LOGO VNBET
không được tham dự vào chính trị. Đất đai bị tịch thu, và bị cấm không được làm lễ cầu siêu tại các tang lễ. Tại Seoul, 23 tự viện đang hiện hữu bị đóng cửa, và nói chung Phật giáo bị ngăn trở.
Mặc dù vậy, vì là một tôn giáo của quần chúng, nên Phật giáo vẫn tồn tại trong rặng núi Diamond hiểm trở, cách xa những thành thị.
Về mặt giáo lý thì Phật giáo ở Triều Tiên là sự pha trộn thông thường theo kiểu Trung Hoa, giữa Thiền tông, Tịnh độ tông và những tín ngưỡng bản địa.
Từ năm 1810 đến 1945, người Nhật ủng hộ Phật giáo. Nhưng Phật giáo vẫn ở trong tình trạng suy yếu. Năm 1947, tại Triều Tiên có khoảng 7.000 tăng sĩ.
 
6. NHẬT BẢN
Trong thời kỳ này, một sự phát triển mạnh mẽ lần thứ hai của Phật giáo Nhật Bản lại diễn ra. Từ năm 1160 đến 1260, những bộ phái mới hình thành làm thay đổi hoàn toàn tính cách của Phật giáo Nhật Bản, giờ đây đã đạt đến đỉnh cao của năng lực sáng tạo độc đáo. Vào thời đại Liêm Thương (1192-1335), các tông Tịnh độ và Thiền nổi bật lên hẳn, cũng giống như ở Trung Hoa sau năm 1000.
Tông Tịnh độ đầu tiên, được biết với tên là Yuzu Nembutsu,1 đã được Ryonin sáng lập từ trước năm 1124. Vị này đã đạt được giác ngộ nhờ vào việc niệm Phật liên tục. Cụ thể là ông đã niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật đến 60.000 lần mỗi ngày. Ông còn dạy rằng, việc niệm Phật như thế này sẽ tạo được công đức vô cùng lớn lao nếu người niệm phát tâm vì người khác chứ không vì mong cầu cho riêng mình. Tông phái này mặc dù vẫn tồn tại, song chưa lúc nào thu hút được số đông tín đồ.
Gây được ảnh hưởng lớn hơn nhiều là một tông Tịnh độ khác, sáng lập bởi ngài Pháp Nhiên2 (1133-1212) một vị tăng rất thông thái và nhân từ. Năm 1175, lúc 43 tuổi, những tác phẩm của ngài

* Trang 292 *
device

official support and a share in political life, their lands were confiscated, they were forbidden to pray at funerals, the twenty-three convents existing in Seoul were closed, and Buddhism was generally discouraged. As a religion of the masses it nevertheless persisted, away from the cities, in the rather inaccessible Diamond Mountains. Doctrinally, this Buddhism was the usual Chinese mixture of Ch'an, Amidism and local superstitions. Between 1910 and 1945 the Japanese fostered Buddhism, but it remained in a rather debilitated condition. In 1947, about 7,000 monks were counted in Korea.

6. JAPAN
During this period a second flowering of Buddhism took place in Japan. Between 1160 and 1260 new sects arose which entirely changed its character, and Japanese Buddhism now reached the height of its originality and creative power. In the Kamakura period (1192-1335) the Amida schools and Zen came into the foreground, just as they did in China after AD 1000.
The first Amida sect, known as the Yuzu Nembutsu, was founded already in 1124 by Ryonin, who saw the way to salvation in the constant recitation of the "Nembutsu", i.e. of the formula Namu Amida Butsu, up to 60,000 times a day. He also taught that this invocation was infinitely more meritorious if repeated on behalf of others than for one's own selfish ends.
His sect, though still in existence, never commanded a large following. Far more influential was the Jodo, or "Pure Land", school, founded by Honen (1133-1212), an exceptionally learned and gentle priest. In 1175, at the age of 43, Shan-tao's
_______________
(1) Nembutsu trong tiếng Nhật có nghĩa là niệm Phật.
(2) Hōnen

