LOGO VNBET
An lành và tĩnh giác
(Bài giảng tại chùa Pháp Vân ngày 14-3-06)
 Hôm nay tôi rất hoan hỷ khi thấy Tăng Ni và Phật tử phát nguyện tu Thiền một tuần. Từ khi Thiền sư Nhất Hạnh về thăm Việt Nam cho đến nay, hình ảnh thân thương cùng những lời nói êm tai mát lòng của ngài vẫn còn đọng lại trong cuộc sống của chúng ta; đặc biệt là trong tuần lễ tu tập Thiền quán này. Tôi không có duyên được sống chung lâu dài với Thiền sư Nhất Hạnh; nhưng tôi được gặp ngài trong thập niên 50 ở Phật học đường Nam Việt. Và sang thập niên 60, tôi gặp lại ngài ở Nhật Bản, đến năm 1970 thì gặp ở Pháp. Trong khoảng thời gian gặp gỡ ấy, Thiền sư chưa tổ chức những khóa tu Thiền như ngày nay. Tuy nhiên, riêng tôi có cảm giác tinh thần Thiền đã tỏa sáng nơi ngài, từ lời nói, cử chỉ, thái độ, hay những câu đối đáp của ngài về cuộc đời, cho đến sự lặng yên tỉnh giác. Quý vị may mắn được trực tiếp nghe pháp thoại với Thiền sư, hay sống chung cùng ngài, hoặc tiếp nhận được sự truyền pháp từ

* Trang 27 *
device

ngài qua tâm hồn sâu thẳm của chính mình; đó là điều vô cùng quan trọng đối với nếp sống tu hành của Thiền sinh.
Hôm nay khai giảng khóa học này, tôi trích một bài viết của Thiền sư Nhất Hạnh để đăng Nguyệt san Giác Ngộ, tặng cho các Thiền sinh, nhằm ôn lại những lời nói của ngài, hầu rút ra những kinh nghiệm tu hành cho chính mỗi người chúng ta. Trong pháp thoại này, Thiền sư dẫn kinh Thủy Dụ để nhắc nhở chúng ta thái độ của người tu khi sống chung hoặc tiếp xúc với năm hạng người khác nhau, 1/ Người hành động không tốt, nhưng lời nói của họ dễ thương. 2/ Người hành động tốt, nhưng lời nói khó nghe. 3/ Người mà cả lời nói và hành động đều không tốt. 4/ Người có lời nói, hành động và tâm đều không tốt. 5/ Người có lời nói, hành động và tâm đều tốt. Bài pháp thoại tuy ngắn, nhưng quan trọng, qua đó Thiền sư gợi cho chúng ta cách sống tốt đẹp với năm hạng người này để họ đều là những pháp lữ đồng hành với chúng ta và cùng xây dựng ngôi nhà chung của Phật giáo mang an lạc cho mọi người.
Thiết nghĩ trong cuộc sống hàng ngày, chắc chắn chúng ta đều tiếp cận với năm hạng người nói trên; nhưng vì đôi khi chúng ta xử sự không đúng, cho nên bị mất bạn quý và đánh mất cơ hội thể hiện lòng từ bi theo Phật. Phật tại thế, trên bước đường vân du hóa độ, Ngài cũng đã nói nhiều bài pháp thoại ngắn thích hợp với từng trường hợp khác nhau để người nghe cảm nhận được và thể nghiệm trong cuộc sống. Chúng ta thấy rõ những lời Phật dạy rất sát với cuộc sống giúp cho Tăng Ni, Phật tử có phương cách sống và làm cho cuộc

* Trang 28 *
device

đời này đẹp hơn. Và chính Đức Phật cũng như các đệ tử của Ngài đã thể hiện trọn vẹn nếp sống thánh thiện; nên người ta mới tôn danh là Phật và Thánh chúng. Nhưng sau khi Phật Niết bàn, thiếu vắng trí tuệ và tâm từ bi của Đức Thế Tôn, nên đã xảy ra nhiều việc không tốt; dẫn đến phân chia nhiều tông phái, thậm chí cùng là đệ tử của Phật mà còn bất hòa với nhau, không chấp nhận nhau, huống chi là đối với năm hạng người nói trên.
Và khi Phật giáo An Độ bị mai một, chúng ta nhận thấy Phật giáo xuất hiện sáng tỏ ở Trung Hoa, đặc biệt là Thiền Đông Độ. Thiền Đông Độ ra đời rất sớm, không phải đến thời ngài Đạt Ma mới có. Người ta thường nói ngài Đạt Ma mở Thiền cho Đông Độ, nhưng kỳ thật, tư tưởng của Phật đã là Thiền và nếp sống của Phật cũng là Thiền. Chính tư tưởng và nếp sống của Phật đã thể hiện ngời sáng trong cuộc đời hành đạo của Thiền sư Khương Tăng Hội ở Việt Nam vào thời kỳ rất sớm. Chúng ta thấy Thiền sư Khương Tăng Hội lớn hơn Tổ Đạt Ma cả mấy trăm tuổi. Vì thế, với sự khai tâm của ngài Khương Tăng Hội, các bậc chân tu Việt Nam từ thời đó cũng đã thể hiện nếp sống Thiền và các ngài đã xây dựng được đạo Phật Việt Nam chúng ta thành tựu nhiều việc tốt đẹp trước khi Phật giáo đến Trung Quốc.
Nhắc đến Tổ sư Đạt Ma, chúng ta không sao quên được hình ảnh uy nghiêm của ngài ở Thiếu Lâm tự, suốt chín năm ngồi quay mặt vô vách, toát lên đạo lực của một hành giả nhập Thiền thực là kỳ vĩ. Ngài không dạy ai cả, hay chính xác hơn, ngài chỉ dạy một người duy nhất là Huệ Khả. Đó là điều mà tôi thường suy nghĩ và muốn trao đổi với các Thiền sinh hôm nay.

