LOGO VNBET
2. NEPAL VÀ KASMIR
Những cuộc thảm sát của người Hồi giáo đã buộc nhiều tăng sĩ và học giả của vùng Bắc Ấn phải chạy qua Nepal, mang theo kinh sách và thánh tượng. Và như vậy, Nepal trở thành nơi bảo tồn của Phật giáo Pāla. Tuy nhiên, ngay cả việc chư tăng từ Ấn Độ đến cũng không tạo ra được một sức sống mới cho Phật giáo Nepal. Và sau năm 1000, toàn cảnh Phật giáo nơi đây ngày càng suy thoái. Sự ủng hộ của hoàng gia đã giữ cho Tăng-già tồn tại được một thời gian, và trong vài thế kỷ, đất nước này vẫn tiếp tục là một trung tâm văn hóa Phật giáo.
Các học giả có thể xác định được mức độ suy thoái bằng vào chất lượng các bản chép tay kinh điển tiếng Sanskrit. (1) Vào khoảng năm 1200, các bản văn này rất hoàn hảo. Đến thế kỷ 17, chúng được đánh giá là tạm được, và qua thế kỷ 19 thì trở nên quá cẩu thả và luộm thuộm đến nỗi gần như không còn đáng tin cậy. Tương tự như vậy, chất lượng nghệ thuật cũng xuống dốc một cách đều đặn.
Với sự sụp đổ của Phật giáo Ấn Độ, tín đồ Phật giáo Nepal giờ đây phải dựa vào sức mạnh của chính mình. Sau khi thu hẹp về một vùng thung lũng nhỏ, họ dần dần nhượng bộ trước những người theo đạo Hindu trong chừng trên dưới một trăm năm. Cho đến thế kỷ 14, các tăng sĩ đi đến quyết định rằng những giới luật trong đời sống tu viện là quá khó khăn không thể tuân theo, nên họ tự chuyển sang thành một nhóm của đạo Hindu, tự gọi là banras (những người đáng kính). Họ từ bỏ nếp sống giữ tịnh hạnh, (2) vào sống trong những tinh xá (3) cùng với gia đình, và từ đó tiếp tục kiếm sống bằng cách hành nghề như những thợ kim loại. Thiếu đi thành phần ưu tú, Phật giáo Nepal chỉ còn có thể giữ lại một vài hình thức bên ngoài mà thôi. Một số các thần thánh được thờ cúng theo kiểu của các vị thần Hindu, và trong nhiều thế kỷ, chỉ còn riêng có giới cư sĩ Phật giáo hiện diện ở Nepal. Những vị thần phổ biến nhất là Matsyendranath, "Ngư vương thần", một vị tu thiền
_________________
(1) Hai loại chữ viết chính được dùng trong các kinh văn cổ là tiếng Sanskrit và tiếng .

* Trang 266 *
device

2. NEPAL AND KASHMIR
The Moslem persecutions induced many monks and scholars of Northern India to flee to Nepal, bringing their books and holy images with them. Nepal thus became a repository of Pala Buddhism. Nevertheless even the arrival of the refugees from India failed to infuse new vigour into the Buddhism of Nepal, and after AD 1000 it presents a picture of increasing decay.
Royal patronage kept the Sańgha alive for some time, and for a few "centuries the country remained a centre of Buddhist culture. Scholars can determine the extent of the decadence by the condition of the Sanskrit manuscripts. These are very good about AD 1200, they become fair in the seventeenth century, and in the nineteenth they become so careless and slovenly that little reliance can be placed on them. Likewise the quality of the art goes steadily down and down. With the collapse of Buddhism in India the Buddhists of Nepal had to rely on their own strength. Reduced to one small valley, they capitulated to
Hinduism within a hundred years or so. In the course of the fourteenth century the monks decided that the monastic rules were too difficult to keep, and they transformed themselves into a Hindu caste, calling themselves the banras ("honourable ones")- They gave up their celibacy, moved into the vihdras with their families, and have ever since continued to earn their living as metal workers. Deprived of its elite, Nepalese Buddhism could only preserve some of the outward forms of the religion. A number of deities are worshipped in the manner of Hindu gods and for centuries lay Buddhism alone has prevailed in Nepal.
The most popular deities are Matsyendranath, "Lord Indra of
____________________
(2) Tịnh hạnh (淨行): giới hạnh trong sạch, ở đây có nghĩa là không phạm vào dâm dục.
(3) Vihāras, nguyên nghĩa là tinh xá (精舍), trụ xứ của chư tăng, vẫn thường bị đọc sai là tịnh xá. Tuy nhiên, ở Thái Lan và Tích Lan, danh từ này chỉ chánh điện, nơi thờ Phật.

