LOGO VNBET
Phật giáo chính thức đến Triều Tiên năm 372, và cho đến năm 525 đã lan truyền ra khắp nước này. Từ năm 550 đến năm 664, Phật giáo trở thành quốc giáo và gia tăng sức mạnh một cách ổn định, với việc tăng sĩ khống chế các nhà cai trị qua từng thời kỳ. Các vị vua, hoàng tử và công chúa thường xuất gia, (1) và các tự viện nguy nga, tượng thờ và nhiều công trình khác được xây dựng khắp nơi.
Không có sự phát triển đáng chú ý nào về giáo lý. Phật giáo Triều Tiên có giá trị đáng kể nhất như là một gạch nối trung gian giữa Trung Hoa và Nhật Bản. Ngoài ra, còn phải kể đến lòng nhiệt thành trong việc hành trì Phật pháp, và trong nhiều thế kỷ, tất cả tài sản dư thừa của nước này đều được dùng vào Phật sự.
 
7. NHẬT BẢN
Vào khoảng năm 550, Phật giáo từ Triều Tiên truyền sang Nhật Bản như một yếu tố của nền văn minh Trung Hoa. Một chính khách lớn là Thánh Đức Thái tử (2) (523-621) đã nhận Phật giáo làm tín ngưỡng. Không bao lâu, Phật giáo hòa hợp với Thần đạo (3) của bản xứ, tôn giáo mà ban đầu đã chống đối kịch liệt với Phật giáo.
Thoạt đầu, giống như các vị thần bản xứ của Tây Tạng, các vị thần của Thần đạo cũng được cho là những vị hộ pháp của Phật giáo. Rồi sau đó, những vị thần thánh của cả hai tôn giáo dần dần được xác định rõ, và khi ấy tín đồ được dạy rằng thần thánh của đôi bên vốn chỉ là một, nhưng mang tên khác nhau.
Vào thế kỷ 9, sự kết hợp hai tôn giáo này được mang tên là Ryobu-Shinto. Đây là một thành tựu rất đáng kể, không chỉ vì đã hòa nhập được hai tôn giáo một cách hiệu quả vào lúc đó, mà còn bởi vì đó là một cách thức hòa nhập mà 1000 năm sau vẫn có thể dễ dàng tách rời cả hai ra.
_______________
(1) Điều này gợi sự liên tưởng đến hoàng tộc đời Trần ở Việt Nam.

* Trang 244 *
device

Buddhism came to Korea officially in AD 372, and by about 525 it had penetrated the entire country. Between 550 and 664 it became the state religion and steadily grew in power, with the monks periodically dominating the rulers. Kings, princes and princesses often became bonzes and everywhere magnificent temples, statues and other monuments were erected. There were no notable developments in doctrine. Korean Buddhism was chiefly significant by acting as an intermediary between China and Japan. Apart from that it was noteworthy for the fervour with which it was practised, and for centuries all the surplus wealth of the country was expended on religious purposes.
 
7. JAPAN
About 550 Buddhism came to Japan from Korea, as one of the constituent elements of Chinese civilization and a great statesman, Shotoku Taishi (523-621), adopted it as a kind of religion. Soon it fused with the indigenous Shinto which had at first fiercely opposed it. At first it was said, as in Tibet of the indigenous deities, that the Shinto gods are the guardians and protectors of Buddhism. Then the pantheon of the two schools was slowly identified and it was taught that they were just the same deities under different names. In the ninth century this amalgamation received the name of Ryobu-Shinto. The Ryobu Shinto is a remarkable achievement not only for the reason that it effectively fused the two religions for the time being, but also because it fused them in such a way that 1,000 years later it was quite easy to separate them again.
_______________
(2) Shotoku Taishi, con vua Yōmei. Theo Phật Quang từ điển thì niên đại của ông là 572 - 621.
(3) Shinto