* Trang 29 *
device

Đạt Ma là Tổ sư, nhưng sự thật ngài chỉ độ duy nhất một mình Huệ Khả. Đương nhiên, ngài giảng dạy nhiều đệ tử, nhưng chỉ có Huệ Khả cảm tâm được với ngài. Điều này khiến cho tôi suy nghĩ nhiều về pháp Thiền.
Ngày nay, tu Thiền, chúng ta tiếp nhận được trí tuệ từ Đức Phật Thích Ca, hay từ nhiều Đức Phật; nhưng kỳ thực khi chúng ta truyền sở đắc của mình cho những người khác, tôi cảm nhận rằng chỉ truyền cho một người đã khó khăn vô cùng. Nếu ở góc độ nhìn thấy Tổ Đạt Ma đào tạo được một Huệ Khả đắc đạo thì thú thực tôi trải qua thời gian tu hành năm mươi bảy năm, nhưng chưa độ được một người. Một người đắc đạo tìm được một người thừa kế để truyền tâm pháp của mình cho họ quả là việc không đơn giản chút nào. Tôi hy vọng các vị Thiền sư đắc được một pháp nào cũng tìm được một người tương ưng để truyền trao cho thế hệ kế tiếp cũng quý giá vô cùng. Chỉ được một người, nhưng rất xứng đáng.
Kinh nghiệm cho tôi thấy rõ, người đắc Thiền có thể độ người khác; nhưng chưa đắc pháp mà muốn độ người thì khó khăn vô cùng. Tôi đã tham vấn Thiền sư Kono ở Kobe, Nhật Bản. Ngài tu Thiền thuộc dòng Lâm Tế. Ngài dạy tôi rằng muốn độ đệ tử, phải tìm được đệ tử thực sự cảm tâm mình, đồng hạnh nguyện với mình, cùng đi trên một tuyến đường với mình, cùng suy nghĩ theo một hướng với mình. Thử nghĩ xem tìm được một người có đủ tiêu chuẩn như thế có dễ hay không. Có người tôi gặp nhận thấy có nhiều điểm đồng nhau, nhưng sau vài câu chuyện, đã thấy họ khác rồi. Vậy mà tìm

* Trang 30 *
device

được một người đồng với mình, đi suốt quảng đường tu với mình, gần là đi tới hết cuộc đời này và xa là đến thành Phật, quả là khó khăn không thể nói hết. Nhưng không tìm được người đồng hành như vậy thì chúng ta có chia sẻ được với những người khác hay không. Tất nhiên là chia sẻ được, nhưng đó là sự chia sẻ không đồng, mà phải chia sẻ theo năm phương cách như Thiền sư Nhất Hạnh đã nói trong bài pháp thoại về cách sống với năm hạng người mà chúng ta gặp gỡ, tiếp xúc trong cuộc sống. Sự chia sẻ theo cách này đã được Thiền sư Nhất Hạnh thực hiện rất rõ trong việc dạy Thiền. Ngài đã dạy Thiền cho những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Do Thái, v.v…; không phải chỉ dạy cho người theo đạo Phật.
Có thể khẳng định rằng Thiền sư đắc đạo, nhưng không tìm được người đồng hành thì coi như dòng Thiền chấm dứt ngay điểm đó. Thật vậy, nghiên cứu Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, chúng ta nhận thấy ngài Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông truyền tâm ấn cho ngài Pháp Loa và tiếp theo, ngài Pháp Loa truyền cho ngài Huyền Quang. Thiền đến đây là chấm dứt. Không phải ngài Huyền Quang không có đệ tử, vì lúc đó Phật giáo đời Trần đang ở thời kỳ cực thạnh; nhưng mà vẫn phải chấm dứt. Đi khắp thiên hạ tìm bạn đồng hành, đồng sự quả thực khó vô cùng. Tham vấn Thiền sư Nhất Hạnh, ngài cũng từng nói với tôi như thế, khó tìm được người có thể chia sẻ. Nhưng may mắn thay, Thiền sư đã tổ chức được làng Mai, làng Hồng và các khóa tu mà anh em hôm nay đang thừa hưởng.