* Trang 293 *
device

Thiện Đạo (1) đưa ông đến kết luận rằng, vào thời kỳ mạt pháp này, những chuẩn mực đạo đức truyền thống và các nguyên tắc tinh thần của Phật giáo đã không còn đủ để mang lại hiệu quả nữa. Trong thời mạt pháp, dù chúng ta có cố gắng làm gì đi nữa bằng vào tự lực (2) của mình cũng chỉ là vô ích. Sự bình yên chỉ có thể có được nhờ vào tha lực, (3) trong sự buông xả bản thân và nương tựa vào một sức mạnh cao cả hơn, đó là nguyện lực của đức Phật A-di- đà. Vì thế, ngài Pháp Nhiên từ bỏ tất cả những công phu hành trì tu tập khác và để hết tâm trí vào việc chuyên cần niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Điều quan trọng duy nhất là phải "niệm danh hiệu Phật với sự tập trung hoàn toàn tâm ý - dù khi đi hay đứng, khi nằm hay ngồi, đều không gián đoạn chút nào". Trong thời đại đầy dẫy những điều xấu ác, cách giải thoát duy nhất là nỗ lực để được vãng sanh về cõi Tây phương Tịnh độ của Phật A-di-đà, (4) và những phương pháp tu tập, (5) bao gồm các việc thiện và công phu hành trì tu tập, không còn đủ tác dụng nữa. Điều cần thiết là chỉ cần đặt hết lòng tin vào đức Phật A-di-đà. Đức tin này có thể giúp cho ngay cả người đã phạm vào tội lỗi nặng nề nhất cũng có thể sanh về cõi Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Tuy nhiên, từ những khẳng định này, ngài Pháp Nhiên không hề đưa ra hàm ý đả kích việc nghiêm trì giới luật. Ngài buộc các tín đồ tin theo mình phải xa lánh điều ác, vâng giữ giới luật và cũng không được đánh mất lòng kính trọng đối với các vị Phật khác cũng như với kinh điển. Giáo lý của ngài đã ngay lập tức giành được sự tin tưởng ở triều đình, trong giai cấp quý tộc, giai cấp võ sĩ và tăng lữ. Và trào lưu mới này tự nó đã tồn tại một cách dễ dàng trước sự đối nghịch của những tông phái trước đó.
Tịnh độ tông tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay mà không có thay đổi gì nhiều. Nhưng vào thế kỷ 14, vị tổ thứ 7 là Ryoyo Shogei đã diễn giải lại giáo lý này theo một cách lôi cuốn hơn và tạo được nhiều ảnh hưởng hơn. Ngài nói rằng, vãng sanh về Tịnh độ không có nghĩa là được chuyển đến một nơi nào khác, mà thật ra cõi Tịnh độ ở khắp mọi nơi, và sanh về Tịnh độ chỉ là một sự thay đổi của
________________
(1) Shan-tao

* Trang 294 *
device

works led him to the conclusion that the traditional Buddhist moral and mental disciplines were no longer effective in this age of decay. Whatever in such an age we may do by our own efforts (jiriki) is of no avail. Peace can only be found through the strength of another (tariki), in self-surrender and in reliance on a higher power, that of the Buddha Amitabha. Honen therefore abandoned all other religious practices, and devoted himself exclusively to the recitation of Amida's name. All that matters is to "repeat the name of Amida with all your heart - whether walking or standing still, whether sitting or lying, never cease to practise it for even a moment!" In these evil days the only way to obtain salvation is to strive to be reborn in Amida's "Western Paradise" (Jo-do), and the "holy path" (sho-do), consisting of good works and religious exercises, no longer works. A simple faith in Amida is all that is needed. It will carry even the greatest sinner into Amida's Blessed Land. Honen drew, however, no antinomian inferences from this assertion and enjoined his followers to avoid sin, to observe the monastic regulations, and also to show no disrespect to the other Buddhas and to the Sutras. His teaching had an instantaneous success at the Court, among the aristocracy, the Samurai and the clergy, and the new movement maintained itself easily against the hostility of the older sects. The Jodo school has continued to the present day without much modification. But in the fourteenth century the seventh patriarch Ryoyo Shogei made an interesting and influential re-interpretation. Rebirth in the Pure Land, so he said, does not mean that one is transported into another region, but the Pure Land is everywhere, and to go there is a change
___________________
(2) Jiriki
(3) Tariki
(4) Jōdo
(5) Shōdō, nguyên nghĩa là thánh đạo, là con đường của bậc thánh, chỉ những phương pháp tu tập dẫn đến giải thoát.

