LOGO VNBET
PHẨM THỨ NHẤT:
BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ(1)  
1
THỈNH PHẬT TỪ PHƯƠNG XA
 
       Lúc ấy, Đức Phật ở gần thành Vương-xá(2), trong khu rừng Trúc Lâm.
   Bấy giờ, về phía Nam có người bà-la-môn tên là Mãn Hiền(3), giàu có, của cải tài vật nhiều vô kể. Người này tánh tình nhu thuận, hiền hậu, giàu lòng thương người và rất chuộng việc bố thí. Ông tin và thờ phụng đức Tỳ-sa-môn(4), đã từng chu cấp, cúng dường cho cả trăm ngàn thầy ngoại đạo, hy vọng nhờ phước ấy mà được sinh lên cõi trời.
    Lúc ấy, có một người họ hàng của Mãn Hiền từ thành Vương-xá đến. Ông này đã từng đến lễ Phật,
_________
1 Thọ ký: Phật xác nhận và nói trước việc thành Phật về sau này của một vị Bồ Tát.
2 Vương xá: phiên âm từ tiếng phạn là Rājagriha, cũng dịch theo nghĩa là La Duyệt.
3 phiên âm là Phú-lâu-na, tuef tiếng Phạn là Pūrna, nghĩa là đầy đủ, Hán dịch là Mãn Hiền.
4 Một trong các vị thần được thờ phụng theo tín ngưỡng Bà-la-môn, có từ trước khi Phật ra đời.

* Trang 9 *
device

nên ca tụng với Mãn Hiền về công đức của ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Ông nói rằng chính vua Tần-bà-sa-la(1)  ở thành Vương-xá cũng qui y theo Phật, và đến cả trăm ngàn người, gồm cả các vị đại thần, trưởng giả, quan thuộc... đều theo gương vua mà theo đạo Phật. Oai đức của Phật khiến cho tất cả mọi người không ai nghe đến mà không hết lòng kính ngưỡng, tán thán.
    Ông Mãn Hiền nghe người ấy xưng tụng công đức của Phật thì tự nhiên sinh lòng tin phục, kính ngưỡng. Ông liền lên trên lầu cao, quay mặt về phía thành Vương-xá, quỳ gối tung các thứ hương hoa, nước sạch lên và cầu thỉnh đức Phật rằng: “Như Lai công đức vô lượng, ngưỡng mong ngài thọ nhận những lễ cúng này, và khiến cho hương thơm bay tỏa khắp thành Vương-xá, hoa thơm hóa thành lọng hoa mà che trên đầu Phật.”
    Phát nguyện như vậy rồi, liền thấy những hương hoa cúng Phật tự bay đến thành Vương-xá, khói hương bay tỏa khắp thành Vương-xá, còn hoa thơm thì tụ lại thành một lọng hoa bay đến che trên đầu Phật.
    Khi ấy, tôn giả A-nan (2)  nhìn thấy sự thần biến
_________
1 Tần-bà-sa-la: phiên âm từ tiếng Phạn là Bimbisāra.
2 A-nan, hay A-nan-đà, tiếng Phạn là Ānanda, Hán dịch là Khánh Hỹ nghĩa là ‘rất vui’. A-nan là thị giả của Phật trong hai mươi năm, được Phật khen là Đa văn đệ nhất trong các đệ tử của Ngài.