* Trang 31 *
device

Cái khó của tu Thiền không phải ngồi khó, Thiền hành khó, pháp thoại khó; nhưng khó ở chỗ tìm được mối tâm giao. Truyền thông bằng tâm giao được thì không nói, không Thiền hành cũng cảm thông với nhau, hiểu nhau tường tận. Khi tôi thực tập Thiền ở Thiền viện của ngài Kono, ngài trải bồ đoàn trước mặt tôi và ngồi đối diện với tôi để dạy Thiền. Nhưng qua hơn hai tiếng đồng hồ, hai Thầy trò ngồi đối mặt nhau mà không nói lời nào. Sau đó, ngài hỏi tôi "Hiểu chưa”. Tôi trả lời chưa, thì ngài bảo rằng pháp thoại chấm dứt chừng đó. Trong nhà Thiền, tìm tri thức hiểu nhau không qua ngôn ngữ, cử chỉ là điều rất quan trọng. Chúng ta còn nhớ hình ảnh rất tuyệt vời, Đức Phật tuy không nói lời nào, nhưng Ngài cũng cầm hoa sen đưa lên để gợi ý cho Ca Diếp tỏ ngộ. Hoặc chúng ta nói những pháp thoại để gợi ý cho đại chúng. Còn trường hợp của ngài Kono dạy tôi, chẳng những không có pháp thoại, còn không biểu lộ cử chỉ, mà bảo mình hiểu. Không hiểu thì đi về. Đơn giản như vậy thôi. Một Thiền sư khác mà tôi đến đảnh lễ, xin ngài chỉ dạy Thiền. Ngài chỉ nói rằng phải thêm ba mươi năm tham cứu nữa. Thế là tôi ra về với hành trang là câu "Ba mươi năm tham cứu nữa”.
Tìm một cuộc sống yên tĩnh để có sự tỉnh thức bên trong, sự sáng tỏ bên trong mà giữa ta và Thầy hiểu nhau không qua lời nói, không qua cử chỉ, mới thực sự thâm nhập vào thế giới Thiền. Nhưng người đạt đỉnh cao như thế để nuôi dưỡng được dòng pháp Phật muôn đời về sau phải nói là hiếm có người làm được.

* Trang 32 *
device

Nhưng thực tế chẳng lẽ khó như vậy thì không dạy Thiền hay sao. Dĩ nhiên tất cả các Thiền sư khác cũng dạy Thiền, nhưng phải biết đều là phương tiện. Các ngài đưa ra những pháp hành khác nhau cũng giúp được cho người ở một chừng mức nào đó để thăng hoa cuộc sống, để làm tươi mát những cơn bực tức, buồn phiền của con người. Đó chính là xã hội Thiền vậy. Tôi mong rằng tất cả Thiền sinh đều hưởng được hương vị này, nghĩa là dịu mát được tâm hồn, dập tắt được sự tức giận, phiền muộn, trầm uất, khổ đau, v.v... Tôi nghĩ rằng quý vị sẽ thực tập được pháp Thiền theo hướng này, trong bảy ngày tu ở đây mọi người đều đạt được sự tỉnh giác ở một mức độ nào đó. Riêng tôi, lấy pháp trì kinh, lạy Phật thay cho Thiền, cũng làm tươi mát được tâm mình, nên tôi thường dạy người khác pháp hành này. Gặp việc khó xử, tôi thường lạy Phật liên tục cũng cảm thấy lòng nhẹ đi và đôi khi lóe lên những tia sáng giúp tôi giải quyết mọi việc tốt đẹp.
Tất cả các pháp môn phương tiện dùng cho việc tu hành, mỗi Thiền sư có một cách khác nhau; nhưng tựu trung đều làm tươi mát tâm hồn. Còn việc cao xa hơn nữa là thâm nhập Phật huệ thì dành cho hàng thượng căn thượng trí. Hôm nay, không có Thiền sư Nhất Hạnh ở đây để chỉ dạy trực tiếp. Mong các anh em tự nỗ lực, trước nhất là làm tươi mát được cuộc sống của chính mình và các bạn đồng tu. Kế đến là tìm được sự tâm giao giữa các bạn đồng tu. Vì nếu không hiểu nhau, không thương nhau, không giúp đỡ nhau được thì việc tu hành không còn ý nghĩa. Quý vị từ bốn phương trời đến đây, hãy sử dụng cơ hội sống chung với nhau trong khóa tu này để tìm hiểu và

* Trang 33 *
device

thấy được những điểm tốt đẹp của nhau mà bổ sung cho việc tu hành của chính mình. Được như vậy đã là sự đóng góp lợi lạc cho đạo pháp và cộng đồng xã hội.
Cầu mong tất cả những Thiền sinh hiện diện trong khóa tu này luôn được an lành, tỉnh giác và tạo được mối tâm giao thân thương với các pháp lữ đồng hành trong suốt khóa tu và trên suốt lộ trình tự hành hóa tha.

* Trang 34 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)