LOGO VNBET
Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
(Bài giảng tại giới đàn Thiện Hòa 5, Chùa Đại Tùng Lâm
Bà Rịa - Vũng Tàu)
Trong tứ sanh lục đạo, được sanh làm người rất khó. Đức Phật thường ví điều khó được này như con rùa ở dưới đáy biển cả ngàn năm mới nổi lên mặt nước và trong đại dương mênh mông mà rùa vớ được khúc cây nổi để theo đó vào bờ. Chúng ta trải qua vô số kiếp ở trong luân hồi sanh tử, đã may mắn được làm người và gặp Phật pháp còn khó hơn con rùa gặp khúc cây nổi giữa biển khơi. Chúng ta phải thấy điều quý báu ấy mà trân trọng giữ gìn. Thật vậy, nếu không gặp Phật pháp, chúng ta mãi trôi lăn trong sanh tử, chịu biết bao khổ đau. May gặp được Phật pháp, nhờ ánh sáng chánh pháp khai mở trí tuệ, làm tâm chúng ta sáng ra, không tạo tội ác nữa để không đọa vào ba đường ác và tu pháp lành để đời đời kiếp kiếp qua lại chốn nhơn thiên, tiếp tục tu hành đến thành tựu quả vị Vô thượng Đẳng giác.
Khi Đức Phật Thành đạo, Ngài muốn nhập Niết bàn; vì thấy sở đắc của Ngài không thể truyền dạy cho chúng sanh đầy nghiệp chướng trần lao. Bấy giờ, mười phương Phật hiện thân an ủi Đức Phật Thích Ca,

* Trang 207 *
device

khiến Ngài nhớ nghĩ đến bi nguyện mà thị hiện sanh lại cuộc đời này để giáo hóa chúng sanh. Đức Phật đã sử dụng vô số phương tiện, kinh điển thường gọi là tám mươi bốn ngàn pháp môn nhằm dắt dẫn mọi người chứng Niết bàn, đến quả vị Vô thượng Bồ đề. Ngày nay, chúng ta nương pháp phương tiện tu hành để giải thoát, ra khỏi sanh tử là ý nghĩa học Phật và tu theo Phật.
Trên bước đường giáo hóa độ sanh, trước nhất Đức Phật đến Lộc Uyển thuyết pháp độ năm anh em Kiều Trần Như. Lúc đó, chưa có giáo điều; cả năm vị này đều thực hành Tứ Thánh đế và đã ngộ Vô sanh, chứng quả vị A la hán. Có thể khẳng định pháp Tứ Thánh đế của Phật chỉ dạy gồm đủ tất cả pháp môn tu. Nếu chúng ta thành tựu được Tứ Thánh đế, chắc chắn cũng ra khỏi sanh tử, đến Niết bàn. Khởi đầu năm vị Tỳ kheo thể nghiệm được pháp Tứ Thánh đế và đắc Thánh vị. Nhưng về sau, trên bước đường Phật du hóa, có người không thực tâm xuất gia, có người nghiệp chướng sâu dày xuất gia, có người căn lành ít ỏi cũng phát tâm theo Phật. Những người này vì căn lành yếu kém, hiểu biết cạn cợt, không thể quán pháp Phật để chứng Niết bàn. Vì thương xót những người này và thương tưởng chúng ta ngày nay, Phật mới chế đặt những giới luật để ngăn ngừa các chướng duyên cho chúng ta và bảo đảm đời sống phạm hạnh giúp chúng ta tiến tu giải thoát. Từ đó, Phật đã tùy theo hoàn cảnh từng lúc, từng nơi, từng người mà Ngài thiết đặt những giới pháp khác nhau. Khi Phật Niết bàn, ngài Ưu Ba Ly kiết tập lại những điều răn dạy của Phật, lập thành tứ phần Luật tạng và từ tứ phần Luật tạng triển khai thành giới bổn của Sa di, Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Thức xoa ma na Ni.
Như vậy, giới căn bản chỉ nằm trong Tứ Thánh đế, gọi là giới thể. Hàng thượng căn tu hành trực tiếp thâm nhập giới thể, chứng đắc