* Trang 10 *
device

như vậy liền thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, chẳng hay những hương hoa này là từ đâu mà đến?”
    Đức Thế Tôn đáp rằng: “A-nan! Về phía Nam, ở nước Kim Địa, có người trưởng giả tên là Mãn Hiền. Người ấy từ phương xa mà phát nguyện thỉnh ta với chư tăng đến để cúng dường. Ta nhận lời thọ nhận lễ cúng, vậy chư tỳ-kheo hãy cùng nương thần lực của ta mà đi đến đó!”
   Bấy giờ đức Phật và một ngàn vị tỳ-kheo cùng hiện về phương Nam. Nhờ thần lực của Phật, các vị đều thấy như chỉ gần trong gang tấc. Phật lại hiện thần lực khiến cho một ngàn vị tỳ-kheo đều ẩn hình đi không ai nhìn thấy, duy chỉ thấy một mình ngài ôm bát đến chỗ ông trưởng giả Mãn Hiền.
    Bấy giờ ông Mãn Hiền biết Phật đã đến liền cùng với năm trăm người thuộc hạ ra nghênh tiếp, mang theo đủ các thứ thức ăn ngon quý để cúng dường. Ông nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang rạng ngời, sáng hơn cả trăm ngàn mặt trời, dáng đi uy nghi, thanh thoát, đủ vẻ trang nghiêm tốt đẹp, liền đến quỳ lạy dưới chân Phật, thưa rằng: “Lành thay! Nay đức Thế Tôn đã từ bi thương xót mà đến đây thọ nhận phẩm vật cúng dường của con.”
    Phật bảo Mãn Hiền rằng: “Ông muốn cúng dường

* Trang 11 *
device

 ta món gì, cùng với năm trăm thuộc hạ của ông nữa, hãy đặt hết thảy vào bình bát của ta đây!”
    Ông Mãn Hiền với năm trăm người thuộc hạ vâng lời dạy liền đặt các món thức ăn mang đến vào bình bát của Phật. Rất nhiều các thứ đồ ăn thức uống ngon quý, số dùng cho cả ngàn người, nhưng đặt mãi vào mà bình bát vẫn không đầy.
    Do thần lực của đức Thế Tôn, bình bát của một ngàn vị tỳ-kheo khi ấy đều được đầy đủ các món vật thực, rồi các ngài bỗng nhiên hiện hình ra đứng vây quanh đức Phật.
    Chứng kiến phép mầu nhiệm ấy, ông trưởng giả Mãn Hiền khen là việc chưa từng có, liền lấy hết tâm thành mà lễ bái Phật, phát lời nguyện lớn rằng: “Với phước lành cúng dường vật thực cho Phật và chư tăng hôm nay, nguyện trong đời vị lai tôi sẽ vì những chúng sanh mù lòa mà hóa hiện làm cho mắt sáng, vì những chúng sanh chưa thọ pháp quy y mà giáo hóa cho quy y, vì những chúng sanh không người cứu hộ mà hóa thân cứu hộ cho, vì những chúng sanh chưa được an ổn mà làm cho an ổn, vì những chúng sanh chưa nhập Niết-bàn mà làm cho đều được nhập Niết-bàn.”
     Khi ông phát nguyện như vậy rồi thì đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ nơi trán, giữa hai lông mày phóng

* Trang 12 *
device

ra một đạo hào quang năm sắc chiếu khắp thế giới, hóa hiện đủ các màu sắc, bay quanh Phật ba vòng rồi lại theo chỗ trên trán Phật mà bay trở vào.
    Khi ấy, A-nan bạch Phật rằng: “Như Lai là đấng tôn quý, chẳng vô cớ mà cười bao giờ. Nay vì nhân duyên gì mà Phật mỉm cười, xin giảng giải cho được biết.”
    Phật bảo A-nan: “Ông có nhìn thấy trưởng giả Mãn Hiền đây cúng dường ta chăng?” A-nan thưa: “Bạch Thế Tôn, con đã thấy.”
    Phật nói: “Trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa, người này sẽ tu tập đủ các hạnh Bồ-tát (1) , đầy đủ tâm đại bi, sáu phép ba-la-mật (2), sau cùng sẽ thành Phật, hiệu là Mãn Hiền (3), hóa độ chúng sanh số lượng nhiều không thể tính đếm. Vì nhân duyên ấy mà ta mỉm cười.”
    Khi nghe Phật thuyết nhân duyên thành Phật về sau của ông trưởng giả Mãn Hiền, trong đại chúng
_________
1 Bồ Tát : quả vị của người tu theo Đại thừa đạt đến trước khi thành Phật. Theo nghĩa này thì có 10 quả vị, hay 10 địa vị từ thấp đến cao mà người tu lần lượt trải qua, gọi là Thập địa. Bồ Tát cũng còn được hiểu theo nghĩa là người đã phát tâm đại thừa và đang tu tập để đạt đến quả vị Phật.
2 Sáu phép ba-la-mật : đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, trí tuệ và thiền định. Ba-la-mật là phiên âm tiếng phạn, Hán dịch là Đáo bỉ ngạn, hiểu theo nghĩa là đến bờ bên kia. Người đạt đến cuộc sống giải thoát cũng giống như đã vượt qua được con sông khổ não, nên gọi là đến được bờ bên kia. Vì sáu phép tu tập này giúp người tu đạt đến giải thoát nên gọi là sáu phép ba-la-mật.
3 Mãn Hiền : tiếng phạn là Pūrnabhadra. Pūrna nghĩa là sung mãn, đầy đủ; bhadra nghĩa là hiền lành, thông minh.

* Trang 13 *
device

có người được đắc quả Tu-đà-hoàn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-La-hán (1). Lại có người phát tâm tu tập thành Bích-chi Phật (2) , lại có người phát tâm vô thượng Bồ-đề. (3)
   Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận. (4)
_________
1 Từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, cho đến A-la-hán là bốn thánh quả của người tu tập theo giáo pháp Tứ diệu đế. Tu-đà-hoàn, Hán dịch là Nhập lưu, là quả vị đầu tiên, xem như mới nhập vào dòng thánh. Tư-đà-hàm, Hán dịch là Nhất Lai nghĩa là còn phải thọ sanh trong luân hồi một lần nữa. A-na-hàm, Hán dịch là Bất lai, nghĩa là đã dứt sạch nghiệp quả, không còn phải tái sinh nữa. A-la-hán, Hán dịch là Ứng cúng, nghĩa là bậc đầy đủ phước đức, trí tuệ, xứng đáng nhận sự cúng dường của chư thiên và loài người.
2 Bích-chi Phật : còn gọi là Độc giác Phật hay Duyên giác Phật. Đây là quả vị của người tu theo pháp Thập nhị nhân duyên. Gọi là Độc giác Phật, vì các vị này ra đời tu tập theo lý nhân duyên và đạt đến giải thoát, vào thời không có Phật. Gọi là Duyên giác Phật, vì các vị tu tập đến giải thoát nhờ tu tập pháp nhân duyên. Cả bốn thánh quả và quả vị Bích-chi Phật đều được xem là những quả vị của tiểu thừa.
3 Tâm Vô thượng Bồ-đề, hay Bồ-đề-tâm, tức là tâm nguyện muốn thành Phật, bậc giác ngộ hoàn toàn. Đây không phải là quả vị do tu tập chứng đắc, mà là sự phát tâm mạnh mẽ ban đầu, quyết lòng tu tập cho đến khi được hoàn toàn giác ngộ. Vì thế bất cứ ai khi đã có đủ đức tin đều có thể phát Bồ-đề-tâm.
4 Ông Mãn Hiền, hay Phú-lâu-na (Pūrna) này có lẽ trùng tên với ông Phú-lâu-na Di-đà-la-ni-tử (Pūrna Mailtrayaniputtra) ở thành Ca-tỳ-la-vệ (kapilavastu). Trong số cả ngàn vị thánh tăng đệ tử của Phật, có rất nhiều vị trùng tên. Ông Phú-lâu-na Di-đà-la-ni-tử được Phật cho thọ ký sẽ thành Phật hiệu là Pháp Minh (Dharmaprabhāsa). Còn Ông Phú-lâu-na này đươc Phật thọ ký sẽ là thành Phật hiệu Pūrnabhadra (Mãn Hiền).

* Trang 14 *
device

 
Một Trăm Truyện Tích Nhân Duyên Phật Giáo