* Trang 245 *
device

Đây là thời kỳ của sự mô phỏng. Trước năm 700, có 4 tông phái được hình thành. Tuy nhiên, đó không phải là tập hợp của những người theo đuổi một giáo lý cụ thể, mà chỉ đơn giản là những trường phái triết học nhằm nghiên cứu một số kinh văn nhất định nào đó. Các tông phái đó là:
1. Thành thật tông1 (thành lập năm 625), dựa trên bộ Thành thật luận2 của Ha-lê-bạt-ma3 do ngài Cưu-ma-la-thập dịch.
2. Tam luận tông4 (thành lập năm 625), nghiên cứu ba tác phẩm của hai ngài Long Thọ và Thánh Thiên, cũng là căn bản của Tam luận tông Trung Hoa.
3. Pháp tướng tông5 (thành lập năm 654) đặt nền tảng trên bộ Duy thức,6 giải thích những nguyên tắc của Thức tông7 theo hai ngài Huyền Trang và Khuy Cơ.
4. Câu-xá tông8 (thành lập năm 658), tập trung nghiên cứu chi tiết bộ A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận của ngài Thế Thân. Tiếp đến là Hoa nghiêm tông (thành lập năm 730),9 tồn tại trong nhiều thế kỷ, thờ đức Phật Đại Nhật.10 Còn có Luật tông (thành lập năm 753)11 nhắm đến việc đưa ra những giới luật nghiêm khắc hơn cho tăng đoàn, nhưng không bao lâu thì suy thoái.
Quan trọng hơn nhiều là những tông phái hình thành trong thời đại Bình An12 (794-1186), với sự lấn át của Thiên thai tông13 và Chân ngôn tông,14 đặt trung tâm trên hai ngọn núi.
____________________
(1) Jōjitsu-shū
(2) Satyasiddhi-śāstra, Hán dịch là Thành thật luận (成實論).
(3) Harivarman, Hán dịch âm là Ha-lê-bạt-ma (呵棃跋摩), dịch nghĩa là Sư Tử Khải (獅子鎧).
(4) Sanron-shū
(5) Hossō-shū
(6) Yuishiki
(7) Vijñānavāda
(8) Kusha-shū

* Trang 246 *
device

This was a period of copying. Before 700 four "sects" were introduced, which were not however corporations pledged to support particular doctrines, but simply philosophical schools which expounded certain textbooks. They were:
- The Jojitsu (625) based on Kumarajiva's translation of Harivarman's "Satyasiddhi";
- The Sawron (625) which studied the three works of Nagarjuna and Aryadeva which were the basis of the Chinese San-lun school;
- The Hosso (654) which has for its textbook the Yuishiki, which expounds the principles of Vijnanavada after Yuan-tsang and K'uei-ki; - and the Kusha (658) which was devoted to the exposition of Vasubandhu's Abhidharmakosa.
Then came the Hua-yen (730), now called Kegon, which lasted for many centuries, and worshipped Vairocana, as Roshana or Birushana; and also the Vinaya sect (753) which was called Risshu tried to introduce stricter rules of ordination, and declined soon.
Much more substantial were the sects introduced during the
Heian period (794-1186), which was dominated by the Tendai and Shingon who had their centres on two mountains.
_______________
(9) Kegon-shū
(10) Vairocana, Hán dịch âm là Tì-lô-giá-na (毗盧遮那), trong tiếng Nhật là Roshanabutsu hay Biroshanabutsu.
(11) Risshū
(12) Heian - Thời đại này còn được chia làm ba phân kỳ nhỏ hơn. Sơ kỳ (794- 897) cũng gọi là Hoằng Nhân thời đại (Kōnin), Trung kỳ (898-1068) cũng gọi là Đằng Nguyên tiền kỳ thời đại, Hậu kỳ (1069-1186) cũng gọi là Đằng Nguyên hậu kỳ thời đại. Hai giai đoạn Đằng Nguyên tiền kỳ và hậu kỳ đều gọi chung là Fujiwara.
(13) Tendai-shū
(14) Shingon-shū