* Trang 208 *
device

Thánh vị A la hán. Còn hàng trung căn và hạ căn cần nương theo giới bổn; tùy theo trường hợp khác nhau mà lãnh thọ giới pháp khác nhau và thực hiện phần nào sẽ được giải thoát phần đó, nên gọi là giới biệt giải thoát. Hàng xuất gia thọ mười giới Sa di và giữ trọn được thì tiếp tục thọ giới Tỳ kheo, Thức Xoa Ma Na, Tỳ kheo Ni. Đó là thềm thang để bước lên giới phẩm cao của hàng trung và hạ căn.
Tuy đồng thọ giới để trở thành Sa di hay Tỳ kheo, cùng được dự vào hàng tứ chúng, nhưng tất cả những người này đều có phẩm bậc khác nhau. Trên nguyên tắc, người thọ giới trước đứng trước, người thọ giới Sa di nhỏ hơn người thọ giới Tỳ kheo. Như vậy, có sai biệt trên hình thức, nhưng hình thức nhằm chuyên chở nội dung lớn bên trong, sự sai biệt bên trong mới quan trọng; nghĩa là phải thực hành giới và thành tựu giới thể, đạt được kết quả tốt đẹp. Nếu thực hành được giới căn bản Tứ Thánh đế, chúng ta đạt được quả vị từ Tu đà hoàn đến A la hán, ra khỏi sanh tử. Nhưng hàng trung căn và hạ căn đi từ giới pháp của Sa di đến Tỳ kheo cũng phải kinh qua giai đoạn tu ba mươi bảy Trợ đạo phẩm để từng bước thâm nhập Tứ Thánh đế và cũng chứng quả Tu đà hoàn cho đến A la hán. Như vậy, hàng thượng căn tu khác với hàng trung và hạ căn. Và trong hàng trung hạ cũng có ba hạng khác nhau. Hạng thứ nhất là Tỳ kheo có thọ giới và thực hành, quán chiếu Tứ Thánh đế, diệt trừ được hoặc nghiệp và chứng một trong tứ Thánh quả, thì giới này mới thực sự có tác động hữu hiệu. Còn chấp giới, còn vướng mắc, không thể giải thoát, không đắc quả vị nào cả, nói chi đến hạng không giữ giới và hạng phá giới chắc chắn bị đọa vào ba đường ác, càng tu càng gặp khó khăn và cuối cùng không còn giữ được hạnh nào của Thầy Tỳ kheo.