* Trang 295 *
device

tâm thức và hoàn cảnh, chứ không phải thay đổi nơi chốn. Điều này thật rất phù hợp với truyền thống của Đại thừa.(1)
Một sự đơn giản hóa hơn nữa của giáo thuyết A-di-đà được Thân Loan (2) thực hiện có hiệu quả. Ông sinh năm 1173, là đệ tử của ngài Pháp Nhiên, và là người sáng lập Chân tông. (3) Tên gọi này là rút gọn của Tịnh độ chân tông. (4) Ông phá bỏ những truyền thống của đời sống tự viện, lập gia đình và khuyên tăng sĩ nên làm theo như vậy. OÂng coi việc niệm Phật liên tục là không cần thiết, và khẳng định rằng chỉ cần một lần nhớ đến đức A-di-đà với sự thành tâm là đủ để được vãng sanh về cõi Cực Lạc của ngài. Tuy nhiên, niềm tin vào đức Phật A-di-đà là ân huệ được chính ngài ban tặng. Về đạo đức, Thân Loan cho rằng một người độc ác có nhiều khả năng được vãng sanh về cõi Tịnh độ hơn là một người thiện, vì người này thường ít tự tin vào năng lực và công đức của mình. Tăng sĩ của tông phái này phủ nhận mọi tri thức, nhưng vì những giáo lý của họ thường dễ bị hiểu sai, nên rất nhiều lý thuyết phức tạp về thần thánh dần dần được đưa vào theo thời gian. Lòng mộ đạo của tông này và các tông phái A-di-đà khác đã dẫn đến việc tạo ra rất nhiều ảnh tượng của đức Phật A-di-đà, và nhiều bài tụng tán về ngài cũng được viết ra bằng tiếng Nhật. Thân Loan nhắm đến việc phá bỏ rào chắn giữa tôn giáo với những người bình dân, và Chân tông thực sự đã trở thành một trong những tông được ưa chuộng rộng rãi nhất, và vẫn còn giữ được tính phổ cập ấy cho đến tận ngày nay.
Tông phái A-di-đà thứ ba, ít thành công hơn, được Nhất Biến (5) thành lập vào năm 1276, gọi là Thời tông,6 để hàm ý đây là tông
________________
(1) Tinh thần này cũng hoàn toàn phù hợp với cách giảng giải của Lục Tổ Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Nghi vấn.
(2) Shinran, Hán dịch âm là Thân Loan (親鸞), ngài sinh năm 1173 và mất năm 1262, để lại khá nhiều trước tác bằng tiếng Nhật.
(3) Shin-shū
(4) Jōdo shinshū
(5) Ippen, Hán dịch là Nhất Biến (一遍- 1239-1289), người sáng lập Thời tông (時宗), tông phái có tự viện chính là Yugyōji (Du Hành tự -遊行寺) ở Fujisawa. Nhất Biến sinh ở vùng mà ngày nay là Ehime và theo học từ nhỏ với một môn đồ của ngài Hōnen (Pháp Nhiên - 法然). Ông đã có lần hoàn

* Trang 296 *
device

of mind and condition, and not of place. This is very much in agreement with the tradition of Mahāyāna.
A further simplification of Amidism was effected by Shinran (born 1173), one of Honen's disciples, and the founder of the Shin sect, the word shin being an abbreviation of Jodo Shinshu, "the True Jodo Sect". Shinran broke with the monastic traditions, got married and advised his followers to do likewise. He regarded the constant repetition of the Nembutsu as unnecessary, and asserted that to call on Amida once only with a believing mind was sufficient to secure birth in His Paradise. The faith in Amida is, however, Amida's own free gift. As to the problem of morality, Shinran maintained that a wicked man is more likely to get into Amida's Land than a good man, because he is less likely to trust in his own strength and merits. The clergy of this sect disclaimed all learning, but as the teachings lend themselves to misunderstanding, great theological subtleties were evolved in the course of time. The devotional practices of this and other Amida schools led to the multiplication of images of Amida, to whom also hymns (wasan) in Japanese were written. Shinran aimed at breaking down the barriers between religion and the common people, and in fact the Shinshu became one of the most popular sects and has remained so to the present day.
Less successful was the third Amidist sect, founded by Ippen
________________
tục, nhưng về sau đi tu lại. Sau một chuyến hành hương đến chùa Zenkōji (Thiện Quang tự - 善光寺) ở Nagano, ông đến trú tại một ngôi chùa hoang vắng ở Ehime và cố hết sức thực hành công phu tu tập, cuối cùng đạt được một sự cảm ứng tương thông với đức Phật A-di-đà. Qua kinh nghiệm giác ngộ của mình, ông cho rằng người ta có thể được vãng sinh về Tịnh độ, bất chấp những công phu tu tập trước đây của họ là như thế nào, chỉ cần bằng vào công đức niệm Phật hiện tại là đủ. Sau đó, ông lang thang du hóa khắp nơi, bằng cách phân phát cho mọi người những bản hướng dẫn ngắn, trong đó chỉ rõ cách niệm Phật theo tông phái mình. Tương truyền là ông đã hóa độ cho hàng ngàn người theo cách này. Khi sắp mất vào năm 1289, ông đốt sạch tất cả những gì đã viết ra. Vì thế, không có tác phẩm nào của ông còn giữ được đến nay.
(6) Ji-shū

