh Niết-bàn. Chúng con chỉ lo tu tập để giải thoát hoạn nạn ba cõi mà thôi chứ không hy cầu Pháp Nhất thừa.
     Ở trong thân cuối cùng các hàng Thanh văn đã được Hữu dư, Vô dư Niết-bàn. Lời giáo hóa của Phật, chúng con đã tu theo và được đắc quả không hư dối. Điều đó chúng con đã được và đã  báo đáp một phần cái ân của Phật. Chúng con tuy là Phật tử  nói pháp Bồ-tát để cầu Phật đạo, nhưng ở trong pháp đó chúng con không có nguyện mong gì hết, nên đức Đạo sư buông bỏ chúng con, vì chúng con không có căn cơ, tâm của chúng con ban sơ không tinh tấn, để nói sự lợi ích chơn thật. Như ông Phú trưởng giả kia biết ý chí của con mình hạ liệt nên dùng sức phương tiện, mới dịu mềm hàng phục tâm của nó, vậy sau mới phú chúc tài vật cho nó.
     Phật cũng như vậy, hiện ra những việc hy hữu, biết những kẻ ưa pháp nhỏ nên dùng sức phương tiện điều phục tâm của chúng con, rồi mới dạy Đại thừa cho chúng con được như ngày nay, chẳng phải điều mà trước kia chúng con hy cầu mà không được thì nay đây tự được, cũng y như đứa cùng tử kia được vô lượng châu báu.

* Trang 383 *
device

     Thưa đức Thế Tôn, con nay được đạo được quả rồi, đối với pháp vô lậu được con mắt thanh tịnh (tức là kiến đạo).
     Trong Nikàya thường nói đắc pháp nhãn tịnh là thấy được lý Tứ đế.
     Chúng con suốt đêm thọ trì tịnh giới của Phật, thì ngày nay mới được quả báo đó. Ở trong cái pháp của đấng Pháp vương, tu phạm hạnh lâu ngày, nay được vô lậu, được đạo quả vô thượng thì chúng con nay đây mới được gọi là Thanh văn, tức nhờ âm thanh của Phật đạo mà khiến cho tất cả được nghe, chúng con nay đã đắc quả A-la-hán.
     Đối với thế gian, hàng Trời, Người, Ma, Phạm, khắp trong các hạng đó, chúng con đáng được cúng dường. Cái ân lớn của đức Thế Tôn dùng các việc hy hữu, thương xót, giáo hóa lợi ích chúng con, trải qua vô lượng kiếp ai mà báo được cái ơn đó, dù cho tay chân cung cấp, đầu lễ tất cả cúng dường, cũng không thể báo được ân của Phật. Hoặc nếu đầu đội hai vai gánh vác, trải qua hằng số kiếp tận tâm cung kính, lại dùng đồ ăn ngon và vô lượng áo báu và ngọa cụ, các thứ thuốc thang và hương chiên-đàn ở trên núi Ngưu Đầu, cùng các trân bảo dùng để khởi tháp miếu, y báu để trải đất, những việc như thế dùng để cúng dường, trải vô lượng kiếp cũng không thể báo ân đó được.
     Chư Phật hiếm có, vô lượng vô biên bất khả tư nghì, có đại thần thông lực, bất khả tư nghì pháp vô lậu, vô vi, là vua của các pháp, vì chúng sanh hạ liệt mà hạ mình xuống, bỏ thân tốt đẹp, mang lấy tướng phàm phu, để tùy

* Trang 384 *
device

theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp. Các đức Phật đối với pháp rất tự tại, lại biết các sự dục lạc của chúng sinh và trí tuệ của các chúng sinh.
     Ở đây tôi nói về trường hợp khế lý và khế cơ: Đối với pháp, Phật tự tại không bị chướng ngại bởi một  pháp nào cả. Pháp nào Ngài cũng biết rõ thực tướng thực tánh của nó, tức nhiên là đắc pháp tự tại. Không những đắc pháp tự tại mà còn biết căn cơ của chúng sinh tức là khế lý khế cơ. Lại cũng tùy sức của chúng sinh có thể nhận lãnh chừng nào, thì Phật dùng vô lượng trí tuệ mà thuyết pháp cho họ chừng ấy. Tùy thiện căn đời trước của chúng sanh và biết thiện căn đó thành thục hay chưa thành thục, mới nói đạo Nhất thừa, tức tùy nghi thuyết pháp.
     Như chúng ta đã biết qua hai thí dụ: 1. Thí dụ nhà lửa ba xe; 2. Thí dụ đứa con bỏ cha trốn đi, người cha cố tìm.
     Chúng ta cùng nhau tìm xem hai thí dụ đó nó đồng và khác nhau chỗ nào ? Ví dụ trên do đức Phật nói ra, còn ví dụ sau do bốn đại đệ tử  nói, tức do Tôn giả Ca-diếp đại diện nói ra (chữ “ngã đẳng” là chỉ cho bốn vị chứ không phải một).
     Chúng ta thấy ở đây không nói nhà lửa, không nói ba xe, nhưng cũng cùng trong ý do  nơi Nhất thừa đạo tùy nghi thuyết pháp. Trong nhà lửa ba xe là đối chung với cả phàm phu và Thanh văn đệ tử, còn ví dụ sau là đối riêng với hàng Thanh văn. Trong nhà lửa ba xe, người cha từ trong nhà lửa, các con không thấy nhà, không thấy lửa, mà chỉ thấy sự đắm say trong dục lạc, ông cha bảo 