* Trang 209 *
device

Các giới tử hôm nay được thắng duyên thọ giới tại giới đàn Thiện Hòa 5. Giới đàn này được tổ chức tại Đại Tùng Lâm, có điểm đặc biệt cần suy nghĩ. Theo tôi, bước thứ nhất chúng ta thấy Đại Tùng Lâm có thể coi là trung tâm Phật giáo Việt Nam, vì trên cả nước, không nơi nào có được công trình lớn lao như Đại Tùng Lâm. Khu đại già lam này phát khởi từ Hòa thượng Thiện Hòa là vị chuyên trì luật. Nhờ công đức trì luật của ngài mà xưa kia, Giáo hội Tăng già toàn quốc đã đề cử ngài làm Trị sự trưởng của Giáo hội. Lúc đó, tôi còn là học Tăng của Phật học đường Nam Việt. Tôi đã nghe Hòa thượng thổ lộ rằng ngài muốn tìm một nơi xứng đáng làm trụ sở của Giáo hội Tăng già toàn quốc và nơi đó phải là điểm tựa cho Tăng Ni cả nước. Trên bước đường để tâm tìm kiếm, ngài đã đi khắp miền Nam, sau cùng ngài chọn khu Đại Tùng Lâm. Năm 1957, nơi đây còn là khu rừng nguyên sinh, Hòa thượng đã khai khẩn đến một trăm mẫu và dựng bảng là Đại Tùng Lâm Phật giáo, trụ sở của Giáo hội Tăng già toàn quốc.
Do công đức tu hành, dưới mắt ngài đã hiển hiện sự thật nơi đây là trung tâm Phật giáo khi còn là khu rừng hoang vắng cách nay năm mươi năm. Điều này nói lên rằng người tu chúng ta phải thấy được những gì vượt hơn thực tế để nhận ra thật tướng mà người thường không thấy được. Người thường thấy là khu rừng hoang vắng, nhưng người đắc đạo thấy là khu đại già lam. Vì vậy, quý vị thọ giới nơi đây có được phước duyên thù thắng, cần nhận biết và giữ gìn. Trong năm giới đàn liên tục, tôi đã đến trụ xứ này làm tuyên Luật sư và mỗi lần tôi lại nhận thấy tính cách của trung tâm Phật giáo hiện rõ nét hơn ở khu Đại Tùng Lâm này.
Chúng ta nhiều kiếp ở trong sanh tử luân hồi, bị ngũ uẩn ngăn che, thấy không bao giờ đúng sự thật, thấy xấu thành tốt, thấy sai thành

* Trang 210 *
device

đúng. Cho nên tạo hết tội này đến tội khác, mới chịu khổ mãi trong sanh tử. May mắn còn chút căn lành, chúng ta tiếp nhận được lòng từ bi của Phật mở phương tiện cho chúng ta nương theo. Như đã nói, hàng thượng căn chỉ cần quán Tứ Thánh đế là chứng quả vị A la hán. Hàng trung và hạ căn phải giữ gìn nghiêm mật các giới của Sa di cho đến Tỳ kheo và sau đó quán pháp Tứ Thánh đế thuần thục mới ra khỏi sanh tử. Như vậy, giới mà quý vị thọ lãnh hôm nay là giới biệt giải thoát để lìa sanh tử, chứng Niết bàn; quý vị nên trân trọng giữ gìn. Riêng tôi, khi thọ lãnh giới pháp, ý thức sâu sắc rằng những giới bổn là phương tiện giúp tôi giải thoát; cho nên tôi đã cố gắng hành trì, kết quả là từng bước các chướng duyên giảm bớt và nghiệp tiêu để tu quán Tứ Thánh đế.
Thời Phật tại thế, có những Tỳ kheo đã hiện thân phạm giới để tạo điều kiện cho Phật chế giới cho những người còn yếu kém đạo hạnh cũng như chúng ta ngày nay nương theo tiến tu đạo nghiệp. Trong các tội Phật ngăn cấm, có bốn tội nặng, chúng ta học, suy nghĩ kỹ thấy rõ người phạm bốn tội này, ở thế gian chắc chắn không được giải thoát. Sát, đạo, dâm, vọng là bốn tội căn bản mà Phật gọi là bốn ba la di. Phải nhớ rằng phạm một trong bốn tội này không tiến tu được.
Nếu ta phát nguyện suốt đời đoạn dâm dục và giữ được như vậy, thì trên căn bản chúng ta đã chấm dứt được sanh tử luân hồi; vì đó là nguyên nhân dẫn người vào sanh tử. Nếu thọ giới này, tự kiểm lại sẽ thấy được túc nghiệp của chúng ta như thế nào và đối với giới này, có phản ứng ra sao. Nếu túc nghiệp thanh tịnh, là nhiều đời đã xuất gia và tu thanh tịnh, thì tái sanh hiện đời, chúng ta lãnh thọ giới này hoàn toàn an lạc. Nhưng nhiều đời đã tạo nhiều tội lỗi, kết thành nhân duyên oan trái với chúng sanh, thì trong lòng chúng ta sẽ có phản ứng, tức những