* Trang 297 *
device

phái thích hợp với thời suy thoái này. Theo truyền thống của Thần đạo, Nhất Biến xem một số thần linh của đạo này như đức Phật A-di-đà, nhưng riêng về phép niệm Phật, ông cho rằng đức tin là không cần thiết, vì đó chỉ là hoạt động của một tâm thức đã hư hỏng. Việc niệm danh hiệu đức A-di-đà chỉ có kết quả nhờ vào âm thanh phát ra, như một hoạt động của bên ngoài, bản chất là như vậy.
Tông phái thứ tư được Nhật Liên, (1) con trai của một ngư phủ, thành lập năm 1253. Tông phái này khác với tất cả những tông phái Phật giáo khác ở điểm là nặng về tính dân tộc, hay tranh cãi và cố chấp. Có phần đáng ngờ là tông phái này có nên xếp vào lịch sử Phật giáo hay không. Lòng nhiệt thành yêu nước của Nhật Liên là do những tình cảm dân tộc lúc đó bị kích động mạnh bởi mối đe dọa kéo dài về sự xâm lăng của quân Mông Cổ, sau cùng đã chấm dứt bởi sự rút lui của các hạm đội Khubilai (2) vào những năm 1274 và 1281. Nhật Liên thay thế việc niệm Phật bằng cách niệm câu "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh" và tuyên bố rằng chỉ có câu này là thích hợp với thời đại này, thời đại cuối cùng của Phật giáo, thời mạt pháp, mà theo ông đã bắt đầu từ khoảng năm 1050. Nhật Liên luôn nói ra với lòng tin tuyệt đối theo kiểu của một nhà tiên tri Do Thái và đòi ngăn chặn tất cả các tông phái, trừ ra tông phái của chính mình. Vì theo ông thì "niệm Phật là địa ngục, Thiền tông là ma quỷ, Chân ngôn tông là sự hủy hoại đất nước và Luật tông là những kẻ phản quốc". Chính qua sự kiện này Phật giáo đã tự đưa ra được những phản đề cho chính mình.
_________________
(1) Nichiren, Hán dịch là Nhật Liên (日蓮 - 1222-1282), thành lập tông phái được gọi là Nichirenshū (Nhật Liên tông- 日蓮宗). Ngài là con một ngư phủ ở vùng Chiba, xuất gia năm 11 tuổi tại chùa Seichoji (Thanh Trừng tự - 清澄寺). Sau khi đã nghiên cứu Phật pháp qua nhiều nơi khác nhau như Kamakura (Liêm Thương - 鎌倉), Kyoto (Kinh Đô - 京都), Tỉ Duệ Sơn (比 叡山)... ngài đi đến kết luận rằng kinh Pháp Hoa là bộ kinh hàm chứa giáo pháp vi diệu nhất của đức Phật. Sau đó, ngài dùng hết sức mình để truyền bá những điều đã biết. Mặc dù lôi cuốn được khá nhiều tín đồ, ngài liên tục
 

