LOGO VNBET
An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
 (Bài giảng tại trường hạ Tổ đình Thiên Thai, Bà Rịa-Vũng Tàu,
ngày 17-6-07)
Phật dạy hai chúng xuất gia mỗi năm phải cấm túc An cư, thúc liễm thân tâm, siêng tu tam vô lậu học. Tổ đình Thiên Thai đã tổ chức trường hạ liên quận cho Tăng Ni An cư tu học. Chúng ta cần suy nghĩ và cân nhắc xem chúng ta học gì và tu pháp môn nào; không phải chỉ An cư và tu học theo hình thức.
Đặt vấn đề học để tu, tôi nhớ đến câu đối ở Phật học đường Báo Quốc như sau: Học chân thật nghĩa như thị văn, như thị tư, như thị tu trì. Nghĩa là nghe pháp chân thật, suy nghĩ pháp chân thật và hành trì pháp chân thật, mới đạt kết quả tốt đẹp trên bước đường tu. Trải qua quá trình học nghĩa chân thật và tu pháp chật, thái tử Sĩ Đạt Ta đã thành tựu quả vị Phật. Và chư vị Tổ sư cũng học pháp chân thật và tu pháp chân thật, các ngài mới làm Tổ. Chúng ta có may mắn lớn nhất là thừa kế sự nghiệp của Tổ Thiên Thai, một vị Tổ đắc đạo trong thời kỳ cận đại. Trong mùa

* Trang 199 *
device

An cư, hãy suy nghĩ xem Tổ Thiên Thai đã học pháp chân thật và tu pháp chân thật như thế nào mà đắc đạo, làm Tổ.
Có thể khẳng định rằng muốn tu đắc đạo, phải nhận ra con người thực của mình, từ đó dùng pháp Phật đối trị để từng bước thăng hoa trên con đường đạo hạnh. Con người chân thật không phải là thân xác bên ngoài, nhưng là tâm hồn bên trong được cấu tạo bằng thiện nghiệp hay ác nghiệp, bằng đạo đức trí tuệ hay bằng trần lao nghiệp chướng. Nếu ý thức được con người thực của mình là trần lao nghiệp chướng, phải nỗ lực xóa bỏ trần lao nghiệp chướng. Xóa sạch nghiệp, việc tu hành mới thăng hoa được. Còn cứ giữ lấy trần lao nghiệp chướng thì nghiệp luôn sanh khởi và tùy theo sự tác động của trần lao nghiệp chướng mà chúng ta đón nhận buồn vui, phải trái, rồi đối phó theo thế gian, chắc chắn tu hành sẽ đi xuống.
Đức Phật thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác, vì Ngài đã trải qua ba a tăng kỳ kiếp tu sạch nghiệp và thêm một trăm kiếp hành Bồ tát đạo, cứu nhân độ thế, nên phước đức và trí tuệ của Ngài hoàn toàn đầy đủ. Thật vậy, Đức Phật thể hiện mẫu người có đủ năm phước, đó là tâm luôn an lạc, thân không bệnh tật, ngoại hình hoàn hảo, thông minh tuyệt đỉnh và vị trí xã hội cao tột. Với nhân thân trọn lành như vậy, Đức Phật tu hành đạt được kết quả siêu tuyệt một cách dễ dàng. Điển hình như vua Tần Bà Sa La rất kính phục Đức Phật mặc dù lúc đó Ngài chưa là Phật, vì nhân cách thánh thiện đã thể hiện rõ nét trong cuộc sống của Đức Phật. Ngài là bậc đế vương, nhưng sẵn sàng từ bỏ phú quý, lợi danh, vinh hoa, quyền thế mà người thế gian tham đắm cũng không được, để dấn thân hành đạo độ đời. Và đến khi Ngài thành tựu quả vị Vô thượng

* Trang 200 *
device

Bồ đề, thì lòng tôn kính của mọi người đối với Đức Phật càng mãnh liệt hơn. Trên bước đường giáo hóa độ sanh, từ hàng vua quan, trưởng giả, cho đến ngoại đạo cũng đều tôn kính Đức Phật.
Trên là Phật và dưới một bậc là chư vị Tổ sư. Điển hình như Tổ Đạt Ma cũng xuất thân là hoàng tử nước Ấn Độ, văn võ toàn tài, nhưng Tổ đã mai danh ẩn tích, sang Trung Quốc truyền đạo. Bề ngoài ngài khoác áo Thầy tu bình thường mà bên trong nội lực đầy đủ, hiểu biết và việc làm của Tổ thật phi thường. Môn võ Thiếu Lâm tự nổi danh ở Trung Quốc từ ngàn xưa cho đến ngày nay do Tổ Đạt Ma sáng lập và ngài cũng là Tổ của Thiền tông. Và đến Tổ Thiên Thai của chúng ta dưới Tổ Đạt Ma một bậc. Tuy không xuất thân là hoàng tử, nhưng ngài rất thông minh và khỏe mạnh, tiêu biểu cho mẫu người có phước đức và trí tuệ. Con người chân thật hay cốt lõi bên trong là phước đức và trí tuệ mới thực hiện được như thị văn, như thị tư, như thị tu trì. Không thông minh, không hiểu được giáo pháp thì suy nghĩ không ra, tất nhiên việc tu trì sẽ bị sai lạc.
Tổ Thiên Thai kế thừa võ nghiệp Bình Định, nổi tiếng là môn võ của vua Quang Trung. Sống trong thời kỳ đất nước ta bị Pháp đô hộ, mà Tổ lại giỏi võ và thông minh, nên ngài tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp là điều tất yếu. Việc kháng chiến phải chịu chết chóc, tù đày thì nhiều, nhưng thành đạt không có mấy người. Vì thế, ngài đã vào miền Nam ẩn náu ở chùa Long Hòa, núi Chân Tiên. Nghe tiếng chuông chùa, ngài đã thức tỉnh và tìm đến Tổ Hải Hội để cầu học.