* Trang 211 *
device

tình cảm luyến ái sẽ phát sanh và nhân duyên giữa ta với người có, nên họ tìm đến đòi. Người thiện căn thì trong tâm thanh tịnh, bên ngoài không ai đến đòi hỏi. Người ác nghiệp, dù trốn tránh, xuất gia cũng không thoát, cũng xả giới hoàn tục.
Chúng ta tự xét lại xem mình thuộc hàng thượng căn, hay trung căn, hạ căn. Trong đại chúng hôm nay, những người hạ căn phải phát nguyện dũng mãnh, cương quyết giữ giới, thà mất mạng chớ không phạm giới cấm. Phật dạy rằng Tỳ kheo thà nhảy vào lửa, chết thân mạng này, nhưng sẽ có thân thanh tịnh. Nếu quyết tâm cao, được Hộ pháp Long thiên giữ gìn và Phật bảo hộ chúng ta. Ngược lại, không dứt khoát, hèn yếu, sẽ bị nghiệp bên trong tác động, chướng bên ngoài khuấy phá, khó tu được. Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni bắt đầu tu phải xem phản ứng trong tâm và bên ngoài; cương quyết thà chết, không thoái lui. Tôi thấy rõ những người đồng hành không quyết tâm giữ gìn giới pháp, họ luôn bị nghiệp bên trong và bên ngoài phá rối liên tục, cuối cùng cũng không tu được.
Quý vị lãnh thọ 10 giới Sa di, 250 giới Tỳ kheo, hoặc 350 giới Tỳ kheo Ni. Theo kinh nghiệm riêng tôi, những người mới lãnh thọ giới pháp, đạo lực còn yếu, giới luật chưa hiểu rõ ràng, mỗi ngày nên học giới bổn. Thuở mới thọ giới, mỗi ngày tôi đều đọc bốn cuốn Luật, đọc cho đến thuộc lòng, thậm chí trong giấc ngủ cũng đọc, không phải một tháng mới đọc một lần. Nhờ vậy, khi đối cảnh, hành xử theo giới pháp, nên bảo toàn được đời sống tu hành, thăng hoa đạo nghiệp. Không đọc kỹ giới luật mỗi ngày, đụng việc sẽ đối phó theo nghiệp, nghĩa là ta muốn gì thì phản ứng theo đó.
Thọ giới xong, học thuộc lòng giới bổn và đọc hàng ngày sẽ nhắc nhở, cảnh giác chúng ta không rơi vào hoàn cảnh xấu và từng bước

* Trang 212 *
device

chúng ta quen với nếp sống giới luật, thì chúng ta không dụng công, dụng ý giữ gìn, nhưng không bao giờ sống trái luật, không vi phạm giới điều Phật chế. Các giới tử cần lưu ý như vậy. Ngoài ra, thọ giới xong, tối thiểu năm năm phải đọc giới, trì giới, để giới thể thanh tịnh mới hiện thành giới tướng giải thoát. Giới thể bên trong không thanh tịnh, giới tướng không trang nghiêm được. Hòa thượng nhận thấy giới tướng chúng ta trang nghiêm, mới chỉ dạy các pháp khác. Pháp này là gì? Có Thầy cho đệ tử chưa thọ giới mà đã đọc giới Đại thừa, rồi tưởng lầm mình là Bồ tát, nguy hiểm vô cùng.
Năm năm trì giới, giới thể và giới tướng viên dung, Thầy mới dạy chúng ta "Thính giáo, tham Thiền”; nghĩa là sau khi nghiệp chúng ta chấm dứt, thì bắt đầu đối chiếu với Tứ Thánh đế, ví như đối trước tấm gương soi bóng xem con người thực của mình hiện ra. Nếu hiện tướng phàm phu là biết chưa được gì. Nếu hiện tướng Tu đà hoàn, biết ta thực sự đã là đệ tử Phật. Đệ tử Phật thì "Tùng Phật khẩu sanh, tùng pháp hóa sanh, đắc Phật pháp phần”. Pháp Phật căn bản phải thành tựu là phải chứng quả Tu đà hoàn, mới có tư cách là con Phật thực sự. Vào quả Dự lưu, thân không còn khổ lụy vì đói khát nóng lạnh, tâm không còn phiền não. Gặp việc đáng giận, đáng buồn, đáng ham muốn, chúng ta không giận, không buồn, không ham muốn. Dù trời người cung kính, vẫn bình thường. Dù quỷ Dạ xoa nuốt, chúng ta cũng không thay đổi. Trước sống và chết, vinh và nhục, không bị lôi cuốn, không sợ sệt. Mười triền cái đã dẹp xong, không còn bị ràng buộc trong sanh tử, mới bước chân vào cửa giải thoát; nói cách khác, giới biệt giải thoát là thềm thang để thâm nhập cảnh giới Tứ Thánh đế.