* Trang 298 *
device

in 1276, and called the Ji, or "the Time", to indicate that it was the proper religion for these degenerate times. In the tradition of the Ryobu-Shinto he identified a number of Shinto deities with Amida, but as for the Nembutsu Ippen even regarded faith as unnecessary, for is it not an activity of the corrupt human mind? The recitation of Amida's name is effective as a result of the sound alone, ex opere operate, as it were.
The fourth devotionalist sect, founded in 1253 by Nichiren, the son of a fisherman, differs from all other Buddhist schools by its nationalistic, pugnacious and intolerant attitude and it is somewhat doubtful whether it belongs to the history of Buddhism at all. The patriotic fervour of Nichiren is accounted for by the fact that nationalist sentiments had at that time been greatly inflamed by the long-standing threat of Mongol invasion, which was finally dispelled by the repulsion of Khubilai's armadas in 1274 and 1281. Nichiren replaced the Nembutsu with the formula Namu Mydhd Renge-kyo, "Homage to the Sutra of the Lotus of the Good Law!", and declared that this phrase alone was suitable for this, the last period of Buddhism, which is that of mappo, "the destruction of the Law", and which according to him began about AD 1050. Nichiren always spoke with the vehemence of a Hebrew prophet and demanded the suppression of all sects except his own. "For the Nembutsu is hell; the Zen are devils; Shingon is a national ruin, and the Risshu are traitors to the country." On this occasion Buddhism had evolved its very antithesis out of itself.
________________
gặp khó khăn với nhà cầm quyền, đã hai lần bị bắt và đày đi xa. Trong số những trước tác của ngài có những tác phẩm chính như Kanjin honzon shō (Quán tâm bổn tôn sao - 觀心本尊抄), Senji shō (Soạn thời sao - 撰時抄), và Shugo kokka ron (Thủ hộ quốc gia luận - 守護國家論).
2Hạm đội của quân Mông Cổ.

* Trang 299 *
device

Về Thiền tông, ngài Vinh Tây (1) (1141-1215) truyền tông Lâm Tế vào Nhật Bản, được gọi với tên là Rinzai và rất thành công. Trong khi đó, phái Tào Động, hay Soto, được ngài Đạo Nguyên (2) (1200-1253)3 đưa vào nước Nhật đầu tiên, sau đó được tổ chức và truyền bá nhờ Keizan Jokin (1268-1325). Tác phẩm chính của ngài Đạo Nguyên là Chánh pháp nhãn tạng, được viết bằng tiếng
________________
(1) Eisai, cũng đọc là Yōsai, Hán dịch là Vinh Tây (榮西- 1141-1215), được xem là người sáng lập tông Rinzai, tức là tông Lâm Tế (臨濟宗) ở Nhật Bản. Ngài sinh trong một gia đình theo Thần đạo, nhưng bắt đầu học Phật pháp từ nhỏ, chủ yếu là giáo lý của tông Thiên Thai ở núi Tỉ Duệ (比叡山). Tại đây, ngài thất vọng vì sự thiếu trung thực của một số vị tăng đứng đầu, nên tìm cách sang Trung Hoa để tìm học giáo lý chân thật. Ngài ở Trung Hoa không đầy một năm, nhưng có ấn tượng rất mạnh với những gì học được, và trở về núi Tỉ Duệ mang theo rất nhiều kinh văn của tông Thiên Thai. Sau đó, ngài đến Kyushu để tu tập và giảng dạy, rồi lại có dịp sang Trung Hoa lần nữa vào năm 1187. Lần này, ngài có dự tính sẽ đi xa hơn sang Ấn Độ, nhưng không thành công vì gặp những cản trở về mặt chính trị. Trong chuyến đi lần này, ngài đã gặp được Hư Am Hoài Sưởng (虚庵懷敞), một thiền sư của chi phái Hoàng Long (黄龍) thuộc dòng thiền Lâm Tế, và đã theo học với vị này. Sau đó 4 năm, vào năm 1191, sau khi nhận được sự ấn khả của Hoài Sưởng, ngài trở về Nhật Bản và thành lập thiền viện đầu tiên tại Nhật là chùa Thánh Phúc (聖福寺). Ngài có thể tiếp tục hoạt động ở vùng Kyushu, nhưng do điều kiện an ninh không chắc chắn ở vùng núi Tỉ Duệ, nên ngài bị ngăn không cho đến giảng dạy ở thủ đô. Để đáp lại sự ngăn cấm này, ngài đi đến Kamakura (Liêm Thương - 鎌倉) và xây dựng chùa Kenninji (Kiến Nhân tự - 建仁寺) ở Kyoto. Ngài mất năm 1215, sau khi đã hoàn tất việc xây dựng thêm một tự viện nữa là chùa Jufukuji (Thọ Phúc tự - 壽福寺) ở Kamakura. Ngài được xem là người đầu tiên đã đưa việc trồng và sử dụng cây chè (trà) vào Nhật Bản, đã viết một cuốn sách về chủ đề này, trong đó có đề cập đến những tính năng có lợi về mặt y học của loại thức uống này. Một số tác phẩm khác của ngài là Bodaishinron kōketsu (Bồ-đề tâm luận khẩu quyết - 菩提心論口訣), Kōzengokoku ron (Hưng thiền hộ quốc luận - 興禪護國論), Shukke daikō (Xuất gia đại cương - 出家大綱), và còn có một số tác phẩm khác viết về tông Thiên Thai và Mật giáo.
(2) Dōgen, Hán dịch là Đạo Nguyên (道元- 1200-1253), thiền sư xuất sắc của Nhật Bản, người sáng lập tông , tức là tông Tào Động (曹洞) ở Nhật. Ngài