* Trang 267 *
device

hóa thành thần, được xem như là đức Quán Thế Âm, và thần Đà-la, (1) "Nữ thần cứu khổ". Tuy nhiên, sau nhiều thế kỷ vị thần nữ này đã nhường chỗ cho thần nữ Kali của đạo Shiva.
Trong sự thờ cúng của dân gian, những đường phân chia với đạo Hindu ngày càng trở nên mờ nhạt. Trong một số trường hợp, cùng một hình tượng được thờ cúng ở cả hai tôn giáo. Chẳng hạn như, đạo Hindu xem vị hộ pháp Đại Hắc (2) như là thần Shiva hay Vishnu, còn tín đồ Phật giáo gọi vị này là Kim cang thủ; hoặc những tín đồ Hindu đi hành hương ở Tundiktel lễ cúng vị thần bảo vệ của Nepal, và cũng vị thần đó, tín đồ Phật giáo gọi là Liên hoa thủ. (3)
Nhưng không phải đời sống tinh thần và học thuật đã hoàn toàn mất hẳn. Ông Hodgson, một toàn quyền Anh, (4) cho chúng ta biết rằng vào đầu thế kỷ 19 có 4 trường phái triết học. Đó là Svabhavikas, Aisvarikas, Karmikas và Yatnikas. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều viên toàn quyền người Anh khác, ông không thích triết học, từ chối không muốn bị lôi kéo vào những chuyện phi lý dai dẳng của hệ thống Phật giáo, và những điều ghi lại của ông về sự khác biệt giữa các trường phái này không có ý nghĩa mấy. Thật kỳ lạ là kể từ đó về sau cũng không có ai cố gắng xác định những điểm tranh cãi đó.
Năm 1768, sự chinh phục của dân Gurkha đã đẩy những tín đồ Phật giáo Newar vào hoàn cảnh của kẻ bị trị. Và đó là đòn kết liễu cuối cùng, đẩy nhanh hơn nữa sự diệt vong vốn dĩ đã là một kết quả không thể nào tránh được, dẫn đến từ sự biến mất của Tăng-già, những vị tăng sĩ theo nếp sống không gia đình.
Trong những năm gần đây, nhiều đoàn truyền giáo từ Tích Lan và Tây Tạng đã cố gắng thành lập một giáo hội Tăng-già mới ở Nepal, và bất cứ sự hồi sinh nào của Phật giáo nơi đây đều tùy thuộc vào sự thành công từ những nỗ lực của họ.
__________________
(1) Tārā
(2) Mahākāla, Hán dịch là Đại Hắc (大黑), là vị hộ pháp chính theo truyền

* Trang 268 *
device

the Fish", a deified Yogin, identified with Lokesvara, and also Tara, the "Saviouress", who, however, as the centuries passed on, has lost ground to the Sivaite Kali.
In the popular cult the dividing lines from Hinduism have become more and more blurred. In some cases the same image does service for both, e.g. the Hindu looks upon Mahakala as Shiva or Vishnu, the Buddhist as Vajrapani; or Hindu pilgrims at Tundiktel worship the guardian deity of Nepal, Buddhists the same image as Padmapani.
Not that all scholarship and intellectual life has been completely extinct. Hodgson, the British Resident, tells us that early in the nineteenth century there were four philosophical schools, called the Svabhavikas, Aisvarikas, Karmikas and Yatnikas. But, like so many other English Proconsuls, he had no taste for philosophy, refused to be drawn into "the interminable absurdities of the Bauddha system", and his account of their differences gives little sense. Curiously enough, no one since has tried to determine the points in dispute.
The conquest of the country by the Gurkhas in 1768 reduced the Buddhist Newars to the status of a subject race, and that was the final blow which further accelerated the decay which was the inevitable consequence of the disappearance of the Sańgha of homeless monks.
In recent years missionaries from both Ceylon and Tibet have attempted to found a new Sańgha in Nepal, and any revival of the religion will depend on the success of their endeavours.
________________
thống Kim cang thừa, cũng được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.
(3) Padmapāņi, Hán dịch là Liên hoa thủ (蓮華手), người cầm hoa sen, cũng là một tên khác của Bồ Tát Quán Thế Âm.
(4) Đại diện chính phủ Anh giữ quyền cai trị ở các thuộc địa trước đây.

* Trang 269 *
device

 
Lược Sử Phật Giáo