* Trang 247 *
device

Thiên thai tông được sáng lập bởi ngài Tối Trừng (1) (767-822), người đã mang giáo lý của Thiên thai tông từ Trung Hoa về. Chân ngôn tông được sáng lập bởi ngài Không Hải (2) (774-835), người đã học được những bí truyền của Chân ngôn tông Trung Hoa ở Trường An.
Những ngọn Thiên Thai linh thiêng trong vùng núi Tỉ Duệ (3) gần kinh đô mới Kyoto chẳng mấy chốc đã có trên 3.000 tự viện và giảng đường. Thiên thai tông không những có ảnh hưởng rất lớn về phương thức tu tập, mà còn là cội nguồn phát sinh ra tất cả các bộ phái về sau này, trong ý nghĩa là, những người sáng lập các bộ phái đó đều đã từng có một thời gian theo học với Thiên thai tông.
Khi từ Trung Hoa trở về, Hoằng Pháp Đại Sư (4) không những được triều đình ngưỡng mộ, mà còn tạo được ấn tượng mạnh mẽ nhất trong tâm tưởng của người dân Nhật so với bất cứ vị tăng nào trước đó. Đối với dân chúng, ngài trở thành một vị anh hùng với vô số những truyền thuyết; đối với tín đồ thì ngài là hiện thân của
___________________
(1) Dengyo Daishi, hay Saichō, Hán dịch là Tối Trừng (最澄), cũng được gọi là Truyền Giáo Đại Sư (傳教大師), là người sáng lậpThiên Thai tông (天台宗) ở Nhật. Ngài học đạo từ năm 12 tuổi, là môn đệ của ngài Gyō hyō (Hành Biểu - 行表) tại chùa Kokubunji (Quốc Phần Tự - 國分寺) ở Ōmi (Cận Giang - 近江), và học được những hướng dẫn ban đầu về Thiền học Bắc tông. Ngài chính thức xuất gia năm 14 tuổi, và thọ Tỳ-kheo giới năm 19 tuổi ở chùa Tōdaiji (Đông Đại Tự - 東大寺), sau đó đến ở núi Hiei (Tỉ Duệ Sơn - 比叡 山). Nơi đây ngài thực hành thiền định và nghiên cứu giáo lý Hoa nghiêm
tông. Nhưng ngài bị lôi cuốn nhiều hơn bởi giáo lý của Thiên Thai tông, và trở nên uyên bác sau khi đọc qua các trước tác của ngài Trí Khải (智顗). Danh tiếng về sự uyên bác của ngài lan rộng đến nỗi Nhật Hoàng bấy giờ là Kammu chính thức đề nghị ngài đi đến Trung Hoa để học hỏi về Phật giáo, nhằm khi trở về nước có thể thiết lập được một hình thức Phật giáo thích hợp với Nhật Bản. Ngài sang Trung Hoa bằng đường biển vào năm 804, đi cùng chuyến tàu với một người bạn nổi tiếng là ngài Kūkai (Không Hải - 空海). Đến Trung Hoa, ngài theo học với ngài thiền sư Tiêu Thiền ( 翛禪) và học giáo lý Thiên Thai tông với ngài Đạo Thúy (道邃), tổ thứ 10 của tông này ở Trung Hoa. Ngài cũng học giáo lý Chân ngôn tông với ngài Thuận Hiểu (順曉). Tất cả những giáo lý này đều chưa được truyền dạy như

* Trang 248 *
device

The one was founded by Dengyo Daishi (767-822) who had brought the T'ien-t'ai doctrine from China, the other by Kobo Daishi (774—835) who had learned the mysteries of the Chen-yen in Chang-an. The sacred Tendai mountains of Hieizan near the new capital of Kyoto were soon covered by no fewer than 3,000 temples or halls. The Tendai not only had a great influence on art, but all later sects arose from within it, in the sense that their founders had for a time belonged to this sect. Kobo Daishi on his return from China not only became a great favourite at the imperial court, but he also impressed the popular imagination more than any other Japanese teacher has done. For the people he is the hero of countless legends,
_______________
một tông độc lập tại Nhật Bản trong thời đại Thiên Bình (hay Nại Lương thời đại, tức là giai đoạn từ năm 710 đến năm 784). Ngài trở về Nhật Bản vào năm 806 và chính thức thành lập Thiên Thai tông ở Nhật. Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn của giáo lý Thiên Thai tông, nhưng thông qua mối quan hệ với ngài Không Hải, ngài cũng rất quan tâm đến Chân ngôn tông. Và vì vậy, hệ thống giáo lý của ngài cũng có khuynh hướng pha trộn. Ngài dành trọn phần đời còn lại để truyền bá chỗ sở đắc về Phật học của mình ngay tại vùng núi Tỉ Duệ, nhưng cũng thường xuyên gặp phải sự chống đối từ những tông đã thành lập trước, đặc biệt là về những sự cải cách mà ngài nỗ lực thực hiện khi muốn hợp lý hóa một số nghi thức truyền giới xuất gia của Đại thừa. Ngài trước tác rất nhiều, trong số đó quan trọng hơn hết là các tác phẩm Shugo kokkaishō (Thủ hộ quốc giới chương - 守護國界章), Hokkeshūku (Pháp Hoa tú cú - 法華秀句) và Kenkai ron (Hiển giới luận - 顯戒論).
(2) Kobo Daishi, hay Kūkai, Hán dịch là Không Hải (空海), cũng gọi là Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師), người sáng lập Chân ngôn tông ở Nhật Bản sau khi đã nhận được chân truyền từ ngài Huệ Quả (惠果) ở Trung Hoa. Tại Nhật Bản, truyền thống Chân ngôn tông đã được ngài thiết lập vững chắc thành một tông độc lập, chủ yếu dựa trên nền tảng của bộ kinh Đại Nhật (大日經- Mahāvairocana Sūtra) và kinh Kim cương đảnh (金剛頂經 - Vajraśekharasūtra).
(3) Sau khi Thiên Thai tông được thành lập và đặt trung tâm trên núi Tỉ Duệ, những ngọn núi ở đây cũng được gọi tên là Thiên Thai như ở Trung Hoa.
(4) Là một danh xưng của ngài Không Hải.