* Trang 300 *
device

As for the Zen school, Eisai (1141-1215) introduced the Lin-chi sect into Japan, where it became known as Rinzai, and attained a great success, whereas the Ts'ao-tung, or Soto, was first introduced by Dogen (1200-33), and then organized and popularized by Keizan Jokin (1268-1325). Dogen's principal work, "The Eye of the True Law", was written in Japanese, so
______________
sinh trong một gia đình quý tộc nhưng mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ. Ngài đến núi Tỉ Duệ (比叡山) để xin học đạo từ năm 13 tuổi, và ở đó trong khoảng
2 năm. Sau khi theo học với ngài Kōin (Công Dận - 公胤) ở chùa Miidera (Tam Tỉnh tự - 三井寺) một thời gian, ngài tìm đến chùa Kenninji (Kiến Nhân tự - 建仁寺) và có dịp theo học với ngài Eisai (Vinh Tây - 榮西), Tổ khai sáng tông Rinzai (Lâm Tế -臨濟). Sau khi thầy mất, ngài sang Trung Hoa cùng với truyền nhân của ngài là Myōzen (Minh Tồn - 明全). Tại đây, ngài tiếp xúc với nhiều dòng Thiền có ảnh hưởng tại Trung Hoa, trong đó có cả ngài Đại Huệ (大慧). Tuy nhiên, sự đạt ngộ của ngài đến sau khi gặp một thiền sư tông Tào Động là ngài Như Tịnh (如淨) ở núi Thiên Đồng (天童山). Năm 1227, ngài Đạo Nguyên trở về Nhật và bắt đầu truyền dạy giáo lý tông Tào Động tại Kenninji, và sau đó chuyển đến Fukakusa, nơi ngài dựng lên chùa Kōshōji (Hưng Thánh tự - 興聖寺). Tại đây, ngài dành 10 năm viết ra rất nhiều tác phẩm, trong đó quan trọng nhất là Shōbōgenzō (Chánh pháp nhãn tạng - 正法眼藏). Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn quan trọng cuối cùng trong đời ngài, khi ngài chuyển đến những ngọn núi ở vùng và lập một trung tâm thiền viện, tránh xa tất cả những ảnh hưởng thế tục của vùng đô thị. Thiền viện mới này ban đầu gọi là chùa (Đại Phật tự - 大佛寺), sau đó đổi tên thành chùa Eiheiji (Vĩnh Bình tự - 永平寺), đã tồn tại mãi đến ngày nay. Ngoài bộ Chánh pháp nhãn tạng (95 quyển), ngài còn biên soạn rất nhiều tác phẩm rất có ảnh hưởng khác, như (Phổ khuyến tọa thiền - 普
勸坐禪, 1 quyển), Eiheishingi (Vĩnh Bình thanh quy - 永平清規 , 2 quyển), và Gakudō yōshin shū (Học đạo dụng tâm tập - 學道用心集 , 1 quyển).
(3) Trong cả hai bản in tiếng Anh mà chúng tôi đã đọc, xuất bản năm 1960 ở Bombay, Ấn Độ, và năm 1980 ở London, Anh Quốc, đều ghi năm mất của Đạo Nguyên là 1233. Đối chiếu Phật Quang từ điển và nhiều tư liệu khác đều thấy ghi là 1253. Hơn nữa, năm 1233, theo như các chi tiết trong cuộc đời ngài thì vẫn còn trong giai đoạn trước tác tại chùa Hưng Thánh. Vì thế chúng tôi cho đây là một lỗi in ấn chưa được chỉnh sửa - (nhiều lỗi in ấn khác đã được sửa chữa trong lần tái bản). Vì thế, xin điều chỉnh lại là 1253.

* Trang 301 *
device

Nhật, vì thế ai cũng có thể đọc được. OÂng nhấn mạnh rằng, mặc dù thế hệ này rõ ràng là thuộc về thời kỳ Phật pháp suy tàn, nhưng đây không phải là lý do để những tâm hồn dũng mãnh lại nhắm đến mục tiêu nào khác thấp kém hơn là một sự giác ngộ nội tâm về chân lý tối thượng. Chống lại những cách hiểu lệch lạc về Phật giáo, ngài cho rằng "giác ngộ chỉ có thể đạt đến với chính thân xác này". Việc ngồi thiền, hay zazen, không phải là một loạt những công phu thiền định trong đó người ta chờ đợi sự giác ngộ tự nó tìm đến, mà sự giác ngộ chính là nguyên tắc thiết yếu của thiền định ngay từ lúc mới khởi đầu, và việc ngồi thiền phải được thực hiện như một công phu tuyệt đối thuần túy tín ngưỡng, trong đó không có gì được tìm kiếm và cũng không có gì đạt được. Vạn pháp đều là Phật tánh, và điều đó tự nó chẳng là gì khác hơn như "cái cằm của con lừa hoặc cái miệng của con ngựa".
Phái Tào Động Nhật Bản cho rằng họ đã tiến xa hơn cả những gì mà phái Tào Động ở Trung Hoa đã đạt được. Để dẫn chứng cho điều này, họ đưa ra một niềm tin rằng, bởi vì con người vốn đã giác ngộ từ lúc sinh ra, cho nên mọi hoạt động hằng ngày phải được xem như là những công phu sau khi giác ngộ, và cần được thực hiện như những hành vi nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với chư Phật.
Không bao lâu, Thiền lan rộng khắp trong giới Võ sĩ đạo, đặc biệt là phái thiền Lâm Tế, đúng như một câu tục ngữ Nhật đã nói lên rằng: "Lâm Tế cho tướng lãnh, Tào Động cho nông dân". Theo chiều hướng này, Thiền dẫn đến sự thờ kính giống như Võ sĩ đạo, và sự kết hợp chặt chẽ với những chiến sĩ là một trong những chuyển biến đáng kinh ngạc nữa của Phật giáo.
Thiền đóng góp nhiều trong việc kích thích những rung cảm tự nhiên của người Nhật trước vẻ đẹp. Cũng giống như Thiền đã làm được ở Trung Hoa, Thiền ở Nhật từ cuối triều đại Liêm Thương trở đi không những kích thích mạnh mẽ các ngành nghệ thuật như điêu khắc, kiến trúc, hội họa, thư pháp và gốm mỹ nghệ, mà còn thúc đẩy cả thi ca và âm nhạc. Mối liên hệ gần gũi giữa thiền và tính cách dân tộc của người Nhật cũng thường được nhấn mạnh.

* Trang 302 *
device

that all could read it. He insisted that, although his generation clearly belonged to the decline of Buddhism, this was no reason for heroic spirits to aim at less than insight into the highest Truth. Against the intellectualist distortions of Buddhism he maintained that "attainment of the Way can only be achieved with one's body". Zazen, or "sitting cross-legged", is not a set of meditational practices in which one waits for enlightenment to come, but enlightenment is an inherent principle of Zen meditation from the outset, and it should be carried out as an absolutely pure religious exercise from which nothing is sought and nothing is gained. Everything is the Buddha-nature, and that in its turn is nothing more than "the chin of the donkey or the mouth of a horse".
The Soto sect claims that in Japan it went beyond the developments the parent sect had reached in China, and it gives as an instance of this its belief that, because man is already enlightened from birth, all daily activities should be regarded as post-enlightenment exercises, which should be performed as acts of gratitude to the Buddha (gyojiho-on).
Zen soon spread among the Samurai, particularly in its Rin-zai form, in accordance with the proverbial saying that "Rinzai is for a general, and Soto for a farmer". In this way Zen led to the cult of Bushido, the "Way of the Warrior", and this close association with the soldier class is one of the more astonishing transformations of Buddhism. Zen did much to stimulate the innate Japanese sensitiveness to beauty (mono-no-aware). As Ch'an had done in China, so Zen in Japan from the end of the Kamakura period onwards greatly stimulated not only architecture, sculpture, painting, calligraphy and pottery, but also poetry and music. The close bonds between Zen and the Japanese national character have

* Trang 303 *
device

Văn chương Phật giáo còn được làm phong phú thêm bởi hai thể loại mới: thể loại kịch Noh và một thể loại được gọi là "ca từ". (1) Trong một nền văn hóa thống trị bởi những người Võ sĩ đạo, cái chết là một thực tiễn luôn luôn hiện diện, và vượt qua nỗi lo sợ trước cái chết trở thành một trong những mục đích của công phu thiền.
Dưới triều đại Ashikage Shoguns (1335-1573), Thiền được triều đình ủng hộ. Ảnh hưởng của Thiền đối với văn hóa lúc đó lên đến đỉnh cao, và Thiền có thể lan rộng trong toàn xã hội bởi vì sự nhấn mạnh ở hành động cụ thể hơn là những ý tưởng suy diễn. Hành động cần phải đơn giản nhưng có ý nghĩa sâu xa, và những nét đẹp giản dị, thanh lịch trở thành lý tưởng được chấp nhận trong ứng xử.
Vào thế kỷ 16, nghi thức uống trà được các thiền sư hệ thống hóa. Cùng lúc đó, nhiều nghệ sĩ tin rằng "Thiền và nghệ thuật chỉ là một". Sesshu (1420-1506) là người nổi tiếng nhất trong số này.
Sau năm 1500, mọi việc không còn trôi chảy với Phật giáo Nhật Bản nữa. Năng lực sáng tạo của Phật giáo đã suy kiệt, và quyền lực chính trị bị xóa bỏ. Nobunaga phá hủy cơ sở chính của phái Thiên thai trên núi Tỉ Duệ vào năm 1571 và Hideyoshi, trung tâm lớn của Chân ngôn tông ở Negoro vào năm 1585. Dưới triều đại Tokugawa (1603-1867), Khổng giáo được khôi phục. Sau đó, vào thế kỷ 18, chủ nghĩa Thần giáo quân phiệt hồi sinh. Phật giáo lui vào hậu trường, mọi tổ chức và hoạt động của chư tăng đều bị nhà cầm quyền giám sát cẩn thận. Họ vẫn đảm bảo cho nguồn thu nhập của Giáo hội, nhưng lại tìm đủ mọi cách để ngăn ngừa không cho bất cứ một sinh hoạt độc lập nào có thể phát triển trong Giáo hội. Phật giáo chìm vào sự uể oải, trì trệ. Tuy nhiên, truyền thống của các tông phái vẫn được duy trì.
Chỉ duy nhất Thiền tông là còn chứng tỏ được phần nào sức sống. Vào thế kỷ 17, ngài Bạch Ẩn tạo ra một sức sống mới cho phái Lâm Tế, và tông này xem ngài như vị tổ sáng lập thứ nhì. Nhà thơ Ba Tiêu sáng tạo một thể loại thơ mới, (2) và năm 1655 phái
________________
(1) Farewell songs

* Trang 304 *
device

often been stressed. Buddhist literature was further enriched by two new literary forms, the Noh drama and the so-called "farewell songs". In a culture dominated by the Samurai, death was an ever-present reality, and to overcome the fear of death became one of the purposes of Zen training. Under the Ashikaga Shoguns (1335-1573) Zen had the support of the government. Its cultural influence was then at its height and it could spread among society in general because it emphasized concrete action rather than speculative thought. Actions must be simple, and yet have depth, and "simple elegance" (wabi or sabi) became the accepted ideal of conduct. In the sixteenth century the tea ceremony was systematized by Zen masters. At the same time many artists believed that "Zen and art are one", Sesshu (1420-1506) being the best-known among them.
After 1500 things were no longer going so well with Japanese Buddhism. Its creative power had waned, and now its political power was broken. Nobunaga destroyed the Tendai stronghold on Hieizan in 1571, and Hideyoshi the great Shingon centre at Negoro,in 1585. Under the Tokugawa( 1603-1867) there was a revival of Confucianism and later on, in the eighteenth century, of militant Shintoism. Buddhism receded into the background, the organization and activities of the monks were carefully supervised by the government, which assured the income of the Church while doing everything to prevent any independent life from developing in it. Buddhism sank into a torpid condition. The traditions of the sects, were, however, maintained. The Zen sect alone showed some vitality. In the seventeenth century Hakuin introduced new life into the Rinzai sect, which regarded him as its second founder; the poet Basho evolved a new style of poetry; and in 1655 a third Zen sect, the Obaku, was
_________________
(2) Thể thơ này vẫn thường được người Việt Nam biết đến với tên là Hài Cú, một loại thơ ngắn gọn nhưng vô cùng súc tích, thấm đẫm phong cách Thiền.

* Trang 305 *
device

 
Lược Sử Phật Giáo