* Trang 213 *
device

Tâm thanh tịnh, không phiền não và thân không bệnh khổ vì đói, khát, nóng, lạnh. Trên bước đường tu, cần thực tập cho đạt được cơ thể không bị nóng lạnh, đói khát hành hạ. Còn nóng quá, không có quạt máy hay máy lạnh thì bệnh, không có thức ăn theo nghiệp ham muốn cũng bệnh; như vậy, bị lệ thuộc vật chất quá nhiều, làm sao giải thoát. Năm Tỳ kheo đầu tiên theo Phật đạt Thánh quả, tức làm chủ được bốn vấn đề, đói khát, nóng lạnh; Phật mới khuyên các Thầy mỗi người đi một phương giáo hóa chúng sanh. Nhưng sau đó, phàm Tăng theo nhiều, không chịu được đói khát, nóng lạnh, nên phải tập trung một chỗ tu hành có đàn việt cúng dường.
Trì giới đối với tôi là rèn luyện cho khỏe mạnh, thực sự chịu đựng được nóng lạnh và không lệ thuộc ăn uống. Thọ giới rồi, tập thử một giới như không ăn chiều. Ăn chiều coi là bệnh, gọi là dược thực; cố gắng tập không ăn chiều, không ăn một vài ngày cho đến một tuần, một tháng, v.v... Thực sự muốn trở thành Hiền Thánh, phải luyện tập việc này. Không lệ thuộc ba việc, ăn, mặc, ở; không ăn cũng không sao, dùng thức ăn đạm bạc vẫn khỏe, ở chỗ nóng nực, chật hẹp, hay lạnh lẽo, không bệnh, là chúng ta đã bước chân vào cửa giải thoát.
Nhưng còn tâm bên trong, chưa giải thoát, chưa thanh tịnh, phải quán chiếu lại Tứ Thánh đế xem còn trục trặc chỗ nào. Đầu tiên, chúng rà soát lại Tứ Niệm xứ có qua được hay chưa. Quán Tứ Niệm xứ, tức quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, bốn điều này đối với chúng ta có thực sự thanh tịnh hay không, có thấy tất cả là vô ngã không. Kiểm soát lại, thấy lòng chúng ta chưa đoạn được, vì còn vụt nhớ nhà, nhớ cha mẹ. Đó là kinh nghiệm mà Đức Phật đã trải qua khi Ngài tĩnh tọa ở Bồ đề đạo tràng, bên ngoài

* Trang 214 *
device

thanh tịnh, nhưng trong lòng còn tồn tại, khuấy động, gọi là ngũ ấm ma, phiền não ma hiện ra và Ngài dùng bốn pháp quán Tứ Niệm xứ để đối trị cảnh giới ma. Quán thuần Tứ Niệm xứ thì chứng được pháp Không và an trụ vào pháp Không mà phá được ngũ ấm ma, phiền não ma, tức không bị phiền não quấy rầy, không bị ngũ ấm đòi hỏi; gọi là thấy ngũ uẩn giai không, tứ đại giai không.
Đem giới luật đối chiếu với Tứ Thánh đế, đầu tiên quán tất cả việc là Không, thấy không có người gây khó khăn và cũng không có ta, không có người hại và không có ta bị sát hại. Trụ pháp Không, Huệ Tư Thiền sư nói rằng người hại ta là hại cái nghiệp của ta, chửi mắng cái nghiệp của ta. Nhập Thiền, trước nhất chứng được pháp Không và phá phiền não xong, vẫn thấy tâm mình còn lợn cợn, nên rà soát tụ thứ hai là Tứ Chánh cần, nghiệp ác đã sanh thì nhất định đoạn trừ, nghiệp ác chưa sanh, không cho sanh, nghiệp thiện đã sanh, nên phát triển, nghiệp thiện chưa sanh, cần gieo trồng.
Thế nào là nghiệp ác đã sanh. Nghiệp ác đã sanh thì gặp việc là có vấn đề ngay. Thí dụ có người bất bình, tự dưng mắng mình và gây khó khăn, tôi liền nhận biết đó là nghiệp ác đã sanh. Thật vậy, những gì người đối xử với mình hôm nay là vì mình đã từng làm như vậy với họ trong kiếp quá khứ. Cái quả ác đã có đối với họ, cho nên ân oán nhiều đời nay gặp lại; chúng ta cần cho chấm dứt nghiệp ác này ngay đây, không cho nó sanh thêm. Gặp hoàn cảnh không tốt, chúng ta diệt ngay đây, nghĩa là không khởi niệm tiếp thì nghiệp quá khứ sẽ chấm dứt. Nếu vẫn chưa chấm dứt, nên gia công lạy Phật, lấy hồng danh Phật và hạnh đức của Phật để chống đỡ nghiệp ác này, đừng khởi niệm thêm. Đó là cách trả quả báo tốt nhất.

* Trang 215 *
device

Nghiệp ác chưa sanh, chúng ta không cho sanh. Cần ý thức rằng không có gì vô cớ trên cuộc đời này. Đơn giản như ta và họ không có vấn đề gì với nhau, nhưng vì ta là bạn với người thù của họ, tất yếu ta trở thành người thù của họ. Đây là kết quả dây chuyền mà chúng ta hiểu rõ, nên đoạn trừ khởi niệm ác trong tâm mình để không tạo thêm nghiệp ác mới. Trong cuộc sống, không làm vừa lòng người, nên họ thù ghét chúng ta. Tất nhiên làm vừa lòng người không đơn giản chút nào. Vì vậy, trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy muốn được an lạc, hành giả cần có thệ nguyện an lạc, nghĩa là trong lòng luôn nuôi dưỡng tâm niệm tốt lành rằng bây giờ không thể làm vừa lòng thì hẹn vào những dịp khác, thậm chí có việc phải đợi đến nhiều kiếp sau, mới làm họ vui lòng được. Trên bước đường tu, bằng mọi cách cố gắng làm vừa lòng chúng sanh. Nguyện này là một trong mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền, hằng thuận chúng sanh thì chướng ngại sẽ không còn.
Thiết nghĩ các giới tử trong giới đàn này đã có đủ phước duyên thọ giới, phải nương theo các bậc cao đức để tu học kỹ càng giới pháp và thực hành đối chiếu với Tứ Thánh đế, thoát ly được sanh tử, không phụ chí xuất gia. Mong rằng các giới tử thọ giới, đắc giới và giữ giới trang nghiêm thanh tịnh, trở thành cột trụ tòng lâm trong mai hậu. Cầu nguyện mười phương chư Phật, chư đại Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng, lịch đại Tổ sư gia hộ cho tất cả quý vị thân tâm thanh tịnh, giới thể và giới tướng được viên dung.

* Trang 216 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)