* Trang 249 *
device

đức Phật Tỳ-lô-giá-na, vị Phật chưa viên tịch mà còn chờ đợi sự xuất hiện của đức Phật tương lai.
Trung tâm của Chân ngôn tông được đặt trên ngọn núi Cao Dã (1) đơn độc. Việc thực hiện các nghi lễ là hoạt động chính của tông này, nhưng ngoài ra còn có việc sáng tạo những tranh tượng các vị thần theo các kinh Tan-tra.
Không phải tất cả tăng sĩ của Thiên thai tông và Chân ngôn tông đều cư trú trong tự viện. Có một phong trào mạnh mẽ trong cả hai tông phái này muốn khôi phục sức sống của cộng đồng Phật giáo thời nguyên thủy, khi các vị tăng sĩ đều ẩn cư trong rừng sâu. Một số đông đáng kể các vị tăng được gọi là Yama-bushi, những người chỉ ngủ trên núi cao; hay các vị Shugenja, những người thực hành lối sống kham khổ. Tất cả những vị tăng này sống đơn độc hoặc họp thành những nhóm nhỏ trong vùng rừng núi hoang vắng.
Nhìn chung, cả hai tông phái này đều chỉ nhắm đến tầng lớp trí thức. Sự lôi cuốn của họ đối với quảng đại quần chúng không được mạnh mẽ lắm. Với những ai mong muốn một phương thức tu tập dễ dàng hơn, họ đưa ra việc cầu nguyện bằng cách niệm danh hiệu Phật A-di-đà để được vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc.
Các bộ phái trong cả hai thời đại Thiên Bình (2) và Bình An đều có xây dựng những phòng lớn dành riêng cho việc niệm Phật, (3) kèm theo có cả tụng tán và lễ nhạc. Song song theo đó, trong thế kỷ 10 còn có các vị tăng du hóa mang giáo lý về đức Phật A-di-đà truyền dạy cho dân chúng bằng những cách diễn đạt dễ hiểu đối với người bình dân.
Phật giáo chịu ảnh hưởng của những điều kiện xã hội chung quanh. Sự tôn kính mà tôn giáo này có được phần lớn là nhờ vào việc mang lại những hiệu quả lợi ích kỳ diệu cho sự an lành của đất nước. Sự hiện diện của các ngôi chùa được tin là có thể ngăn ngừa được tai họa xuất phát từ trong lòng đất, và việc đọc tụng
______________
(1) Kōyasan
(2) Nara, cũng gọi là Nại Lương (奈良) thời đại, là giai đoạn từ năm 710 cho đến

* Trang 250 *
device

for his followers a manifestation of Vairocana not yet dead, but awaiting within his tomb the cdming of the future Buddha.
The centre of the Shingon sect was on the lonely mountain of Koyasan, and the performance of ritual has been its main activity, apart from the execution of paintings and sculptures of Tantric deities.
Not all the monks of Tendai and Shingon resided in monasteries, and there was a strong movement within both schools to revive the ardours of the early Buddhist community, when the monks actually dwelled in the forest. There was a considerable number of Yama-bushi, "those who sleep on mountains", or Shugenja, "those who practise austerities", who lived alone or in little groups in the wild mountains and forests.
On the whole, both Tendai and Shingon chiefly addressed themselves to the educated classes and their popular appeal was not very strong. To those who desired an easier way they held out the invocation of Amida's name which would lead to rebirth in the Western Paradise. Both the Nara and Heian sects built special halls for recitation of the Nem-butsu, accompanied by hymns and musical services. At the same time during the tenth century itinerant preachers brought the message of Amida's saving grace to the masses in a language which they could understand.
Buddhism took on the colouring of the social conditions in whicli it lived. The esteem in which the religion was held was to a large extent a tribute to its beneficial magical effects on the welfare of the nation. Monasteries were by their very presence preserved from the noxious influences which arise out of the earth in certain places, and the recital of the great Mahāyāna
__________________
năm 784, cũng có thể xem là giai đoạn đầu tiên của Phật giáo tại Nhật Bản.
(3) Nem-butsu

* Trang 251 *
device

 
Lược Sử Phật Giáo