* Trang 385 *
device

các con chạy ra, còn nếu không thì bị cháy. Nhưng chúng không nghe, vì dục lạc mạnh hơn, nên chúng nó mãi cứ ham chơi. Ông dựa theo tính ham chơi của nó mà dụ dỗ: “Ta có ba xe, các con thích xe nào thì cứ tùy ý lấy xe ấy”. Chúng nó thích ý vì tâm khoái dục lạc mạnh nên bỏ nhà lửa chạy ra ba xe. Ông cha từ trong nhà lửa đi ra, dùng ba xe để dụ dỗ chúng và đưa các con ra khỏi nhà lửa. Ngược lại trong ví dụ này ông cha ở trong cảnh giới sang trọng, ngồi trên tòa sư tử, châu báu đầy mình, người hầu hạ xung quanh như vua, nhưng không làm sao gần đứa con cùng khổ được, phải thay đồ châu báu bước khỏi tòa sư tử, bận đồ rách rưới, xấu xí để gần gũi con dụ nó về mà trao gia tài cho nó.
      Ở đây chúng ta thấy hai ví dụ khác nhau: Ví dụ trước nói ba xe rõ ràng. Ví dụ này không nhắm về ba xe mà nhắm về cách thức ông Trưởng giả dùng phương tiện hạ mình, như Phật phải hạ mình tách khỏi pháp thân, báo thân, ở trong ứng hóa thân là cốt để gần gũi chúng sinh trong cảnh ngũ trược mà giáo hóa cho chúng dần dần, và cuối cùng mới dùng phương tiện để trao gia tài.
     Đó là phương tiện so sánh để từ nơi Nhất thừa nói ba thừa, đây là Phật phương tiện để giáo hóa chúng sanh. Nếu Ngài không dùng phương tiện mà tán thán thẳng Phật trí, thì với chúng sinh căn cơ chưa thuần thục ắt chúng không lãnh thọ được. Đó là phương tiện giáo của Phật mà trong kinh này gọi là tán thán quyền trí phương tiện. Nếu không có phương tiện thì bao nhiêu giáo pháp vô thượng thậm thâm 

* Trang 386 *
device

cũng chỉ mình đức Phật có, chứ không làm sao trao cho chúng sinh được. Thiếu phương tiện thì giáo pháp đó cũng vô dụng. Phật biết thuốc hay mà không có phương tiện thì không sao cứu chúng sinh được.
     Tóm lại, cả hai ví dụ đều tán thán trí phương tiện và cách thức dùng phương tiện để giáo hóa chúng sinh.
     Ở đây ta nói trên phương diện khế lý và khế cơ thì phương tiện này là khế cơ, đặt nặng vấn đề khế cơ hơn khế lý. Nhờ có khế cơ mới có khế lý. Ông thầy thuốc hay mà không có khế cơ, thì thuốc hay của ông cũng cất trong tủ mà thôi. Không có khế cơ thì khế lý không thành. Trong cả hai ví dụ này đều nhằm tán thán phương tiện khế cơ của đức Phật. Ví dụ một là tán thán rằng, muốn dắt những đứa con ra khỏi nhà lửa thì phải dùng ba xe dụ dỗ chúng. Ví dụ hai là tán thán ông Trưởng giả, ngồi trên tòa sư tử giáo hóa nó không được, phải bước xuống tòa sư tử, tương ứng hóa thân bằng cách mang một cái thân rách rưới, xấu xa của kẻ phàm phu, thì mới có thể gần gũi chúng sinh được, chứ còn thân sang trọng thì không được.
 
*
*      *

* Trang 387 *
device

 
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa