LOGO VNBET
6. SỰ MỞ RỘNG
Suốt thời kỳ thứ nhất, Phật giáo nói chung vẫn còn là một tôn giáo riêng của Ấn Độ. Vào khoảng năm 250 năm trước Công nguyên, vua A-dục gửi các phái bộ đến chỗ những hậu duệ của Alexander Đại đế, nghĩa là các vương quốc của Hy Lạp ở Ai Cập, Macedon, Cyrene và Epirus. Những phái bộ này không để lại dấu vết nào và rất có thể họ đã không đạt được kết quả gì.
Sự hiểu biết khá mơ hồ về Phật giáo mà chúng ta tìm thấy trong các tác giả Hy Lạp có thể được giải thích bởi những cuộc tiếp xúc về sau này, vốn chỉ diễn ra trong mối quan hệ mậu dịch phát triển mạnh mẽ vào thời đại La Mã giữa Ấn Độ và Địa Trung Hải.
Chỉ có hoạt động của phái đoàn do vua A-dục phái đi Tích Lan là mang lại kết quả. Sau khi được Mahinda, con vua A-dục, truyền vào Tích Lan khoảng năm 240 trước Công nguyên, Phật giáo đã tồn tại nơi đây trong một thời gian lâu hơn bất cứ nơi nào khác. Từ đó về sau, Phật giáo đã trở thành quốc giáo của nước này. Chỉ có Phật tử mới có quyền chính thức trở thành một vị vua, và đảo Lanka được xem như là của chính đức Phật. Nhà vua có bổn phận bảo vệ Tăng-già, và những quyền lợi lớn lao được dành cho các tự viện dưới hình thức hiến cúng, sự tôn kính, và không bị ai can thiệp vào nội bộ. Mặc dù hầu hết các nhà vua đều là cư sĩ, nhưng họ vẫn là quan tòa tối hậu trong việc phân xử bất cứ sự bất đồng nào giữa tất cả những tín đồ Phật giáo. (1) Về phần của tăng sĩ, nói chung thường giúp đỡ các nhà vua, và tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng cho những điều các nhà vua muốn thực hiện.
Mối quan hệ gần gũi giữa Tăng-già với Nhà nước đã có những điều bất lợi. Từ thế kỷ 2 trước Công nguyên trở đi, điều đó không những đã đưa tinh thần của chủ nghĩa dân tộc vào Phật giáo Tích Lan và làm cho giới tăng sĩ có khuynh hướng thiên về chính trị, mà còn dẫn họ đến chỗ nhiệt tình ủng hộ những cuộc chiến tranh
________________
(1) Nghĩa là bao gồm cả chư tăng.

* Trang 96 *
device

6. EXPANSION
 
During this period Buddhism remained on the whole a purely Indian religion. The emperor Aśoka, about 250 BC, sent some missions to the successors of Alexander the Great, i.e. to the
Greek kingdoms of the diadochs in Egypt, Macedon, Cyrene and Epirus. These missions have left no trace and they may very well have been ineffective.
The rather dim awareness of Buddhism which we find in
Greek authors can be accounted for by later contacts which took place in connection with the trade which flourished in
Roman times between India and the Mediterranean.
It was only in Ceylon that Aśoka's missionary activity bore fruit. Once brought there about 240 BC by Mahinda, Aśoka's son, Buddhism has existed in Ceylon for a longer stretch of time than anywhere else. From that time onwards Buddhism has been the state religion of Ceylon. Only Buddhists had a legitimate right to be kings and the island of Lanka was held to belong to the Buddha Himself. It was the king's duty to protect the Order of monks and great benefits accrued to the monasteries in the form of donations, prestige and protection from interference. The kings, although mostly laymen, were also the final judges in any dispute which might arise among the Buddhists. The monks in their turn generally helped the kings and won popular support for their wishes.
This close connection of the Sańgha with the state had its disadvantages. From the second century BC onwards it not only infused a spirit of nationalism into the Buddhism of Ceylon and made the monks prone to political intrigue, but it also led them to enthusiastically support the national wars of their kings.
They assured king Dutta Gamani (101-77 BC) that the killing of many thousands of enemies was of no account, because

* Trang 97 *
device

của các vị vua. Giới tăng lữ đã nói chắc với vua Dutta Gamani (1) rằng việc giết hàng ngàn kẻ thù là không thành vấn đề, vì đã là những kẻ không có đức tin (2) thì những kẻ thù ấy thật sự chẳng hơn gì súc vật. Tăng sĩ tháp tùng theo quân đội của nhà vua này, bởi vì "sự hiện diện của các vị tỳ-kheo đem đến cho chúng ta cả sự tốt lành và sự che chở", và chính nhà vua đã gắn một viên ngọc xá-lợi vào cây giáo của mình.
Trong một thời gian dài, tín đồ Phật giáo Tích Lan tiếp tục giữ quan hệ chặt chẽ với Ấn Độ qua các cảng Bharukaccha và Surparaka ở miền Tây. Dần dần, toàn bộ kinh tạng được đưa vào Tích Lan, và cho đến cuối thời kỳ đầu, hoặc có thể muộn hơn, thì có cả những kinh sách mới biên soạn bằng tiếng Pāli của các bộ phái chính. Chẳng hạn như phần đầu của cuốn "Di-lan-đà vấn đạo". (3)
Trong thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, Kinh tạng và các tác phẩm chú giải, vốn trước đó chỉ được truyền miệng, đã được ghi chép lại ở chùa Aluvihara "để Phật pháp có thể tồn tại lâu dài".
Chiến tranh và nạn đói kém đã làm giảm đi dân số của nước này, và việc truyền miệng kinh tạng bị lâm nguy. Thánh ngữ của kinh tạng là tiếng Pāli, trong khi các phần chú giải là bằng tiếng Tích Lan.
Tích Lan trở thành quê hương của một bộ phái được biết đến như là Thượng tọa bộ,4 rất được quan tâm trong lịch sử Phật giáo, một phần vì kinh tạng của họ được giữ lại đầy đủ, và một phần vì sự cách biệt về mặt địa lý nên tương đối ít bị ảnh hưởng bởi nhiều sự phát triển sau này. Tuy vậy, không rõ là họ đã bắt nguồn từ bộ phái nào của Ấn Độ. Có lẽ họ giống với Phân biệt bộ, và được phát sinh từ một trong những chi nhánh của bộ phái này.
__________________
(1) Niên đại 101 - 77 trước Công nguyên.
(2) Ở đây muốn nói là tin vào Phật giáo.
(3) Quyển kinh tiếng Pāli này đã được dịch sang Hán văn với tên là "Na-tiên Tỳ-kheo Kinh", nhưng người dịch đã khuyết danh, không biết là vị nào. Xem

* Trang 98 *
device

as unbelievers they were really no more than animals. They accompanied the army of the same king, "since the sight of bhikkhus is both blessing and protection for us", and the king himself had a relic of the Buddha put into his spear.
For a long time Ceylonese Buddhists continued to be in lively contact with India over the ports of Bharukaccha and Sur- paraka in the West. Gradually the whole Canon came to Ceylon and towards the end of our period, or even later, also new works composed in Pali in India by the mother-sect, such as the
first part of the "Questions of King Milinda" and the "Nid-desa".
During the first century BC the Canon and Commentaries, so far transmitted orally, were written down at Aluvi-hara, "so that the Dharma might endure".
War and famine had depopulated the country and the oral transmission of the Pitakas was in danger. The holy language of the Canon was Pāli, whereas the Commentaries were in Sinhalese.
Ceylon became the home of a school known as the Theravādins - of great interest in the history of Buddhism partly because their Canon is preserved in its entirety and partly because in their geographical isolation they remained relatively unaffected by many of the later developments. It is not, however, very clear what Continental school they were derived from. Probably they were akin to the Indian Vibhajyavadins, and an offshoot of one of their branches.
_____________________
bản dịch tiếng Việt "Kinh tỳ-kheo Na-tiên" của Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến - NXB Tôn giáo - 2003.
(4) Theravāda, cũng là Thượng tọa bộ, nhưng phân biệt với Thượng tọa bộ của Ấn Độ.

* Trang 99 *
device

 
Lược Sử Phật Giáo