* Trang 201 *
device

Với mắt huệ của người đắc đạo, Tổ Hải Hội đã nhận ra cốt lõi bên trong của nhà cách mạng này, dù lúc đó ngài chưa biết gì giáo pháp, mà Tổ Hải Hội đã thấy rõ ngài là pháp khí Đại thừa. Và nhờ Tổ Hải Hội khai ngộ, Tổ Huệ Đăng liền ngộ đạo. Ngộ là gặp, đầu tiên là gặp vị Thầy hình thức bên ngoài, nhưng quan trọng là nhận ra Thầy tâm linh, thấy phước đức trí tuệ của Thầy.
Tổ Thiên Thai và Tổ Hải Hội nhận ra nhau qua tâm, Thầy tâm linh và đệ tử tâm linh gặp nhau; cho nên Tổ Hải Hội đã đặt pháp danh ngài là Thiện Thức, tức nhận ra chânlý mới tu có kết quả tốt. Thiền gọi là kiến tánh khởi tu, tu trên chân tánh thì nghiệp tự sạch, khác với tu trên nghiệp thức, càng tu trí càng mờ mịt và thân mệt mỏi cho đến bỏ tu. Tổ Thiên Thai ngộ rồi mới tu và tu trên chân tánh. Chưa ngộ mà tu, thì Thầy bảo quét lá. Quét lá bên ngoài, nhưng nghĩ như Bàn Đặc là quét lá, quét bụi trong lòng, cho đến khi sạch bụi thì tâm mình sáng. Còn quét lá bên ngoài suốt đời mà tâm không sạch phiền não, là không biết kết hợp pháp phương tiện và chân thật. Tu phương tiện, nhưng phải chứng chân thật. Bàn Đặc quét lá trong sân chùa, nhưng ngộ được chân thật pháp, tâm sáng.
Thử suy nghiệm xem, rõ ràng chúng ta nghiệp dày phước mỏng, nên việc tu học luôn gặp nhiều khó khăn và bụi lá nhiều quá che khuất chân tánh mình. Lòng chúng ta đang nghĩ gì, muốn gì, những thứ này là bụi đất lá trong lòng phải quét cho sạch để tâm chúng ta trống không. Tâm Không, không còn lá bụi, mới đem Phật pháp vô được. Tổ Thiên Thai dạy rằng ví như chiếc áo dơ, phải giặt sạch mới nhuộm màu được. Còn áo dơ nhuộm màu sẽ lem luốc.

* Trang 202 *
device

Riêng tôi khởi tu, mỗi ngày lạy sám hối, phải chấp nhận thực tế của mình, nghe chỉ trích chê bai dèm pha đủ điều và từ đó biết được con người thực của mình như thế nào để sám hối cho tiêu nghiệp. Như Vô Não phát tâm tu, bị đánh vỡ đầu, bị giựt bình bát liệng bỏ, nhưng ông không than, không giận, không buồn; vì thấy rõ nghiệp ông từng giết người, từng gây oan trái thì phải trả quả báo như vậy. Nhờ ngộ thực tế, chấp nhận thực tế, mà ông đắc quả A la hán. Chúng ta phần nhiều ít chấp nhận thực tế nghiệp của chúng ta, cứ lo trang nghiêm hình thức bên ngoài, còn nghiệp trần lao cố che giấu, nhưng lâu ngày nghiệp bên trong cũng bùng phát ra, không giấu mãi được. Thí dụ như thiếu nợ ở địa phương, rồi vào miền Nam tu, bất thình lình một ngày nào đó gặp chủ nợ nhận ra, gọi là đào trái tha phương ngộ cố tri. Đi phương xa gặp lại bạn thì tốt, nhưng gặp bạn oan trái thì khổ lắm. Người vô cớ gây sự, tôi nhận ra đó là oan trái đời trước của mình. Tôi gặp như vậy không ít, thì tôi lạy Phật, sám hối nghiệp chướng đời trước và nhờ Phật lực gia bị, tâm được lắng yên, cho đến khi người xỉ vả thay đổi thái độ, xử sự tốt với mình, thì tự biết nghiệp quá khứ thực sự đã xóa sạch.
Bước đầu tu hành, ai cũng phải trải qua những chướng duyên này. Tôi nghe các Thầy hầu cận Tổ Thiên Thai kể rằng ngài cũng có oan gia trái chủ. Phật và Tổ còn gặp oan trái thì mình sao tránh khỏi, nhưng quán sát xem Phật xử trí cách nào để chúng ta học theo. Khi Phật bị mắng nhiếc, Ngài vẫn bình thản, thậm chí ngoại đạo còn giết người chôn ở pháp tòa, rồi vu oan cho Ngài. Vì công đức của Phật quá lớn, tư cách quá thánh thiện, nên không ai vu khống được. Ngài không cần biện minh, nhưng người xung quanh minh oan cho Ngài. Còn nghiệp chúng ta nhiều, dù không phạm

* Trang 203 *
device

lỗi mà họ vẫn trút tội lên mình được. Bị như vậy, tôi thường nhớ đến kinh Pháp Hoa dạy rằng người phạm phá pháp tội chướng thường bị đổ họa; nên tôi chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng chấp nhận vui vẻ.
Thầy bổn sư tôi nói rằng Thầy pháp ăn, Thầy chùa chịu. Là Thầy chùa, thì phải chịu thôi, không có cách khác. Chúng ta chấp nhận, nhưng "đầu trọc” làm sao dính được. Nghĩa là cạo sạch được trần lao nghiệp chướng của mình thì chẳng có gì đổ dính vào mình được. Chỉ cạo hình thức mà không cạo tâm, còn buồn giận, tính toán, hơn thua, chắc chắn nghiệp sẽ dính vô mình. Mới tu, phải chấp nhận thực tế này. Tổ Thiên Thai lên hang Mai ẩn tu, không liên hệ với người nào cả, không làm gì đụng chạm đến ai cả, nhưng người ta còn nói nặng ngài thậm tệ: "Trên non thằng Thức tu quý quả” . Quý quả là tiếng nói lái của quá quỷ. Bị xúc phạm như vậy, Tổ Thiên Thai đã làm bài sám Thảo Lư. Chúng ta noi gương Tổ, gặp nghịch cảnh xem mình sanh tâm tốt hay xấu. Có người chỉ trích, phản ứng nội tâm của Tổ là:
Chốn thảo lư an cư dưỡng tánh
Dốc một lòng nhập Thánh siêu phàm
Sắc tài danh lợi chẳng ham
Thị phi phủi sạch luận đàm mặc ai
Đối với Tổ, người ta nói phải trái tốt xấu, ngài không bận tâm. Là môn hạ của Tổ Thiên Thai, chúng ta phải nhớ lời dạy này, thị phi phủi sạch, luận đàm là của người đời. Còn đang Thiền mà nghe ai kêu tên mình nói xấu, đợi xả Thiền tìm họ giải quyết là sai lầm

* Trang 204 *
device

lớn. Ba tháng An cư, Tăng Ni về đây tu học, gặp nghịch cảnh cứ nhớ câu phương châm hành đạo rằng "Thị phi phủi sạch”.
Tuyết ban mai lâu dài chi đó
Thân người đời nào có bao lâu
Rộn ràng trong cuộc bể dâu
Xuân xanh mới đó bạc đầu rồi đây
Ba vạn sáu ngàn ngày công khó
Chia phần đem cho đó một hòm
Của tiền để lại cháu con
Bao nhiêu tội lỗi phần hồn lãnh riêng
Làm việc gì trên cuộc đời này, rồi chết chỉ chia cho chúng ta một cái hòm mà thôi, nên chúng ta không bận tâm chuyện thị phi. Có như vậy, lá trong tâm, bụi trong tâm mới phủi sạch, tâm mới sáng.
Tổ Hải Hội đặt cho ngài pháp danh Thiện Thức vì ngài nhận ra cốt lõi của muôn sự muôn việc là Không, nên ngài rũ bỏ nhẹ nhàng. Trước khi tu, ngài làm cách mạng không khoan nhượng trước giặc, nhưng tu hành, từ bỏ tài sắc lợi danh, ngài quét sạch bụi trong tâm. Tâm bừng sáng, thì có pháp danh là Huệ Đăng, nghĩa là ngọn đèn tâm sáng. Phủi sạch thị phi, ngọn đèn tâm sáng lên, hiện tánh chân như, tức đắc đạo, ngài nhận ra rằng bản tánh là Di Đà, tức Phật Di Đà hiện hữu ngay trong chân như tánh nếu biết quay về an trụ nơi chân như của chính mình, Phật Di Đà không phải ở nơi xa xăm nào.
Y theo giáo pháp Thích Ca
Tự nhiên bản tánh Di Đà phóng quang

* Trang 205 *
device

Trong mùa An cư, tôi mong rằng quý Tăng Ni nên đọc kỹ bài sám Thảo Lư, đi theo bước chân của Tổ Thiên Thai để thâm nhập thế giới tâm linh, gặt hái được những thành quả tốt đẹp mà trên Đức Phật và chư vị Tổ sư đã để lại cho chúng ta.

* Trang 206 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)